Để góp phần khơi dậy cảm hứng đọc, dịch và giới thiệu thơ Nga, đồng thời nhằm giúp những ai chưa từng đọc trước đây về chủ đề này, NA lập topic này để repost những bài viết đã được giới thiệu trên trang chủ về phác thảo chân dung các nhà thơ qua phần thơ dịch của các thành viên NNN.
[size=18:2223e695e7]Nữ sĩ Marina Xvetaeva, bà là ai?[/size]
Nguyên Hùng
Cuộc đời và tác phẩm
M. Xvetaeva (1892-1941)
Marina Xvetaeva sinh ngày 26 tháng 9 năm 1892 trong một gia đình có truyền thống văn hóa. Bố là Ivan Vladimirovich, giáo sư Trường Đại học tổng hợp Moskva, nhà triết học đồng thời là nhà hoạt động nghệ thuật nổi tiếng. Mẹ từng là một nghệ sĩ dương cầm tài năng.
Xvetaeva đã trải qua thời thơ ấu của mình ở Moskva và Tarus. Năm 16 tuổi, một mình đến Paris để tham dự tại Sorbonn một khóa ngắn hạn về lịch sử văn học Pháp. Bắt đầu làm thơ từ lúc lên sáu (không chỉ bằng tiếng Nga mà còn cả bằng tiếng Pháp và tiếng Đức), được in thơ từ năm 16 tuổi, và hai năm sau cho xuất bản cuốn “Album hoàng hôn” ("Вечерний альбом") từng được các nhà phê bình đánh giá cao. Các tập thơ của Xvetaeva từ đó lần lượt theo nhau xuất hiện trước sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả nhờ sự độc đáo có phần lập dị của một phong cách thơ. Có thể nói, thơ Xvetaeva không thuộc một trào lưu văn học nào.
Năm 1912 Marina Xvetaeva lập gia đình. Chồng bà là Xergey Efron, ông đồng thời cũng là người bạn gần gũi nhất của nhà thơ.
Những năm chiến thanh thế giới thứ nhất, cách mạng và nội chiến là thời gian mà Xvettaeva giành hoàn toàn cho sáng tác. Bà sống ở Moskva và viết nhiều, nhưng hầu như không công bố tác phẩm của mình. Bà không tham gia Cách mạng tháng Mười vì không ủng hộ những người khởi nghĩa. Trong giới văn học, như trước đây bà vẫn giữ được tính biệt lập của mình.
Tháng 5 năm 1922 Xvetaeva quyết định cùng con gái ra nước ngoài để đến với chồng, người còn sống sót sau cuộc thanh trừng Đenikin và hiện là sinh viên Đại học tổng hợp Paris. Thời gian đầu hai mẹ con Xvetaeva sống ở Berlin, sau đó sang sống ở Praha, và vào tháng 11 năm 2005 thì cả gia đình lại chuyển đến Paris cùng với cậu con trai mới sinh. Cuộc sống của Xvetaeva lúc bấy giờ là cuộc sống của người lưu vong, vô cùng túng bấn và khốn khó.
Dẫu thế, sức sáng tạo của Xvetaeva không hề tỏ ra yếu ớt: năm 1923 xuất bản cuốn “Nghề thủ công” ("Ремесло") ở Berlin, cuốn sách nhận được sự đánh giá tích cực của giới phê bình. Năm 1924, trong thời gian ở Praha, bà viết “Trường ca núi đồi”, “Trường ca sự kết thúc” ("Поэма Горы", "Поэма Конца"). Năm 1926 hoàn thành trường ca “Cái bẫy chuột” ("Крысолов") và bắt tay viết các trường ca “Từ phía biển” ("С моря"), “Chiếc thang gác” ("Поэма Лестницы"), “Không khí” ("Поэма Воздуха") v.v…
Đa số trong số các tác phẩm trên vẫn chưa được công bố: nếu như thoạt tiên, những người lưu vong Nga tiếp nhận Xvetaeva như người của mình, thì rất nhanh sau đó bà đã trở nên đơn độc hoàn toàn vì tính độc lập và không chịu thỏa hiệp trong lập trường của mình. Bà không tham gia bất kỳ một xu hướng chính trị nào. Tập sách cuối cùng khi nhà thơ còn sống được xuất bản năm 1928 ở Paris là cuốn “Sau nước Nga” ("После России"), bao gồm các tác phẩm thơ được viết trong những năm 1922-1925.
