HỒI ỨC LÍNH XE TĂNG
Rem Ulanov
"Colombina"
Rem Ulanov đứng bên trái
Tôi có một tấm ảnh chụp chiếc SU-76 đặt trên bàn làm việc của mình, nó nhắc tôi nhớ về thời trai trẻ của mình, thời kỳ gắn liền với chiếc xe đó, về những bạn chiến đấu và các sự kiện xảy ra, về quá trình công tác của tôi tại bãi thử nghiệm Kubinka và tất cả những gì liên quan tới chúng.
Tôi xin được phép kể mọi chuyện từ đầu. Tháng Ba 1943, sau khi rời bệnh viện, tôi được đưa đi cùng những người lính khác tới Trung đoàn pháo tự hành huấn luyện 15, đóng tại ga Iksha trên tuyến đường sắt Savelovskaya. Trung đoàn bố trí trong khuôn viên của nhà máy "Gidroprivod" đang xây dở dang. Trật tự và sự ngăn nắp sạch sẽ của doanh trại làm tôi rất bất ngờ. Tôi còn bất ngờ hơn khi đứng gác cùng tổ lính gác dưới lá cờ trung đoàn. Bọn họ cùng mặc áo liền quần màu xanh dương sẫm và đội mũ chụp đầu của lính tăng. Có một chiếc xe lạ đậu cạnh Sở chỉ huy. Nó có bộ khung của chiếc tăng Đức Pz-III, nhưng thay vì có tháp pháo, nó lại có một thứ kết cấu kỳ lạ bọc thép, tương tự đoàn tàu bọc thép tự chế thời kỳ Nội chiến. Nó gắn một khẩu pháo ZIS-3, vô cùng quen thuộc với mọi người lính ngoài chiến trường (khẩu ZIS-3 không hề được lắp trên những khung xe tăng Đức, thực ra đó là khẩu S-1, một phiên bản của khẩu F-34 dành cho xe tăng – Bair Irincheev)
Khát vọng làm cho cái khẩu pháo tuyệt vời và đáng tin cậy ấy di chuyển trên chiến trường đã cho chào đời cái vật lai kỳ lạ đó. Quyết định này đưa ra thật vừa đúng lúc, cho phép khẩu pháo tự hành đời đầu của ta lắp ráp dựa trên những xe tăng chiến lợi phẩm. Nhiều trung đoàn sử dụng loại xe này đã được gửi ra chiến trường. Nhưng nhiệm vụ sắp tới của tôi sẽ là gì? Là người lái, làm pháo thủ hay làm lính xe tăng? Trước khi bị thương vào tháng Giêng 1943, tôi đang kéo một khẩu cối 120mm cấp trung đoàn đằng sau chiếc xe tải 1,5 tấn GAZ-AA của mình, có cái cabin tài xế thường được mệnh danh là “hãy từ giã sức khoẻ của mình” (Khi mùa đông, những con ngựa, dù quả là một loại sức kéo rất cổ xưa, còn có hiệu quả hơn nhiều so với xe tải). Trung đoàn 15, trực thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh, huấn luyện trước hết là các tài xế xe tải và lính lái xe tăng. Sau ba tháng huấn luyện, các tài xế được cấp một giấy chứng chỉ viết tay, theo đó người này, người kia đã đạt tiêu chuẩn để lái các loại xe tải ZIS-5 và GAZ-AA. Tờ chứng chỉ được ký bởi tham mưu trưởng và người thư ký, có đóng dấu xác nhận. Có thể kiếm được tờ chứng chỉ này qua viên thư ký bằng một cốc "makhorka" (loại thuốc lá nhà trồng, rất phổ biến trong Hồng quân) nếu tay thư ký có cảm tình với ta…
Đám lính lái tăng (theo lệ là những người được tuyển từ các tài xế xe tải và người lái máy kéo) nhận được giấy chứng chỉ chuyên viên quân sự sau khi hoàn tất khóa học và khi tốt nghiệp được thăng cấp trung sĩ. Những bài giảng lý thuyết trên lớp học có nội dung về động cơ và bộ truyền động của SU-76 – bao gồm cả phần tháo ráp chúng.
Mẫu đầu tiên của SU-76 (SU-12) gắn các động cơ 26 xi lanh had GAZ-202, công suất mỗi chiếc là 75 mã lực. Hai động cơ này mỗi cái có riêng một bộ tản nhiệt, khớp ly hợp, hộp số và bộ truyền động. Tất cả những máy móc này đều gắn phía trước thân xe, giữa chúng là ghế ngồi của người lái. Ta có thể dễ dàng hình dung ra vận hành những chiếc xe có những hai hộp số và khớp ly hợp thế này khó khăn và phức tạp đến thế nào.
Hai công trình sư Xôviết nổi tiếng - Lipgart và Astrov, đã biến đổi số phận của những khẩu pháo tự hành này. Tới năm 1942 họ đã thiết kế lại nó dựa trên bộ động cơ GAZ-202. Giờ đây động cơ kháo tự hành gồm hai động cơ với bộ trục quay nối liên hợp nhau. Chiếc động cơ này, gắn trên một bộ khung duy nhất, chỉ có một khớp kéo hình đĩa và một hộp số bốn tốc độ, ban đầu sản xuất tại Maskva, rồi về sau là tại nhà máy ZIS ở Ural. Động cơ có 150 mã lực, bố trí ở bên phải của thân xe và, mặc cho chiều dài của nó, khá gọn gàng và dễ dàng bảo trì. Một hệ thống làm mát thông thường với một bộ tản nhiệt và chiếc quạt sáu chong chóng đảm nhiệm rất tốt yêu cầu làm mát. Bộ truyền động cũng rất đơn giản, trong nhiều chi tiết có bắt chước lại bộ truyền động của loại tăng T-26 vốn được sản xuất với số lượng lớn trước chiến tranh.
Đấy là cụ thể về chuyện chiếc SU-76 (SU-15) ra đời như thế nào. Thân xe rộng và khoang vũ khí thụt về phía sau tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho tổ lái khi nã đạn cấp tập. Loại pháo tự hành Đức "Artshturm" gắn pháo 75 mm gun (tên ký hiệu của Liên Xô đặt cho loại pháo tự hành StuG 40) có bề ngoài khá đẹp, nhưng điều kiện hoạt động cho tổ lái rất bất tiện và làm suy kiệt thể lực họ vì mùi xăng và các thùng đạn cheo chúc bên trong rất chật chội.
