Nữ sĩ Ônga Becgôn

rung_bach_duong nói:
Có một bài thơ như thế này của Olga Becgon mà mình đọc mãi...
Xin cảm ơn các bác trước !

Ôi trời, tôi mệt vì bà Rừng quá đi mất. Ai lại chọn thơ như thế cho trường phái 5' bao giờ :roll:

Chẳng giấu Người những nỗi buồn đau
Cũng như những niềm vui, tôi không giữ.
Ngay từ đầu tôi đã luôn trải rộng
Trái tim tôi như câu chuyện của Người.

Không bằng tượng đài, chẳng phải đá bia
Không phải những lâu đài bê tông - kính,
Người hiện ra vô hình nhưng gần gũi
Trong những trái tim già nua vẫn khát khao.

Người tồn tại hiển nhiên như không khí
Như dòng máu sục sôi, như khoảng lặng thinh không
Ôi Thời đại, tôi đang thành Người đấy
Và Người cất tiếng ca bằng giọng trái tim tôi.

Chẳng giấu Người những nỗi buồn đau
Cũng như những niềm vui, tôi không giữ.
Ngay từ đầu tôi đã luôn trải rộng
Trái tim tôi như câu chuyện của Người.
 
Thưa các vị, tôi nghĩ mãi, dịch thì dịch rồi nhưng cảm thấy chưa đủ. Bởi vì nữ sĩ muốn nói cụ thể về Thời đại bà dang sống - những năm 30 của thế kỷ 20 - đây đúng là thời kỳ Xtalin, khi bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ 2 để xây dựng chế độ XHCN ở Liên Xô. Vào năm 36-37 khắp các thành phố LX lan rộng phong trào xây dựng tượng đại công nông và XHCN, cải tạo phố xá, quảng trường, xây những cung hội nghị hoành tráng (bằng bê tông-kính) v.v. và cũng là năm bà bị bắt vì tội chống Đảng bị khai trừ và chịu nhiều bi kịch riêng khác. Cuộc đời của bà cũng chính là tấm gương phản chiếu thời đại - nhiệt huyết tràn trề, trung thành với lý tưởng cộng sản mác-xít, bị đọa đày khi không "hòa hợp" được với tư tưởng Xtalin, song ngay khi đất nước lâm nguy, khi chỉ vừa ra khỏi nhà tù, bà đã kiên cường cũng nhân dân tham gia cứu quốc và đã trở thành biểu tượng anh hùng, là tiếng nói của con người xô-viết, người Lêningrat kiên cường chống phát xít hồi đó.
Thế cho nên các bản dịch của chúng ta mới chỉ nói đến thời đại chung chung, vì chúng ta do bí vần mà không đưa nguyên văn những từ như đài kỷ niệm, bia ghi sự kiện hay công trình, hay một loạt cung (hội nghị) bê tông-kính, nên không truyền đạt hết ý của bà muốn nói đến chính-thời-đại ấy - những năm 30. Bà muốn nói đến tầm vóc vĩ đại của thời đại, đến tâm hồn vĩ đại giàu truyền thống, đến trái tim nhiệt huyết bao đời nay của con người Nga có thể làm nên điều kỳ diệu, chứ không cần phải hô hào, phô trương v.v. bài thơ này của bà viết năm 1937, cũng chính là tuyên ngôn của bà về cuyộc sống và thời đại. Những năm sau này, nhất là trong chiến tranh Vệ Quốc ta mới thấy bà đã trung thành với quan niệm sống chân chính đó như thế nào, và thực tế cuộc sống và thời đại đúng là đã diễn ra như thế - Thời đại từ ngàn xưa đến nay vẫn cất tiếng qua trái tim con người và được thể hiện qua con người sống trong thời đại ấy.
 
Em cảm ơn chị USY, chị Bí, và Nina đã dịch kịp thời bài thơ này. Đúng là member của NNN :D . Thực ra em nghĩ để hiểu hết được bài thơ này của bà muốn nói gì rất khó nếu như chưa biết về cuộc đời bất hạnh của bà. Olga Becgon là một nữ thi sĩ hình như em yêu mến hơn cả trong các nữ thi sĩ của Nga. Yêu bà không chỉ bởi những vần thơ giàu nữ tính của bà (giàu nữ tính mà lại không ảm đạm), mà còn xót cảm cho cuộc đời đầy bất hạnh của bà .

"В начале 1937 была арестована по обвинению "в связи с врагами народа"...
" Была женой Бориса Корнилова. Когда в связи с его арестом ее, беременную, вызывали на допросы, то выбили сапогами ребенка из ее живота."

[color=darkblue:b7d1373127]Vào đầu năm 1937 cô bị bắt vì bị buộc tội “có quan hệ với kẻ thù của dân”…Khi ấy cô là vợ của Boric Kornhilov. Khi đó cô đang mang thai, cô bị gọi đến chất vấn và kẻ thù đã đánh bật đứa con của cô ra khỏi bụng bằng gót giầy[/color]


Và đây, trích đoạn thư của mẹ Olga Becgon viết cho ông Stalin khi Olga bị bắt tù:

"...Но дочь моя беременна и беременность у нее тяжелая. Чтобы сохранить ее дочь лечилась (ей делали переливание крови в Инст.Охраны Матери и Млад. под наблюден. пр. Скрябина) Дочерью пережито очень много горя и несчастия вот уже в течении шести лет. Вот около трех лет назад она потеряла чудную дочь 8 лет Умерла она от тяжелой болезни сердца. В течении трех лет мы боролись за сохранение ее жизни. И смерть ее оставила глубокий, неизгладимый след горя утраты Через 2 года враги народа оклеветали дочь мою Ольгу. Но следствие доказало ее невиновность и она была востановлена без всяких замечаний и выговора.
И вот в то время, когда ее обвиняли на собрании враги и двурушники с остервенением забрасывая ее ужасной клеветой, нервы ее не выдержали.....и у нее произошли преждевременные роды шестимесячного мертвого ребенка. Надо сказать, что и эта беременность была тяжелая и, чтобы сохранить ее, дочь два месяца лежала в инст. Охр. Мат. и Младенч. под наблюдением проф. Скрябина. Беременность удалось сохранить. Но действия врагов убили ребенка и так она потеряла ребенка. И вот в настоящее время опять она беременна...."