Năm 1939 Xvetaeva được khôi phục quốc tịch Liên Xô và theo chồng trở về nước. Bà từng mơ ước, với sự trở về lần này bà sẽ là một “vị khách được mong đợi”. Nhưng điều đó đã không xảy ra: chồng và con gái của bà thì bị bắt giữ, em gái thì vào tù. Như trước đây, Xvetaeva lại phải sống cuộc đời đơn độc ở Moskva qua bao nhiêu biến cố. Chiến tranh xảy ra, bà cùng với con trai bị ném tới Elabuga. Trong tình cảnh cô đơn, không việc làm và tuyệt vọng, nữ thi sĩ đã tự kết liễu cuộc đời vào ngày 31 tháng 8 năm 1941.
Với độc giả Việt Nam
Có thể nói rằng, dù là nữ thi sĩ Nga tài năng nhưng Marina Xvetaeva đối với độc giả Việt Nam hãy còn khá xa lạ. Điều này cũng dễ hiểu: ngay ở Nga, mãi đến những năm gần đây thì danh phận của nữ nhà thơ mới được thừa nhận. Hơn thế, sau biến cố tháng 8 năm 1991, do nhiều lý do khác nhau, việc giới thiệu và cổ súy văn học Nga và Xô viết nói chung và thi ca Nga nói riêng ở nước ta, dường như đã trở nên rất hiếm hoi trên các các phương tiện thông tin đại chúng.
Mấy năm trước, nữ nhà thơ Ý Nhi đã cho in một chùm thơ về Marina Xvetaeva, trong đó có bài “Xvetaeva - Người yêu”, để bày tỏ sự cảm thông với nhà thơ đã khuất:
Chưa một lần gặp gỡ
giữa bao nhiêu hỗn tạp của đời
bà chỉ nghe vang lên một cái tên yêu dấu
và đôi môi run rẩy
thầm thì nhắc lại.
Chưa một lần gặp gỡ
hằng đêm
bà nguyện cầu sự bình yên cho người ấy
Chưa một lần gặp gỡ
khóc lặng lẽ dưới hàng cây xanh
và muốn áp khuôn mặt mình vào cỏ.
Chưa một lần gặp gỡ
bà khước từ mọi mối tình khác
như một người tuyệt vời hạnh phúc
như một kẻ hoàn toàn vô vọng.
Chưa một lần gặp gỡ
bà gắn mối tình của mình
cùng tình yêu cay đắng với nước Nga.
Bà đi đến cuộc trùng phùng
trên đôi chân rớm máu.
Về phần mình, NuocNga.net xin được giới thiệu sau đây một trích đoạn trong tác phẩm “Cho người yêu dấu” (“Любимому”) và phần dịch ra tiếng Việt của Quỳnh Hương và Lưu Hải Hà, các thành viên của NuocNga.net:
Bản gốc tiếng Nga
Любимому
Мне нравится, что Вы больны не мной,
Мне нравится, что я больна не Вами,
Что никогда тяжелый шар земной
Не уплывет под нашими ногами.
Мне нравится, что можно быть смешной -
Распущенной - и не играть словами,
И не краснеть удушливой волной,
Слегка соприкоснувшись рукавами.
Мне нравится еще, что Вы при мне
Спокойно обнимаете другую,
Не прочите мне в адовом огне
Гореть за то, что я не Вас целую.
Что имя нежное мое, мой милый, не
Упоминаете ни днем, ни ночью - всуе...
Что никогда в церковной тишине
Не пропоют над нами: Аллилуйя!
Спасибо Вам и сердцем и рукой,
За то, что Вы меня - не зная сами! -
Так любите: за мой ночной покой,
За редкость встреч закатными часами,
За наши не-гулянья под луной,
За солнце, не у нас над головами, -
За то, что Вы больны - увы! - не мной,
За то, что я больна - увы! - не Вами!
Bản dịch của Quỳnh Hương:
Anh đau lòng đâu có phải vì em,
Em cũng thế, và em thích thế,
Em cũng thích trái đất này quay mãi
Mà chẳng thể nào trôi mất dưới chân mình
Em cũng thích cứ đầu bù tóc rối
Thiếu chỉnh tề một chút cũng chẳng sao
Không nói khéo cũng chẳng cần đỏ mặt
Khi vô tình để tay áo chạm nhau
Em càng thích anh ôm hôn ai khác
Trước mặt em, không giữ ý, ngại ngần
Chính vì thế em cũng không phải chịu
Lửa thiêu địa ngục khi hôn kẻ khác anh
Anh dịu hiền, anh không cần phải nhắc
Tên em trong bề bộn lo toan...