Khóa huấn luyện lái tăng của tôi đã sắp kết thúc. Theo quy định, nó bao gồm 18 giờ thực hành lái tăng. Thật ra chúng tôi chỉ được lái không quá 3 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, tôi đã được may mắn hơn. Vào cuối tháng Tám 1943, trung đoàn tôi chuyển vị trí đóng quân từ ga Iksha tới Ivanteevka. Tôi ở trong số những người được lái những khẩu pháo tự hành mà chúng tôi dùng để huấn luyện đi qua những con đường lầy lội của khu vực Maskva. Đó chính là lúc mà tôi hiểu ra được các tính năng lái tuyệt vời và khả năng cơ động rất tốt của chiếc "Colombina" - tất cả những xe SU-76 đều tới được điểm tập kết mà không bị hỏng hóc trục trặc gì. Những khẩu pháo tự hành gắn pháo 122 mm trên khung xe T-34 (SU-122) mãi một ngày sau mới tới nơi do gặp những trục trặc kỹ thuật. Chúng tôi dừng lại tại nhà ga Mamonovka, nơi trung đoàn pháo tự hành 999 đang trong quá trình thành lập. Chúng tôi nhận được tiếp 21 chiếc khác tại Kirov. Tới đây hẳn những chuyên gia lại đang lầm bầm: đáng ra chúng tôi nên lấy những xe do Nhà máy Gorki sản xuất, mấy thằng cha ở Vyatka thì biết làm gì khác ngoài làm đồ chơi đâu cơ chứ? Nhưng xe sản xuất tại Kirov thực ra không tồi hơn chút nào so với những chiếc sản xuất tại Gorki hay Mytischi. Ngoài những chiếc SU-76, chúng tôi còn nhận thêm hai mươi xe tải ZIS-5, hai mươi xe tải GAZ-AA cùng đầy đủ phụ tùng, mặc dù là loại có cabin gỗ, hai xưởng sửa chữa lưu động đặt trên khung xe GAZ-M, và những bếp lò đốt dầu kiểu Antonov. Sở chỉ huy nhận được những xe "Dodge" và hai xe jeep Willis. Để tăng khả năng độc lập của các khẩu đội, mỗi khẩu đội được cấp thêm một máy kéo "Komsomolets", một xe jeep Willis và một môtô kiểu "Tháng Mười Đỏ". Tuy nhiên, trước khi lên đường ra mặt trận, tất cả những trang bị bổ sung đó đều bị lấy đi cho nơi khác.
Toàn trung đoàn có khoảng dưới 180 người. Chúng tôi lên tàu ở Mytischi vào cuối tháng Mười Một năm 1943. Ngay khi lên đường, khẩu phần số ba thảm hại lập tức được chuyển sang thành khẩu phần lính số hai giàu chất hơn. Chúng tôi được ăn súp nấu với cá trích đóng hộp. Nhưng người ta đưa chúng tôi đi đâu vậy nhỉ? Chẳng một ai biết cả. Sau chuyến hành trình dài 10 ngày, chạy qua chỉ toàn những cảnh đổ nát - cầu cống bị nổ tung, nhà cửa cháy rụi, những toa tàu bị lật nhào, những mảnh kim loại méo mó ngổn ngang, chúng tôi vượt sông Dnieper qua một cây cầu gỗ ọp ẹp và trông thấy thành Kiev đã chịu nhiều đau khổ. Thêm 100 kilômét nữa về phía Tây, chúng tôi xuống tàu tại ga Irsha dưới mưa bom của đám "Junker", chúng cứ như vừa chui ra khỏi bầu trời xanh thẳm vậy. Từ Iksha tới Irsha.
Tuy nhiên thiệt hại do bom không đáng kể. Khẩu phần số hai lại được thay bằng khẩu phần số một. Giờ chúng tôi được phát 900 gram bánh mì và 100 gram vodka. Hồi phục sau khi bị oanh tạc, chúng tôi sắp xếp thành đội hình hành quân và tiến về phía tây trên con đường mùa đông tuyết phủ. Đến một ngôi làng có tên là Chelovichi, chúng tôi sơn lại tất cả pháo tự hành và xe tải bằng vôi trắng, theo một mệnh lệnh của chỉ huy. Nơi đây có rất nhiều vôi – Ukraina vốn nổi tiếng vì thế.
Tới tối khẩu đội tôi tắt đèn xe tiến vào một ngôi làng lạ. Những ống xả khí phun lập lòe phía bên phải của thân xe. Những con số và mũi tên phát thứ ánh sáng lân tinh chiếu sáng bảng điều khiển trước mặt tôi.
Đôi chân tôi đi ủng và bọc xà cạp đã lạnh cóng tới mức hoàn toàn không còn cảm giác gì nữa. Vai phải tôi thì nóng rát; vai trái lại lạnh, ngay sát cái thùng xăng chứa 400 lít xăng B-70. Chất chống đông được dùng trong hệ thống làm mát và điều nguy hiểm nhất là lơ đăng để cho nhiệt độ (sau khi đã tắt động cơ) tụt xuống dưới âm 35 độ C - nếu để nhiệt độ thấp hơn, ta sẽ gặp vấn đề khi muốn khởi động lại động cơ xe.
Một trong số ít những thiếu sót của chiếc xe này là bộ ắc quy yếu của nó gồm hai bộ 6 chiếc ắc quy V 6ST-140. Nếu người lái quên hoặc ngủ gật qua cái thời điểm mà động cơ bị hạ nhiệt độ xuống dưới nhiệt độ nguy hiểm nói trên, ta vẫn còn một cơ hội nữa để khởi động lại bằng điện. Để làm thao tác đó, hệ thống điện phải được sắp xếp lại sao cho một trong những bộ khởi động phải nhận được gấp đôi cường độ điện và quay mạnh hơn bình thường cái trục quay. Nếu cách này cũng không xong, vẫn còn một hy vọng để khởi động nhờ dùng một cái tay quay maniven khổng lồ, nó cần sự hợp sức của hai hay thậm chí ba người cùng quay. Hy vọng cuối cùng để khởi động động cơ là dùng một chiếc SU-76 khác để kéo chiếc xe của mình. Nhưng đó là cách man rợ nhất ta có thể làm bởi như thế bộ truyền động sẽ bị quá tải.