Em dịch qua luôn nhé:

[color=darkblue:b7d1373127]“…Nhưng con gái tôi đang có thai và cái thai rất yếu. Để giữ thai con gái tôi cần phải được điều trị. Người ta truyền máu cho nó tại Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ em dưới sự theo dõi của giáo sư Skriabin. Trong sáu năm qua con gái tôi trải qua quá nhiều đau khổ và bất hạnh. Ba năm trước đó nó đã mất đi đứa con gái 8 tuổi vì bệnh tim nặng. Trong ba năm chúng tôi đã đấu tranh để giữ cuộc sống của nó. Cái chết của cháu tôi đã để lại nỗi bất hạnh mất mát sâu sắc không phai mờ. Sau 2 năm bọn kẻ thù của nhân dân đã vu khống cho con gái Olga của tôi. Nhưng kết luận cuối cùng đã chứng minh con tôi không hề có tội và nó được phục hồi danh dự không có một bất kỳ sự nhận xét và phê bình nào cả. Trong thời gian này, kẻ thù đã buộc tội con gái tôi tại cuộc họp, những kẻ lá mặt lá trái đã điên cuồng ném vào nó những lời vu khống đê tiện, chúng đã không để cho thần kinh con bé được yên. Và cuối cùng nó đã phải sinh sớm khi cái thai mới có sáu tháng tuổi. Cái thai rất yếu nên nó phải được theo dõi và bảo vệ trong Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Nó nằm đó 2 tháng trời để an thai, nhưng tác động của kẻ thù đã giết chết đứa trẻ và nó đã mất con….[/color]

Chúng ta tiếp tục khai thác thêm về thơ của bà lúc nào rỗi rãi nhé...
 
Bài thơ "Câu chuyện mười năm trước" gây tranh cãi là do Xuân Diệu dịch. Cụ XD lai không rành tiếng Nga, nên phải chăng cụ dịch từ tiếng Pháp? Còn nếu dịch từ tiếng Nga, thường vẫn có người dịch nghĩa cho, ví dụ Thúy Toàn. Nhưng trong số những người liên quan này, kể cả Bằng Việt, Thúy Toàn, đều chưa ai thấy nguyên tác tiếng Nga của bài thơ ấy. Mà hỏi cụ XD thì không thể nữa rồi. Các từ điển VH hoặc lịch sử VH Nga đều không nhắc gì đến 1 Bessonov nào cùng thời với Olga Bergons. Có người đặt giả thiết ông ta, nếu quả thực có viết bài thơ đó về bà, thì có thể thuộc loại thi sỹ amateur không tiếng tăm. Trên thực tế số lượng thi sỹ như vậy ở nước nào cũng đông gấp bội số người nổi tiếng, và trong số thơ học viết ra không phải không có những bài hay. Cét về phương diện này "Câu chuyện mười năm trước" cũng không phải là bài thơ có thể xếp ngang hàng với những gì Olga Bergons để lại. Do vậy mem nào có điều kiện, nhất là đang ở Nga, thử tìm hiểu qua người Nga xem họ có biết gì về nhân vật Bessonov này không.

Theo tài liệu mà Nina đưa ra thì Boris Cornilov là chồng của Olga Bergons, còn dưới bài “Gửi Boris Cornilov” với lời dịch rất hay của BV thì có chú thích: Boris Cornilov là nhà thơ Nga, người yêu của Olga Bergons, đi lính và hy sinh năm 1938 tại mặt trần Phần Lan, trước khi xảy ra Đại chiến thế giới II. Nhưng mãi sau này Olga Bergons mới được báo tin. Do vậy bài thơ trên viết về Boris Cornilov, là bài thơ viết cho người yêu hay cho chồng? Bài thơ ấy còn một đoạn rất hay phía sau nữa, nhưng người ta thường chỉ in nửa đầu, với kết thúc “Nhưng xét cho cùng, họ có lỗi đâu anh”. Nếu ai thích Geobic sẽ post đoạn ấy lên trong cuộc gặp lần sau.

Cũng có người cho rằng tên Cornilov bị tam sao thất bản, sang tiếng Việt thành ra Bessonov. Bằng chững là ông bạn tôi, tên Võ Thanh Quỳnh, thuộc làu làu cả “Câu chuyện mười năm trước”, “Em nhớ lại thuở ngày quá khứ”, Mùa hè rớt”, “Mùa lá rụng” (3 bài sau là do Bằng Việt dịch), cứ đinh ninh rằng đều viết về tình yếu giữa Olga Bergons và Bessonov. Khi Geobic đưa ra bài có tên Boris Cornilov ông ta mới chịu là nhầm trong hàng chục năm trời!

Viết tiếp 5-5-2006:

Geobic chép hoàn chỉnh bài thơ của Olga Bergons gửi Boris Coornilov:

Ольга Берггольц

GỬI BORIS COORNILOV

Và tất cả đổi thay rồi. Và nay em cũng khác
Em hát khác xưa rồI, khóc cũng khác xưa theo
(Boris Coornilov)

Em nhớ lại chuyện ngày quá khứ
Khúc hát ngây thơ một thời thiếu nữ
"Ngôi sao cháy bùng trên sóng Nêva
Và tiếng chim kêu những buổi chiều tà…"

Năm tháng đắng cay hơn, năm tháng ngọt ngào hơn
Em mới hiểu, bây giờ anh có lý
Dù chuyện xong rồi,
anh đã xa cách thế!
”Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa theo…”.

Lớp trẻ lớn lên giờ lại tiếp theo ta
Lại nhắp lại vị ngọt ngào thuở trước
Vẫn sông Nêva, bóng chiều, sóng nước …
Nhưng nghĩ cho cùng, họ có lỗi đâu anh?