Nhạc hôn lễ trước bàn thờ Chúa
Mỗi chúng ta tự nghe bên người khác của mình
Cảm ơn anh với tất cả tấm lòng
Dù vô tình vẫn yêu em hơn tất thảy
Cảm ơn anh khi màn đêm êm đềm chảy
Và những hẹn hò thưa thớt lúc hoàng hôn
Cảm ơn anh - bên em không đi dạo dưới trăng
Mặt trời cũng không sưởi chung hai đứa
Anh đau lòng, than ôi, nhưng chẳng vì em nữa
Em cũng vậy, than ôi, đau chẳng phải vì anh
Bản dịch của Lưu Hải Hà:
Em rất vui vì anh không yêu em
Em rất vui vì em không yêu anh
Vì chẳng bao giờ trái đất này nặng trĩu
Lại trôi đi dưới gót chúng mình
Em rất vui vì em có thể nực cười
Chẳng cần chơi chữ, và có thể lả lơi
Và nếu như tay áo ta chạm khẽ
Thì em chẳng cần đỏ mặt đến nghẹn lời
Em rất vui vì khi em có mặt
Anh điềm tĩnh ôm một người khác đẹp xinh
Đừng rủa em phải cháy trong địa ngục
Vì người em hôn chẳng phải là anh.
Cả ngày lẫn đêm chẳng bao giờ anh nhắc
Tên em dịu dàng – thật vô ích quá mà
Và chẳng bao giờ trong nhà thờ yên tĩnh
Người ta hát mừng chúng mình “alleluia”
Cám ơn anh, bằng cả trái tim trọn vẹn
Vì dẫu chẳng ngờ, nhưng anh thật yêu em:
Anh chẳng quấy rầy sự yên tĩnh mỗi đêm
Ta chẳng cùng nhau đón hoàng hôn mấy tối
Vì ta không cùng đi dạo dưới trăng thanh
Vì mặt trời chẳng chiếu sáng đôi mình
Vì – thật tiếc rằng – anh không yêu em
Vì – thật tiếc rằng – em không yêu anh.
....
[size=18:2223e695e7]Nữ sĩ Marina Xvetaeva, bà là ai?[/size]
Nguyên Hùng
Cuộc đời và tác phẩm
M. Xvetaeva (1892-1941)
Marina Xvetaeva sinh ngày 26 tháng 9 năm 1892 trong một gia đình có truyền thống văn hóa. Bố là Ivan Vladimirovich, giáo sư Trường Đại học tổng hợp Moskva, nhà triết học đồng thời là nhà hoạt động nghệ thuật nổi tiếng. Mẹ từng là một nghệ sĩ dương cầm tài năng.
Xvetaeva đã trải qua thời thơ ấu của mình ở Moskva và Tarus. Năm 16 tuổi, một mình đến Paris để tham dự tại Sorbonn một khóa ngắn hạn về lịch sử văn học Pháp. Bắt đầu làm thơ từ lúc lên sáu (không chỉ bằng tiếng Nga mà còn cả bằng tiếng Pháp và tiếng Đức), được in thơ từ năm 16 tuổi, và hai năm sau cho xuất bản cuốn “Album hoàng hôn” ("Вечерний альбом") từng được các nhà phê bình đánh giá cao. Các tập thơ của Xvetaeva từ đó lần lượt theo nhau xuất hiện trước sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả nhờ sự độc đáo có phần lập dị của một phong cách thơ. Có thể nói, thơ Xvetaeva không thuộc một trào lưu văn học nào.
Năm 1912 Marina Xvetaeva lập gia đình. Chồng bà là Xergey Efron, ông đồng thời cũng là người bạn gần gũi nhất của nhà thơ.
Những năm chiến thanh thế giới thứ nhất, cách mạng và nội chiến là thời gian mà Xvettaeva giành hoàn toàn cho sáng tác. Bà sống ở Moskva và viết nhiều, nhưng hầu như không công bố tác phẩm của mình. Bà không tham gia Cách mạng tháng Mười vì không ủng hộ những người khởi nghĩa. Trong giới văn học, như trước đây bà vẫn giữ được tính biệt lập của mình.