Để được co duỗi chân và sưởi ấm đôi chút, tôi chui qua chiếc cửa nắp ra khỏi xe, đi rảo quanh chiếc xe và kiểm tra xem xích xe có bị lỏng không. Chiếc "Colombina" vô cùng dễ điều khiển lại rất dễ tổn thương khi chỉ cần có một mắt xích căng không đều. Để kiểm tra xem xích căng có đúng không rất dễ - chỉ cần một người dẫm lên đoạn xích phía dưới cái bánh xích lái - cần có hai mắt xích chạm được xuống đất. Nếu chạm đất nhiều hơn hai mắt thì tức là xích quá chùng. Ít hơn hai mắt chạm đất có nghĩa xích đã bị căng quá mức.
Khung cảnh xung quanh rất yên tĩnh. Về phía phải và phía trái tôi có thể trông thấy những túp nhà nông dân với mái nhà lợp rơm. Quay trở lại ghế lái của mình, tôi nhìn vào chiếc nhiệt kế và, sau khi nhận ra nhiệt độ xe cho phép tôi có thể chợp mắt thêm được nửa tiếng, tôi đóng cửa nắp xe lại. Tôi thức dậy khi có tiếng đập mạnh lên thân trước xe và tiếng chửi thề inh ỏi. Mở hé cửa nắp, tôi trông thấy hai sĩ quan mặc bộ áo khoác lông cừu trắng tinh. Một trong hai người, lùn và béo, đội một chiếc mũ lông papakha. Tay còn lại, cao và gầy, đang cầm trong tay chiếc đèn lin và chiếu cho người kia. “Tại sao anh đỗ xe ở đây? Chỉ huy của anh đâu?” – ông đội papakha hét lên, cố gắng chọc chiếc gậy của mình vào tôi. Tôi đóng sập chiếc cửa nắp, kẹp lấy cây gậy. “Bỏ chiếc gậy ra!” – ông đội papakha ra lệnh. Mở hé cửa nắp, tôi buông cây gậy ra. Ông béo và ông gầy đi vòng quanh chiếc xe, gõ lên tháp pháo, gọi người chỉ huy ra gặp. Thiếu uý Karginov, lồm cồm chui khỏi tấm vải bạt phủ trên phần sau xe, nhảy xuống đất và lãnh nhiều phát gậy vào lưng. Khẩu đội trưởng.vừa chạy tới nơi cũng bị ăn chửi – hóa ra chúng tôi đã đậu xe nhầm chỗ.
Khẩu đội trưởng và viên sĩ quan chỉ huy đi đằng trước, yêu cầu chúng tôi lái theo sau. Ở tốc độ một và nhận ga ít chiếc xe hầu như di chuyển không phát ra tiếng ồn, thậm chí cả khi chạy trên mặt đất đóng băng cứng. Một chiếc T-34 sẽ đánh thức tất cả trong bán kính ba cây số bằng tiếng xủng xoẻng của xích xe. Tới bình minh đám bộ binh của chúng tôi bắt đầu tiến lên chiếm ngôi làng. Nhiều lần những chiếc áo choàng Nga màu xám đứng lên, nhưng bọn họ không thể chiếm được ngôi làng. Bên ngoài khu làng có một xe thiết giáp 8 bánh gắn pháo của bọn Đức, nó dùng hỏa lực gìm đầu đám bộ binh của ta xuống đất. Thiếu uý Karginov bảo tôi quay khẩu pháo tự hành sang phải và phát đạn thứ hai của chúng tôi bắn bay tháp pháo của chiếc thiết giáp Đức. Đó là chiến thắng đầu tiên và, thật bất hạnh, cũng là cuối cùng của chúng tôi. Hai ngày sau một khẩu pháo tự hành Đức cỡ lớn xuyên thủng giáp trước chiếc "Colombina" của tôi bằng một phát đạn xuyên giáp (AP) từ khoảng cách 1500 mét. Theo lời khuyên của những lái xe có kinh nghiệm, tôi không dùng đến xăng trong thùng xăng phía trước mà dùng ở thùng xăng phía sau. Đó là lý do mà chúng tôi không bị nổ tung ngay sau khi bị trúng đạn.
Tôi đã xé bỏ túi áo khoác ngay từ khi còn ở trên tàu. Tôi cũng đã nhét thắt lưng và khẩu súng lục TT của mình xuống dưới áo khoác - tất cả những điều cần thiết để có thể nhảy ngay khỏi xe mà không bị kẹt lại. Tôi cảm thấy xe bị bắn trúng ngay khi vừa trông thấy chớp lửa đạn. Tôi vọt ra khỏi cửa nắp mà mình vốn đã mở sẵn, rồi bỏ chạy, cố gắng càng xa chiếc xe càng tốt. Tôi bị vấp và ngã vào một chiến hào. Nằm trong đó, tôi nghe thấy tiếng nổ của xăng chứa trong xe. Sau đó là đạn pháo phát nổ. Khi tất cả đã kết thúc, tôi quay trở lại chiếc "Colombina" của mình, giờ trông như một mụ phù thuỷ, chẳng còn chút gì vẻ đẹp xưa kia. Tôi sợ hãi liếc nhìn vào khoang vũ khí. Trong lòng, tôi cảm thấy thật cay đắng, buồn bã và cô đơn.
Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng kêu: "Ulanov, chạy lại đây!" Có ba người đang quan sát từ sau một nhà kho. Tôi chạy tới họ - đó là tổ lái của tôi! Tất cả vẫn còn sống!
Suốt nhiều ngày trời tay sĩ quan NKVD dò xét chúng tôi – có lẽ chúng tôi đã tự đốt cháy chiếc xe của mình chăng? Và rồi anh ta cũng để chúng tôi yên, sau khi hiểu rõ là chúng tôi vô tội. Viên sĩ quan phụ trách kỹ thuật của trung đoàn ra lệnh cho tôi lái xe tải chở những binh lính bị ốm. Đầu tiên tôi phải vận chuyển những người bị thương nằm trên lớp rơm trong xe tải, còn sau đó thì là viên sĩ quan liên lạc của trung đoàn.