* *

Vâng, em khác hẳn rồI, chẳng giống trước nữa đâu!
Cuộc đời ngắn cũng xem chừng sắp hết.
Em đã già nhiều những anh đâu biết,
Hay anh cũng biết rồI? Có thể!… Nói đi anh!

Em xin lỗi làm chi, chẳng cần đâu anh nhỉ
Thề thốt chăng? Cũng vô ích thôi mà,
Nhưng ví thử em tin, anh còn quay trở lại
Thì một ngày nào anh sẽ hiểu ra…

Và mọi tổn thương chúng mình xóa hết
Chỉ ở bên nhau, sánh bước trọn đường
Chỉ cần được sóng đôi, và chỉ khóc
Chỉ khóc thôi, đủ bù đắp tận cùng!…

1939-1940 (Bằng Việt dịch)

PhảI nói rằng đoạn 2 này hay không kém gì đoạn trước. Theo như năm tháng đề dưới bài thơ thì nó được viết ra sau khi ngườI yêu của Olga Bergon đã hy sinh ở mặt trận Phần Lan (1938). Có thể đến lúc này bà mới được tin về cái chết của ông. Và thật cảm động khi đọc những vần thơ xót xa, động lòng đến thế. Nó chỉ có thể viết nên bở một hồn thơ phụ nữ thật cao thượng và thật giàu cảm xúc:

Và mọi tổn thương chúng mình xóa hết
Chỉ ở bên nhau, sánh bước trọn đường
Chỉ cần được sóng đôi, và chỉ khóc
Chỉ khóc thôi, đủ bù đắp tận cùng!…

Nếu quả Boris đã là chồng của Olga, thì chuyện đứa con 8 tuổi chết, còn đứa sau bị sảy thai có thể đều là con ông. Và sự kiện sảy thai xảy ra khi ông đang ở mặt trận Phần Lan và hoàn toàn không hay biết gì. Nếu đúng vậy, đọc đoạn cuối bài thơ sẽ càng hiểu rõ hơn về mối tình của họ cùng những tổn thương, mất mát vô cùng lớn lao. Bà chỉ còn cần được ở bên ông, và chỉ cần khóc, vậy là đủ. Nhưng... cả ước vọng nhỏ nhoi ấy của bà cũng không bao giờ được đáp ứng...
M. Gorki từng viết một câu đại ý, số phận các nhà thơ thật bi thảm, và bi thảm hơn nữa là số phận các nhà thơ Nga. Quả có vậy, hãy điểm lại: Puskin, Lermontov,Exenin, Maiakovski, Pasternak, Bergons, Svetaeva... Quả là một chuối kinh hoàng rực sáng...
Và Bessonov là ai, bí ẩn vẫn còn nguyên đó.
 
Xin lỗi cả nhà, Geobic đã tham gia vào câu huyện, mà không theo dõi được hết những gì mọi người đã bàn nát ra cả rồi. Cả bài thơ gửi Boris Cornilov gồm đủ 2 đoạn cũng đã được chép rồi.
Thôi thì, để chuộc lỗi, Geobic khép lại câu chuyện này bởi cảm nhận của mình như sau.

Bài thơ gửi Boris Cornilov là do Olga Bergons viết vào các năm 1939-1940, sau khi ông đã hy sinh ngoài mặt trận Phần Lan. Lúc này thực ra họ không còn quan hệ với nhau nữa, đã li dị và đứa con gái chung duy nhất 8 tuổI của họ tên Irina đã chết trước đó vài năm. Sau Cornilov, Olga đã lấy Mikhail Molchanov, sinh ra con gái thứ 2 tên Maya, cùng bị chết non khi mới 11 tháng. Đến năm 1937 Olga bị bắt, bị đẻ non và thai nhi chết yểu. Lần này thì không rõ là con của ai - của Molchanov hay của người chống thứ 3 của bà, tên là Nikolai (ông này được coi là “trung tâm cuộc đời Olga Bergons”, đã chết trong thời gian cuộc chiến tranh vệ quốc (1939-1945).

Vậy là bài Gửi Boris Cornilov đã có xuất xứ rõ ràng, là gửI cho một ngườI chống cũ, có lẽ khi bà hay tin ông tử trận. Bài thơ nói về tình yêu đẹp đẽ và bồng bột thời con gái của bà với Boris Cornilov, với một người “đã xa cách thế” - cả về mặt tình cảm, còn nếu đúng là bà đã biết về cái chết của ông – thì cả về nghĩa âm dương cách biệt. Bài gợi lại ký ức tình yêu, và cảm nhận sự nối tiếp cuộc sống, tình yêu trên thế gian này.

Có thể nói lời chú thích của Bằng Việt trong bài dịch “GửI Boris Cornilov” là chưa chính xác, thay vì chữ “người yêu” phải viết là “chồng cũ” mới chuẩn. Điều đó làm người đọc dễ bị hiểu lầm.

Thực tình 2 bài thơ liên quan đến Bessonov Geobic đồ rằng là sáng tác của ngườI Việt, chứ không phảI của người Nga!!! Geobic chưa được trực tiếp xem bài “Chuyện 10 năm trước” trong sách của Xuân Diệu, chỉ thấy trong quyển “Trăm áng thơ tình thế giới” do TTVHNN Đông tây ấn hành ghi là của XD dịch. Một số bản chép tay cũng ghi vậy.

Tại sao Geobic lạI có ý kỳ lạ đó? Bởi cách đặt vấn đề và mạch tư duy trong các bài ấy bài rất giống của dân ta. Xin dẫn chứng 1 bài có kiểu tư duy tương tự của tác giả Hoàng Phong:

RÊU PHONG

Tưởng đã quên nhau rồi
Từ những ngày xa lắc
Em vùng vằng bỏ đi
Nỗi buồn anh dằng dặc!