Tháng 5 năm 1922 Xvetaeva quyết định cùng con gái ra nước ngoài để đến với chồng, người còn sống sót sau cuộc thanh trừng Đenikin và hiện là sinh viên Đại học tổng hợp Paris. Thời gian đầu hai mẹ con Xvetaeva sống ở Berlin, sau đó sang sống ở Praha, và vào tháng 11 năm 2005 thì cả gia đình lại chuyển đến Paris cùng với cậu con trai mới sinh. Cuộc sống của Xvetaeva lúc bấy giờ là cuộc sống của người lưu vong, vô cùng túng bấn và khốn khó.
Dẫu thế, sức sáng tạo của Xvetaeva không hề tỏ ra yếu ớt: năm 1923 xuất bản cuốn “Nghề thủ công” ("Ремесло") ở Berlin, cuốn sách nhận được sự đánh giá tích cực của giới phê bình. Năm 1924, trong thời gian ở Praha, bà viết “Trường ca núi đồi”, “Trường ca sự kết thúc” ("Поэма Горы", "Поэма Конца"). Năm 1926 hoàn thành trường ca “Cái bẫy chuột” ("Крысолов") và bắt tay viết các trường ca “Từ phía biển” ("С моря"), “Chiếc thang gác” ("Поэма Лестницы"), “Không khí” ("Поэма Воздуха") v.v…
Đa số trong số các tác phẩm trên vẫn chưa được công bố: nếu như thoạt tiên, những người lưu vong Nga tiếp nhận Xvetaeva như người của mình, thì rất nhanh sau đó bà đã trở nên đơn độc hoàn toàn vì tính độc lập và không chịu thỏa hiệp trong lập trường của mình. Bà không tham gia bất kỳ một xu hướng chính trị nào. Tập sách cuối cùng khi nhà thơ còn sống được xuất bản năm 1928 ở Paris là cuốn “Sau nước Nga” ("После России"), bao gồm các tác phẩm thơ được viết trong những năm 1922-1925.
Năm 1939 Xvetaeva được khôi phục quốc tịch Liên Xô và theo chồng trở về nước. Bà từng mơ ước, với sự trở về lần này bà sẽ là một “vị khách được mong đợi”. Nhưng điều đó đã không xảy ra: chồng và con gái của bà thì bị bắt giữ, em gái thì vào tù. Như trước đây, Xvetaeva lại phải sống cuộc đời đơn độc ở Moskva qua bao nhiêu biến cố. Chiến tranh xảy ra, bà cùng với con trai bị ném tới Elabuga. Trong tình cảnh cô đơn, không việc làm và tuyệt vọng, nữ thi sĩ đã tự kết liễu cuộc đời vào ngày 31 tháng 8 năm 1941.
Với độc giả Việt Nam
Có thể nói rằng, dù là nữ thi sĩ Nga tài năng nhưng Marina Xvetaeva đối với độc giả Việt Nam hãy còn khá xa lạ. Điều này cũng dễ hiểu: ngay ở Nga, mãi đến những năm gần đây thì danh phận của nữ nhà thơ mới được thừa nhận. Hơn thế, sau biến cố tháng 8 năm 1991, do nhiều lý do khác nhau, việc giới thiệu và cổ súy văn học Nga và Xô viết nói chung và thi ca Nga nói riêng ở nước ta, dường như đã trở nên rất hiếm hoi trên các các phương tiện thông tin đại chúng.
Mấy năm trước, nữ nhà thơ Ý Nhi đã cho in một chùm thơ về Marina Xvetaeva, trong đó có bài “Xvetaeva - Người yêu”, để bày tỏ sự cảm thông với nhà thơ đã khuất:
Chưa một lần gặp gỡ
giữa bao nhiêu hỗn tạp của đời
bà chỉ nghe vang lên một cái tên yêu dấu
và đôi môi run rẩy
thầm thì nhắc lại.
Chưa một lần gặp gỡ
hằng đêm
bà nguyện cầu sự bình yên cho người ấy
Chưa một lần gặp gỡ
khóc lặng lẽ dưới hàng cây xanh
và muốn áp khuôn mặt mình vào cỏ.
Chưa một lần gặp gỡ
bà khước từ mọi mối tình khác
như một người tuyệt vời hạnh phúc
như một kẻ hoàn toàn vô vọng.