Tới cuối tháng Chạp tôi chở chỉ huy của mình và một sĩ quan tham mưu khác tới thành phố. Khi tới gần một chiếc cầu bị phá huỷ bắc ngang sông Uzh, chiếc xe của tôi phát nổ khi bánh trái phía trước của nó chạm vào một quả mìn chống tăng. Cú nổ quá mạnh làm tôi tối sầm cả mắt. Nhưng trong đầu tôi lại có một suy nghĩ ngu ngốc: chắc máy xe bị nổ. Sau khi tỉnh lại, tôi mở mắt ra nhưng không thể trông thấy gì. Tôi thử cào lên mắt, nhưng tay tôi chạm vào lớp vải đang phủ lên mặt. Toy lột nó ra và, vô cùng vui mừng rằng mắt mình vẫn không sao, bắt đầu sờ lên tấm chắn gió. Nó quá trong suốt và sạch sẽ - đơn giản là nó không còn ở đó nữa! Bộ tản nhiệt, nắp động cơ và cửa cabin bên trái cũng đã biến mất.
Khi vừa chui khỏi cabin, tôi trông thấy bánh xe cũng biến mất và trục xe đang cắm xuống mặt đất đóng băng. Đại uý Semenov, người ngồi sát bên tôi, bị thương vào bụng và chân. Còn viên sĩ quan liên lạc thì bị chiếc đèn xe văng trúng và bắn tung khỏi thùng xe. Chúng tôi chờ trong sương giá suốt hai giờ, trước khi anh ta đưa được cứu thương tới. Tôi bị chấn thương vì cú nổ, bị một vết bỏng do hóa chất, bị giá ăn trên tay, mũi và tai, cùng nhiều vết sước trên tay và chân trái. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra sau đó với viên đại uý. Bản thân tôi mất ba tuần nằm ổ rơm tại quân y viện và sau đó được chuyển lên điều dưỡng tiểu đoàn.
Trên đường tới thị trấn có tên là Ovruch, tôi trông thấy một đoàn SU-76 mới cáu vừa xuất xưởng. Tim tôi bắt đầu đập rộn lên – “nếu mình không thể lái nó trong trung đoàn mình nữa, mình sẽ đề nghị đám kia cho mình đi theo” – tôi nghĩ vậy. Viên tham mưu trưởng, mặc một chiếc áo vét lông đắt tiền, nhìn tôi đầy nghi ngờ. Tôi trông bề ngoài tồi tàn, khoác chiếc áo choàng mất dây buộc, râu ria không cạo, mặt mũi đầy vết giá ăn và mái đầu bù xù đội chiếc mũ lính tăng nhàu nát. Ông ta yêu cầu tôi chờ cho tới lúc hồi phục lại, có đầy đủ sức khoẻ và lấy lại được vẻ ngoài cho phù hợp với một trung sĩ Hồng quân. Tôi cho là ông ấy đã đúng. Ở Ovruch, sau khi biết được tôi là lái xe và còn là lính lái tăng nữa, đại diện của Đại đội Bảo vệ Độc lập 26 trực thuộc Sở Chỉ huy Tập đoàn quân 13 đã “tuyển dụng” tôi. Ở đó tôi được bố trí lái chiếc tăng chiến lợi phẩm duy nhất mà họ có - một chiếc Pz. IV. Sau khi đã chạy được hàng chũc cây số trên chiếc xe ấy, tôi đã có điều kiện để xác định được các đặc điểm và khả năng điều khiển của nó. Cả hai đều kém hơn so với của SU-76.
Cái hộp số đồ sộ 7 tốc độ, gắn ở bên phải của ghế lái, làm tôi khó chịu vì sức nóng, tiếng rú và cái mùi kỳ lạ của nó. Nhíp xe cứng hơn của chiếc SU-76. Tiếng ồn và sự rung động của động cơ "Maybach" liên tục làm cho tôi nhức cả đầu. Chiếc tăng ngốn ngấu một lượng lớn nhiên liệu. Hàng chục xô phải đổ cho nó chỉ qua một cái phễu, thật là bất tiện. Người lái cũ của nó, sau khi trở về từ bệnh viện, muốn tìm cách lấy lại công việc của mình. Hắn ta bắt đầu đơn đặt cả một kế hoạch để chống lại tôi, nào là Ulanov quá lười, ngủ suốt ngày, chiếc xe không được bảo trì đúng cách và nói chung hắn ta là một tay hay ghen tị. (Về sau Rem Ulanov trở thành người lái tăng thử nghiệm tại Kubinka - LTD) Và cuối cùng hắn cũng đạt được ước nguyện. Đó là một vị trí rất an toàn - Sở chỉ huy Tập đoàn quân chẳng bao giờ lại gần khu chiến sự hơn 20 km, và chiếc tăng chỉ phải mang có năm viên đạn. Vì thế tôi được tái bố trí vào lái một xe thiết giáp nhỏ loại BA-64.
Tháng Năm năm 1944 chúng tôi được đề nghị chuyển về học tại trường huấn luyện thiết giáp ở Maskva. Tôi vui mừng đồng ý lời đề nghị này. Tuy nhiên, thay vì Maskva, chúng tôi, gồm nhiều học viên, lại có mặt trong khóa học huấn luyện thiếu uý của Tập đoàn quân 13 tại thị trấn Kremenets vùng Tây Ukraina. Tất cả những chống đối của chúng tôi đều vô ích. Họ dọa sẽ khai trừ chúng tôi khỏi Đoàn Thanh niên Cộng sản Komsomol. Chúng tôi đành phải khuất phục bản thân mình.
Tốt nghiệp cái khoá học ba tháng ấy là các trung đội trưởng trung đội bộ binh và đại liên. Toy chui vào học khóa huấn luyện tung đội trưởng trung đội đại liên. Các môn học chính là giáo dục chính trị, chiến thuật và khí tài. Yêu cầu cơ bản là nhắm mắt tháo và ráp các loại đại liên Maxim, DP, kiểu trung liên cho bộ binh Degtyarev và đại liên Đức MG-34. Cuối tháng Tám 1944 tôi tốt nghiệp ra thành thiếu uý, chỉ huy một trung đội đại liên. Tên tôi đứng thứ 232 trong danh sách tốt nghiệp.
Khi đơn vị trong quá trình thành lập ở thị trấn Dembe tại Poland, một sĩ quan xuất hiện trong trung đoàn. Anh ta mặc áo jacket da và đeo an quân hiệu Lữ đoàn Thiết giáp – theo lệnh của Ban Tham mưu Phương diện quân anh ta đi tìm những pháo thủ pháo tự hành vì lý do nào đấy đang có mặt trong bộ binh.
Tôi tới gặp anh ta và báo cáo rằng tôi là một lính lái SU-76 đã được đào tạo đàng hoàng.