Chỉ một chút giận hờn
Mà cả đời luyến tiếc
Chỉ một lời không đâu
Mà dòng sông cách biệt
Tóc xanh thành sóng bạc
Má hồng thành nếp nhăn!

Sân đình ngày ta gặp
Với những gì ta mong
Với những gì ta mất
Nay phủ đầy rêu phong!

1988

Có thể là so sánh còn khập khiếng, nhưng biết làm sao…


Xin lỗi và cảm ơn đã đọc bài của tôi
 
Sau khi tìm hiểu lại cuộc tình của lga Bergons và Boris Cornilov. Geobic nhận thấy bài này Olga Bergons viết sau khi được báo tin về cái chết của Boris Cornilov, người chồng cũ của mình. Trong bài dùng nhiều từ giả định, tỉ như “Но если — я верю — вернешься обратно, но если сумеешь узнать…”, Geobic thử làm cho mình một bản dịch mới bài thơ này. Sẽ hoàn thiện dần sau, nếu còn hứng khởi.


Ольга Бергольц

GỬI BORIS COONILOV

1

О да, я иная, совсем уж иная!
Как быстро кончается жизнь...
Я так постарела, что ты не узнаешь,
а может, узнаешь? Скажи!
Не стану прощенья просить я,
ни клятвы
напрасной не стану давать.
Но если — я верю — вернешься обратно,
но если сумеешь узнать,—
давай о взаимных обидах забудем,
побродим, как раньше, вдвоем,—
и плакать, и плакать, и плакать мы будем,
мы знаем с тобою — о чем.
1939

2

Перебирая в памяти былое,
я вспомню песни первые свои:
«Звезда горит над розовой Невою,
заставские бормочут соловьи...»

...Но годы шли все горестней и слаще,
земля необозримая кругом.
Теперь — ты прав,
мой первый и пропащий,—
пою другое,
плачу о другом...
А юные девчонки и мальчишки
они — о том же: сумерки, Нева...
И та же нега в этих песнях дышит,
и молодость по-прежнему права.
1940
Ольга Берггольц.
Собрание сочинений в трех томах.
Ленинград, "Художественная Литература", 1988.


OLGA BERGONS

GỬI BORIS CORNILOV

Vâng, em khác xưa, đã khác quá rồi!
Đời ngắn ngủi, sắp đến ngày vĩnh biệt…
Em đã già đi ra sao, anh nào biết,
Có thể anh biết rồi? Hãy nói nghe anh!

Em không thề nguyền, bởi biết là vô nghĩa,
Cũng chẳng cầu xin được thứ tha.
Nhưng nếu - em tin - anh còn quay lại nữa,
Nếu anh còn có thể hiểu ra, -
Thì mọi bận lòng ta cho qua, anh nhé!
Như những ngày xưa, lại dạo bước bên nhau, -
Mình sẽ khóc, sẽ khóc và sẽ khóc,
Và hiểu rằng… thiếu vắng chẳng dễ đâu.

1939

* * *

Giờ nhắc lại những buồn vui quá khứ
Em nhớ sao bài hát một thời yêu:
“Ngôi sao cháy trên Nêva rực đỏ
Tiếng họa mi lảnh lót trong chiều…”

… Năm tháng qua đi, thêm cay đắng, ngọt bùi,
Trái đất vẫn xoay từng vòng như nhắc
Anh nói đúng , - tình yêu đầu, đã tắt, của em, -
Em hát đã khác xưa, đã khóc về người khác…

Nay từng cặp gái trai bên Nêva sánh bước
Vẫn như xưa - ánh hoàng hôn, sóng nước long lanh…
Chúng mãn nguyện uống vào hồn khúc hát
Và tuổi trẻ, như xưa, mãi đúng phải không anh?

1940 Tạ Phương dịch

_________________________
Cảm ơn đã đọc bài của tôi
 
Nhân dịp sinh nhật Olga Berggolts, http://www.nuocnga.net/index.php?op...view&catid=369&id=2194&Itemid=474, đề nghị bác TP và mọi người dịch thêm vài bài của bà nhé:

НАДЕЖДА

Я всё ещё верю, что к жизни вернусь, -
однажды на раннем рассвете проснусь.
На раннем, на лёгком, в прозрачной росе,
где каплями ветки унизаны все,
и в чаше росянки стоит озерко,
и в нём отражается бег облаков,
и я, наклоняясь лицом молодым,
смотрю как на чудо на каплю воды,
и слёзы восторга бегут, и легко,
и виден весь мир далеко-далеко...
Я всё ещё верю, что раннее утро,
знобя и сверкая, вернётся опять
ко мне - обнищавшей, безрадостно-мудрой,
не смеющей радоваться и рыдать...

1949

РОМАНС

Брожу по городу и ною
безвестной песенки напев...
Вот здесь простились мы с тобою,
здесь оглянулись, не стерпев.

Здесь оглянулись, оступились,
почуяв веянье беды.
А город полн цветочной пыли,
и нежных листьев, и воды.

Я всё отдам - пускай смеются,
пускай расплата нелегка -
за то, чтоб снова оглянуться
на уходящего дружка!

1937
 
НАДЕЖДА

Я всё ещё верю, что к жизни вернусь, -
однажды на раннем рассвете проснусь.
На раннем, на лёгком, в прозрачной росе,
где каплями ветки унизаны все,
и в чаше росянки стоит озерко,
и в нём отражается бег облаков,
и я, наклоняясь лицом молодым,
смотрю как на чудо на каплю воды,
и слёзы восторга бегут, и легко,
и виден весь мир далеко-далеко...
Я всё ещё верю, что раннее утро,
знобя и сверкая, вернётся опять
ко мне - обнищавшей, безрадостно-мудрой,
не смеющей радоваться и рыдать...

1949

РОМАНС

Брожу по городу и ною
безвестной песенки напев...
Вот здесь простились мы с тобою,
здесь оглянулись, не стерпев.