Chưa một lần gặp gỡ
bà gắn mối tình của mình
cùng tình yêu cay đắng với nước Nga.
Bà đi đến cuộc trùng phùng
trên đôi chân rớm máu.
Về phần mình, NuocNga.net xin được giới thiệu sau đây một trích đoạn trong tác phẩm “Cho người yêu dấu” (“Любимому”) và phần dịch ra tiếng Việt của Quỳnh Hương và Lưu Hải Hà, các thành viên của NuocNga.net:
Bản gốc tiếng Nga
Любимому
Мне нравится, что Вы больны не мной,
Мне нравится, что я больна не Вами,
Что никогда тяжелый шар земной
Не уплывет под нашими ногами.
Мне нравится, что можно быть смешной -
Распущенной - и не играть словами,
И не краснеть удушливой волной,
Слегка соприкоснувшись рукавами.
Мне нравится еще, что Вы при мне
Спокойно обнимаете другую,
Не прочите мне в адовом огне
Гореть за то, что я не Вас целую.
Что имя нежное мое, мой милый, не
Упоминаете ни днем, ни ночью - всуе...
Что никогда в церковной тишине
Не пропоют над нами: Аллилуйя!
Спасибо Вам и сердцем и рукой,
За то, что Вы меня - не зная сами! -
Так любите: за мой ночной покой,
За редкость встреч закатными часами,
За наши не-гулянья под луной,
За солнце, не у нас над головами, -
За то, что Вы больны - увы! - не мной,
За то, что я больна - увы! - не Вами!
Bản dịch của Quỳnh Hương:
Anh đau lòng đâu có phải vì em,
Em cũng thế, và em thích thế,
Em cũng thích trái đất này quay mãi
Mà chẳng thể nào trôi mất dưới chân mình
Em cũng thích cứ đầu bù tóc rối
Thiếu chỉnh tề một chút cũng chẳng sao
Không nói khéo cũng chẳng cần đỏ mặt
Khi vô tình để tay áo chạm nhau
Em càng thích anh ôm hôn ai khác
Trước mặt em, không giữ ý, ngại ngần
Chính vì thế em cũng không phải chịu
Lửa thiêu địa ngục khi hôn kẻ khác anh
Anh dịu hiền, anh không cần phải nhắc
Tên em trong bề bộn lo toan...
Nhạc hôn lễ trước bàn thờ Chúa
Mỗi chúng ta tự nghe bên người khác của mình
Cảm ơn anh với tất cả tấm lòng
Dù vô tình vẫn yêu em hơn tất thảy
Cảm ơn anh khi màn đêm êm đềm chảy
Và những hẹn hò thưa thớt lúc hoàng hôn
Cảm ơn anh - bên em không đi dạo dưới trăng
Mặt trời cũng không sưởi chung hai đứa
Anh đau lòng, than ôi, nhưng chẳng vì em nữa
Em cũng vậy, than ôi, đau chẳng phải vì anh
Bản dịch của Lưu Hải Hà:
Em rất vui vì anh không yêu em
Em rất vui vì em không yêu anh
Vì chẳng bao giờ trái đất này nặng trĩu
Lại trôi đi dưới gót chúng mình
Em rất vui vì em có thể nực cười
Chẳng cần chơi chữ, và có thể lả lơi
Và nếu như tay áo ta chạm khẽ
Thì em chẳng cần đỏ mặt đến nghẹn lời
Em rất vui vì khi em có mặt
Anh điềm tĩnh ôm một người khác đẹp xinh
Đừng rủa em phải cháy trong địa ngục
Vì người em hôn chẳng phải là anh.
Cả ngày lẫn đêm chẳng bao giờ anh nhắc
Tên em dịu dàng – thật vô ích quá mà
Và chẳng bao giờ trong nhà thờ yên tĩnh
Người ta hát mừng chúng mình “alleluia”
Cám ơn anh, bằng cả trái tim trọn vẹn
Vì dẫu chẳng ngờ, nhưng anh thật yêu em:
Anh chẳng quấy rầy sự yên tĩnh mỗi đêm
Ta chẳng cùng nhau đón hoàng hôn mấy tối
Vì ta không cùng đi dạo dưới trăng thanh
Vì mặt trời chẳng chiếu sáng đôi mình
Vì – thật tiếc rằng – anh không yêu em
Vì – thật tiếc rằng – em không yêu anh.
....