Rem Ulanov
"Colombina"
Rem Ulanov đứng bên trái
Tôi có một tấm ảnh chụp chiếc SU-76 đặt trên bàn làm việc của mình, nó nhắc tôi nhớ về thời trai trẻ của mình, thời kỳ gắn liền với chiếc xe đó, về những bạn chiến đấu và các sự kiện xảy ra, về quá trình công tác của tôi tại bãi thử nghiệm Kubinka và tất cả những gì liên quan tới chúng.
Tôi xin được phép kể mọi chuyện từ đầu. Tháng Ba 1943, sau khi rời bệnh viện, tôi được đưa đi cùng những người lính khác tới Trung đoàn pháo tự hành huấn luyện 15, đóng tại ga Iksha trên tuyến đường sắt Savelovskaya. Trung đoàn bố trí trong khuôn viên của nhà máy "Gidroprivod" đang xây dở dang. Trật tự và sự ngăn nắp sạch sẽ của doanh trại làm tôi rất bất ngờ. Tôi còn bất ngờ hơn khi đứng gác cùng tổ lính gác dưới lá cờ trung đoàn. Bọn họ cùng mặc áo liền quần màu xanh dương sẫm và đội mũ chụp đầu của lính tăng. Có một chiếc xe lạ đậu cạnh Sở chỉ huy. Nó có bộ khung của chiếc tăng Đức Pz-III, nhưng thay vì có tháp pháo, nó lại có một thứ kết cấu kỳ lạ bọc thép, tương tự đoàn tàu bọc thép tự chế thời kỳ Nội chiến. Nó gắn một khẩu pháo ZIS-3, vô cùng quen thuộc với mọi người lính ngoài chiến trường (khẩu ZIS-3 không hề được lắp trên những khung xe tăng Đức, thực ra đó là khẩu S-1, một phiên bản của khẩu F-34 dành cho xe tăng – Bair Irincheev)
Khát vọng làm cho cái khẩu pháo tuyệt vời và đáng tin cậy ấy di chuyển trên chiến trường đã cho chào đời cái vật lai kỳ lạ đó. Quyết định này đưa ra thật vừa đúng lúc, cho phép khẩu pháo tự hành đời đầu của ta lắp ráp dựa trên những xe tăng chiến lợi phẩm. Nhiều trung đoàn sử dụng loại xe này đã được gửi ra chiến trường. Nhưng nhiệm vụ sắp tới của tôi sẽ là gì? Là người lái, làm pháo thủ hay làm lính xe tăng? Trước khi bị thương vào tháng Giêng 1943, tôi đang kéo một khẩu cối 120mm cấp trung đoàn đằng sau chiếc xe tải 1,5 tấn GAZ-AA của mình, có cái cabin tài xế thường được mệnh danh là “hãy từ giã sức khoẻ của mình” (Khi mùa đông, những con ngựa, dù quả là một loại sức kéo rất cổ xưa, còn có hiệu quả hơn nhiều so với xe tải). Trung đoàn 15, trực thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh, huấn luyện trước hết là các tài xế xe tải và lính lái xe tăng. Sau ba tháng huấn luyện, các tài xế được cấp một giấy chứng chỉ viết tay, theo đó người này, người kia đã đạt tiêu chuẩn để lái các loại xe tải ZIS-5 và GAZ-AA. Tờ chứng chỉ được ký bởi tham mưu trưởng và người thư ký, có đóng dấu xác nhận. Có thể kiếm được tờ chứng chỉ này qua viên thư ký bằng một cốc "makhorka" (loại thuốc lá nhà trồng, rất phổ biến trong Hồng quân) nếu tay thư ký có cảm tình với ta…
Đám lính lái tăng (theo lệ là những người được tuyển từ các tài xế xe tải và người lái máy kéo) nhận được giấy chứng chỉ chuyên viên quân sự sau khi hoàn tất khóa học và khi tốt nghiệp được thăng cấp trung sĩ. Những bài giảng lý thuyết trên lớp học có nội dung về động cơ và bộ truyền động của SU-76 – bao gồm cả phần tháo ráp chúng.
Mẫu đầu tiên của SU-76 (SU-12) gắn các động cơ 26 xi lanh had GAZ-202, công suất mỗi chiếc là 75 mã lực. Hai động cơ này mỗi cái có riêng một bộ tản nhiệt, khớp ly hợp, hộp số và bộ truyền động. Tất cả những máy móc này đều gắn phía trước thân xe, giữa chúng là ghế ngồi của người lái. Ta có thể dễ dàng hình dung ra vận hành những chiếc xe có những hai hộp số và khớp ly hợp thế này khó khăn và phức tạp đến thế nào.
Hai công trình sư Xôviết nổi tiếng - Lipgart và Astrov, đã biến đổi số phận của những khẩu pháo tự hành này. Tới năm 1942 họ đã thiết kế lại nó dựa trên bộ động cơ GAZ-202. Giờ đây động cơ kháo tự hành gồm hai động cơ với bộ trục quay nối liên hợp nhau. Chiếc động cơ này, gắn trên một bộ khung duy nhất, chỉ có một khớp kéo hình đĩa và một hộp số bốn tốc độ, ban đầu sản xuất tại Maskva, rồi về sau là tại nhà máy ZIS ở Ural. Động cơ có 150 mã lực, bố trí ở bên phải của thân xe và, mặc cho chiều dài của nó, khá gọn gàng và dễ dàng bảo trì. Một hệ thống làm mát thông thường với một bộ tản nhiệt và chiếc quạt sáu chong chóng đảm nhiệm rất tốt yêu cầu làm mát. Bộ truyền động cũng rất đơn giản, trong nhiều chi tiết có bắt chước lại bộ truyền động của loại tăng T-26 vốn được sản xuất với số lượng lớn trước chiến tranh.
Đấy là cụ thể về chuyện chiếc SU-76 (SU-15) ra đời như thế nào. Thân xe rộng và khoang vũ khí thụt về phía sau tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho tổ lái khi nã đạn cấp tập. Loại pháo tự hành Đức "Artshturm" gắn pháo 75 mm gun (tên ký hiệu của Liên Xô đặt cho loại pháo tự hành StuG 40) có bề ngoài khá đẹp, nhưng điều kiện hoạt động cho tổ lái rất bất tiện và làm suy kiệt thể lực họ vì mùi xăng và các thùng đạn cheo chúc bên trong rất chật chội.
