Chai cháy Molotov Cocktail
Những ngày tháng chua xót năm 1941... Đoàn thiết giáp Đức, áp dụng chiến thuật đánh bao vây, cắt xẻ chiến tuyến phòng thủ của chúng ta thành từng mảnh. Những đơn vị Hồng quân bắt đầu lâm vào tình cảnh "đói đạn", do hầu hết những kho vũ khí đạn dược đều bố trí gần biên giới đều đã rơi vào tay quân Đức. Trong tình thế nguy ngập đấy, ngày 7 tháng Bảy năm 1941, Bộ Chỉ huy quyết định sử dụng loại bom xăng làm vũ khí chống tăng. Điều này cho phép cung cấp cho Quân đội loại vũ khí chống tăng khá hữu hiệu trong thời gian ngắn nhất. Giống như nhiều loại vũ khí khác, bom xăng mau chóng được đặt cho cái tên Molotov cocktail (Molotov lúc này là Bộ trưởng Quốc phòng – Valera. Một giai thoại khác giải thích cho cái tên này cho rằng nó được đặt bởi lính Phần Lan trong thời gian Chiến tranh Phần Lan. Thời kỳ này Molotov giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao và bị người Phần Lan cho là chịu trách nhiệm lớn trong việc gây ra chiến tranh – Bair Irincheev). Tuy nhiên, những người đầu tiên sử dụng bom xăng đốt cháy xe tăng lại là binh lính Cộng hòa Tây Ban Nha, trong Nội chiến 1936. Những chiến binh Tây Ban Nha đổ xăng v ào đầy một chai thuỷ tinh, bịt kín và quấn một sợi dây quanh cổ chai. Trước khi ném vào xe tăng, người ta châm lửa vào sợi dây. Xăng cháy bén vào các bộ phận máy móc và làm đạn phát nổ; khi ném trúng bộ phận truyền động, xăng dễ dàng làm cháy động cơ xe.
Sau này phương pháp gây cháy đơn giản trên được cải tiến nhờ một chuyên viên hóa chất cháy nổ đã sử dụng ngòi cháy chậm Kibalchich của lựu đạn. Điều khác biệt duy nhất của lựu đạn Molotov cocktail so với lựu đạn thường là dùng xăng thay vì chất cháy rắn. Hồng quân được cung cấp hai loại bom xăng: loại dùng hỗn hợp tự cháy KS (hỗn hợp sulphur và phosphore, có nhiệt độ cháy rất thấp) và loại chứa hỗn hợp dễ cháy #1 và #3. Những loại hỗn hợp này làm từ xăng thường cho ôtô, cộng thêm thuốc cháy OP-1 – cũng là công thức của bom napalm ngày nay. Hỗn hợp KS thường đóng trong chai 0,5 tới 0,75 lít bên trong nhét một sợi dây ngòi cao su được quấn chặt vào cổ chai bằng dây thép. Khi châm lửa, chất lỏng bên trong cháy và cho ngọn lửa rất sáng kéo dài từ 1,5 tới 3 phút với nhiệt đột lên đến 1000° C. Loại bom xăng chứa hỗn hợp lỏng #1và #3 được nút kín bằng loại nút bấc thông thường. Một ống hóa chất đặc biệt được sử dụng làm ngòi kích cháy. Chất lỏng bên trong chai sẽ bốc cháy khi tiếp xúc với hóa chất chứa trong ngòi - điều này xảy ra khi cả chai lẫn ống hóa chất bị vỡ do va chạm với vỏ thép xe tăng. Ống hóa chất được gắn với cái chai nhờ một sợi dây cao su hoặc cắm thẳng vào cổ chai. Một phương thức kích cháy khác là sử dụng loại diêm đặc biệt gắn vào chai nhờ sợi dây cao su. Loại ngòi diêm này có đầu to bọc một lớp dầy chất bắt cháy. Chúng sẽ được châm cháy trước khi ném bằng diêm quẹt thường. Hóa chất bên trong chai, khi va chạm vào vỏ xe tăng sẽ bốc cháy trong suốt 40-50 giây với nhiệt độ lên tới 800° C. Trong trường hợp không có sẵn diêm trong tay, binh lính được hướng dẫn như sau: trước tiên ném ra một chai chứa hóa chất KS, sau đó ném tiếp một hoặc hai chai chứa hợp chất #1và #3.
