Bà nội của em:
- Hình dáng của bà nội rất là thấp được hai mét rưỡi dáng đi rất chậm chạp, mắt thì lừ đừ ít thấy gì nữa… Tính tình cụ già rất là bực bội… Khi bà nội cười liền nhe mầm răng ra còn được ba bốn cái gì mà thôi. Mỗi lúc bà cười miệng bà em móm mém như miệng cái hố.
- Con mắt của bà tròn như hòn bi, mũi có hai cái lỗ, cụ già có hai cái tai, tóc của bà đã bạc phơ. Cổ ngắn gọn, thân của bà 2, 3 thước, bà có hai cái tay, có hai cái chân.
[color=green:00de98cd6a]“Tố Hữu được giải Nobel (1960)”; “Chế Lan Viên là một nhà văn, nhà thơ rất nổi tiếng trong thời phong kiến"...
"Những tác phẩm của người (Chế Lan Viên) luôn bộc lộ nỗi thống khổ và những tình cảm sâu nặng của những con người phải xa quê hương, đất nước để tìm sự thanh bình cho tổ quốc”; “ Nguyễn Tuân tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920-1987)”; “Chí Phèo là một thanh niên khỏe mạnh, giỏi giang, ai lấy được nó như có một con trâu trong nhà”. Còn Thị Nở “là một người con gái trông chẳng có gì để có thể nói là đẹp nhưng cô ấy lại là một người tốt bụng, làm công cho nhà tên thống lý”.
Trong phần phân tích bài "Giải đi sớm" của Hồ Chí Minh, thí sinh viết: “Trên đường đi cơ cực nhưng người vẫn quan sát khung cảnh chung quanh; vẫn thưởng thức cảnh thiên nhiên như không có gì xảy ra đối với mình. "Lom khom dưới núi tiều vài chú" là "Bác đứng trên núi nhìn xuống dưới núi có một vài chú tiều đang lom khom mặc dù Bác chưa có thể khẳng định là các chú tiều ấy đang làm gì, nhưng Bác thấy những hoạt động lom khom của các chú tiều cũng có thể là đang đốn củi”. Nhan đề của bài "Chiếc lư đồng mắt cua" của Nguyễn Tuân, cứ 10 bài thì có đến 7 bài viết thành "Chiếc lư đồng mắc cua" hoặc "Chiếc lư đồng bắt cua", thậm chí là "Chiếc lư đồng mắc kẹt"....
Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên cũng có xuất xứ “phong phú” chẳng kém: “Rút ra từ tập thơ "Mặt đường khát vọng”, “được in trong tập thơ "Những vùng trời khác nhau”, “được trích từ tập thơ "Ánh sáng và phù du”...
“Đối với tôi thì tôi thấy Thị Nở đẹp, tuy cô xấu đau xấu đớn nhưng mà hỏi thử có ai mà toàn mỹ không? Thị Nở cũng vậy, cô xuất hiện như một nàng tiên mang lại bao ước mơ cho những em nghèo không tình thương mái ấm gia đình”.
“Chí Phèo gặp Thị Nở vào buổi sáng, anh buông lời trêu ghẹo, chọc phá. Thật ra anh thấy Thị Nở quá xấu nên chọc cho vui và cười một cách khoái trá, còn Thị Nở thì ngoe nguẩy bỏ về... Tối đó Chí Phèo mò đến chỗ Thị Nở đang ngủ ở bờ sông. Chí Phèo lấy tay bịt miệng Thị Nở. Thị định la lên nhưng Chí bịt miệng chặt quá, vả lại ở đây cũng thanh vắng. Thị thôi, mặc kệ nó!”; “Và sau khi quay trở về nhà nấu cháo cho Chí Phèo, Thị Nở đã trở lại, trên tay cầm một tô cháo ngùn ngụt khói thơm ngào ngạt. Một tô cháo chỉ rắt thêm chút hành thế mà Chí Phèo ăn lại thấy ngon đến lạ lùng”.[/color]
Còn “đứa em liên lạc” trong thơ Chế Lan Viên thì “không chỉ dũng cảm mà còn say mê và có tinh thần trách nhiệm. “Mười năm tròn” thời gian khá dài thế mà “chưa mất một phong thư”. Thời đại ngày nay với nhiều kỹ thuật hiện đại mà đôi khi còn mất thư, thế mà trong hoàn cảnh ấy chưa mất một phong thư nào. Điều này cho thấy được tinh thần trách nhiệm cao độ của người làm công tác liên lạc...”.