Khóa huấn luyện lái tăng của tôi đã sắp kết thúc. Theo quy định, nó bao gồm 18 giờ thực hành lái tăng. Thật ra chúng tôi chỉ được lái không quá 3 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, tôi đã được may mắn hơn. Vào cuối tháng Tám 1943, trung đoàn tôi chuyển vị trí đóng quân từ ga Iksha tới Ivanteevka. Tôi ở trong số những người được lái những khẩu pháo tự hành mà chúng tôi dùng để huấn luyện đi qua những con đường lầy lội của khu vực Maskva. Đó chính là lúc mà tôi hiểu ra được các tính năng lái tuyệt vời và khả năng cơ động rất tốt của chiếc "Colombina" - tất cả những xe SU-76 đều tới được điểm tập kết mà không bị hỏng hóc trục trặc gì. Những khẩu pháo tự hành gắn pháo 122 mm trên khung xe T-34 (SU-122) mãi một ngày sau mới tới nơi do gặp những trục trặc kỹ thuật. Chúng tôi dừng lại tại nhà ga Mamonovka, nơi trung đoàn pháo tự hành 999 đang trong quá trình thành lập. Chúng tôi nhận được tiếp 21 chiếc khác tại Kirov. Tới đây hẳn những chuyên gia lại đang lầm bầm: đáng ra chúng tôi nên lấy những xe do Nhà máy Gorki sản xuất, mấy thằng cha ở Vyatka thì biết làm gì khác ngoài làm đồ chơi đâu cơ chứ? Nhưng xe sản xuất tại Kirov thực ra không tồi hơn chút nào so với những chiếc sản xuất tại Gorki hay Mytischi. Ngoài những chiếc SU-76, chúng tôi còn nhận thêm hai mươi xe tải ZIS-5, hai mươi xe tải GAZ-AA cùng đầy đủ phụ tùng, mặc dù là loại có cabin gỗ, hai xưởng sửa chữa lưu động đặt trên khung xe GAZ-M, và những bếp lò đốt dầu kiểu Antonov. Sở chỉ huy nhận được những xe "Dodge" và hai xe jeep Willis. Để tăng khả năng độc lập của các khẩu đội, mỗi khẩu đội được cấp thêm một máy kéo "Komsomolets", một xe jeep Willis và một môtô kiểu "Tháng Mười Đỏ". Tuy nhiên, trước khi lên đường ra mặt trận, tất cả những trang bị bổ sung đó đều bị lấy đi cho nơi khác.
Toàn trung đoàn có khoảng dưới 180 người. Chúng tôi lên tàu ở Mytischi vào cuối tháng Mười Một năm 1943. Ngay khi lên đường, khẩu phần số ba thảm hại lập tức được chuyển sang thành khẩu phần lính số hai giàu chất hơn. Chúng tôi được ăn súp nấu với cá trích đóng hộp. Nhưng người ta đưa chúng tôi đi đâu vậy nhỉ? Chẳng một ai biết cả. Sau chuyến hành trình dài 10 ngày, chạy qua chỉ toàn những cảnh đổ nát - cầu cống bị nổ tung, nhà cửa cháy rụi, những toa tàu bị lật nhào, những mảnh kim loại méo mó ngổn ngang, chúng tôi vượt sông Dnieper qua một cây cầu gỗ ọp ẹp và trông thấy thành Kiev đã chịu nhiều đau khổ. Thêm 100 kilômét nữa về phía Tây, chúng tôi xuống tàu tại ga Irsha dưới mưa bom của đám "Junker", chúng cứ như vừa chui ra khỏi bầu trời xanh thẳm vậy. Từ Iksha tới Irsha.
Tuy nhiên thiệt hại do bom không đáng kể. Khẩu phần số hai lại được thay bằng khẩu phần số một. Giờ chúng tôi được phát 900 gram bánh mì và 100 gram vodka. Hồi phục sau khi bị oanh tạc, chúng tôi sắp xếp thành đội hình hành quân và tiến về phía tây trên con đường mùa đông tuyết phủ. Đến một ngôi làng có tên là Chelovichi, chúng tôi sơn lại tất cả pháo tự hành và xe tải bằng vôi trắng, theo một mệnh lệnh của chỉ huy. Nơi đây có rất nhiều vôi – Ukraina vốn nổi tiếng vì thế.
Tới tối khẩu đội tôi tắt đèn xe tiến vào một ngôi làng lạ. Những ống xả khí phun lập lòe phía bên phải của thân xe. Những con số và mũi tên phát thứ ánh sáng lân tinh chiếu sáng bảng điều khiển trước mặt tôi.
Đôi chân tôi đi ủng và bọc xà cạp đã lạnh cóng tới mức hoàn toàn không còn cảm giác gì nữa. Vai phải tôi thì nóng rát; vai trái lại lạnh, ngay sát cái thùng xăng chứa 400 lít xăng B-70. Chất chống đông được dùng trong hệ thống làm mát và điều nguy hiểm nhất là lơ đăng để cho nhiệt độ (sau khi đã tắt động cơ) tụt xuống dưới âm 35 độ C - nếu để nhiệt độ thấp hơn, ta sẽ gặp vấn đề khi muốn khởi động lại động cơ xe.
Một trong số ít những thiếu sót của chiếc xe này là bộ ắc quy yếu của nó gồm hai bộ 6 chiếc ắc quy V 6ST-140. Nếu người lái quên hoặc ngủ gật qua cái thời điểm mà động cơ bị hạ nhiệt độ xuống dưới nhiệt độ nguy hiểm nói trên, ta vẫn còn một cơ hội nữa để khởi động lại bằng điện. Để làm thao tác đó, hệ thống điện phải được sắp xếp lại sao cho một trong những bộ khởi động phải nhận được gấp đôi cường độ điện và quay mạnh hơn bình thường cái trục quay. Nếu cách này cũng không xong, vẫn còn một hy vọng để khởi động nhờ dùng một cái tay quay maniven khổng lồ, nó cần sự hợp sức của hai hay thậm chí ba người cùng quay. Hy vọng cuối cùng để khởi động động cơ là dùng một chiếc SU-76 khác để kéo chiếc xe của mình. Nhưng đó là cách man rợ nhất ta có thể làm bởi như thế bộ truyền động sẽ bị quá tải.