Chiết thuật dành cho lính bộ binh sử dụng lựu đạn Molotov cocktail nghe có vẻ rất đơn giản. Người lính cần để cho chiếc xe tiến sát gần trong khoảng cách 15-20 mét rồi ném chai cháy vào xe, nhắm tới phần máy xe hoặc vùng giữa tháp pháo và thân xe. Điều này xem trên sách vở thì đơn giản, nhưng trong thực tế chiến đấu thì khác hẳn khi các chiến xa luôn đi kèm pháo hỗ trợ và bộ binh bảo vệ. Thông thường, khi một người lính nhỏm dậy để ném cái chai vào xe tăng, một viên đạn hay mảnh đạn bắn trúng cái chai, và biến người lính đó thành một bó đuốc sống. Tình huống như vậy đã xảy ra với thủy binh Mikhail Panikakha*, người về sau được truy tặng Ngôi Sao vàng Anh hùng Xô viết vì chiến công này tại Stalingrad (tuy nhiên, ông chỉ được phong tặng mãi về sau này, 45 năm sau chiến tranh, năm 1990). Hầu hết các chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ này đến nay vẫn chưa được xác định danh tính.
--------------------------------------------------------------------------------
*Trong một cuộc chiến trên đường phố, Panikakha đang chuẩn bị ném cái chai cháy vào chiếc xe tăng Đức thì một viên đạn bắn trúng cái chai, và người lính thủy bùng thành đám lửa. Anh nắm lấy một chai cháy khác và chạy tới đập cái chai lên vỏ thép xe tăng. --------------------------------------------------------------------------------
Tôi xin nói thêm một chút về LVTám:
- Thứ nhất: khi một thân người đã bắt lửa, KHÔNG THỂ chạy một cách có chủ đích suốt một quãng đường dài qua hàng rào lính canh, chó săn, chướng ngại vật để tới đâm mình vào kho xăng, trừ phi đó là mấy thùng phuy xăng bỏ quên lăn lóc vệ đường.
- Thứ hai, bộ máy chiến tranh luôn cần các anh hùng để tuyên truyền và khuyến khích mọi người tham chiến. Và rất có thể một tay nào đó ngồi không bịa ra câu chuyện này. Đương nhiên con người ta khi bị kích động trở thành cuồng tín có thể làm bất cứ chuyện điên rồ nào, nhưng con người có những giới hạn nhất định về mặt sinh học.
- Thứ ba, không hay ho gì khi lôi kéo trẻ em và phụ nữ tham gia chiến đấu. Người Nga có câu: “Một dân tộc có nhiều anh hùng là một dân tộc bất hạnh”.
-----------------------------------------------------
Bom xăng thường được sử dụng trong những mục đích khác hơn là một vũ khí chống tăng tầm gần. Những bãi mìn, bổ sung các chai cháy KS tạo thành những chướng ngại cản đường xe tăng bố trí trên những hướng có khả năng bị thiết giáp đột kích. Để tự phòng thủ trước bộ binh địch, bộ binh Xô viết dùng cái gọi là “bãi mìn lửa”: những cái hố đào trên khu vực trắng (noman’s land) được đổ đầy tới khoảng 20 chai cháy và gói thuốc nổ nhỏ dùng làm những hố kích nổ điều khiển từ xa. Khu vực bị phát hỏa bởi thứ mìn này sẽ rộng tới 250 m2. Lính Mỹ, những người ban đầu chỉ coi bom xăng như một thứ vũ khí thô sơ, sau khi phân tích kinh nghiệm của Thế chiến thứ 2, bắt tay vào sử dụng chúng rộng rãi trong các cuộc chiến tranh về sau. Dưới tên gọi là napalm, người Mỹ sử dụng chúng rộng rãi như mìn chống bộ binh trong Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953). Các lính xe tăng Xô viết cũng trải qua kinh nghiệm nếm trải hiệu quả của Molotov cocktail vào năm 1968, khi quận đội Xô viết tiến vào Praha. Cuộc kình chống giữa Yeltsin và Xô viết Tối cao tháng Mười năm 1993 cũng làm nhiều người nhớ lại về thứ cocktail kinh khủng này, và chỉ có sự tích cực và phối hợp cao của cảnh sát mới ngăn chặn nổi việc “tiêu thụ hàng loạt” thứ “đồ uống” này mà thôi.
