Trở về   Nước Nga trong tôi > Văn hóa Xô viết và Nga > Văn học

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Diễn đàn lưu trữ
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 16-05-2008, 19:28
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default Văn học Nga "Thế kỷ Bạc" như một chỉnh thể phức tạp

Văn học Nga "Thế kỷ Bạc" như một chỉnh thể phức tạp
GS.TS. V.A. Keldysh



Lời người dịch: Nghiên cứu văn học thập niên cuối thế kỉ XIX, hai thập niên đầu thế kỉ XX (thường được gọi là văn học giao thời hai thế kỉ) các nhà nghiên cứu Nga đã đưa ra khái niệm “văn học thế kỉ bạc” vừa với ý nghĩa tiếp nối với văn học cổ điển thế kỉ XIX được mệnh danh là “văn học thế kỉ vàng”, vừa để chỉ ra sự khác biệt giữa hai thực tại nghệ thuật này. Ở thời kì Xô viết, văn học thế kỉ bạc chưa giành được sự chú ý thích đáng của các nhà nghiên cứu, chính vì vậy, sau Cải tổ, Viện Văn học thế giới mang tên M. Gorki đã thành lập hẳn một ban chuyên môn nghiên cứu văn học giai đoạn này. Giáo sư V.A. Keldysh là trưởng ban, đồng thời là một trong những chuyên gia về văn học thế kỉ bạc. Bài viết Văn học Nga “thế kỉ bạc” như một chỉnh thể phức tạp của ông là một trong ba bài tổng quan trong bộ sách Văn học Nga giao thời thế kỉ - Những năm 1890 - đầu những năm 1920 (gồm 2 tập do IMLI xuất bản năm 2000). Đây là một bài nghiên cứu dài với những chú thích dầy đặc. Để chuyển thành một bài báo đăng tạp chí, chúng tôi làm theo phương thức: có những phần lược bớt những chi tiết xét thấy không cần thiết, có phần dịch toàn bộ. Chúng tôi cố gắng dịch sao cho có thể đăng bài nghiên cứu của giáo sư thành hai đợt với số trang phù hợp với khuôn khổ một bài tạp chí mà vẫn giữ được kết cấu và chuyển tải được đầy đủ nội dung .


Sự chuyển đổi sâu sắc tư duy hình tượng, ở dạng thức chung nhất, được xác định là cái đã diễn ra trong ý thức thẩm mĩ của nước Nga giao thời thế kỉ XIX-XX, xuất phát từ những nhu cầu nội tại của sự tự thân phát triển nghệ thuật (trước ngưỡng cửa của thời đại nghệ thuật mới nhiều nền văn học thế giới cũng nằm ở giao thời thế kỉ). Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân thuộc loại khác - những nguyên nhân dân tộc - lịch sử.

Khởi đầu của giai đoạn mới trong lịch sử nước Nga là sự thoát ra khỏi những năm 1880 đầy khủng hoảng, khi, theo lời V.G. Korolenko, “tính chất phản động của chính phủ song hành cùng sự phản ứng sâu sắc của các tầng lớp xã hội”(1). Song ngay những năm 1880 đã xuất hiện những dấu hiệu rõ ràng báo trước sự đổi mới gắn với thập kỷ tiếp theo - bước ngoặt đối với đời sống đất nước. Những năm 1890 dần hình thành sự nhìn nhận mới thực tiễn lịch sử, điều những người đương thời nói tới nhiều: ý thức về sự vận động tăng tốc đột ngột của dòng đời, những nghi ngờ ngày mỗi gia tăng về tính bền vững của trật tự thế giới. Những nghi ngờ càng trở nên sâu sắc trước cao trào xã hội đầu những năm 1900 được kết thúc bằng những sự kiện của cuộc cách mạng Nga đầu tiên năm 1905-1907.

Những quá trình trên, một cách gián tiếp và phức tạp, đã tác động tới logic phát triển nghệ thuật. Hoà cùng với sự phát triển vũ bão của phong trào xã hội là sự phát triển gia tốc, sự tập trung đặc biệt của đời sống nghệ thuật chung ở nước Nga (cũng như sự vận động nghệ thuật của các cá nhân) vào thập niên trước cách mạng tháng Mười.

Nét tiêu biểu của các nhà hoạt động văn học thời kì này là sự nắm bắt ý nghĩa toàn thế giới trong những cảm tưởng thu nhận được từ thực tiễn Nga. “Thế kỉ và sự kết thúc thế kỉ, nói bằng ngôn ngữ của kinh Phúc Âm, không có nghĩa là sự kết thúc và bắt đầu một kỉ nguyên, mà là sự kết thúc một thế giới quan, một tín ngưỡng, một cách thức giao tiếp của con người và sự bắt đầu một thế giới quan mới, một tín ngưỡng mới, một cách thức giao tiếp mới”, - L.N. Tolstoi viết năm 1905 trong bài báo Kết thúc thế kỉ. Tư tưởng này được nhà văn tiếp tục triển khai không hẳn theo tinh thần kinh Phúc Âm: “Những dấu hiệu lịch sử tạm thời hay cú huých tạo bước ngoặt, đó là cuộc chiến tranh Nga - Nhật vừa kết thúc và cùng với nó là sự bùng nổ phong trào cách mạng của quần chúng trước đó chưa từng có”(2).

Còn đây là lời của A.A. Blok trong bài Vladimir Soloviev và những năm tháng của chúng ta (1921): “Ngày hôm nay tôi tự cho phép mình (...) với tư cách một chứng nhân không bị điếc, không mù và không lác, chỉ ra rằng tháng Giêng năm 1901 khác hẳn với tháng Mười Hai năm 1900, rằng ngay bắt đầu kỉ nguyên mới đã có những dấu hiệu và linh cảm mới”(3). Và ở những “dấu hiệu” đó nhà thơ đã nhìn thấy “diện mạo của bước ngoặt thế giới”, điều được xác định đối với ông như “những biến đổi sâu sắc trong thế giới xã hội, thế giới tinh thần và thế giới vật chất (...)(4). Blok rõ ràng rất gần gũi với Tolstoi trong cảm nhận về tính trọng đại của cái đang diễn ra ở giao thời thế kỉ, cũng sử dụng những từ như “bước ngoặt”, “cái bắt đầu” – trong ý nghĩa rộng lớn và cơ bản (về thực chất, ý nghĩa tôn giáo) hơn là những tai biến xã hội diễn ra trong thời đại. Tuy nhiên, cũng như Tolstoi, ông thừa nhận (mặc dù không trực tiếp như thế) ý nghĩa của lịch sử chính trị Nga như cú huých đầu tiên trong các quá trình đó. Bởi chính ở nước Nga tháng Giêng năm 1901 tràn ngập làn sóng biểu tình chính trị rõ ràng mang dấu hiệu khác với những gì diễn ra ở tháng Chạp năm trước.

Cũng trong cái tháng Giêng mà Blok nhắc tới, A.M. Gorki viết cho K.P. Piatnistki phản ứng những vấn nạn chính trị của thời đại: “(...) thế kỉ mới - rõ ràng sẽ là thế kỉ của sự đổi mới tinh thần (...) sẽ có nhiều người chết, song (...) cuối cùng thì cái đẹp và sự công bằng sẽ vượt qua, những khát vọng tốt đẹp nhất của con người sẽ chiến thắng”(5).

Tolstoi, Blok, Gorki là những cực khác nhau của văn học Nga thời đại đó. Mỗi người lí giải thời đại lịch sử biến động chưa từng thấy ấy theo những cách khác nhau, song điểm chung giữa họ là sự cảm nhận về “một bước ngoặt vĩ đại”. Nhà văn Nga cảm nhận ranh giới của kỉ nguyên mới ở nước Nga như sự bắt đầu những con đường mới của nhân loại. Và ảnh xạ nghệ thuật của những con đường này chính là văn học, nghệ thuật “kỉ nguyên bạc”. Nhiều người cũng cùng ý kiến như vậy.

Khoa nghiên cứu văn học thời Xô viết dường như quay mặt lại với sự thật rõ ràng này. Phủ nhận toàn bộ những gì mà nó đã làm được (rất tiếc điều này hiện vẫn đang diễn ra) là không công bằng. Những nghiên cứu thời gian gần đây nhìn nhận lại một cách phê phán những quan điểm trước đó, phải chịu ơn những giá trị mà các bậc tiền bối, bất chấp sức ép của hệ tư tưởng, đã tạo ra được (chẳng hạn như các công trình của B.V. Mikhailovski). Những công trình xuất sắc đã chuẩn bị cơ sở cho tương lai. Tuy vậy, cái nền chung của nghiên cứu văn học trong vòng hàng thập niên đây không có gì đáng phấn khởi. Trở thành nạn nhân của những tín điều thời kì sau cách mạng tháng Mười và những định kiến dai dẳng do chúng tạo ra, nhiều hiện tượng lớn của văn học, báo chí và nhiều nhà văn lớn, một thời gian dài, bị loại khỏi lĩnh vực nghiên cứu khoa học, cũng như tách khỏi bạn đọc.

Nhiều định kiến tới nay đã không còn. Song quan niệm đổi mới thay thế chúng vẫn đang còn xây dựng dang dở. Về phương diện này, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải từ bỏ quan niệm nhìn nhận sự vận động văn học cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX chỉ như là sự đối đầu và sự ghẻ lạnh, xa lánh nhau giữa các phạm trù, như cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện đại. Ở đây, thiết nghĩ, khi giải quyết những vấn đề then chốt của tiến trình văn học thời kì bản lề, chúng ta đồng thời động chạm tới bản chất chung của nó và số phận của từng khuynh hướng văn học.

Nội dung chính của bài viết gắn với hệ vấn đề này. Bên cạnh đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới quan hệ giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tượng trưng như cặp đối lập cơ bản của tiến trình vận động văn học nêu ở đây.

Chúng tôi nhận thấy trong văn học Nga trước đây chưa từng có một giai đoạn nào lịch sử được nhìn nhận trong sự đối lập gay gắt như vậy. Tuy nhiên, cái này không chỉ do định kiến mang tính chất hệ tư tưởng của nền phê bình sau này, mà còn do những hoàn cảnh khách quan nhất định. Bắt đầu từ những năm 40 của thế kỷ XIX, nền văn học Nga phát triển dưới tác động chủ yếu của một khuynh hướng nghệ thuật (tức sự toàn quyền của nó trong văn xuôi - một loại văn học thống soái của thời đại); và nhiều những đối kháng, thậm chí những đối kháng quyết liệt nhất - về phương diện sáng tác, tư tưởng, - đều diễn ra bên trong khuynh hướng này. Nhưng cùng với sự khẳng định dần dần của nghệ thuật mới, hiện đại chủ nghĩa, vào những năm 1890, sự vận động của văn học trở thành chiến trường giao tranh giữa hai hệ thống tư duy nghệ thuật đặc biệt, các môn đồ của hai hệ thống này thời kì đầu thường nóng nảy và rất khó chịu đựng lẫn nhau. Những cuộc khẩu chiến sâu cay tất nhiên chứng minh sự tồn tại của nhiều “phe phái” khác nhau, tuy nhiên chúng không phản ánh được toàn bộ tính chất phức tạp của quá trình. Tính chất phức tạp này được nhận thức dần dần. Bên cạnh đó, không thể không nhận thấy sự nhích lại gần nhau giữa các phe nhóm nghệ thuật đối lập này. Những dấu hiệu đầu tiên của sự nhích lại gần ấy được nhận biết ngay từ những giai đoạn chống đối quyết liệt ban đầu.