- Hình dáng của bà nội rất là thấp được hai mét rưỡi dáng đi rất chậm chạp, mắt thì lừ đừ ít thấy gì nữa… Tính tình cụ già rất là bực bội… Khi bà nội cười liền nhe mầm răng ra còn được ba bốn cái gì mà thôi. Mỗi lúc bà cười miệng bà em móm mém như miệng cái hố.
- Con mắt của bà tròn như hòn bi, mũi có hai cái lỗ, cụ già có hai cái tai, tóc của bà đã bạc phơ. Cổ ngắn gọn, thân của bà 2, 3 thước, bà có hai cái tay, có hai cái chân.
[color=green:00de98cd6a]“Tố Hữu được giải Nobel (1960)”; “Chế Lan Viên là một nhà văn, nhà thơ rất nổi tiếng trong thời phong kiến"...
"Những tác phẩm của người (Chế Lan Viên) luôn bộc lộ nỗi thống khổ và những tình cảm sâu nặng của những con người phải xa quê hương, đất nước để tìm sự thanh bình cho tổ quốc”; “ Nguyễn Tuân tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920-1987)”; “Chí Phèo là một thanh niên khỏe mạnh, giỏi giang, ai lấy được nó như có một con trâu trong nhà”. Còn Thị Nở “là một người con gái trông chẳng có gì để có thể nói là đẹp nhưng cô ấy lại là một người tốt bụng, làm công cho nhà tên thống lý”.
Trong phần phân tích bài "Giải đi sớm" của Hồ Chí Minh, thí sinh viết: “Trên đường đi cơ cực nhưng người vẫn quan sát khung cảnh chung quanh; vẫn thưởng thức cảnh thiên nhiên như không có gì xảy ra đối với mình. "Lom khom dưới núi tiều vài chú" là "Bác đứng trên núi nhìn xuống dưới núi có một vài chú tiều đang lom khom mặc dù Bác chưa có thể khẳng định là các chú tiều ấy đang làm gì, nhưng Bác thấy những hoạt động lom khom của các chú tiều cũng có thể là đang đốn củi”. Nhan đề của bài "Chiếc lư đồng mắt cua" của Nguyễn Tuân, cứ 10 bài thì có đến 7 bài viết thành "Chiếc lư đồng mắc cua" hoặc "Chiếc lư đồng bắt cua", thậm chí là "Chiếc lư đồng mắc kẹt"....
Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên cũng có xuất xứ “phong phú” chẳng kém: “Rút ra từ tập thơ "Mặt đường khát vọng”, “được in trong tập thơ "Những vùng trời khác nhau”, “được trích từ tập thơ "Ánh sáng và phù du”...
“Đối với tôi thì tôi thấy Thị Nở đẹp, tuy cô xấu đau xấu đớn nhưng mà hỏi thử có ai mà toàn mỹ không? Thị Nở cũng vậy, cô xuất hiện như một nàng tiên mang lại bao ước mơ cho những em nghèo không tình thương mái ấm gia đình”.
“Chí Phèo gặp Thị Nở vào buổi sáng, anh buông lời trêu ghẹo, chọc phá. Thật ra anh thấy Thị Nở quá xấu nên chọc cho vui và cười một cách khoái trá, còn Thị Nở thì ngoe nguẩy bỏ về... Tối đó Chí Phèo mò đến chỗ Thị Nở đang ngủ ở bờ sông. Chí Phèo lấy tay bịt miệng Thị Nở. Thị định la lên nhưng Chí bịt miệng chặt quá, vả lại ở đây cũng thanh vắng. Thị thôi, mặc kệ nó!”; “Và sau khi quay trở về nhà nấu cháo cho Chí Phèo, Thị Nở đã trở lại, trên tay cầm một tô cháo ngùn ngụt khói thơm ngào ngạt. Một tô cháo chỉ rắt thêm chút hành thế mà Chí Phèo ăn lại thấy ngon đến lạ lùng”.[/color]
Còn “đứa em liên lạc” trong thơ Chế Lan Viên thì “không chỉ dũng cảm mà còn say mê và có tinh thần trách nhiệm. “Mười năm tròn” thời gian khá dài thế mà “chưa mất một phong thư”. Thời đại ngày nay với nhiều kỹ thuật hiện đại mà đôi khi còn mất thư, thế mà trong hoàn cảnh ấy chưa mất một phong thư nào. Điều này cho thấy được tinh thần trách nhiệm cao độ của người làm công tác liên lạc...”.