Những ngày tháng chua xót năm 1941... Đoàn thiết giáp Đức, áp dụng chiến thuật đánh bao vây, cắt xẻ chiến tuyến phòng thủ của chúng ta thành từng mảnh. Những đơn vị Hồng quân bắt đầu lâm vào tình cảnh "đói đạn", do hầu hết những kho vũ khí đạn dược đều bố trí gần biên giới đều đã rơi vào tay quân Đức. Trong tình thế nguy ngập đấy, ngày 7 tháng Bảy năm 1941, Bộ Chỉ huy quyết định sử dụng loại bom xăng làm vũ khí chống tăng. Điều này cho phép cung cấp cho Quân đội loại vũ khí chống tăng khá hữu hiệu trong thời gian ngắn nhất. Giống như nhiều loại vũ khí khác, bom xăng mau chóng được đặt cho cái tên Molotov cocktail (Molotov lúc này là Bộ trưởng Quốc phòng – Valera. Một giai thoại khác giải thích cho cái tên này cho rằng nó được đặt bởi lính Phần Lan trong thời gian Chiến tranh Phần Lan. Thời kỳ này Molotov giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao và bị người Phần Lan cho là chịu trách nhiệm lớn trong việc gây ra chiến tranh – Bair Irincheev). Tuy nhiên, những người đầu tiên sử dụng bom xăng đốt cháy xe tăng lại là binh lính Cộng hòa Tây Ban Nha, trong Nội chiến 1936. Những chiến binh Tây Ban Nha đổ xăng v ào đầy một chai thuỷ tinh, bịt kín và quấn một sợi dây quanh cổ chai. Trước khi ném vào xe tăng, người ta châm lửa vào sợi dây. Xăng cháy bén vào các bộ phận máy móc và làm đạn phát nổ; khi ném trúng bộ phận truyền động, xăng dễ dàng làm cháy động cơ xe.
Sau này phương pháp gây cháy đơn giản trên được cải tiến nhờ một chuyên viên hóa chất cháy nổ đã sử dụng ngòi cháy chậm Kibalchich của lựu đạn. Điều khác biệt duy nhất của lựu đạn Molotov cocktail so với lựu đạn thường là dùng xăng thay vì chất cháy rắn. Hồng quân được cung cấp hai loại bom xăng: loại dùng hỗn hợp tự cháy KS (hỗn hợp sulphur và phosphore, có nhiệt độ cháy rất thấp) và loại chứa hỗn hợp dễ cháy #1 và #3. Những loại hỗn hợp này làm từ xăng thường cho ôtô, cộng thêm thuốc cháy OP-1 – cũng là công thức của bom napalm ngày nay. Hỗn hợp KS thường đóng trong chai 0,5 tới 0,75 lít bên trong nhét một sợi dây ngòi cao su được quấn chặt vào cổ chai bằng dây thép. Khi châm lửa, chất lỏng bên trong cháy và cho ngọn lửa rất sáng kéo dài từ 1,5 tới 3 phút với nhiệt đột lên đến 1000° C. Loại bom xăng chứa hỗn hợp lỏng #1và #3 được nút kín bằng loại nút bấc thông thường. Một ống hóa chất đặc biệt được sử dụng làm ngòi kích cháy. Chất lỏng bên trong chai sẽ bốc cháy khi tiếp xúc với hóa chất chứa trong ngòi - điều này xảy ra khi cả chai lẫn ống hóa chất bị vỡ do va chạm với vỏ thép xe tăng. Ống hóa chất được gắn với cái chai nhờ một sợi dây cao su hoặc cắm thẳng vào cổ chai. Một phương thức kích cháy khác là sử dụng loại diêm đặc biệt gắn vào chai nhờ sợi dây cao su. Loại ngòi diêm này có đầu to bọc một lớp dầy chất bắt cháy. Chúng sẽ được châm cháy trước khi ném bằng diêm quẹt thường. Hóa chất bên trong chai, khi va chạm vào vỏ xe tăng sẽ bốc cháy trong suốt 40-50 giây với nhiệt độ lên tới 800° C. Trong trường hợp không có sẵn diêm trong tay, binh lính được hướng dẫn như sau: trước tiên ném ra một chai chứa hóa chất KS, sau đó ném tiếp một hoặc hai chai chứa hợp chất #1và #3.