Thí dụ, điển hình cho điều này là sự kiện văn học cuối những năm 1890, đó là sự tiếp nhận lạ lùng của V.Ia. Briusov (nhà tượng trưng chủ nghĩa tiêu biểu thời kì này) phần đầu thiên khảo luận của L. Tolstoi có tên Nghệ thuật là gì? in tháng 12 năm 1897- tháng Giêng năm 1898, lúc đầu trên tạp chí, sau là ấn phẩm riêng. (“Tư tưởng của Tolstoi thật trùng khớp với tư tưởng của tôi, đến nỗi thời gian đầu tôi lấy làm bất bình, định viết “thư cho toà soạn” để phản đối”(6) và tiếp sau đó là lời kêu gọi Tolstoi thừa nhận ông, Briusov, là người kế thừa tư tưởng của ông về nghệ thuật như một “phương tiện giao tiếp”. Tuy nhiên, đằng sau những thể hiện bề ngoài có vẻ tức cười đó, ẩn giấu cảm giác nghiêm túc sự gần gũi những quan điểm mĩ học cơ bản(7).

Những tiếp xúc mang tính báo hiệu xuất hiện trong những năm của cuộc cách mạng đầu tiên ở nước Nga. Đó là sự kiện Gorki tới thăm Viacheslav Ivanov vào đầu tháng Giêng năm 1906. Tại cuộc gặp gỡ này Gorki đã nói rất nhiều về sự liên kết những phe phái văn học. Trong cuộc họp tiếp sau đó, Gorki nói rằng “ở nước Nga sẽ chỉ có nghệ thuật, rằng ở đây chúng ta là những “người thú vị nhất” nước Nga, rằng ở đây chúng ta là “chính phủ” của nó, rằng chúng ta cần phải toàn quyền thống trị, rằng nhà hát kịch của chúng ta cần phải được xây dựng trên một phạm vi to lớn (...)”. Những phát biểu của Gorki tràn đầy xúc cảm lãng mạn hùng biện. Mặc dù trên “tháp” của V. Ivanov người ta nói tới những dự định, kế hoạch nghệ thuật chung, song nhu cầu liên kết, gần gũi của các nhóm phái nghệ thuật lại xuất phát từ những nguyên nhân khác - tinh thần chống đối chung đối với chế độ chính trị hiện tồn. Vào tháng Mười năm 1905, S.A. Vengerov trong thư gửi V. Ivanov đã trịnh trọng thông báo: “Vậy là, chủ nghĩa tượng trưng cũng đã gia nhập phong trào giải phóng”(8). Chính bằng cảm hứng phản kháng xã hội mãnh liệt trong những tác phẩm của mình các nhà tượng trưng và các nhà hiện thực đã gặp gỡ nhau ở thời kì này.

Tuy nhiên, vào nửa sau những năm 1900 - bắt đầu năm 1910 những tiếp xúc được mở rộng và có nhiều thay đổi về cách thức, chạm mạnh tới những vỉa tầng sâu hơn của sáng tác - thế giới quan và nghệ thuật, kích thích những trao đổi kinh nghiệm. Các cuộc tranh cãi vẫn còn tiếp diễn, song thái độ nóng nảy dần nhường chỗ cho những đối thoại tích cực. Ngay trong bài báo Tổng kết văn học năm 1907, Blok lên án, bất chấp ý kiến của những đại diện “chính thống” của chủ nghĩa tượng trưng, “ý hướng trở thành thù địch đối với một khuynh hướng sáng tác nào đó”(9). Còn những nhà hoạt động trong nhóm phái của ông thì nói tới tính một chiều của chủ nghĩa tượng trưng thời kì đầu. Năm 1910, V.Ia. Briusov trong bài nhận xét tập thơ Ngọc trai của N.S. Gumiliev đã đánh giá tình hình văn học như sau: “Rõ ràng bắt đầu của bất kì nghệ thuật nào cũng đều là sự quan sát thực tiễn (...). Ở thời đại chúng ta nghệ thuật “duy tâm” (...) buộc phải thanh lọc lập trường từng đưa ra một cách xốc nổi của mình. Tương lai rõ ràng giành cho những người còn chưa tìm được sự tổng hợp giữa “chủ nghĩa duy thực” và “chủ nghĩa duy tâm”(10). Cũng những năm này ý tưởng về “một lời nói thống nhất có khả năng hòa giải hai trường phái”(11) xuất hiện cả ở những môn đồ của chủ nghiã hiện thực. Song họ tiếp cận theo hướng khác. Nếu như Briusov phàn nàn về sự dư thừa “chủ nghĩa duy tâm” trong sáng tác của những người đồng chí hướng với mình, thì, ngược lại, một nhóm phái phê bình văn học lại kêu ca về sự thiếu hụt chủ nghĩa duy tâm trong văn học hiện thực giai đoạn trước đó. Briusov nhắc tới “chủ nghĩa hiện thực” - “có từ xa xưa, vị chúa tể thiên phú trong lĩnh vực nghệ thuật cao cả”(12). Còn các nhà phê bình thuộc phe phái khác thì chào đón sự xuất hiện trong “chủ nghĩa hiện thực mới” “nỗi buồn mơ hồ về cuộc sống cao cả (...), về thế giới tinh thần siêu cảm tính”(13).

Thuật ngữ “chủ nghĩa hiện thực mới” - thường được gọi là “chủ nghĩa tân hiện thực” được phổ biến rộng rãi chính vào giai đoạn văn học đã nói tới (cuối 1900-1910). Ở giai đoạn này, nhiều khuynh hướng sáng tác tiêu biểu gắn với nó. Cần lưu ý rằng khái niệm này mang nhiều nghĩa khác nhau.

Một mặt, “chủ nghĩa hiện thực mới” được xem như các quá trình nảy sinh bên trong phong trào hiện thực: tách khỏi chủ nghĩa tự nhiên cuối thế kỉ XIX, trở về với truyền thống của chủ nghĩa hiện thực cổ điển và đổi mới nó, trong đó có tính tới việc sử dụng những thành tựu “kĩ thuật” của các nhà hiện đại chủ nghĩa. Nhưng giới phê bình lúc ấy còn mong muốn một sự cởi mở lớn hơn trong thái độ của chủ nghiã hiện thực đương thời đối với kinh nghiệm nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa, tiến tới hoà nhập với nó với tư cách một thành tố đặc biệt(14).

Mặt khác, sự lí giải khái niệm “tân hiện thực” được hưởng ứng trong nhóm phái hiện đại chủ nghĩa, tuy nhiên, nó mang những ý nghĩa đặc biệt. Điều này thấy rõ, thí dụ, ở những suy nghĩ thấu đáo trong bài viết của M.A. Voloshin Henri de Régnier (1910). Tác giả thừa nhận tính tổng hợp của hiện tượng nghệ thuật mới, những bài học có ích đối với ông về sự kết hợp chủ nghĩa hiện thực với “tư tưởng” (...) dựa trên sự phân tích và quan sát”, sự hướng tới “thế giới bên ngoài”. Song ông vẫn cho rằng “lòng mẹ” của nghệ thuật mới này là chủ nghĩa tượng trưng: “Chủ nghĩa tân hiện thực xuất hiện từ chủ nghĩa tượng trưng” và thậm chí còn được “củng cố trên nền móng của chủ nghĩa tượng trưng”. Đối với Voloshin “sự chuyển tiếp từ chủ nghĩa tượng trưng sang chủ nghĩa hiện thực mới” về thực chất xuất phát từ xung đột nội tại của phong trào hiện đại chủ nghĩa, song lại mở rộng đáng kể những chân trời mới cho mình. Danh sách những người phô bầy xung đột đó được bắt đầu bằng Andrei Belyi(15). Tư tưởng về “chủ nghĩa hiện thực mới” xuất hiện trên mảnh đất của chủ nghĩa tượng trưng còn được cả G.I. Chulkov bảo vệ trong tập sách phê bình Tấm voan của Izida (1907)(16).

Một điều thú vị nữa là Leonid Andreev, người đứng ở “vị trí trung hoà” giữa các phe phái văn học chính, cũng xem những tác phẩm thuần tuý hiện đại chủ nghĩa của mình là “tân hiện thực” - trước hết là dòng kịch biểu hiện chủ nghĩa, bắt đầu bằng Cuộc đời con người, khi ông nói về chủ nghĩa hiện thực với nội dung “thần bí”, về chủ nghĩa hiện thực đã được biến đổi phong cách trong hình thức kịch mới của mình(17).

Từ A. Belyi và Sologub tới Kuprin và Teleshov – đó là biên độ những tên tuổi đã dự phần vào “chủ nghĩa hiện thực mới”, nếu hiểu đây là bức tranh chung về những ý kiến và nhận định thời kì đó. Trong sự mở rộng như vậy khái niệm bị mất đi tính chính xác, chặt chẽ và ở mức độ nào đó ranh giới giữa các dãy văn học bị xoá nhòa. Tuy nhiên, chính đây lại là điểm quan trọng cần ghi nhận, bởỉ bất chấp sự đối kháng, tư tưởng hòa nhập và tác động qua lại giữa những con đường nghệ thuật khác nhau vẫn diễn ra (...)

Quan niệm “tổng hợp” quá trình văn học nêu trên do S.A. Vengerov và những người tham gia phong trào đưa ra theo những cách khác nhau, trải qua giai đoạn trước cách mạng, được tư tưởng văn học những năm đầu sau cách mạng tiếp thu, góp phần nhận thức một thời kì nghệ thuật mới. E.I. Zamiatin đã phát triển quan niệm này một cách sôi nổi và truyền cảm trong bài báo viết năm 1920, coi đó như công cụ nhằm “trang bị lại” nền nghệ thuật: “Chủ nghĩa hiện thực nhìn thế giới bằng mắt thường; chủ nghĩa tượng trưng – nhìn thấy thấp thoáng đằng sau bề mặt thế giới một bộ xương - và nó quay mặt lại với thế giới. Đó là luận đề và phản luận đề (...)(18). Nhiệm vụ nhằm ở chỗ gắn kết “luận đề” và “phản luận đề” trong sự “tổng hợp” mới, nơi “cùng lúc có cả kính hiển vi của chủ nghĩa hiện thực, cả kính thiên văn dẫn tới vô hạn của chủ nghĩa tượng trưng”(19).



(còn tiếp)

ĐÀO TUẤN ẢNH dịch

_____________

(1) Thư gửi N.K. Mikhailov từ ngày 31 tháng 12 năm 1887 đến ngày 1 tháng Giêng năm 1888 (Korolenko V.G. Tổng tập gồm 10 tập. M., 1956. T.10, tr.82).

(2) Tolstoi L.N. Toàn tập 90 tập. M.,L., 1936. T.36, tr.231-232.

(3) Blok A. Tổng tập 8 tập. M..,L., 1962. T.6, tr.154 -155.

(4) Nt, tr.154.

(5) Gorki M. Tuyển tập thư từ 24 tập. M., 1997. T.2, tr.97-98.

(6) Briusov. Nhật kí. M., 1927, tr.32.

(7) Xem: Gindin S.I. Mĩ học Lev Tolstoi trong tiếp nhận và sự tự xác định về phương diện mĩ học của Briusov thời trẻ. (Theo bản thảo cuốn Về nghệ thuật) // M. 1987.

(8) Niên giám của phòng bản thảo thuộc Viện Pushkin năm 1990. SPb.,1993. tr.92.

(9) Blok A. Tuyển tập 8 tập. T.5, tr.223-224.

(10) Briusov V. Giữa những bài thơ. 1894-1924. Tuyên ngôn. Bài viết. Nhận xét/ Người tập hợp: N.A. Bogomolov và N. V. Kotlev. M., 1990, tr.318-319.

(11) Kolmotovskaia E. Từ nền văn học mới: Sergiev – Senski // Tư tưởng Nga. 1913, số 12, tr.97.

(12) Briusov. V. Giữa những bài thơ, tr.318. Một trong những bài phát biểu sớm nhất của Briusov “bảo vệ” chủ nghĩa hiện thực – “Karl. V. Đối thoại với chủ nghĩa hiện thực trong nghệ thuật” (1906).

(13) Kogan P. Khảo luận lịch sử văn học Nga mới. T.3. Những người đương thời. Quyển 1. M., 1910, tr.123.