Здесь оглянулись, оступились,
почуяв веянье беды.
А город полн цветочной пыли,
и нежных листьев, и воды.

Я всё отдам - пускай смеются,
пускай расплата нелегка -
за то, чтоб снова оглянуться
на уходящего дружка!

1937

Hy vọng

Tôi vẫn tin sẽ trở lại cuộc đời này, -
Vào một sớm tinh mơ bừng tỉnh giấc.
Vạn vật tinh khôi, nhẹ nhõm, sương trong vắt,
Từng chuỗi ngọc giăng mắc các nhành cây
Sương đọng đầy trong lòng hoa nắp ấm
Như mặt gương in bước những đám mây
Và tôi, nghiêng gương mặt thơ ngây
Ngắm giọt nước diệu kỳ chưa từng thấy.
Lệ hân hoan tuôn dòng khoan khoái
Cả thế giới này in bóng trong gương...
Tôi vẫn tin vào một sớm tinh sương
Cóng lạnh sáng long lanh, bên tôi đời trở lại
Tôi bần cùng, ảm đạm, nhưng thông thái,
Không dám khóc gào, và không dám mừng vui...
1949


Khúc tình ca

Lang thang một mình với nỗi đau
Tôi hát thầm bài hát nào chẳng biết...
Nơi đây ngày xưa ta vĩnh biệt,
Từ chỗ này ta ngoái lại nhìn nhau

Nhìn lần cuối và bước chân chậm lại,
Ta cùng cảm nhận vết tai ương
Thành phố mênh mang tràn bụi hoa
Và lá mới non mềm, và nước.

Tôi sẵn lòng hiến dâng tất cả -
Kệ tiếng cười chê, với bất cứ giá nào
Để được thêm một lần ngoái lại
Nhìn theo anh mỗi bước một xa.

1937
 
НАДЕЖДА

Я всё ещё верю, что к жизни вернусь, -
однажды на раннем рассвете проснусь.
На раннем, на лёгком, в прозрачной росе,
где каплями ветки унизаны все,
и в чаше росянки стоит озерко,
и в нём отражается бег облаков,
и я, наклоняясь лицом молодым,
смотрю как на чудо на каплю воды,
и слёзы восторга бегут, и легко,
и виден весь мир далеко-далеко...
Я всё ещё верю, что раннее утро,
знобя и сверкая, вернётся опять
ко мне - обнищавшей, безрадостно-мудрой,
не смеющей радоваться и рыдать..

Tôi vẫn tin còn trở lại với cuộc đời
Và một ngày thức giấc lúc bình minh
bình minh sớm nhẹ, khi sương mai trong suốt
từng giọt phủ đầy trên khắp lá cành.
Trong mỗi giọt sương là một hồ nước nhỏ
và tôi nghiêng khuôn mặt còn trẻ dại
Nhìn mỗi giọt sương, như nhìn phép nhiệm màu
Cả thế giới xa xăm đều hiện rõ ...
Tôi vẫn còn tin rằng buổi sáng tinh sương
Lấp lánh lạnh run vẫn còn quay lại
đến với tôi - kẻ nghèo nàn, buồn rầu, thông thái
không dám vui và dám khóc với đời...
Mây lượn bay in bóng trong hồ
 
HY VỌNG

Tôi vẫn tin sẽ trở lại đời này
Một lần nữa, giữa sớm mai thức giấc.
Một buổi sáng lâng lâng, sương trong vắt,
Giọt giọt giăng trĩu nặng cành cây,
Sương ban mai như một mảnh gương đầy,
Giữa đài hoa in bóng mây dạo bước.
Nghiêng khuôn mặt trẻ trung đầy mơ ước,
Ngắm giọt sương như phép lạ thần kỳ,
Trào lệ hân hoan, lòng nhẹ nhõm, say mê,
Tôi thấy cả thế giới này tít tắp...
Tôi vẫn tin, buổi sớm kia dịu ngọt,
Lạnh hơi sương và lấp lánh ban mai,
Sẽ trở về lần nữa với tôi -
Kẻ khánh kiệt, thảm sầu-thông thái
Không còn dám mừng vui hay buồn tủi, khóc gào...
 
Tôi lang thang trên phố và than thở
Hát một bài ca không rõ với mông lung
Nơi đây ta nói lời ly biệt
Và nơi đây nhìn lại - chẳng cầm lòng,

Nơi đây nhìn lại, và bước hụt
Tựa như ta linh tính thấy tai ương
Còn thành phố vẫn bụi hoa tràn ngập
Lá vẫn dịu dàng, nước vẫn thân thương

Dẫu tôi mất đi tất cả - hãy cứ cười
Dẫu bao khó khăn tôi cũng trả
để được thêm một lần ngoái lại
Nhìn theo bạn ta đang cất bước rời xa.
 
Khúc tình ca

Một mình với một nỗi đau
Lang thang khắp chốn hát câu ca buồn,
Nơi đây lần cuối kề bên,
Chỗ này in dấu ánh nhìn chia ly.

Ngoái nhau, sẩy bước chân đi,
Dường như điềm báo bất kỳ tai ương.
Bụi hoa giăng khắp phố phường
Dịu dàng nếp lá, thân thương nước ròng.

Giá nào tôi cũng sẵn lòng,
Dẫu trời bắt phạt, thế gian chê cười,-
Sao cho lần nữa trong đời
Được nhìn theo gót bóng người đi xa...
 
Hoan hô ba cây bút nữ tài hoa đã cống hiến đủ sắc thái của hai bài thơ rất hay của Bergons. Xin cho Geobic không tham dự vào đây nữa để chăm chút cho vườn thơ Exenin vốn còn rậm rạp quá.
 
