ulianovsk_17
New member
Để tiếp tục duy trì khả năng răn đe chiến lược trong thế kỉ 21, Nga đang tích cực xây dựng lực lượng hải quân hiện đại hóa.Hiện tại, Hải quân Nga đang thực hiện chuyển từ chiến lược "phòng thủ biển gần" sang tiến công biển xa", tập trung mọi nỗ lực thúc đẩy cải cách, tăng cường nâng cao sức mạnh hải quân.
Mục tiêu lâu dài
Hiện nay, hải quân Nga có hơn 380 tàu chiến và 280 máy bay các loại bao gồm 21 tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đường đạn, 16tàu ngầm hạt nhân (3 chiếc đang được khởi đóng), 14 tàu ngầm chống ngầm (1 chiếc đang khởi đóng), 1 tàu sân bay, 7 tàu tuần dương, 13 tầu khu trục, 49 tàu hộ tống, 34 tàu quét lôi (1 chiếc đang được khởi đóng), 21 tàu đổ bộ. Lực lượng máy bay trên hạm bao gồm 27 máy bay chiến đấu Su-33, 2 trực thăng báo động sớm Ka-31, 83 trực thăng chống ngầm Ka-27 PL/29/32., máy bay có căn cứ trên bờ gồm: 1 máy bay tác chiến điện tử tầm xa Il-20, 6 máy bay tác chiến điện tử/tình báo An-12, 26 máy bay chống ngầm tầm xa Il-38, 40 máy bay chống ngầm tầm xa Tu-142, 45 máy bay ném bom Tu-22M, 46 máy bay ném bom Su-24.
Từ năm 1995-2000, Hải quân Nga đã phải cắt giảm tới 50% quân số, lực lượng tàu chỉ còn 18% là tàu xa bờ, 57% là các tàu ven bờ và tàu cao tốc. Do thiếu kinh phí, vật tư bảo đảm, công tác duy tu, bảo dưỡng không được chú trọng thường xuyên, nên đầu thế kỷ 21, trong số lực lượng sẵn sàng chiến đấu, Hải quân Nga chỉ có thể duy trì 6-8 tầu ngầm mang tên lửa chiến lược, về số lượng đầu đạn hạt nhân dùng cho tên lửa chiến lược cũng chỉ bằng 25-30% so với Mỹ. Trước thự trạng đó, tháng 11-1999,, Nga đã công bố " Chiến lược hải quân liên bang", xác định chiến lược xây dựng và phát triển Hải quân Nga đầu thế kỷ 21, đồng thời đề ra mục tiêu phát triển hải quân Nga trong 20 năm đầu của thế kỷ 21 gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (đến năm 2002): hạn chế cắt giảm lực lượng, tích cực áp dụng các biện pháp duy trì trạng thái thông thường của lực lượng hiện có, tạo đà cho bước phát triển tiếp theo, đồng thời xây dựng quy hoạch phát triển hải quân lâu dài.
Giai đoạn 2 (từ năm 2003 đến năm 2007) tích cực áp dụng các biện pháp nâng cao khả năng bảo đảm an ninh và lợi ích của Nga tại các khu vực biển trên thế giới; bảo đảm Hải quân Nga có đủ khả năng duy trì vị thế của một cường quốc biển, tiếp tục thúc đẩy sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc dân; tích cực hợp tác khai thác và tận dụng cac nguồn tài nguyên biển trên thế giới.
Giai đoạn 3 (từ 2007 đến 2020) đổi mới toàn diện vũ khí trang bị của hải quân, xây dựng một lực lượng hải quân hiện đại hóa, có đủ khả năng tác chiến tiến công viễn dương.
Kế hoạch phát triển
* Tăng cường phát triển lực lượng hạt nhân của hải quân, chú trọng khả năng răn đe hạt nhân chiến lược.
Tháng 2-2002, Nga tuyên bố tuy thực hiện việc cắt giảm số lượn đầu đạn hạt nhân, nhưng vẫn tiếp tục duy trì kết cấu lực lượng hải quân chiến lược " 3 trong 1". Hiện nay trong hệ thống lực lượng hạt nhân răn đe và chiến lược của Nga, hải quân chỉ chiếm 26,6 %. Tuy nhiên cùgn với việc điều chỉnh lực lượng hải quân chiến lược, Nga dự tính đến năm 2010, sẽ nâng tỉ lệ lực lượng hạt nhân của hải quân lên khoảng 57%.