(14) Xem: Muratova K.D. Chủ nghĩa hiện thực thời đại mới trong đánh giá của phê bình thế kỉ XX. L., 1972, tr.151-153.

(15) Volosin M. Những diện mạo của sáng tác. Tập hợp tư liệu: V.A. Manuilov, V.P. Kupchenko, A.V. Lavrov. L., 1988, tr.60-62.

(16) Xem Mikhailova M.V. Maksimilian Volosin và Grigori Chulkov // Thế kỉ bạc của văn học Nga: những vấn đề, tư liệu. M., 1996.

(17) Xem: Andreev L. Kịch. M. 1959, tr.566; Andreev L. Tuyển tập 6 tập. M., 1990, T.2, tr.553-554.

(18) Zamiachin E. Về sự tổng hợp // Zamiachin E. Tôi sợ. Phê bình văn học. Chính luận. Hồi kí // Tập hợp: A.Iu. Gluskin. M., 1999, tr.77.

(19) Zamiachin E. Văn xuôi mới // nt, tr.95.



Theo http://www.vienvanhoc.org.vn
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn tieuboingoan cho bài viết trên:
BelayaZima (16-05-2008), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #2  
Cũ 16-05-2008, 19:30
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default Văn học Nga "Thế kỷ Bạc" như một chỉnh thể phức tạp

Văn học Nga "Thế kỷ Bạc" như một chỉnh thể phức tạp

GS.TS. V.A. Keldysh
(Tiếp theo)

Sau này khoa học bảo thủ của chúng ta đã phủ nhận những tìm tòi tư tưởng đó, còn đối với văn học “thế kỉ bạc” thì nó “ra sắc lệnh” về những đối kháng tư tưởng cũng như đối kháng nghệ thuật, coi đó như dấu hiệu chính của văn học thời kì này.

Điều này diễn ra phần lớn do sự xuất hiện phong trào văn học vô sản trong tiến trình văn học giao thời hai thế kỉ (đứng đầu là M. Gorki) và đỉnh điểm của nó - chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Từ đó tới nay một sơ đồ phân bố lực lượng văn học được xác định – “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa - chủ nghĩa hiện thực phê phán - chủ nghĩa hiện đại”, đây là một sự lí giải đầy thiên vị và nặng tính ý thức hệ những gì thực sự diễn ra trong quá trình văn học. Ở giai đoạn hiện tại, tất nhiên không thể sử dụng sơ đồ này, song cũng cần phải lưu ý tới tính chính xác. Sẽ là không phải, thí dụ, chỉ vì phản ứng với quan niệm thủ cựu trước đây mà vất bỏ toàn bộ nền văn học vô sản (như hiện nay nhiều người vẫn thường làm) (...)

Tuy nhiên, nếu như văn học giao thời hai thế kỉ không được khoa nghiên cứu văn học chúng ta chú ý tới một cách thích đáng, thì các giá trị của nó lại được bảo tồn tích cực bởi nghiên cứu ở hải ngoại (các nhà văn, nhà nghiên cứu Nga lưu vong và nước ngoài). “Thế kỉ bạc” từ lâu đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu hấp dẫn nhất đối với họ. Trong hàng loạt cách tiếp cận, kinh nghiệm nước ngoài tỏ ra hiệu quả, đáng học tập. Điều này ở chừng mực đáng kể liên quan tới sáng tác của các nhà văn mà vì những nguyên nhân khác nhau trở thành persona non grata (người bị bạc đãi) ở ngay chính quê hương mình.

Một trường hợp điển hình - Andrei Belyi. Nhà văn này, hầu như bị lãng quên ở trong nước, đã được phục sinh “ở phương Tây vào cuối những năm 1950” và từ đó tới nay “sự quan tâm chú ý tới ông ngày một gia tăng”(20). Bên cạnh những cố gắng nỗ lực của cá nhân các nhà bác học, từ đầu những năm 1980 Hội Andrei Belyi quốc tế đã đi vào hoạt động, tổ chức các cuộc hội thảo, công bố các thông tin, tiến hành việc viết tiểu sử nhà văn. Cho đến thời gian gần đây, khi ở nước Nga “ngành Belyi học” bắt đầu thực sự phát triển thì ở nước ngoài nghiên cứu về Belyi đã có những tích lũy đáng kể. Những công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện đại Nga nói chung là những thành tựu đặc biệt của khoa học về văn học nước ngoài (...)

Có thể nói, trong giai đoạn hiện tại, việc chiếm lĩnh “thế kỉ bạc” đối với khoa nghiên cứu văn học của chúng ta không phải là sự đột phá một chất lượng hoàn toàn mới (điều đã xảy ra ở giai đoạn khác, cách đây 30 năm), mà là sự phát triển tự nhiên và sự hoàn thiện những tham biến tư tưởng có ở những thời kì trước, nhưng giải thoát chúng khỏi những định kiến, những tàn dư của các máy nén tư tưởng. Trên mảnh đất quang quẻ, lần đầu tiên diễn ra những cuộc tiếp xúc với khoa học nước ngoài bằng các cuộc hội thảo diễn ra thường xuyên, bằng những liên kết dịch thuật, in ấn phát hành, v.v... điều chứng tỏ sự gần gũi nội tại giữa hai khuynh hướng nghiên cứu trong và ngoài nước. Dấu hiệu rõ rệt nhất đó là sự gia tăng mạnh mẽ những ấn phẩm về chủ nghĩa hiện đại Nga của khoa nghiên cứu văn học trong nước. Đây là chỗ gặp gỡ những con đường của các nhà ngữ văn học trong nước và nước ngoài - cả ở phạm vi nghiên cứu, lẫn ở sự tương đồng các định hướng nghiên cứu.
Tuy nhiên, sự quan tâm gia tăng tới khu vực này đòi hỏi sự triển khai đối tượng rộng hơn. Ở trên chúng tôi đã nói tới yêu cầu hiện tại trong việc nghiên cứu văn học giao thời thế kỉ một cách tổng hợp. Bên cạnh đó, việc tìm kiếm những liên hệ ban đầu trong những nguồn tư liệu nghệ thuật vô cùng trái ngược được tiến hành ở những cấp độ khác nhau - cấp độ “bên trong của loại” và cấp độ “giữa các loại”. Ở trường hợp đầu - thí dụ như việc đi sâu lí giải chủ nghĩa tượng trưng Nga như một chỉnh thể đặc biệt, trong đó diễn ra sự vận động của phong trào tượng trưng và hậu tượng trưng không đồng thuận với nhau để tiến tới sự thống nhất phức tạp (các công trình của M.L. Gasparov, Viach. Vc. Ivanov, I.P. Smirnov, V.N. Toporov, E.G. Etkind, v.v...). Ở đây cần phải nhắc tới tư tưởng của Gasparov về sự kết hợp “trong mâu thuẫn” những di sản của nhóm Parnasse và các nhà tượng trưng Pháp trong chủ nghĩa tượng trưng Nga (“tính trang nghiêm, chắc chắn của các nhà Parnasse và sự tròng trành nghiêng ngả của các nhà tượng trưng chủ nghĩa), được tiếp nhận sau đó bởi “hai trường phái kế tiếp chủ nghĩa tượng trưng (...) Trường phái Đỉnh cao (Akmeizm) nắm bắt - mặc dù trong giai đoạn ngắn - truyền thống thi pháp Parnasse , còn phái Vị lai - truyền thống của chủ nghĩa tượng trưng”(21). Còn ở cấp độ “giữa các loại” - đó chính là toàn bộ quá trình văn học của giao thời thế kỉ như xuất phát điểm chung, hơn nữa, như một chỉnh thể tự khẳng định, thông qua những mâu thuẫn khó tránh được. Bản thân thuật ngữ “chỉnh thể” (các dạng khác của nó - “sự thống nhất phức tạp”, “sự thống nhất phức hợp”, v.v..) không hiếm khi trở thành thuật ngữ chung trong các công trình thời gian cuối này thể hiện cách hiểu trên.

Cái nhìn mới đối với “thế kỉ bạc” ngày càng chiếm lĩnh không gian rộng mở, dần trở thành thành tựu của cả văn học trong nhà trường - các sách giáo khoa phổ thông và cả các giáo trình cho giảng viên và sinh viên đại học(22).

=========
(20) Xem: Bibkhin V.V. Orfei của thế kỉ điên loạn // Andrei Belyi: những vấn đề sáng tác. Những bài viết. Hồi kí. Ấn phẩm. // Người tập hợp: St. Lesnhevski, Al. Mikhailov. M., 1988, tr.502.

(21) Gasparov M.L. Tính đối kháng trong thi pháp của chủ nghĩa tượng trưng Nga // Mối liên hệ giữa các thời đại: Những vấn đề kế thừa trong văn học Nga cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. M., 1992, tr.244-245, 262-263.

(22) Văn học Nga thế kỉ XX: tiểu luận. Chân dung. Tuỳ bút. Chủ biên F.F.Kuznesov. M., 1994; Văn học Nga thế kỉ XX / Chủ biên V.V. Agenosov. M., 1996, 2 tập; Văn học Nga thế kỉ bạc / Chủ biên V.V. Agenosov. M.,1997; Basinski P. Fediakin S. Văn học Nga cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX và làn sóng lưu vong đầu tiên. M., 1998.

(còn tiếp)

ĐÀO TUẤN ẢNH dịch
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #3  
Cũ 16-05-2008, 19:38
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Văn học Nga "Thế kỷ Bạc" như một chỉnh thể phức tạp

GS.TS. V.A. Keldysh

(Tiếp theo)


Đến đây cần phải đề cập tới bản thân khái niệm “thế kỉ bạc” được sử dụng rộng rãi trong các bài viết, cũng như trong các cuộc trao đổi văn chương. Ngay từ cuối thế kỉ XIX thuật ngữ này gắn với tên tuổi các nhà thơ lớn (A.A. Fet, N.A. Nekrasov, A.N. Maikov, A.K. Tolstoi, Ia.P. Polonski, v.v..), những người kế thừa “thế kỉ vàng” trước đó của thơ Nga (Puskin và các nhà thơ thời đại ông). Nhiều năm sau, thuật ngữ này được chuyển sang áp dụng cho hàng loạt hiện tượng văn học và nghệ thuật cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, bắt đầu bằng sáng tác của các nhà tượng trưng chủ nghĩa(23)

Trong cuốn sách mới ra gần đây của O. Ronen về lịch sử thuật ngữ “thế kỉ bạc”, một cuốn sách thú vị bởi những nhận xét tinh tường về văn học giai đoạn này, tác giả đã tỏ thái độ quyết liệt phản đối thuật ngữ này. Nghiên cứu kĩ lưỡng sự vận hành của thuật ngữ (những biến thái sau này của nó) trong lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật và phê bình, học giả đã đi tới kết luận về sự không phù hợp giữa nghiên cứu và đối tượng được nghiên cứu, sự tách rời giữa định nghĩa và nội dung thực của quá trình văn học nghệ thuật Nga ở thời kì giao thời hai thế kỉ, kêu gọi “xua đuổi khỏi lĩnh vực văn chương Nga cái “thuật ngữ sai lầm” này”(24). Lời buộc tội của Ronen, bên cạnh những nhận xét nghiêm túc, vẫn tỏ ra quá cực đoan. Tác giả luận giải một cách thuyết phục việc không thể áp dụng nghĩa ban đầu, cụ thể hơn cả, của thuật ngữ thường dùng để chỉ tính phái sinh xác định của các hiện tượng nghệ thuật (na ná như quan hệ giữa “thế kỉ bạc” của văn học La Mã với “thế kỉ vàng” của nó) cho việc nghiên cứu một thời đại nghệ thuật với tính cách tân đáng kinh ngạc và đề nghị trả thuật ngữ “thế kỉ bạc” “cho giai đoạn văn học nửa sau thế kỉ XIX” (tr.124) như một giai đoạn văn học phù hợp duy nhất đối với cái tên ấy trong toàn bộ nền văn học chúng ta.