Hướng ứng lời gọi của bác NA, nhưng dịch lại một bài thơ của Olga Bergons, có tham khảo và sử dụng những nhận xét tinh tế của Nina. Tạm gọI là Rớt hè, như cách dùng Rớt bão, Dư chấn…

RỚT HÈ

Có một mùa đất trời đằm thắm lạ
Nắng không chói chang, nóng thật dịu dàng,
Ôi rớt hè - nôm na đời vẫn gọi -
Cứ rỡ ràng y hệt tiết xuân sang…

Tơ nhện nhẹ nhàng trên má vương vương
Ta miên man trong cảm xúc lạ thường.
Tiếng lảnh lót bầy chim bay, chiều muộn,
Hoa chen hoa, rực rỡ đến ngỡ ngàng!

Những cơn mưa như trút nước đã dừng,
Đất khô hạn, đất âm thầm thấm hết.
Hạnh phúc nhiều hơn từ ánh nhìn khao khát,
Ghen tuông thưa hơn, chừng cũng xót xa hơn.

Ôi rớt hè, ta đón nhận chẳng phân vân -
Ngươi sáng láng, dịu êm, hào phóng thế…
Bỗng chạnh lòng: tình yêu ta giờ ở nơi đâu?
Rừng im ắng, sao chớp hoài, lặng lẽ…

Kìa, hãy nhìn, chùm sao băng rực rỡ,
Thời khắc chia xa vĩnh viễn đến rồi đây?
… Mãi bây giờ, bây giờ, ta mới biết
Xa xót, yêu thương, tha thứ, chia tay…


БАБЬЕ ЛЕТО

Есть время природы особого света,
неяркого солнца, нежнейшего зноя;

Оно называется
бабье лето
и в прелести спорит с самою весною.

Уже на лицо осторожно садится
летучая, легкая паутина...
Как звонко поют запоздалые птицы!
Как пышно и грозно пылают куртины!

Давно отгремели могучие ливни,
все отдано тихой и темною нивой...
Все чаще от взгляда бываю счастливой,
все реже и горше бываю ревнивой.

О, мудрость щедрейшего бабьего лета,
с отрадой тебя принимаю... И все же.
любовь моя, где ты, аукнемся, где ты?
А рощи безмолвны, а звезды все строже...

Вот видишь — проходит пора звездопада,
и, кажется, время навек разлучаться...
...А я лишь теперь понимаю, как надо
любить, и жалеть, и прощать, и прощаться...[/quote]
_________________
Cảm ơn đã đọc bài của tôi!
 
..................
...........................

Đề nghị bạn honglien đọc ký nội quy trước khi post bài !

http://www.nuocnga.net/forum/viewtopic.php?t=717
 
Đọc dc bài viết rất hay về OB, tôi dán vào đây cho các bác cùng đọc. Ko rõ Lan Hương có nick trong 3N ko?

Olga Berggolts và những bài thơ mùa thu

Lan Hương

Khi đến nước Nga, nhất là đến Saint Petersburg, du khách thường được nghe nói đến tên tuổi của Pushkin: nhà thơ của tâm hồn Nga, nhà thơ của thiên nhiên Nga, nhà thơ của ngôn ngữ Nga.

Nhưng Petersburg không chỉ gắn bó với tên tuổi của Pushkin. Trong hơn 3 thế kỷ hình thành và phát triển của mình, đã có biết bao nhà văn, nhà thơ thiên tài khác góp phần làm nên phong cách hào hoa, trữ tình cho thành phố này. Trong thế kỷ 20, nhà thơ được coi là “tiếng nói của Petersburg” là một nhà thơ nữ: nhà thơ Olga Berggolts.

1- Petersburg và Olga Berggolts

Olga Berggolts trải qua một cuộc đời với rất nhiều thăng trầm, thử thách cũng như chính thành phố Saint Petersburg. Bà sinh năm 1910 trong một gia đình bác sỹ ở Petersburg. Bà tốt nghiệp khoa ngôn ngữ trường đại học tổng hợp Petersburg và trải qua ba năm làm phóng viên cho tờ tạp chí “Thảo nguyên Liên Xô” tại nước cộng hòa Kazakhstan. Trong thời gian này bà đã cho ra đời cuốn sách “Nơi heo hút”. Năm 1933 Olga Berggolts trở lại Saint Petersburg và đã gắn bó cuộc của mình với thành phố này cho đến những ngày cuối cùng của đời mình.

Người ta biết đến tên tuổi của Olga Berggolts từ năm 1935, sau khi bà cho ra đời ba tuyển tập truyện ngắn và thơ mang tên “Những năm xung phong”, “Đêm trong thế giới mới” và “Tuyển tập thơ”.

Năm 1938, cũng như nhiều nhà thơ, nhà văn Nga khác, Olga Berggolts bị bắt vì tội “chống lại nhân dân” và phải ngồi tù 7 tháng. Mãi tới giữa năm 1939 bà mới được trả tự do và hòan tòan được phục hồi danh dự. May mắn hơn nhiều người khác, bà được trở về với đời thường, nhưng dấu ấn của những ngày tháng trong tù còn đeo đuổi theo bà suốt cả cuộc đời. Bà viết trong cuốn nhật ký bí mật của mình như sau: “Năm tháng sau khi đã được trả tự do, nhưng tôi không chỉ cảm thấy, ngửi thấy mùi nhà tù, mà còn cảm thấy cả cái cảm giác nặng nề của người ở trong tù nữa. Một cảm giác vô vọng, không lối thóat khi phải đi lấy cung. Người ta tìm cách dốc ngược tâm hồn của tôi, dùng những ngón tay bẩn thỉu mà moi móc trong đó, nhổ tọet vào nó rồi lộn ngược trở lại và phán một câu chỏng lỏng: sống đi!.”

Những dòng hồi ký này của bà chỉ mới vừa được công bố vào năm 2001, nghĩa là 26 năm sau khi bà đã mất.

Olga Berggolts đã chia sẻ với Petersburg suốt cả 1000 ngày đêm bị bao vây trong chiến tranh thế giới lần thứ 2. Bà làm việc trong đài phát thanh của thành phố và chính thời gian này tên tuổi của bà đã được biết đến như một nhà thơ vừa trữ tình vừa quả cảm của thành phố Petersburg.