Để được co duỗi chân và sưởi ấm đôi chút, tôi chui qua chiếc cửa nắp ra khỏi xe, đi rảo quanh chiếc xe và kiểm tra xem xích xe có bị lỏng không. Chiếc "Colombina" vô cùng dễ điều khiển lại rất dễ tổn thương khi chỉ cần có một mắt xích căng không đều. Để kiểm tra xem xích căng có đúng không rất dễ - chỉ cần một người dẫm lên đoạn xích phía dưới cái bánh xích lái - cần có hai mắt xích chạm được xuống đất. Nếu chạm đất nhiều hơn hai mắt thì tức là xích quá chùng. Ít hơn hai mắt chạm đất có nghĩa xích đã bị căng quá mức.
Khung cảnh xung quanh rất yên tĩnh. Về phía phải và phía trái tôi có thể trông thấy những túp nhà nông dân với mái nhà lợp rơm. Quay trở lại ghế lái của mình, tôi nhìn vào chiếc nhiệt kế và, sau khi nhận ra nhiệt độ xe cho phép tôi có thể chợp mắt thêm được nửa tiếng, tôi đóng cửa nắp xe lại. Tôi thức dậy khi có tiếng đập mạnh lên thân trước xe và tiếng chửi thề inh ỏi. Mở hé cửa nắp, tôi trông thấy hai sĩ quan mặc bộ áo khoác lông cừu trắng tinh. Một trong hai người, lùn và béo, đội một chiếc mũ lông papakha. Tay còn lại, cao và gầy, đang cầm trong tay chiếc đèn lin và chiếu cho người kia. “Tại sao anh đỗ xe ở đây? Chỉ huy của anh đâu?” – ông đội papakha hét lên, cố gắng chọc chiếc gậy của mình vào tôi. Tôi đóng sập chiếc cửa nắp, kẹp lấy cây gậy. “Bỏ chiếc gậy ra!” – ông đội papakha ra lệnh. Mở hé cửa nắp, tôi buông cây gậy ra. Ông béo và ông gầy đi vòng quanh chiếc xe, gõ lên tháp pháo, gọi người chỉ huy ra gặp. Thiếu uý Karginov, lồm cồm chui khỏi tấm vải bạt phủ trên phần sau xe, nhảy xuống đất và lãnh nhiều phát gậy vào lưng. Khẩu đội trưởng.vừa chạy tới nơi cũng bị ăn chửi – hóa ra chúng tôi đã đậu xe nhầm chỗ.
Khẩu đội trưởng và viên sĩ quan chỉ huy đi đằng trước, yêu cầu chúng tôi lái theo sau. Ở tốc độ một và nhận ga ít chiếc xe hầu như di chuyển không phát ra tiếng ồn, thậm chí cả khi chạy trên mặt đất đóng băng cứng. Một chiếc T-34 sẽ đánh thức tất cả trong bán kính ba cây số bằng tiếng xủng xoẻng của xích xe. Tới bình minh đám bộ binh của chúng tôi bắt đầu tiến lên chiếm ngôi làng. Nhiều lần những chiếc áo choàng Nga màu xám đứng lên, nhưng bọn họ không thể chiếm được ngôi làng. Bên ngoài khu làng có một xe thiết giáp 8 bánh gắn pháo của bọn Đức, nó dùng hỏa lực gìm đầu đám bộ binh của ta xuống đất. Thiếu uý Karginov bảo tôi quay khẩu pháo tự hành sang phải và phát đạn thứ hai của chúng tôi bắn bay tháp pháo của chiếc thiết giáp Đức. Đó là chiến thắng đầu tiên và, thật bất hạnh, cũng là cuối cùng của chúng tôi. Hai ngày sau một khẩu pháo tự hành Đức cỡ lớn xuyên thủng giáp trước chiếc "Colombina" của tôi bằng một phát đạn xuyên giáp (AP) từ khoảng cách 1500 mét. Theo lời khuyên của những lái xe có kinh nghiệm, tôi không dùng đến xăng trong thùng xăng phía trước mà dùng ở thùng xăng phía sau. Đó là lý do mà chúng tôi không bị nổ tung ngay sau khi bị trúng đạn.
Tôi đã xé bỏ túi áo khoác ngay từ khi còn ở trên tàu. Tôi cũng đã nhét thắt lưng và khẩu súng lục TT của mình xuống dưới áo khoác - tất cả những điều cần thiết để có thể nhảy ngay khỏi xe mà không bị kẹt lại. Tôi cảm thấy xe bị bắn trúng ngay khi vừa trông thấy chớp lửa đạn. Tôi vọt ra khỏi cửa nắp mà mình vốn đã mở sẵn, rồi bỏ chạy, cố gắng càng xa chiếc xe càng tốt. Tôi bị vấp và ngã vào một chiến hào. Nằm trong đó, tôi nghe thấy tiếng nổ của xăng chứa trong xe. Sau đó là đạn pháo phát nổ. Khi tất cả đã kết thúc, tôi quay trở lại chiếc "Colombina" của mình, giờ trông như một mụ phù thuỷ, chẳng còn chút gì vẻ đẹp xưa kia. Tôi sợ hãi liếc nhìn vào khoang vũ khí. Trong lòng, tôi cảm thấy thật cay đắng, buồn bã và cô đơn.
Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng kêu: "Ulanov, chạy lại đây!" Có ba người đang quan sát từ sau một nhà kho. Tôi chạy tới họ - đó là tổ lái của tôi! Tất cả vẫn còn sống!
Suốt nhiều ngày trời tay sĩ quan NKVD dò xét chúng tôi – có lẽ chúng tôi đã tự đốt cháy chiếc xe của mình chăng? Và rồi anh ta cũng để chúng tôi yên, sau khi hiểu rõ là chúng tôi vô tội. Viên sĩ quan phụ trách kỹ thuật của trung đoàn ra lệnh cho tôi lái xe tải chở những binh lính bị ốm. Đầu tiên tôi phải vận chuyển những người bị thương nằm trên lớp rơm trong xe tải, còn sau đó thì là viên sĩ quan liên lạc của trung đoàn.