Khó có thể phản đối sự phù hợp này, song cũng không dễ khôi phục việc áp dụng thuật ngữ này như trước đây, bởi từ lâu nó đã vượt khỏi phạm vi khoa học. Mặt khác, cũng khó mà nghi ngờ rằng sự vận động nghệ thuật ở nước Nga giai đoạn giao thời, với tư cách một chỉnh thể xa lạ đối với bất kì tính chất phái sinh nào, vẫn ý thức được tính liên đới sâu xa, mặc dù đầy những mâu thuẫn, với thế kỉ cổ điển của văn hóa Nga. Và chính tính chất của mối quan hệ đó đã tạo ra sự liên hệ giữa thế kỉ vàng và thế kỉ bạc, dự kiến trước tính chất gần gũi về phương diện di truyền giữa các thời đại văn học nghệ thuật, cùng lúc là thứ bậc giữa chúng. Đó chính là mối quan hệ “không hòa đồng nhưng không tách rời” giữa “bạc” - những thành tựu nghệ thuật mới mẻ, vĩ đại được tạo dựng trong thời đại bước ngoặt và “vàng” - những thành tựu đỉnh cao của thế kỉ “cổ điển”.

Quay trở lại bản thân thuật ngữ, chúng tôi nhận thấy, đối với bạn đọc trí thức hiện đại trong nước, những người quan tâm tới “thế kỉ bạc”, nhưng không chuyên nghiệp, thì khái niệm này thường mang ý nghĩa tích cực. Nó - giống như dấu hiệu chất lượng, như một kiểu “định giá” cao những hiện tượng mà nó biểu thị (liên quan tới nghĩa khởi thủy của từ “bạc”), đồng thời làm nhớ lại một thời gian dài những hiện tượng đó bị coi thường, đánh giá, khôi phục lại một giai đoạn di sản tinh thần cách đây không lâu bị hạ thấp. Rõ ràng điều này cũng cần phải tính tới.

Trong trường hợp này, có thể không cần phải quá lưu tâm tới việc “gọi tên như thế nào”. Các thuật ngữ nghiên cứu văn học thường ước lệ, mang những ý nghĩa khác nhau, trong đó nhiều nghĩa có thể xem như tương đồng. Thí dụ như ý tưởng chuyển đổi thuật ngữ “thế kỉ bạc” thành “thế kỉ bạch kim” của một số nhà nghiên cứu, theo đó, về thực chất, “thế kỉ bạch kim” thường được đánh đồng với “thế kỉ của chủ nghĩa tiên phong”. Nhưng quá trình văn học Nga cuối thế kỉ XIX - đầu XX không thể bó gọn trong cái khuôn đó, nó phức tạp hơn rất nhiều (cũng như không thể chèn nó vào khuôn khổ của truyền thống cổ điển mà đôi khi người ta vẫn cố tình làm).

Vấn đề dung lượng khái niệm “thế kỉ bạc” từ lâu nay vẫn còn là vấn đề bàn cãi. Ban đầu thuật ngữ này chỉ áp dụng cho thơ ca, sau đó áp dụng phổ biến cho toàn bộ văn học và văn hoá Nga giao thời thế kỉ (tương tự như sự chuyển đổi nghĩa của thuật ngữ “thế kỉ vàng”)(25). Tuy nhiên, ngay trong sự mở rộng này, nghĩa của khái niệm được xác định cũng không giống nhau. Một số người gắn nó chủ yếu với văn học của chủ nghĩa hiện đại và văn học, văn hoá gần gũi với chủ nghĩa hiện đại như một chỉnh thể (đôi khi cả chủ nghĩa tiền phong Nga thời kì đầu mà đại diện là chủ nghĩa vị lai lập thể), những người khác dùng khái niệm này để chỉ toàn bộ văn học (cũng như văn hoá tinh thần nói chung) của giai đoạn nói trên. Chủ biên cuốn Thế kỉ bạc đã nhắc tới ở phía trên xác định đối tượng nghiên cứu như sau: “Thế kỉ bạc”, tức văn học cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX (…)”(26). Trong Lời nói đầu cho tuyển tập Thơ Nga kỉ nguyên bạc (chủ biên M.L. Gasparov và I.V. Koreskaia), một trong những ấn phẩm tiêu biểu bàn về vấn đề, ý nghĩa thuật ngữ được giải thích tương tự: “… ở đây không ám chỉ lớp bề mặt của văn hóa nghệ thuật (trong trường hợp này là thơ ca) liên quan trước tiên tới khái niệm “thế kỉ bạc”, mà ám chỉ ý nghĩa được thừa nhận hiện nay của thuật ngữ này - đó là khoảng thời gian trong lịch sử văn học nghệ thuật Nga từ cuối thế kỉ XIX tới cách mạng tháng Mười”(27).

Sẽ là thái quá nếu cho rằng việc mở rộng khái niệm tương tự dẫn tới sự phi định hình và tính không xác định. Khác với việc sử dụng khái niệm này trong ngôn ngữ hàng ngày, trong khoa nghiên cứu văn học hiện đại, nó phù hợp với khuynh hướng nhận thức chỉnh thể phức tạp của hiện tượng đang được nghiên cứu với những tham biến chung nhất như đã trình bày. Và các tác giả, các chủ biên công trình này ủng hộ quan điểm nêu trên, song đôi chỗ có những khác biệt khi sử dụng cụ thể khái niệm.

Ở đây chúng tôi hưởng ứng quan điểm của N.A. Bogomolov trong Lời nói đầu cho tập hồi kí về “Thế kỉ bạc”. Tiêu chí chủ đạo trong việc nhìn nhận “thế kỉ bạc” như “sự thống nhất phức điệu” - đó là tính hiện đại của nhà văn trong tư tưởng và hình thức không lệ thuộc vào khuynh hướng sáng tác (đó vừa là “thế kỉ của chủ nghĩa hiện đại”, vừa của “các nhà hiện thực chân chính”), là “ý thức về thời đại mình hoàn toàn đặc biệt thoát ra khỏi ranh giới của những cái trước đây, trước hết là những cái thuộc thế kỉ XIX”. “Hiển nhiên, - tác giả bổ sung, định nghĩa này khá chung chung, không mấy xác định, song với tư cách một phương tiện, nó mở ra khả năng phân biệt các nhà văn “thế kỉ bạc”, một mặt, chẳng hạn như với L. Tolstoi và A. Tchekhov mà toàn bộ sáng tác gắn với thế kỉ XIX, mặt khác, với A.Serafimovich và E. Chirikov, những người có khuynh hướng nhận thức thời đại mình bằng quan niệm nghệ thuật truyền thống vững chắc”(28). Về vấn đề “nhân sự” có thể phải bàn cãi - đặc biệt là về A. Tchekhov, người gắn với thế kỉ XIX không nhiều hơn thế kỉ XX và là một trong những vị tiên khu cũng như nhà hoạt động của “thế kỉ bạc” (về điều này hầu hết các nhà Tchekhov học đều có đồng quan điểm). Tolstoi giai đoạn cuối đời cũng gắn bó sâu sắc với những tìm kiếm của nền văn học trẻ đầu thế kỉ XX. Còn về sáng tác của Serafimovivh cũng không thể lí giải một cách đơn giản, nhất là trong sáng tác giai đoạn đầu của ông những mô tả đời sống hàng ngày khá phức tạp bởi những motip bi kịch đặc trưng cho ý thức nghệ thuật thời kì giao thời; về phương diện phong cách rõ ràng có sự giao thoa với ngôn ngữ biểu hiện chủ nghĩa của L. Andreev (Serafimovich và Andreev làm bạn với nhau một thời gian dài). Về thực chất, quan điểm này gần với quan điểm nêu phía trên coi thế kỉ bạc là toàn bộ văn học giai đoạn giao thời hai thế kỉ. Bởi, cũng như tất cả các định nghĩa chung, nó không đánh đồng mình với từng hiện tượng trong tiến trình văn học chung, mà trước hết nhắm tới những hiện tượng tiêu biểu - tức chính những khuynh hướng mới, hiện đại của nó (cũng như khi chúng ta định nghĩa “thế kỉ vàng” là toàn bộ văn học Nga thế kỉ XIX).

Một vấn đề khác, phải hiểu như thế nào về những mối quan hệ tương hỗ bên trong chỉnh thể. Chúng tôi xin đưa ra nhận xét một số điểm nhấn trong khoa nghiên cứu văn học của chúng ta thời kì cuối này. Như để khiêu khích quan điểm đương trở nên lỗi thời khẳng định một cách tiên nghiệm, trái ngược với tư tưởng chỉnh thể về sự đối kháng giữa các hệ thống nghệ thuật, xuất hiện quan điểm khác, ngược lại, chối bỏ sự đối lập “chủ nghĩa hiện thực - chủ nghĩa hiện đại” trong quan hệ với quá trình văn học thế kỉ XX (không chỉ văn học Nga, mà văn học thế giới) và xem nó như hệ lụy của những quan điểm bảo thủ. Quan điểm nêu trên được một số các nhà nghiên cứu nghiêm túc chia sẻ(29). Chúng tôi đồng ý với quan điểm này, nếu nó được hiểu như sự chối bỏ cái nhìn cực đoan, giáo điều “hoặc là-hoặc là”. Nhưng không đồng ý, nếu nó chối bỏ hoàn toàn (và việc này thường xảy ra) sự đối lập nói chung giữa hai thực tại nghệ thuật lớn. Không hiểu tại sao cuộc đối thoại không mấy hoà thuận giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn ba thập niên đầu thế kỉ XIX được coi là hiện tượng bình thường, không cần bàn cãi, còn giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện đại tân lãng mạn đầu thế kỉ XX thì lại đáng nghi ngờ?

Hơn nữa, vấn đề trên thực tế không đơn giản, nếu chú ý tới tính không ổn định, sự thay đổi năng động của tiến trình văn học có nhiều đột biến ở giao thời thế kỉ. Dấu ấn đặc trưng của nó, đó là sự xuất hiện thường xuyên các trạng thái nghệ thuật giáp ranh trên những điểm giao nhau của các hệ thống tư duy hình tượng hiện tồn. “Đối với các nhà suy đồi dòng dõi quý tộc – tôi là một nhà văn hiện thực đáng khinh; đối với các nhà hiện thực chủ nghĩa di truyền – tôi là một nhà tượng trưng chủ nghĩa khả nghi”(30), - L. Andreev nói như vậy về bản thân.

Nhưng ngay từ những lời nói này của ông đã thấy rõ, với tất cả tính chất phức tạp của bức tranh văn học, “thế kỉ bạc” phát triển chính là dưới dấu hiệu của sự đối lập này. Những người tham dự vào quá trình văn học khi ấy, trong đó có những người khá phóng khoáng, biết một cách chắc chắn rằng có “chúng ta” và có “họ”, và điều đó là có thật. Bài báo Tổng kết văn học năm 1907 của A. Blok mà chúng tôi đã nhắc tới chứng minh sự phản đối của ông đối với tính khép kín văn học. Năm 1907 xuất hiện các bài viết của ông Về các nhà hiện thực và Về phê bình đương đại (gây bất bình ở một số những chiến hữu của ông), trong đó nói một cách đồng cảm về tính giáo huấn trong những bài học sáng tác của các nhà hiện thực Nga đương đại và về sự gần gũi với họ của các nhà tượng trưng chủ nghĩa. Tuy nhiên, với tất cả những điều đó, Blok chưa khi nào nhầm lẫn về khoảng cách ngăn cách họ với “phe” của ông. “Một trong những hiện tượng đặc thù của thời đại chúng ta – đó là “cuộc gặp gỡ” của “các nhà văn hiện thực” và “các nhà văn tượng trưng”; tuy nhiên, đó là cuộc gặp gỡ “lạnh lùng” (có thể sau này sẽ khác): “giống như Montekki và Capuletti hoà giải quá muộn, khi Romeo và Juliet không còn nữa”(31).