Hiện tại, Hải quân Nga đang nghiên cứu phát triển tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa chiến lược thế hệ mới lớp Borey có mức đọ bức xạ tiếng ồn và bức xạ điện từ nhỏ, tac chiến linh hoạt. Tàu có chiều dài :170 m, lượng choán nước: 15000 tấn, khả năng lặn sâu lớn nhất: 450 m, đuợc trang bị cac loại vũ khí tiên tiến, trong đó có tên lửa đường đạn xuyên lục địa Topol-M, mang đầu đạn nặng 1200 kg, sử dụng nhiên liệu rắn, 3 tầng, dẫn bằng nhiều phương thức (trong đó chủ yếu là dẫn bằng quán tính), nên có ưu điểm là tầm bắn xa ( trên 10000 km), uy lực sát thương lớn, độ chính xác cao.
[size=9:59ae951920]Tên lửa Topol M phóng từ đất liền.[/size]
Đầu năm 2001, Hải quân Nga đã hạ thủy chiếc tàu ngầm hạt nhân tiến công đa năng thế hệ 4 đầu tiên lớp Severodvinsk. Theo kế hoạch sẽ đưa vào trang bị trong tài khóa 2003, 2 chiếc tiếp theo cũng sẽ được Hải quân Nga tiếp tục đưa vào trang bị trong tài khóa 2005. Hiện tại, Hải quân Nga đang chuẩm bị đóng 7 tàu ngầm lớp này, tàu có chiều dài: 121 m, lượng choán nước (khi lặn) 2000 tấn, tốc độ hành trình: 32 hải lý/ giờ (khi lặn) và 18 hải lý/ giờ (khi nổi); khả năng lặn sâu tối đa 800 m, có thể hoạt động liên tục 120 ngày. Vũ khí chủ yếu gồm 24 tên lửa đối hạm tầm xa, tốc độ siêu âmm SS-N-26, tầm bắn trên 300 km, sai số vòng tròn 4-8 m.
[size=9:59ae951920]Tên lửa đối hạm SS-N-26 Yakhont[/size].
Mục tiêu lâu dài
Hiện nay, hải quân Nga có hơn 380 tàu chiến và 280 máy bay các loại bao gồm 21 tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đường đạn, 16tàu ngầm hạt nhân (3 chiếc đang được khởi đóng), 14 tàu ngầm chống ngầm (1 chiếc đang khởi đóng), 1 tàu sân bay, 7 tàu tuần dương, 13 tầu khu trục, 49 tàu hộ tống, 34 tàu quét lôi (1 chiếc đang được khởi đóng), 21 tàu đổ bộ. Lực lượng máy bay trên hạm bao gồm 27 máy bay chiến đấu Su-33, 2 trực thăng báo động sớm Ka-31, 83 trực thăng chống ngầm Ka-27 PL/29/32., máy bay có căn cứ trên bờ gồm: 1 máy bay tác chiến điện tử tầm xa Il-20, 6 máy bay tác chiến điện tử/tình báo An-12, 26 máy bay chống ngầm tầm xa Il-38, 40 máy bay chống ngầm tầm xa Tu-142, 45 máy bay ném bom Tu-22M, 46 máy bay ném bom Su-24.
Từ năm 1995-2000, Hải quân Nga đã phải cắt giảm tới 50% quân số, lực lượng tàu chỉ còn 18% là tàu xa bờ, 57% là các tàu ven bờ và tàu cao tốc. Do thiếu kinh phí, vật tư bảo đảm, công tác duy tu, bảo dưỡng không được chú trọng thường xuyên, nên đầu thế kỷ 21, trong số lực lượng sẵn sàng chiến đấu, Hải quân Nga chỉ có thể duy trì 6-8 tầu ngầm mang tên lửa chiến lược, về số lượng đầu đạn hạt nhân dùng cho tên lửa chiến lược cũng chỉ bằng 25-30% so với Mỹ. Trước thự trạng đó, tháng 11-1999,, Nga đã công bố " Chiến lược hải quân liên bang", xác định chiến lược xây dựng và phát triển Hải quân Nga đầu thế kỷ 21, đồng thời đề ra mục tiêu phát triển hải quân Nga trong 20 năm đầu của thế kỷ 21 gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (đến năm 2002): hạn chế cắt giảm lực lượng, tích cực áp dụng các biện pháp duy trì trạng thái thông thường của lực lượng hiện có, tạo đà cho bước phát triển tiếp theo, đồng thời xây dựng quy hoạch phát triển hải quân lâu dài.