Tới cuối tháng Chạp tôi chở chỉ huy của mình và một sĩ quan tham mưu khác tới thành phố. Khi tới gần một chiếc cầu bị phá huỷ bắc ngang sông Uzh, chiếc xe của tôi phát nổ khi bánh trái phía trước của nó chạm vào một quả mìn chống tăng. Cú nổ quá mạnh làm tôi tối sầm cả mắt. Nhưng trong đầu tôi lại có một suy nghĩ ngu ngốc: chắc máy xe bị nổ. Sau khi tỉnh lại, tôi mở mắt ra nhưng không thể trông thấy gì. Tôi thử cào lên mắt, nhưng tay tôi chạm vào lớp vải đang phủ lên mặt. Toy lột nó ra và, vô cùng vui mừng rằng mắt mình vẫn không sao, bắt đầu sờ lên tấm chắn gió. Nó quá trong suốt và sạch sẽ - đơn giản là nó không còn ở đó nữa! Bộ tản nhiệt, nắp động cơ và cửa cabin bên trái cũng đã biến mất.
Khi vừa chui khỏi cabin, tôi trông thấy bánh xe cũng biến mất và trục xe đang cắm xuống mặt đất đóng băng. Đại uý Semenov, người ngồi sát bên tôi, bị thương vào bụng và chân. Còn viên sĩ quan liên lạc thì bị chiếc đèn xe văng trúng và bắn tung khỏi thùng xe. Chúng tôi chờ trong sương giá suốt hai giờ, trước khi anh ta đưa được cứu thương tới. Tôi bị chấn thương vì cú nổ, bị một vết bỏng do hóa chất, bị giá ăn trên tay, mũi và tai, cùng nhiều vết sước trên tay và chân trái. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra sau đó với viên đại uý. Bản thân tôi mất ba tuần nằm ổ rơm tại quân y viện và sau đó được chuyển lên điều dưỡng tiểu đoàn.
Trên đường tới thị trấn có tên là Ovruch, tôi trông thấy một đoàn SU-76 mới cáu vừa xuất xưởng. Tim tôi bắt đầu đập rộn lên – “nếu mình không thể lái nó trong trung đoàn mình nữa, mình sẽ đề nghị đám kia cho mình đi theo” – tôi nghĩ vậy. Viên tham mưu trưởng, mặc một chiếc áo vét lông đắt tiền, nhìn tôi đầy nghi ngờ. Tôi trông bề ngoài tồi tàn, khoác chiếc áo choàng mất dây buộc, râu ria không cạo, mặt mũi đầy vết giá ăn và mái đầu bù xù đội chiếc mũ lính tăng nhàu nát. Ông ta yêu cầu tôi chờ cho tới lúc hồi phục lại, có đầy đủ sức khoẻ và lấy lại được vẻ ngoài cho phù hợp với một trung sĩ Hồng quân. Tôi cho là ông ấy đã đúng. Ở Ovruch, sau khi biết được tôi là lái xe và còn là lính lái tăng nữa, đại diện của Đại đội Bảo vệ Độc lập 26 trực thuộc Sở Chỉ huy Tập đoàn quân 13 đã “tuyển dụng” tôi. Ở đó tôi được bố trí lái chiếc tăng chiến lợi phẩm duy nhất mà họ có - một chiếc Pz. IV. Sau khi đã chạy được hàng chũc cây số trên chiếc xe ấy, tôi đã có điều kiện để xác định được các đặc điểm và khả năng điều khiển của nó. Cả hai đều kém hơn so với của SU-76.
Cái hộp số đồ sộ 7 tốc độ, gắn ở bên phải của ghế lái, làm tôi khó chịu vì sức nóng, tiếng rú và cái mùi kỳ lạ của nó. Nhíp xe cứng hơn của chiếc SU-76. Tiếng ồn và sự rung động của động cơ "Maybach" liên tục làm cho tôi nhức cả đầu. Chiếc tăng ngốn ngấu một lượng lớn nhiên liệu. Hàng chục xô phải đổ cho nó chỉ qua một cái phễu, thật là bất tiện. Người lái cũ của nó, sau khi trở về từ bệnh viện, muốn tìm cách lấy lại công việc của mình. Hắn ta bắt đầu đơn đặt cả một kế hoạch để chống lại tôi, nào là Ulanov quá lười, ngủ suốt ngày, chiếc xe không được bảo trì đúng cách và nói chung hắn ta là một tay hay ghen tị. (Về sau Rem Ulanov trở thành người lái tăng thử nghiệm tại Kubinka - LTD) Và cuối cùng hắn cũng đạt được ước nguyện. Đó là một vị trí rất an toàn - Sở chỉ huy Tập đoàn quân chẳng bao giờ lại gần khu chiến sự hơn 20 km, và chiếc tăng chỉ phải mang có năm viên đạn. Vì thế tôi được tái bố trí vào lái một xe thiết giáp nhỏ loại BA-64.
Tháng Năm năm 1944 chúng tôi được đề nghị chuyển về học tại trường huấn luyện thiết giáp ở Maskva. Tôi vui mừng đồng ý lời đề nghị này. Tuy nhiên, thay vì Maskva, chúng tôi, gồm nhiều học viên, lại có mặt trong khóa học huấn luyện thiếu uý của Tập đoàn quân 13 tại thị trấn Kremenets vùng Tây Ukraina. Tất cả những chống đối của chúng tôi đều vô ích. Họ dọa sẽ khai trừ chúng tôi khỏi Đoàn Thanh niên Cộng sản Komsomol. Chúng tôi đành phải khuất phục bản thân mình.
Tốt nghiệp cái khoá học ba tháng ấy là các trung đội trưởng trung đội bộ binh và đại liên. Toy chui vào học khóa huấn luyện tung đội trưởng trung đội đại liên. Các môn học chính là giáo dục chính trị, chiến thuật và khí tài. Yêu cầu cơ bản là nhắm mắt tháo và ráp các loại đại liên Maxim, DP, kiểu trung liên cho bộ binh Degtyarev và đại liên Đức MG-34. Cuối tháng Tám 1944 tôi tốt nghiệp ra thành thiếu uý, chỉ huy một trung đội đại liên. Tên tôi đứng thứ 232 trong danh sách tốt nghiệp.
Khi đơn vị trong quá trình thành lập ở thị trấn Dembe tại Poland, một sĩ quan xuất hiện trong trung đoàn. Anh ta mặc áo jacket da và đeo an quân hiệu Lữ đoàn Thiết giáp – theo lệnh của Ban Tham mưu Phương diện quân anh ta đi tìm những pháo thủ pháo tự hành vì lý do nào đấy đang có mặt trong bộ binh.
Tôi tới gặp anh ta và báo cáo rằng tôi là một lính lái SU-76 đã được đào tạo đàng hoàng.