Hoàn toàn đúng đắn khi cho rằng cặp đối lập “chủ nghĩa hiện thực - chủ nghĩa hiện đại “không có khả năng bao quát, hơn thế, không có khả năng giải quyết toàn bộ hiện tượng biến động và đa dạng như văn học thế kỉ XX”(32). Tuy nhiên, đối với văn học “thế kỉ bạc” ý nghĩa quan trọng của cặp đối lập này vị tất cần bàn cãi, cái cần được đổi mới – và điều đó đang diễn ra – là cách tiếp cận những mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng được nghiên cứu như là “những mặt đối lập có quan hệ mật thiết của một chỉnh thể thống nhất”(33).

Văn học Nga cuối thế kỉ XIX - đầu XX bác bỏ giả thuyết hình thành ngay trong lòng “kỉ nguyên bạc” về sự “hòa giải của các trường phái” (tức sự thống nhất chúng trong một dạng tổng hợp thứ ba nào đó), và giả thuyết về sự đối đầu không khoan nhượng giữa chúng (tư tưởng chung và sống dai của nghiên cứu phê bình Xô viết). Chỉnh thể phức tạp của quá trình văn học giao thời nảy sinh từ sự đồng tồn tại của chúng với tư cách những hệ thống mở cho những kinh nghiệm khác với mình, song cũng không mở tới mức có thể xoá bỏ ranh giới giữa chúng. Luận điểm về tầm quan trọng ngang nhau giữa lực đẩy và lực hút của các khuynh hướng văn học trong cùng một thời đại, theo chúng tôi, phải trở thành một trong những tiền đề quan trọng trong nghiên cứu “thế kỉ bạc”.

*

Một trong những đặc điểm quan trọng của văn học giai đoạn này đó là sự mất dần ảnh hưởng to lớn – trên phạm vi toàn cầu - của chủ nghĩa thực chứng. Ở Nga, chủ nghĩa tượng trưng đã tiến hành cuộc chiến chống lại nó. Trong cuốn sách nổi tiếng Về những nguyên nhân suy đồi và về những trào lưu mới trong văn học Nga hiện đại (1893) được xem là “tuyên ngôn” của chủ nghĩa tượng trưng Nga sơ kì, có một điểm khá thú vị - D.S. Merezhkovski, tác giả cuốn sách, đã dựa vào truyền thống của chủ nghĩa hiện thực cổ điển thế kỉ XIX để chống lại chủ nghĩa thực chứng. Song, vào những năm 1890, các hiện tượng đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực (những sáng tác của L. Tolstoi giai đoạn cuối, Tchekhov giai đoạn chín muồi) đã tách khỏi phong trào văn học hiện thực cũ (ám chỉ những hình thức truyền thống cổ điển của nó) không chỉ bởi sự khác biệt đương nhiên về trình độ nghệ thuật, mà còn là sự khác biệt ở cấp độ loại hình. Không cần nói tới văn học tự nhiên chủ nghĩa (P.D. Boborykin và các nhà văn khác cùng khuynh hướng sáng tác), ngay cả các nhà hiện thực lớn (như D.N. Mamin - Sibiriak), và cả các nhà hiện thực thế hệ tiếp theo (như E.N. Chirikov), ít nhiều đều bị ảnh hưởng một cách rõ ràng của chủ nghĩa thực chứng. Trong tiểu thuyết xã hội, truyện vừa và văn xuôi kí - những thể loại tiêu biểu của thời đại này đã có những cống hiến quan trọng đối với văn học Nga (kể cả sự gần gũi sau này của nó với tư tưởng khoa học tự nhiên và xã hội), việc miêu tả cái “bên ngoài” được chú ý nhiều hơn so với kinh nghiệm bên trong cá nhân, tồn tại vững chắc quan niệm mang tính quyết định luận toàn diện đối với con người, khẳng định quyền lực tuyệt đối của môi trường sống đối với nó.

Nhưng vào cuối những năm 1890, bắt đầu những năm 1900, phong trào văn học có những biến đổi. Khuynh hướng tự nhiên chủ nghĩa vẫn còn tồn tại trong nó (và cả sau này), tuy nhiên, thành tựu cơ bản của qúa trình văn học nhìn chung là sự đánh giá lại quan niệm thực chứng - tự nhiên chủ nghĩa “con người-môi trường” vì “lợi ích” của ngã thể tích cực nổi dậy chống lại “bái vật giáo” - môi trường tiền định, tích cực trong cả hành động trực tiếp, lẫn những mâu thuẫn nội tâm(34). Một trong những nhà bình luận văn học xuất sắc thời kì đó nhận xét rằng từ “ngã thể” có mặt khắp mọi nơi, tạo cảm hứng cho các nhà tiểu thuyết, các nhà phê bình thường xuyên nói về nó, người ta sử dụng và lạm dụng nó trong mọi trường hợp(35). Tư tưởng về sự giải phóng “cái tôi” khỏi ách thống trị của quy luật “bên ngoài” được khẳng định bằng những con đường khác nhau, thậm chí đối kháng nhau - từ duy xã hội tới cá nhân chủ nghĩa cực đoan. Song, sự phát triển sâu rộng của nó ở giai đoạn giao thời thế kỉ, xét cho cùng, xuất phát từ một nguyên nhân chung, đó là sự đổ vỡ triệt để những thể chế trước giông bão lịch sử làm rạn nứt quan niệm về “môi trường” tưởng chừng tồn tại vững chắc.


====================

(23) Về sự xuất hiện những biến thể của thuật ngữ xem: những chú giải của P.D. Ttimenchik cho bài viết của N. Osup “Thế kỉ bạc” của thơ Nga (Osup N. Đại dương thời gian. SPb., 1993, tr.609; Ronen O. Thế kỉ bạc như ý đồ và hư cấu. M., 2000 (chương IV-V. Xuất bản lần thứ nhất: Ronen O. The Fallacy of the Silver Age in Twentieth Century Russian Literature. Amssterdam. 1997).

(24) Ronen O. Thế kỉ bạc như ý đồ và hư cấu. M., 2000, tr.124. Trong Lời nói đầu cho cuốn sách của Viach. Ivanov, trong khi bầy tỏ sự đồng tình với những luận cứ của tác giả, ông vẫn “không tin tưởng rằng có thể thay đổi thuật ngữ đã được đưa vào sử dụng” (tr.14). Sự nghi ngại này cũng đặc trưng cho các nhà nghiên cứu khác có cùng thái độ phản đối thuật ngữ “thế kỉ bạc”.

(25) Xem: Iezuitova L.A. Cái người ta gọi là “kỉ nghuyên vàng” và “kỉ nguyên bạc” trong văn hoá Nga thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX // Chuyên đề kỉ niệm Gumiliev: Tài liệu hội thảo quốc tế các nhà ngữ văn – slavơ học. SPb., 1996, tr.18-22.

(26) Lịch sử văn học Nga thế kỉ XX. Kỉ nguyên bạc, tr.7.

(27) Thơ Nga thế kỉ bạc. 1890-1917: Hợp tuyển. M., 1993, tr.3.

(28) Bogomolov N. Về cuốn sách ấy và về các tác giả của nó // Thế kỉ bạc. Hồi kí (tập hợp: T. Dubinskaia – Dzalilova. M.,1990, tr.5-6.

(29) Tham luận của A.M. Zverev trên hội thảo bàn tròn về đề tài Thế kỉ XX như một thời đại văn học (Những vấn đề văn học. 1993. Số 2, tr.24).

(30) LM. M.,1965, tr.351.

(31) Blok A. Tuyển tập 8 tập. T.5, tr.205-206.

(32) Musatov V. Cái nhìn văn học Nga thế kỉ XX // Những vấn đề văn học 1998 . Số 3. Tháng 5-tháng 6, tr.82.

(33) Vấn đề chung của tiến trình văn học giao thời thế kỉ XIX-XX trong sự phát triển của tư tưởng khoa học được nghiên cứu bởi L.D. Usmanov, trong đó có cuốn Những tìm kiếm nghệ thuật trong văn xuôi Nga cuối thế kỉ XIX của ông (Tasken, 1975).

(34) Nghiên cứu văn học trong nước (bắt đầu từ những năm 1970) gắn những đặc điểm quan trọng nhất của văn học “thế kỉ bạc” với sự mở rộng vấn đề cá nhân. Theo quy luật, xuất hiện nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề này - những cuốn sách của L.A. Kobaleva Quan niệm cá nhân trong văn học Nga giao thời thế kỉ XIX-XX (M.,1990).

(35) I. (Ignatov I.N). V.G. Korolenko// Thông báo Nga 1903 ngày 15 tháng 7.



(còn tiếp)

ĐÀO TUẤN ẢNH dịch

Thay đổi nội dung bởi: tieuboingoan, 16-05-2008 thời gian gửi bài 19:40 Lý do: thêm chú thích
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #4  
Cũ 16-05-2008, 19:43
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Văn học Nga "Thế kỷ Bạc" như một chỉnh thể phức tạp

GS.TS. V.A. Keldysh


(Tiếp theo)

Tư tưởng về ngã thể cá nhân ở nước Nga thời kì đó gần như không tách khỏi tên tuổi của Nietzsche. Ảnh hưởng của nhà triết học Đức này ở nước Nga, cũng giống như ở phương Tây, rất rộng rãi và sâu sắc. Tác phẩm của ông được in ở các nhà xuất bản khác nhau, xuất hiện hàng loạt công trình về ông. Trong thái độ đối với Nietzsche có nhiều cái chúng ta giống với phương Tây, nhưng cũng có nhiều cái khác biệt đủ để nói tới một “Nietzsche Nga”(36) độc đáo. Điểm chung – đó là việc tiếp nhận Nietzsche như sự phủ định văn minh thời đại mình, coi ông là nhân vật tiêu biểu trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực chứng vì cá nhân con người. Sự khác biệt nằm ở tính chất khác nhau tới mức cực đoan của sự tiếp nhận đó – từ việc làm mất uy tín triệt để tới sự đề cao quá mức.

Nhiều nhà văn phương Tây đã trải nghiệm sự “cám dỗ” bởi Nietzsche. Những dấu ấn của lập trường tư tưởng – xã hội tinh tuyển luận của triết gia người Đức này hiện rõ trong sáng tác của nhiều nhà văn lớn (thí dụ như A. Strinberg). Những người khác tìm thấy ở Nietzsche nội dung khác thiên về bản thể luận, cách hiểu của ông về bản chất tự nhiên con người - cảm hứng về ý chí khởi nguyên hướng tới cuộc sống, sự tự khẳng định của cái tôi cá nhân (thí dụ, những truyện ngắn của J. London đầu những năm 1900).

Ở nước Nga, những ý kiến về triết gia người Đức này cũng cực kì đa dạng, trong đó phản xạ phê phán Nietzsche đi trước sự tiếp nhận ông trong sáng tạo nghệ thuật và sau đó thì thường xuyên đi kèm với nó. Nếu L. Tolstoi (và nhiều người đồng ý kiến với ông) nhìn thấy ở tư tưởng cái tôi cá nhân của Nietzsche sự cổ suý cho tư tưởng chống xã hội, chống nhân dân vì lợi ích của giai cấp cầm quyền, còn L. Seshtov (trước hết là cuốn sách có nhan đề Dostoevski và Nietzsche, 1902 của ông) nhìn thấy “bi kịch triết học”, sự thật chân xác về con người hiện đại, sự cô đơn và đày ải tiền định của nó, thì những người Nga khác lại giải thích Nietzsche gần với tinh thần khẳng định. Còn một điều thú vị nữa là sự tiếp nhận đó xảy ra ở môi trường xa lạ với Nietzsche – ở phe cánh tả đối lập về mặt chính trị với chính quyền hiện hành. Một số các nhà hoạt động quan trọng của tổ chức này coi Nietzsche như bạn đồng minh trong cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân.