Cũng như Pushkin, Olga Berggolts không chỉ làm thơ, mà còn viết rất nhiều truyện ngắn, truyện vừa, trường ca, tiểu luận... Ngay cả thơ của bà cũng gồm nhiều chủ đề khác nhau và tình ca chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong đó. Nhưng những bài thơ vượt thời gian đến với chúng ta hôm nay chủ yếu lại là những bài thơ đượm chất trữ tình.

Hôm nay chúng tôi muốn giới thiệu với các bạn hai bài thơ đặc sắc nhất của bà, cả hai bài đều là những bài thơ tuyệt tác về mùa thu. Bài “Mùa lá rụng” để diễn tả mùa thu ở Moskva và bài “Mùa hè rớt” để nói về mùa thu ở Saint Petersburg. Olga Berggolts mất năm 1975 tại Petersburg. Tên của bà được đặt cho một con phố giữa trung tâm của Petersburg, ngang hàng với những tên tuổi đã làm nên lịch sử và cuộc sống của thành phố này.

2- Mùa thu nước Nga

Trước khi nói về những bài thơ mùa thu, Lan Hương muốn nói đôi chút về mùa thu ở Nga. Theo lịch thiên nhiên, mùa thu kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11. Nhưng trên thực tế, mùa thu mà các nhà văn, nhà thơ, họa sỹ hay nói đến không kéo dài lâu như vậy. Cái khỏanh khắc mà người ta ca ngợi chỉ kéo dài lâu nhất là 1 đến 2 tuần lễ. Cuối tháng 9, trước khi những đợt gió lạnh, và những cơn mưa dài lê thê đổ xuống, thiên nhiên hào phóng ban tặng cho mặt đất một khỏang thời gian ấm áp, đẹp đẽ lạ thường. Cái khỏang thời gian tuyệt đẹp đó các nhà thơ gọi là mùa hè rớt, hay mùa hè của các bà, mùa lá rụng, còn các họa sỹ thì gọi đó là mùa thu vàng. Dù được gọi bằng cái tên gì, thì khỏanh khắc tuyệt đẹp đó cũng chỉ là một. Nó vừa ngắn ngủi, vừa mong manh, vừa hiếm khi gặp được, bởi nó kéo dài nhiều nhất cũng chỉ hai tuần và không phải năm nào cũng có. Một đợt mưa đến sớm, mặt trời không xuất hiện, những trận gió bất ngờ... thế là hỏng cả mùa thu mong đợi.

Mãi đến thời kỳ của Pie Đại đế trị vì vào thế kỷ thứ 18 nước Nga mới đón Năm mới vào ngày 1 tháng 1 như bây giờ. Trước đó, trong nhiều thế kỷ, người Nga đón Năm mới vào ngày 1 tháng 9. Tháng 9 là thời điểm các công việc đồng áng vất vả đã chấm dứt, các lãnh chúa cũng như địa chủ đã thanh tóan tất cả tiền công cho nông dân. Bắt đầu từ ngày lễ Thánh Ivan Đại Trai 29 tháng 8, khắp nơi trong nước Nga người ta tổ chức các hội chợ. Hội chợ vừa là nơi mang bán các nông sản phẩm thu họach được, vừa là nơi hội hè, vui chơi sau một năm làm việc vất vả. Chính vào thời điểm này, thiên nhiên ban tặng cho con người một khỏang thời gian ấm áp cuối cùng trước khi mùa đông đến, và ở Nga người ta tận hưởng những ngày ấp áp đẹp đẽ này để tổ chức lễ hội, các bà các chị rủ nhau may áo mới, đi hát đối tại các hội chợ, làm những lọai bánh ngon nhất để thết đãi các đức ông chồng, các chàng trai đang ngấp nghé dạm hỏi.

Chính vì vậy mà khỏang thời gian mùa thu ấp áp này được gọi là mùa thu của các quý bà hay là mùa hè rớt. Người ta ví, mùa xuân như cô dâu chưa về nhà chồng, rực rỡ, e lệ và đỏng đảnh, mùa hè như cô vợ mới cưới , nồng nàn, cháy bỏng và bồng bột, còn mùa hè rớt như người phụ nữ hồi xuân vừa đằm thắm, vừa thiết tha mà vẫn không kém phần tuyệt mỹ.

3- Hai bài thơ tình của Olga Berggolts

Olga Berggolts để lại rất nhiều bài thơ tình, nhưng có lẽ hai bài thơ về mùa thu của bà là tuyệt sắc nhất. Hai bài thơ mùa thu của bà không chỉ đẹp về ngôn ngữ, sâu sắc về nội dung mà nó còn hết sức đậm đà nữ tính.

Bài thơ “Mùa lá rụng”, Olga Berggolts làm năm 1938, khi mới 28 tuổi. Bài thơ được làm trong bối cảnh mùa thu của Moskva, thành phố nơi người yêu của bà đang sống.
Mùa thu Moskva có gì lạ. Chúng ta hãy nghe Olga Berggolts tả lại:

Những đàn sếu bay qua, sương mù và khói tỏa
Trên Mạc Tư Khoa lại đã thu rồi
Những khu vườn như lửa cháy sáng ngời
Vòm lá sẵm, ánh vàng lên rực rỡ
Những tấm biển treo dọc trên đại lộ
Nhắc những ai đi ngang, dù đầy đủ lứa đôi,
Nhắc cả những ai cô độc trên đời
“Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”

Olga Berggolts lên thăm người yêu, nhưng cũng là cuộc gặp gỡ cuối cùng khi tình yêu tan vỡ, để rồi một mình ra ga trong những tiếng mưa rơi. Nhưng rất lạ, những cơn mưa mùa thu thường lạnh buốt, cũng như tình yêu khi tan vỡ thường làm người ta tuyệt vọng. Nhưng Olga Berggolts đã đủ nghị lực để nhìn thấy cái ấm áp của cơn mưa, cũng như nhìn thấy cuộc đời vẫn tiếp tục, dù tình yêu tan vỡ

Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi
Cơn mưa thầm thì trong lúc chia tay
Mưa chan hòa, mưa ấm áp nhường nào
Mưa run rẩy trong ánh chiều nhấp nhóang
Anh hãy vui lên dẫu con đường hai ngả
Tìm hạnh phúc bình yên trong ấm áp cơn mưa...