Chiết thuật dành cho lính bộ binh sử dụng lựu đạn Molotov cocktail nghe có vẻ rất đơn giản. Người lính cần để cho chiếc xe tiến sát gần trong khoảng cách 15-20 mét rồi ném chai cháy vào xe, nhắm tới phần máy xe hoặc vùng giữa tháp pháo và thân xe. Điều này xem trên sách vở thì đơn giản, nhưng trong thực tế chiến đấu thì khác hẳn khi các chiến xa luôn đi kèm pháo hỗ trợ và bộ binh bảo vệ. Thông thường, khi một người lính nhỏm dậy để ném cái chai vào xe tăng, một viên đạn hay mảnh đạn bắn trúng cái chai, và biến người lính đó thành một bó đuốc sống. Tình huống như vậy đã xảy ra với thủy binh Mikhail Panikakha*, người về sau được truy tặng Ngôi Sao vàng Anh hùng Xô viết vì chiến công này tại Stalingrad (tuy nhiên, ông chỉ được phong tặng mãi về sau này, 45 năm sau chiến tranh, năm 1990). Hầu hết các chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ này đến nay vẫn chưa được xác định danh tính.
--------------------------------------------------------------------------------
*Trong một cuộc chiến trên đường phố, Panikakha đang chuẩn bị ném cái chai cháy vào chiếc xe tăng Đức thì một viên đạn bắn trúng cái chai, và người lính thủy bùng thành đám lửa. Anh nắm lấy một chai cháy khác và chạy tới đập cái chai lên vỏ thép xe tăng. --------------------------------------------------------------------------------
Tôi xin nói thêm một chút về LVTám:
- Thứ nhất: khi một thân người đã bắt lửa, KHÔNG THỂ chạy một cách có chủ đích suốt một quãng đường dài qua hàng rào lính canh, chó săn, chướng ngại vật để tới đâm mình vào kho xăng, trừ phi đó là mấy thùng phuy xăng bỏ quên lăn lóc vệ đường.
- Thứ hai, bộ máy chiến tranh luôn cần các anh hùng để tuyên truyền và khuyến khích mọi người tham chiến. Và rất có thể một tay nào đó ngồi không bịa ra câu chuyện này. Đương nhiên con người ta khi bị kích động trở thành cuồng tín có thể làm bất cứ chuyện điên rồ nào, nhưng con người có những giới hạn nhất định về mặt sinh học.
- Thứ ba, không hay ho gì khi lôi kéo trẻ em và phụ nữ tham gia chiến đấu. Người Nga có câu: “Một dân tộc có nhiều anh hùng là một dân tộc bất hạnh”.
-----------------------------------------------------
Bom xăng thường được sử dụng trong những mục đích khác hơn là một vũ khí chống tăng tầm gần. Những bãi mìn, bổ sung các chai cháy KS tạo thành những chướng ngại cản đường xe tăng bố trí trên những hướng có khả năng bị thiết giáp đột kích. Để tự phòng thủ trước bộ binh địch, bộ binh Xô viết dùng cái gọi là “bãi mìn lửa”: những cái hố đào trên khu vực trắng (noman’s land) được đổ đầy tới khoảng 20 chai cháy và gói thuốc nổ nhỏ dùng làm những hố kích nổ điều khiển từ xa. Khu vực bị phát hỏa bởi thứ mìn này sẽ rộng tới 250 m2. Lính Mỹ, những người ban đầu chỉ coi bom xăng như một thứ vũ khí thô sơ, sau khi phân tích kinh nghiệm của Thế chiến thứ 2, bắt tay vào sử dụng chúng rộng rãi trong các cuộc chiến tranh về sau. Dưới tên gọi là napalm, người Mỹ sử dụng chúng rộng rãi như mìn chống bộ binh trong Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953). Các lính xe tăng Xô viết cũng trải qua kinh nghiệm nếm trải hiệu quả của Molotov cocktail vào năm 1968, khi quận đội Xô viết tiến vào Praha. Cuộc kình chống giữa Yeltsin và Xô viết Tối cao tháng Mười năm 1993 cũng làm nhiều người nhớ lại về thứ cocktail kinh khủng này, và chỉ có sự tích cực và phối hợp cao của cảnh sát mới ngăn chặn nổi việc “tiêu thụ hàng loạt” thứ “đồ uống” này mà thôi.