Dấu hiệu đầu tiên xuất phát từ N.K. Mikhailovski, người kiên định bảo vệ ý nghĩa quan trọng của cuộc nổi dậy tinh thần nơi Nietzsche: “Cá nhân con người đối với ông là thước đo mọi vật; tuy nhiên, bên cạnh đó, ông đòi hỏi phải có cuộc sống đủ đầy cho nó, đối lập lại mọi lợi ích, mọi điều kiện có thể giảm thiểu lòng tự trọng của con người, cho nên ở đây nói về sự ích kỉ trong ý nghĩa dung tục tầm thường của từ này và về cái gọi là “phi đạo đức” nào đó, là không thể”(37).

Giải thích thái độ “bất ngờ” của Mikhailovski, người ủng hộ “tinh thần vị tha xã hội”, đối với Nietzsche, khoa học về văn học hiện đại chỉ ra sự khiếm thiếu yếu tố cá nhân trong tư tưởng xã hội Nga thời kì đó và sự bổ sung bằng “tư tưởng Nietzsche” của Mikhailovski; nó lưu ý rằng những vấn đề cơ bản mà Mikhailovski bước đầu đề cập tới, sau trở thành đối tượng luận bàn về Nietzsche, kể cả ở phe thuộc hệ tư tưởng đối lập(38). Những người phản biện nhau gặp nhau ở cái điểm mà họ đều coi là không thể chấp nhận được nơi Nietzsche – họ không chỉ nhất tề quay lưng lại “triết học sức mạnh” của ông, (giống như Tomac Man), mà còn tích cực hạ uy tín của nó, nhưng đồng thời lại chỉ ra rằng cái có giá trị trong học thuyết của Nietzsche có trọng lượng hơn nhiều so với những cái có hại.

Tư tưởng triết học tôn giáo Nga mà đại diện là Vladimir Soloviev khởi đầu đơn thuần coi học thuyết Nietzsche là một “hiện tượng phản động” (Bước đầu tiên hướng tới mĩ học chính diện, 1894), nhưng sau đó nhìn nhận nó có phần phức hợp hơn, chú ý tới ý nghĩa tích cực của tư tưởng “siêu nhân”, coi đó như lời kêu gọi hoàn thiện bản chất con người, song cho rằng ý nghĩa tích cực ấy đã bị bóp méo bởi những lí giải giả trá (Tư tưởng siêu nhân, 1899). Thái độ tiếp theo của giới này đối với triết gia Đức có phần thông cảm hơn, thậm chí có lúc mang tính chất biện hộ. Lờ đi những cái không thể chấp nhận được trong giao giảng của triết gia, họ tiếp cận ông và gắn ông với bản thân mình theo cách riêng. Giống như các quá trình của tư tưởng xã hội, tư tưởng triết học tôn giáo mới của Nga cũng cố khắc phục sự thiếu hụt yếu tố cá nhân trong đạo Kitô chính thống, “lịch sử” (như họ gọi), tìm kiếm sự ủng hộ nơi Nietzsche.

Trong văn học nghệ thuật, biên độ phổ biến tư tưởng cá nhân ngã thể của Nietzsche (từ các nhà tượng trưng chủ nghĩa tinh tế tới các nhà hiện thực “đời thường”), cũng như những lí giải đa dạng về nó, cũng rất rộng. Tư tưởng “siêu nhân” biểu hiện rõ cả trong diện mạo một cá nhân duy kỉ đặt mình bên kia bờ thiện, ác (thí dụ, trong thơ tượng trưng giai đoạn đầu), cả ở “khả năng linh thị về một sinh linh ta không thể hiểu nổi, nhưng đầy nhân tính, đã thực hiện mọi khả năng tiềm ẩn trong nó và toàn quyền sở hữu sức mạnh, hạnh phúc và tự do”(39), không chà đạp lên đồng loại. Đó là những lời trong Truyện về Sergei Petrovich (1900) của Leonid Andreev, người tiếp nhận Nietzsche khác với phái suy đồi, khác cả với Tolstoi hay Seshtov. Cũng theo tinh thần ấy là sự tiếp nhận của Gorki thời trẻ; ông viết cho A.L. Volynski năm 1897: “Tôi thích (...) Nietzsche”(40). Về hiện tượng “tình yêu bản thân” (ngụ ý cả Nietzsche) cả Merezhkovski, cả nhân vật trong Trận quyết đấu của Kuprin (một phần là alter ego của tác giả) Nazanski, đều nói. Ở trường hợp đầu, từ “bản thân” thậm chí còn viết hoa; tuy nhiên, sự sùng bái bản thân – theo tinh thần Kitô giáo mới của Merezhkovski – không tách khỏi “tình yêu vĩ đại đối với những người khác, khỏi chiến công tôn giáo quên mình”(41). Nietzsche của Kuprin, ngược lại, đối lập “tình yêu bản thân” với luân lí Kitô giáo (tình thương “trâu bò” đối với đồng loại, nhưng đồng thời lại có khả năng cảm nhận “nồng nhiệt” “niềm vui, nỗi buồn của người khác” và suy tưởng về “cuộc sống tương lai tương tự thánh thần”, trong đó “sẽ không còn nô lệ, không còn chủ nô”(42). Điểm nhấn đặc biệt vào nội dung nhân văn trong triết học Nietzsche, thậm chí vào yếu tố xã hội ẩn đằng sau cảm xúc cá nhân, về nhiều phương diện, đã xác định chính nét độc đáo của “Nietzsche Nga”.

Tiếp nhận ảnh hưởng Nietzsche – không còn nghi ngờ, là đặc tính chung của quá trình văn học Nga giao thời hai thế kỉ. Nó giúp hình thành một trong những tư tưởng cơ bản của quá trình văn học này - khẳng định giá trị tự thân của cá nhân - trong những cách hiểu đa dạng nhất, đôi khi là đối lập. Tuy nhiên, sự tiếp nhận Nietzsche không mang lại điều gì hoàn toàn mới mẻ cho đời sống tinh thần Nga. Ở lĩnh vực này nó được nuôi dưỡng trước hết bởi chính những cội nguồn gốc rễ của mình. Nietzsche được đọc thông qua lăng kính truyền thống văn hoá dân tộc. Điều này, trước hết, lí giải sự chuyển hoá những tư tưởng của triết gia Đức trong môi trường Nga. Cả tinh thần hợp quần (sobornost) của người Nga cũng nhập cư vào một “Nietzsche Nga” đã được nhân đạo hóa. Mặt khác, nguồn gốc các yếu tố cá nhân thuần tuý chủ nghĩa cũng được tìm kiếm trong tư tưởng dân tộc. Ám chỉ những nguồn gốc đó, năm 1899 V.S. Soloviev viết: “Tôi nhận thấy ở Lermontov, một ông tổ trực tiếp của tâm trạng tinh thần, của khuynh hướng tình cảm, tư tưởng, đôi khi cả hành động, mà nói ngắn gọn có thể gọi là “chủ nghĩa Nietzsche”(43). Nói tới “những chiều sâu tăm tối của sự hung bạo, của ham hố quyền lực vô hạn độ, “điều mà bây giờ được F. Nietzsche lí thuyết hoá”, N.K. Mikhailovski nhận xét: “… Đối với nhà văn Nga, thậm chí là nhà văn không cần sâu sắc và hiểu biết lắm, những lời đó không phải không quen biết (…) Thiên tài vĩ đại, nói thẳng là thiên tài khủng khiếp Dostoevski và tính rõ ràng đến nao lòng của những bức tranh và những hình tượng do ông dựng lên còn làm sáng tỏ những góc khuất của tâm lí con người hơn là những luận giải của Nietzsche”(44).

==================

(36) Trong khoảng thời gian 1980-1990 ở nước ngoài đã xuất bản hàng loạt công trình và chuyên luận về vấn đề “Nietzsche Nga”: Nietzsche in Russia / Fd. by B.G.Rosenthal. Princeton University Press, 1986 (công trình nghiên cứu kèm theo một bảng mục giá trị tài liệu dịch và tư liệu phê bình văn học về Nietzsche); Clowes E.W. The revolution of Moral Consciousness: Nietzsche in Russian Literature, 1890-1914. Northem Illinois University Press, 1988; Nietzsche and Soviet Culture: Ally and adversary / Ed. By B.G.Rosethal. Cambridge University Press, 1994 (“Thế kỉ bạc” được nói tới ở phần đầu tiên của cuốn sách – “Nietzsche and the Prerevolutionary Root of Soviet Culture”).

Những công trình xuất bản trong nước liên quan tới vấn đề này có thể chỉ ra: Danilevski R.Iu. Hình tượng Nga của F. Nietzsche: Tiền lịch sử và khởi đầu hình thành // Giao thời thế kỉ XIX và thế kỉ XX: Từ lịch sử quan hệ thế giới của văn học Nga.L., 1991.

(37) Mikhailovski Nik. Văn học và đời sống // Tài nguyên Nga.1894. Số 12, tr.94.

(38) Xem: Lane Ann M. Nietzsche Comes to Russia: Popularization and Protét in the 1890; Rosenthal B.G. Introdution // Nietzsche in Russia. P. 63-65, 12,13; Clowes E.W. The revolution of Moral Consciousness. P58; Dalnievski R.Iu. Hình tượng Nga của F. Nietzsche // Ở giao thời thế kỉ XIX - thế kỉ XX, tr.31-33.

(39) Andreev L. Tuyển tập 6 tập. T.2, tr.233.

(40) Gorki M. Toàn tập. Thư từ. 24 tập. T.1, tr.246.

(41) Merezkovski D.S. L. Tolstoi và Dostoevski // Merezkovski D.S. Toàn tập 24 tập. M., 1914. T.11. tr.72-73.

(42) Kuprin A.I. Tuyển tập 6 tập. M., 1958. T.3, tr.346, 530-531.

(43) Soloviev V.S. Lermontov // Soloviev V. Thơ, mĩ học, phê bình văn học / tập hợp: N.V. Kotrelev. M., 1990. tr.441.

(44) Mikhailovski Nik. Văn học và đời sống // Tài nguyên Nga.1894. Số 11, tr.126-127.


(còn tiếp)

ĐÀO TUẤN ẢNH dịch
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #5  
Cũ 16-05-2008, 19:45
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Văn học Nga "Thế kỷ Bạc" như một chỉnh thể phức tạp

GS.TS. V.A. Keldysh

(Tiếp theo)

Ý nghĩa của di sản cổ điển Nga đối với văn học giao thời thế kỉ đã được nhận thức từ buổi bình minh của thế kỉ bạc (chúng tôi đã điểm qua cuốn sách của Merezhkovski để chứng minh điều này). Và cuối cùng thì những sợi chỉ kết nối chắc hơn cả đã có được nhờ sáng tác của Dostoevski. Mối quan tâm tới ông trong đời sống tinh thần Nga giáp ranh hai thế kỉ là không thể sánh nổi so với những thập niên trước đó. “Xã hội Nga đang tiếp nhận di sản mà nó chối bỏ rất lâu”(45), - S.N. Bulgakov viết. Trong sáng tạo nghệ thuật không đếm nổi những lời viện dẫn thường xuyên tới Dostoevski (từ Belyi và Remizov tới Gorki) và những cách giải quyết vấn đề của ông đã được các nhà văn đầu thế kỉ XX kiểm chứng thông qua kinh nghiệm bản thân - kiểm chứng với sự tin tưởng hoàn toàn đối với ông, cũng như những tranh cãi quyết liệt cùng ông. Song cả hai trường hợp đều khẳng định sự cần thiết của Dostoevski. Sự cần thiết, một cách gián tiếp, thể hiện cả ở những hiện tượng văn học không có liên quan trực tiếp tới sáng tác của nhà văn này và cũng không nhận thức được sự lệ thuộc đối với ông.