Mùa thu Moskva rất lạ, trên khắp những đường phố có cây xanh, người ta gắn những tấm biển nhỏ: đừng động vào cây mùa lá rụng. Người Nga cũng rất hay dùng câu thành ngữ: “đừng rắc muối lên những vết thương lòng”. Phải chăng cái mong manh như lá mùa thu đã dậy cho con người bài học biết bao dung, tha thứ và yêu thương?

“Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”
Nhắc suốt đừơng cũng chỉ bấy nhiêu thôi...


Bài “Mùa hè rớt” Olga Berggolts ấp ủ trong suốt 4 năm từ năm 1956, đến năm 1960 mới hòan thành, khi đó bà đã 50 tuổi, đúng là cái tuổi của “mùa hè rớt”, cái tuổi để biết nhẫn nhịn và quý trọng tình yêu hơn.

Có một mùa trong sáng diệu kỳ
Sức nóng êm ru, mầu trời không chói
Mùa hè rớt cho những người yếu đuối
Cứ ngỡ ngàng như trời mới vào xuân

Trên má mơ hồ tơ nhện bay giăng
Se sẽ như không, nhẹ nhàng phơ phất
Lanh lảnh bầy chim bay đi muộn nhất
Hoa cuối mùa sặc sỡ đến lo âu

Những trận mưa rào đã tắt từ lâu
Tất cả thấm trên cánh đồng lặng sẫm
Hạnh phúc được yêu đã ít hơn xưa
Ghen tuông dù chua chát cũng thưa hơn...

Đấy, Olga Berggol đã diễn tả mùa hè rớt như vậy đó: vừa dịu dàng, vừa rực rỡ vừa nhẫn nại chịu đựng. Mùa thu là lúc người ta tận hưởng thành quả của cả mùa hè và mùa xuân vất vả lao động. Mùa thu dậy cho con người biết quý trọng những hạnh phúc đơn sơ mà mình có được: những bông hoa cuối cùng, những tia nắng ấm cuối cùng, một bầu trời xanh hiếm muộn ló ra, cũng như người ta bỗng cảm thấy thật hối tiếc khi nghĩ về một cuộc tình đẹp đẽ tan vỡ thời tuổi trẻ.

Ôi cái mùa độ lượng rất thân thương
Tôi tiếp nhận người, vì người sâu sắc quá
Nhưng vẫn nhớ, trời ơi tôi vẫn nhớ
Tình yêu ơi, người đang ở phương nào?

Sao ơi sao, sao sắp rụng vào đêm
Tôi biết lắm, thời gian đang vĩnh biệt
Nhưng chỉ đến bây giờ tôi mới biết
Yêu thương, giận hờn, tha thứ, chia tay...

Người ta thường nghĩ, mùa thu là mùa của chia ly, mùa của tàn tạ và có cảm giác sợ mùa thu. Nhưng Olga Berggolts chỉ cho chúng ta thấy một thông điệp hòan tòan khác của thiên nhiên: “Hãy biết quý trọng tất cả những gì chúng ta đang có. Hạnh phúc cũng mong manh như lá thu, hãy nâng niu khi nó còn ở trên cành”.

Moscow 11/08/2006

Copyright © 2006 by DCVOnline
 
Có bài thơ này người ta đính chính là của nữ thi sĩ Onga Becgon. Tôi nhờ các bạn giỏi tiếng Nga tìm hộ tôi và xác minh xem có phải không. Cảm ơn các bạn.

Hạnh phúc đến bất ngờ như tự nó ra đi
Vừa mới đó đã lại là quá khứ
Chẳng biết vì sao và tự bao giờ nữa
Anh nhớ em mỗi lúc thấy trăng tròn

Sẽ chẳng bao giờ nữa phải không em?
Thế là hết một bài thơ dang dở
Chuyện cuộc đơì anh quên gần một nửa
Để nhớ riêng em với một nụ cười

Mãi xa rồi trong ký ức xa xôi
Anh sẽ lại tìm về chốn cũ
Không đâu em lòng anh không muốn thế
Chẳng bao giờ anh muốn xa em

Tháng ngày dài để rồi mai em quên
Nhưng mãi mãi trong lòng anh sóng vỗ
Dìu dịu anh mơ kìa con bướm nhỏ
Bay lên trơì cao như bài thơ

Anh yêu nhiều đám mây trắng ngẩn ngơ
Câu thơ thắm trong trời xanh hôm ấy
Dáng em đó tóc vờn bay thương biết mấy
Sẽ trọn đơì anh giữ bóng hình em

Chẳng bao giờ tìm được nữa đâu em
Lòng lưu luyến như mất gì quý nhất
Anh đã nếm vị ngọt ngào chua xót
Nhớ lắm em ơi mỗi phút cuộc đơì

Khi chuyện đơì thường như nước chảy mây trôi
Em mơí hiểu bây giờ anh có lý
Chuyện cũ xa rồi sao giờ xa cách thế
Mãi mãi trong tim anh em tươi trẻ rộn ràng

Đừng trách ai làm mơ mộng lỡ làng
Mà thương lắm những cánh hoa rơi rụng
Anh đã yêu em mà không hề hy vọng
Khi xa rồi anh càng hiểu em hơn

Tháng ngày dài để rồi mai em quên
Đơì vẫn thế, ngọt ngào và chua xót
Có bao giờ em nghĩ về thuở trước
Nghĩ cho cùng, anh có lỗi đâu em?!

Dẫu sau này đơì muôn vạn lần hơn
Anh vẫn muốn sống những ngày như thế!
 
Back
Top