Giai đoạn 2 (từ năm 2003 đến năm 2007) tích cực áp dụng các biện pháp nâng cao khả năng bảo đảm an ninh và lợi ích của Nga tại các khu vực biển trên thế giới; bảo đảm Hải quân Nga có đủ khả năng duy trì vị thế của một cường quốc biển, tiếp tục thúc đẩy sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc dân; tích cực hợp tác khai thác và tận dụng cac nguồn tài nguyên biển trên thế giới.
Giai đoạn 3 (từ 2007 đến 2020) đổi mới toàn diện vũ khí trang bị của hải quân, xây dựng một lực lượng hải quân hiện đại hóa, có đủ khả năng tác chiến tiến công viễn dương.
Kế hoạch phát triển
* Tăng cường phát triển lực lượng hạt nhân của hải quân, chú trọng khả năng răn đe hạt nhân chiến lược.
Tháng 2-2002, Nga tuyên bố tuy thực hiện việc cắt giảm số lượn đầu đạn hạt nhân, nhưng vẫn tiếp tục duy trì kết cấu lực lượng hải quân chiến lược " 3 trong 1". Hiện nay trong hệ thống lực lượng hạt nhân răn đe và chiến lược của Nga, hải quân chỉ chiếm 26,6 %. Tuy nhiên cùgn với việc điều chỉnh lực lượng hải quân chiến lược, Nga dự tính đến năm 2010, sẽ nâng tỉ lệ lực lượng hạt nhân của hải quân lên khoảng 57%.
Hiện tại, Hải quân Nga đang nghiên cứu phát triển tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa chiến lược thế hệ mới lớp Borey có mức đọ bức xạ tiếng ồn và bức xạ điện từ nhỏ, tac chiến linh hoạt. Tàu có chiều dài :170 m, lượng choán nước: 15000 tấn, khả năng lặn sâu lớn nhất: 450 m, đuợc trang bị cac loại vũ khí tiên tiến, trong đó có tên lửa đường đạn xuyên lục địa Topol-M, mang đầu đạn nặng 1200 kg, sử dụng nhiên liệu rắn, 3 tầng, dẫn bằng nhiều phương thức (trong đó chủ yếu là dẫn bằng quán tính), nên có ưu điểm là tầm bắn xa ( trên 10000 km), uy lực sát thương lớn, độ chính xác cao.
[size=9:59ae951920]Tên lửa Topol M phóng từ đất liền.[/size]
Đầu năm 2001, Hải quân Nga đã hạ thủy chiếc tàu ngầm hạt nhân tiến công đa năng thế hệ 4 đầu tiên lớp Severodvinsk. Theo kế hoạch sẽ đưa vào trang bị trong tài khóa 2003, 2 chiếc tiếp theo cũng sẽ được Hải quân Nga tiếp tục đưa vào trang bị trong tài khóa 2005. Hiện tại, Hải quân Nga đang chuẩm bị đóng 7 tàu ngầm lớp này, tàu có chiều dài: 121 m, lượng choán nước (khi lặn) 2000 tấn, tốc độ hành trình: 32 hải lý/ giờ (khi lặn) và 18 hải lý/ giờ (khi nổi); khả năng lặn sâu tối đa 800 m, có thể hoạt động liên tục 120 ngày. Vũ khí chủ yếu gồm 24 tên lửa đối hạm tầm xa, tốc độ siêu âmm SS-N-26, tầm bắn trên 300 km, sai số vòng tròn 4-8 m.
[size=9:59ae951920]Tên lửa đối hạm SS-N-26 Yakhont[/size].