Một trong những tuyến kế thừa quan trọng nhất bắt đầu từ Dostoevski là những suy tư của nhà văn này về số phận từng cá nhân riêng lẻ trong quan hệ của nó với cái chung, đó là những suy tư căng thẳng nhất trong toàn bộ văn học cổ điển Nga, và cuối cùng cũng là vấn đề quan trọng nhất - giữa những lí giải khác về vấn đề cá nhân - đối với văn học giao thời thế kỉ.

Viacheslav Ivanov viết về Dostoevski – “một thi sĩ của bộ sử thi bất tận về cuộc chiến giữa Chúa trời và quỹ dữ trong trái tim con người”(46), nhắc tới những lời quen thuộc đã trở thành văn tuyển của Dmitri Karamazov: “Ở đây quỷ giao chiến với Chúa trời và chiến trường là trái tim con người”(47), trong đó - đặc trưng cho Dostoevski - nội dung bản thể rộng lớn nhất hiện ra hoàn toàn mang tính cá nhân, trong những xung đột tinh thần của con người cụ thể. Cặp đối lập “Chúa trời và quỷ dữ” có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sáng tác của Dostoevski, còn được nhà văn xác định một cách khác, gần với cốt lõi tư tưởng của ông hơn, - “Thần - nhân (bogochelovek) và nhân – thần (chelovekobog)”. “Người sẽ tới và tên Người là nhân – thần”, - Kirilov, một nhân vật trong Lũ người quỷ ám, đã nói lên tư tưởng cứu thế tâm đắc của mình. “Thần - nhân?” – Stavrogin hỏi lại cho chính xác. “Nhân – thần, khác nhau ở chỗ ấy đấy”, - Kirilov trả lời. Cặp đối lập này, trên bình diện khái niệm, được hiểu như sự đối kháng giữa hai quan niệm không tương dung – quan niệm hữu thần và quan niệm vô thần, “hội thánh” và cá nhân. Nhưng trong thế giới hình tượng của nhà văn, cặp đối lập này còn hướng tới bản chất tự nhiên của con người, và với tư cách ấy nó đã không còn mang tính rạch ròi quyết liệt như thế nữa. Trước mắt chúng ta - sự thống nhất của hai mặt đối lập, trong đó sự gắn kết của cá nhân con người với cái chung cũng quan trọng như giá trị bản thân nó, ý chí tự do của nó. Nếu như “thần - nhân” gắn với khái niệm về yếu tố siêu cá nhân trong bản chất con người, thì “nhân – thần” - dấu hiệu của yếu tố cá nhân trong nội dung hai chiều của nó: sự kính trọng của Dostoevski đối với cái “tôi” độc lập bên cạnh nỗi sợ hãi trước sự chuyển hoá của ý chí tự do thành chủ nghĩa duy kỉ tùy tiện.

Yếu tố “nhân – thần” của Dostoevski là sự báo hiệu trực tiếp tư tưởng “siêu nhân” của Nietzsche(48). Về điều này S. Bulgakov cũng đã nói tới, nhấn mạnh sự “vượt trội” của Dostoevski so với Nietzsche: “(…) tinh thần của nhà viết tiểu thuyết của chúng ta, bên cạnh tâm hồn Nietzsche-Ivan, còn tỏ ra có khả năng dung nạp cả tâm hồn Aliosa lẫn khí chất tiên tri của trưởng lão Zosima”(49).

Tính hai chiều và tính mâu thuẫn nội tại – hai “trụ cột” trong tư tưởng của Dostoevski về con người – phù hợp với quan niệm hai mặt thống nhất về cá nhân con người, mà thực chất, đã trở thành thành tựu chung của văn học “thế kỉ bạc”. Tính hợp thời của quan niệm này được xác nhận bởi các quá trình trái ngược trong cuộc sống tinh thần giao thời thế kỉ được đánh dấu bằng sự gia tăng mãnh liệt tinh thần cá nhân - từ “cái tôi’ nổi loạn được bao phủ bởi hào quang của chủ nghĩa anh hùng, tới sự gia tăng mối đe dọa về hiện tượng tha hóa. Bên cạnh đó, tính phức tạp trong thái độ của cá nhân đối với thế giới được văn học mô tả một cách căng thẳng đặc biệt. Điều này được lí giải, bên cạnh sự bùng nổ của bước ngoặt lịch sử, còn là kí ức về Dostoevski, về hình tượng thời đại trong những tác phẩm của ông được nhìn nhận thông qua những tình huống đầy cao trào kịch tính trong cuộc sống, những xung đột bi thảm và những dục vọng cuồng loạn. Hình tượng ấy nhiều người cùng thời với Dostoevski coi là không thật, là bệnh hoạn, là cường điệu quá mức, song nhiều hậu sinh lại tiếp nhận như là một khải thị.

Trong sáng tác của các nhà văn tượng trưng Nga, sự phân cực trong tư tưởng chung về cá nhân con người trở nên rõ ràng và nổi bật. Sự đối lập “thần - nhân”, và “nhân – thần”, tư tưởng hợp quần và tư tưởng cá nhân, được đề cập tới, thí dụ, trong cuộc tranh luận giữa “các nhà tượng trưng chủ nghĩa trẻ” và các nhà văn, nhà thơ theo khuynh hướng suy đồi những năm 1890. Tuy nhiên, ở đây không có sự khác biệt quá lớn. Sự tiếp nhận hiện tượng cá nhân như một hiện tượng mang mâu thuẫn nội tại “theo kiểu Dostoevski” có trong tất cả các nhánh của phong trào tượng trưng chủ nghĩa. Song, trong một số trường hợp, đóng vai trò quan trọng là khuynh hướng hoà giải các yếu tố cấu thành mang tính đối lập giữa “cái tôi” và “cái không – tôi”, còn ở những trường hợp khác thì sự bất đồng giữa chúng được thể hiện mạnh hơn.

Thậm chí sự tôn vinh “cái tôi tự đủ” một cách ồn ào, thách thức, đặc trưng cho “nhân vật trữ tình của trường phái tượng trưng thời kì đầu” trở nên phức tạp hơn bởi những “âm hưởng của sự tự phê phán có màu sắc suy đồi”. Quan niệm cá nhân mang tính mâu thuẫn nội tại được thể hiện sâu sắc và đầy kịch tính trong sáng tác của F.K. Sologub với sự sùng bái tưởng chừng vô điều kiện “cái tôi” nơi ông cùng với “huyền thoại” do nó “sáng tạo” ra, song cùng lúc với cả xúc cảm có sức tàn phá về sự cô đơn của con người tha hóa (trong các bài thơ và trong tiểu thuyết Con quỷ nhỏ). Sự tiếp nhận tình huống cá nhân cô đơn trong thế giới vừa như là hạnh phúc, vừa như là sự nguyền rủa, đã làm cho Leonit Andreev, vốn xa lạ trong nhiều cái với các nhà tượng trưng chủ nghĩa, gần gũi với Sologub. Đối cực “thần - nhân” với “nhân – thần”, theo cách riêng, in đậm dấu ấn ở nhân vật trữ tình trong thơ của Z.N. Gipnius. Theo nhận xét chính xác của O. Matich, nhân vật này kết hợp một cách độc đáo những nét của các nhân vật đối kháng của Dostoevski – “người bảo vệ ý Chúa” và “kẻ chống lại Chúa”. Merezhkovski cũng cố gắng tìm kiếm con đường tổng hoà. Sự gắn kết dị thường Kitô và phản Kitô trong các tác phẩm văn học và văn học - triết học của ông không đơn giản là sự phản ứng thần luận đối với tính lưỡng phân trong bản chất của thần thánh và cũng không chỉ là dấu ấn của “những xung đột tinh thần bên trong” của nhà văn, được phản chiếu lên cái nền của những mâu thuẫn đối kháng lịch sử-văn hoá(50), song còn là sự phản ánh tình huống cuộc sống giao thời thế kỉ - tính hai chiều cực đoan của các yếu tố ngã thể con người. Sự hài hoà, sự “kết hợp cuối cùng” của các yếu tố này còn ở phía trước, trong tương lai của Giao Ước Thứ ba.

Trường phái tượng trưng chủ nghĩa thế hệ sau cũng thể hiện tính chất phức tạp trong tiếp nhận cá nhân và sự tham dự của nó trong thế giới. Người ta đưa ra ý kiến về sự đối lập yếu tố hài hoà trong sáng tác của Blok với yếu tố bất hài hoà trong sáng tác của A. Belyi. Song sự khác biệt, tất nhiên, không tới mức triệt để: nhân vật trữ tình của Blok nhiều khi bị chấn động bởi những khủng hoảng của tâm thức “cô liêu”, còn trong thế giới nghệ thuật của Belyi thường xuyên diễn ra sự tìm kiếm những con đường dẫn tới “tính hợp quần”. Trong nhánh này của phong trào sáng tác tượng trưng, Viacheslav Ivanov đóng vai trò “người hoà giải” chính. Trong trường ca Con người (1915-1919) - một trong những tác phẩm thơ của ông hoàn thành trong giai đoạn trước cách mạng, với cốt truyện trữ tình - triết lí và tính khái quát đặc biệt, biện chứng của sự đối lập nghiệt ngã giữa yếu tố cá nhân và siêu cá nhân được kết thúc bằng những lời tán dương sự khắc phục tính đối lập. Tuy nhiên sự tổng hoà chúng một cách cao cả - vẫn chỉ là kì vọng vào tương lai.

Văn học hiện thực thời kì đó cũng đưa ra những song hành loại hình kì lạ - cả ở phong trào chung, lẫn ở những hiện tượng riêng biệt(51). Trong dòng văn học này, ở cuối thế kỉ, sự thể hiện “môi trường quần chúng vẹn toàn” (M.E. Saltykov-tsedrin) theo tinh thần truyền thống của các nhà văn thập niên 60 thế kỉ XIX và của văn học dân tuý, được đưa xuống hàng thứ hai, thay vào đó là sự gia tăng mối quan tâm tới số phận cá nhân.

Vào thời kì này, bất chấp những kêu gọi thường xuyên của L. Tolstoi – nhà đạo đức học Kitô giáo - từ bỏ cái “tôi”, những tác phẩm nghệ thuật nổi bật của ông lại nói về điều khác. Và cho dù những tác phẩm này có viết về thời kì nào - về đương đại hay về quá khứ (Khadzhi- Murat, Thây sống, Sau vũ hội, Vì sao?), dù những nhân vật có khác nhau như thế nào trong những tác phẩm này, dù vẫn giữ những yếu tố nào đó của sử thi, sự miêu tả đầy đủ thực tiễn xã hội (Khadzhi-Murat), thì cá nhân cụ thể đã trở thành trung tâm tự sự trong các sáng tác của nhà văn những năm 1890. Loại tự sự khác của nhà văn hình thành trước đó, bắt đầu những năm 1880 (trong “những truyện ngắn dân gian”, những vở kịch về đời sống nông dân, Quyền lực bóng tối, v.v...), trong đó đời sống nhân dân được miêu tả một cách “khái quát”, giờ đây đã bị lấn át.

Trong những tác phẩm cuối cùng của mình, Tolstoi cùng tham dự vào con đường văn học mới. Motip quan trọng của những tác phẩm này – “sự li khai” của cá nhân khỏi môi trường xã hội xung quanh – cũng đã trở thành một trong những môtip chủ yếu ở hàng loạt sáng tác của các nhà văn trẻ tuổi đương thời (Korolenko, Gorki, Andreiev…). Những xung đột của “con người thừa” mà phe phê bình dân chủ một thời đã nói tới một cách nghiêm khắc, giờ đây lại xuất hiện trên một bình diện mới. Nhưng sự xung đột giữa xã hội và cá nhân từ chối nó, được thể hiện thường xuyên hơn trong những hình thức đầy kịch tính căng thẳng. Gorki không còn gọi những nhân vật được tái sinh bởi văn học của thời đại giao thời thế kỉ là “những người thừa”, mà là “những người thoát vây”. “Họ không hẳn chỉ là những kẻ bị hắt hủi, mà chủ yếu còn là những người chủ động chối bỏ”(52), - N.K. Mikhailovski nói về những vật trong những sáng tác ban đầu của Gorki. Ở đây có một chuyển biến ý nghĩa đáng để ý. Ở định nghĩa đầu, trọng tâm nhấn vào kết quả đầy kịch tính của quá trình “li khai”, định nghĩa sau - vào sự nỗ lực thực sự nằm ở nền tảng quá trình đó.

Một đặc điểm khác của những nhân vật mới – cũng vẫn tính hai chiều của yếu tố cá nhân. Cả ở Khadzhi-Murat, cả ở những người chân đất của Gorki và những nhân vật lãng mạn trong những truyện cổ tích và thần thoại của ông, và ở hàng loạt những nhân vật tương tự của các nhà văn khác, cảm xúc cá nhân rõ rệt, quan điểm nổi loạn xã hội không thoả hiệp, thái độ khinh bỉ tình trạng nô lệ nhiều khi gắn kết với những nét tiêu cực trong tính cách: vị lợi, cá nhân vô chính phủ. Cách hiểu khác nhau của giới phê bình về hai loại cá nhân đối cực trong tác phẩm Bà lão Izergil là công bằng, song chưa đủ. Larra - kẻ duy kỉ cá nhân theo kiểu Nietzsche chà đạp lên người khác và Danko - người vị tha, cuối cùng gắn với nhau bởi cùng số phận - bị ruồng bỏ, cô độc và xa lạ với nhân quần. Thái độ phức tạp đối với những vấn đề cá nhân - một đặc điểm nổi trội của văn học giao thời thế kỉ một lần nữa được thể hiện. Trong văn xuôi Gorki thời kì đầu và của một loạt các nhà văn cùng thời, quan điểm chiếm ưu thế là quan điểm cá nhân tách khỏi xã hội (cho dù cá nhân đó có những tư tưởng nhân đạo cao cả), ý thức về sự được lựa chọn của mình.

Sự bùng phát yếu tố cá nhân còn lí giải sức cuốn hút của một kiểu quan hệ xác định giữa nhân vật và tác giả. Đây là nói về định hướng thường thấy nhằm tới kiểu nhân vật anh hùng của bi kịch, loại nhân vật trở thành trung tâm tự sự và thể hiện thế giới quan của tác giả, cho dù ở mức độ khác nhau, - lúc thì không trùng khớp, khi lại rất gần gũi. Khuynh hướng này đã lôi cuốn văn học Nga giao thời thế kỉ vào dòng chảy của tiến trình văn học thế giới thời kì đó. “Brand – đó chính là tôi trong những giây phút tốt đẹp nhất của cuộc đời (…)” – G. Ibsen nói về nhân vật nổi tiếng của mình(53). Sáng tác của tác giả Brand, Đốc tờ Stokman và những tác phẩm khác với cảm hứng cá nhân mạnh mẽ và tương thích với nó là “kết cấu nghệ thuật đơn tính” là một trong những hiện tượng có ảnh hưởng hơn cả đối với văn học nước Nga ở giáp ranh thế kỉ. Với mức độ đồng tham dự tương tự là phong trào văn học “tân lãng mạn” ở phương Tây đối lập sự phản kháng của cá nhân đơn độc với quyền năng định mệnh của môi trường đối với con người (J. London với tư cách tác giả chùm truyện ngắn về vùng đất Clonday, J. Konrad, E. Rostand tác giả vở kịch nổi tiếng Syrano de Bergerac v.v..).

Trong “thành phần” của quan niệm cá nhân ở thời kì chuyển giao thế kỉ, hiển nhiên có mặt cả truyền thống “đấu tranh vì cá nhân” (N.K. Mikhailovski) của văn học dân tộc (chủ nghĩa lãng mạn ba thập niên đầu thế kỉ XIX, “những người thừa” đã được nhắc tới), nhưng được đổi mới một cách cơ bản theo tinh thần của một thời đại chờ đợi những kịch biến và chống chủ nghĩa thực chứng. Bậc tiên khu gần gũi với phong trào đổi mới này là sáng tác của V.M. Garshin, tác giả các truyện Bông hoa đỏ, Attalea princeps... – một kinh nghiệm thể hiện xung đột giữa cá nhân và thế giới theo lối bi kịch - biểu hiện chủ nghĩa.

Chúng tôi nhận thấy – dù điều này thoạt nhìn có vẻ nghịch lí – tư tưởng và cấu trúc lấy nhân vật làm trung tâm tìm thấy sự phản ánh cả trong văn học của chủ nghĩa tự nhiên Nga thời kì đó; tuy nhiên, ở đây nổi lên bình diện hàng đầu là tính khuôn sáo, sự câu nệ vào truyền thống.

Định hướng tới “những nhân vật không khuất phục và cô độc” (Skitalets) đặc trưng cho khuynh hướng tân lãng mạn (theo nghĩa rộng của từ) trong văn học Nga những năm 1890-1900, dần biến đổi cùng với sự tới gần của bão táp cách mạng 1905. Phong trào sáng tác hiện thực chủ nghĩa (và đặc biệt là nhóm sáng tác gần gũi với nhà xuất bản “Tri thức”) bắt đầu không còn gắn tư tưởng tích cực với chủ nghĩa cá nhân nhân đạo nữa, mà với ý chí của “nhà hoạt động tập thể”, lôi cuốn theo mình những cá nhân cụ thể, không trùm lấp nó, mà, ngược lại, giải phóng tiềm năng tinh thần của nó. Nhóm phái các nhà văn tượng trưng cũng bị cuốn vào lịch sử cách mạng. Phong trào giải phóng được họ tiếp nhận chỉ như một bước đi, song là bước đi quan trọng trên con đường dẫn tới cuộc cách mạng chân chính, siêu nghiệm của tinh thần. Tức là, trên con đường dẫn tới “sự thống nhất tất cả”, tới sự hài hoà những yếu tố cá nhân và yếu tố siêu cá nhân trong quá trình đổi mới thế giới.

Trong giai đoạn văn học tiếp theo – sau thất bại của cuộc cách mạng lần Thứ Nhất - xuất hiện phong trào sáng tác hiện thực mới đánh mất những hi vọng hào hứng vào sự đổi mới nhanh chóng dòng chảy lịch sử. Trong dòng văn học này quan niệm về bản nguyên “tôi” và “không-tôi” lại trở nên phức tạp: chúng được tiếp nhận một cách khác nhau nơi các nhà văn. Và mặc dù ý tưởng về sự tổng hòa trong tương lai vẫn còn đó, song nó nằm yên ở tầng sâu lắng của cảm quan thế giới liên quan tới phong trào sáng tác hiện đại chủ nghĩa.

Như vậy, từ những dòng văn học khác nhau hình thành một cái gì đó thống nhất liên quan tới một trong những vấn đề then chốt của “kỉ nguyên bạc”. Nó không chỉ dẫn đến sự chối từ đơn giản quan niệm thực chứng chủ nghĩa. Khủng hoảng của thời đại giáp ranh hai thế kỉ làm sâu sắc thêm cảm nhận về hiểm hoạ kép đe doạ cá nhân con người: cả sự hoà tan vào “môi trường”, cả sự li khai nó (điều thứ hai này được cảm nhận đặc biệt nhạy sắc chính ở mảnh đất Nga với những gốc rễ tâm thức xã hội luận của nó). Lần đầu tiên trong văn học chúng ta những sản phẩm mang yếu tố cá nhân được đặt vào bảng màu đa dạng đến vậy. Vận mệnh của tâm thức cá nhân lúc được soi rọi một cách cao cả, khi mang màu sắc bi hài, sẽ trở thành một trong những vấn đề mâu thuẫn nhất, nan giải nhất của toàn bộ văn học thế giới thế kỉ XX.

45) Bulgakov S. Ghi chép về F.M.Dostoevski. Qua ¼ thế kỉ (1881-1906) // Dostoevski F.M. Toàn tập 14 tập. M., 1906. T.1, tr.5.

(46) Ivanov Viach. Dostoevski và tiểu thuyết – bi kịch// Ivanov Viach. Tuyển các tác phẩm. Bruisel, 1987. T.4. tr.404.

(47) Dostoevski F.M. Toàn tập 30 tập. L., 1976. T.14, tr.100.

(48) Chúng tôi, tất nhiên, không động chạm tới hàng loạt bình diện của vấn đề phức tạp “Dostoevski-Nietzsche” mà một mảng lớn phê bình văn học đã đề cập.

(49) Bulgakov S. Ivan Karamazov (trong tiểu thuyết của Dostoevski Anh em nhà Karamazov), như một kiểu triết học // Những vấn đề triết học và tâm lí học. 1902. Quyển 1, tr.838-839.

(50) “Bi kịch tinh thần của Merezkovski là ở chỗ ông là kẻ tuẫn tiết của chủ nghĩa nhị nguyên (…)” Rudich V. Dmitri Merezkovski (1866-1941) // Lịch sử văn học Nga thế kỉ XX. Kỉ nguyên bạc, tr.219,220).

(51) Thí dụ, một số nét tương đồng của quan niệm cá nhân được lí giải bởi “hơi thở của cuộc sống trong cùng một thời đại”, tìm thấy ở nhà hiện thực Tchekhov và nhà tượng trưng Annenski (xem: Kolobaeva L.A. Tư liệu đã dẫn, tr.51-54), bên cạnh đó thấy rõ ác cảm của Annenski - nhà phê bình đối với Tchekhov - nghệ sĩ.

(52) Mikhailovski Nik. Về Maksim Gorki và về những nhân vật của ông // Mikhailovski N.K. Những bài phê bình văn học. M., 1957. T.4, tr.627.

(53) Ibsen G. Tuyển tác phẩm 4 tập. M., 1958. t.4, tr.691.


(còn tiếp)

ĐÀO TUẤN ẢNH dịch
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #6  
Cũ 29-09-2009, 17:27
Vania Vania is offline
Banned
 
Tham gia: Jul 2009
Bài viết: 2,103
Cảm ơn: 939
Được cảm ơn 661 lần trong 437 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Vania
Default

Các bác ơi, làm ơn cho em hỏi mấy ông bà phụ trách thiết kế Mĩ thuật bên NXB Hội nhà văn không hiểu đã đọc một dòng nào chưa cuốn "Chiến tranh và hòa bình" thế ạ ? Cái "anh ku" Napoléon B. đem hàng ngàn binh lính lê lưỡi gươm và nòng pháo đi khắp châu Âu chỉ để chém giết thỏa mãn thói yêng hùng, sau cùng thì bị nhân dân Nga giáng những đòn chí tử, mà sao lại được trưng đầy trên trang bìa như một người hùng, chỉ vì những bức tranh về ông ta thường là... vẽ rất đẹp !


Giá em mà có thẩm quyền thì hẳn sẽ đưa hình ảnh vị tướng Kutuzov thế vào đó mới xứng đáng...!!!


http://www.napolun.com/mirror/web2.a...ino_battle.htm


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Thật là bát nháo !!!!!!!!!!!!!!!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Viet Nga (29-09-2009)
Trả lời

Bookmarks

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Xin bài hát trong phim "Hồ sơ chiến tranh" - VTC1 violin Âm nhạc 7 10-08-2011 13:37
Các tập liên khúc của Modest Mussorgsky - mở đầu: "Phòng của bé" ("Детская") Nina Nhạc cổ điển 16 14-10-2010 05:42
Video clip "Lễ duyệt binh chiến thắng" năm 1945 nguyentien Điện ảnh - Truyền hình 4 24-08-2008 19:39
Open box "Thơ ca, văn học của chính bạn" virus Thông báo của BQT 0 02-03-2008 00:43


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 02:37.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.