Vật lý tự biện
Ngay cả khái niệm space-time, du hành tức thời… cũng chẳng phải của Anhxtanh. Người ta đọc thấy chúng trong những truyền thuyết rất lâu đời của các bộ tộc cổ đại. Các nhà khoa học viễn tưởng tiếp tục chắp bút ra vô số các tác phẩm hấp dẫn, kích thích trí tưởng tượng.
Tất cả những gì còn lại trong di sản của nhà khoa học thiên tài, là lập ra một giáo phái, mà các chủ tế là một dạng nhà khoa học – trộm cắp, láu cá, trơ tráo, vô liêm sỉ, đạo văn và bông phèng. Tay trộm bị bắt quả tang hắn ăn trộm con gà của hàng xóm. Hắn bảo tôi có cách sử dụng con gà theo kiểu hoàn toàn khác và vô cùng mới mẻ! không thể nào giống món thịt gà nhà hàng xóm.
Làn sóng tuyên truyền lý thuyết mới Anhxtanh làm cho người ta tin vật lý cổ điển bị đánh bại. Poincare là một cây cổ thụ vật lý lý thuyết đã tỏ ra thận trọng nhưng bền bỉ chứng tỏ ngược lại. Ông là người chứng tỏ những khiếm lhuyeets của phép biến đổi Lorentz cũng như Galileo. “Sự không tương hợp giữa các kết quả lý thuyết với quan sát thiên văn” là dấu hiệu cảnh bảo không nên vội vàng với phán xử cuối cùng về cơ học mới (Панов и др., с.551).
Có tiền đề hoàn toàn khác ở Anhxtanh: ông ta có mục đích chính, dẫn đến rốt cục tạo ra thuyết tương đối, không phải là mong muốn chấm dứt trái ngược giữa kết quả thực nghiệm Michelson-Morley và thuyết ether, thịnh hành ở thế kỷ XIX. Lý thuyết Anhxtanh được thiết kế giống như một giáo lý vật lý, rất tuyệt vời để chứa những “lỗ đen” và “vũ trụ giãn nở”, ảo giác như tiêu diệt kinh thánh cũ – về mặt vật lý có vẻ là có căn cứ, nhưng lại trái nghịch không thể hợp với thực tế.
Cái ý niệm thần bí cổ đại của Anhxtanh đã làm cho 1 người chú ý, nhà triết học tài năng Nga A. F. Losev có cuốn “Phép biện chứng hoang đường” (Диалектике мифа) trong đó viết: “Nguyên lý tương đối… làm cho thứ có thể hiểu được thành hoang tưởng và kỳ dị… Và từ bây giờ chúng ta có thể thấy những cảm xúc tuyệt đối không khoa học sáng rực lên xung quanh thuyết tương đối… Và với ý định tốt cuối cùng thì Ủy ban vật lý ở Mat-xcơ-va cũng đã đi đến kết luận rằng sự lựa chọn giữa Anhxtanh và Newton là vấn đề niềm tin, chứ không phải là hiểu biết khoa học của chính mình.” Chính Losev nhận thấy: “Không công nhận khoa học ở khía cạnh toán học của lý thuyết này ít nhất chỉ có thể là không am hiểu sự vật và dốt nát khoa học nói chung.” Nhưng khía cạnh vật lý của lý thuyết lại khác: “Chúng không nhằm khám phá cơ chế bên trong của hiện tượng, mà chỉ đơn thuần mô tả toán học chúng. Toán học trong những lý thuyết này được nhấn mạnh, và bản chất vật lý xuất hiện từ qui luật toán học, không trái ngược” (Ацюковский, с.23).
Khái niệm toán học chứ không phải vật lý nhanh chóng đưa thuyết tương đối đến thành công, bởi đầu tiên, vì nó giải thoát các nhà vật lý khỏi phải suy nghĩ về bản chất của quá trình, đó là một sự trút bỏ gánh nặng lớn cho những ai không còn khả năng, thứ hai, nó cho phép mô tả một cách hình thức một số quá trình mà trước kia đã không thể mô tả vì thiếu những lý giải vật lý phù hợp” (Денисов, с.3).
Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Ở một mức độ nào đó hiện tượng chấp nhận thuyết tương đối “vĩ đại” thiếu phê phán có liên quan đến những khái niệm và ý tưởng tôn giáo và huyến bí, chỉ là thứ nói lại bằng thứ ngôn ngữ ngụy khoa học mang dáng vẻ toán học. Cũng như ether, ví dụ, là một “tiên tri” bị chối bỏ bởi Anhxxtanh trong thuyết tương đối hẹp, mặc dù cốt lõi của lý thuyết chứa những kết luận của cả Lorentz và Poincare, rút ra với giả định chỉ trong khuân khổ khái niệm ether tĩnh. Nhưng hóa ra, kết luận “lỗi lạc” về việc vắng mặt ether lại đã từng được công bố từ tận năm 1888. “Học thuyết bí mật” của H.P. Blavatsky – là một trong những sổ tay của Anhxtanh.
Nói ngắn gọn, giáo sư A. A. Denisov đã đúng đến vô cùng tận khi gọi thuyết tương đối hẹp, thuyết tương đối rộng là "Kinh thánh": tước đoạt bản chất vật lý bằng học thuyết “chủ nghĩa giáo điều” toán học có gốc rễ giáo phái và thần bí Kabbalistic, một dạng trình bày tiên tri của Kinh cựu ước dựa trên “niềm tin”. Một kẻ là fan Anhxtanh người Pháp phát biểu: “Nói về tầm nhận thức này sẽ mãi mãi là không thể chấp nhận được đối với những kẻ phàm phu. Những miêu tả trừu tượng, mà cần để hiểu nó, chúng ta cần trước nhất từ bỏ lối suy nghĩ truyền thống” (Ацюковский, с.142). Luôn thể, cần phải nghĩ về việc tránh xa khỏi những kẻ không tiếp thu được những thủ đoạn toán học của ngụy-vật lý tự biện.
Viện sĩ A. A. Logunov là người xác nhận: “Điều quan trọng là họ không tìm kiếm sự thật”. Ông kể về 1 trường hợp xảy ra với fan Anhxtanh trong cuộc hội thảo quốc tế ở Mat-xcơ-va, một nhà khoa học phản đối ý tưởng của ông. Anh ta liến thoắng chứng tỏ gì đó, ông đề nghị anh ta đơn giản là viết dự kiến của mình lên bảng. Khi anh ta làm xong, ông ngay lập tức chỉ ra sai lầm của anh ta cho cả phòng họp. Sau đó ông biết, một viện sĩ có tiếng, đáng kính đã trách mắng vị giáo sư đáng thương: Hãy nói anh đã làm cái gì! Đã nói và chán ngấy rồi, tại sao lại viết những công thức như thế?! Lẽ nào trong trường hợp đấy người ta viết công thức!” (“День”, № 6/92).
John Cheppel, một nhà khoa học lịch sử Mỹ nói: “Họ chẳng biết sự phản đối của chúng tôi, bởi họ không nghe. Họ không tham dự cuộc họp của chúng tôi, họ không đọc tạp chí của chúng tôi. Khi họ bác bỏ bài viết của chúng tôi, họ không thèm thậm chí là đọc qua chúng” (The Scientist10, Vol.9 № 10/95).
Ông A. Logunov nêu ý kiến về thuyết tương đối rộng: "Quan hệ ngày nay đối với học thuyết này phần lớn dựa trên niềm tin. Nhưng khoa học không phải là tôn giáo” (“Наука и жизнь”, № 3/87). Khái niệm tương đối của Anhxtanh – không phải là khoa học, mà là tôn giáo và giáo phái ngụy học thuyết, thêu dệt nên từ những giáo điều na ná vật lý và những dạng “phép màu” khác nhau.
Ngay cả khái niệm space-time, du hành tức thời… cũng chẳng phải của Anhxtanh. Người ta đọc thấy chúng trong những truyền thuyết rất lâu đời của các bộ tộc cổ đại. Các nhà khoa học viễn tưởng tiếp tục chắp bút ra vô số các tác phẩm hấp dẫn, kích thích trí tưởng tượng.
Tất cả những gì còn lại trong di sản của nhà khoa học thiên tài, là lập ra một giáo phái, mà các chủ tế là một dạng nhà khoa học – trộm cắp, láu cá, trơ tráo, vô liêm sỉ, đạo văn và bông phèng. Tay trộm bị bắt quả tang hắn ăn trộm con gà của hàng xóm. Hắn bảo tôi có cách sử dụng con gà theo kiểu hoàn toàn khác và vô cùng mới mẻ! không thể nào giống món thịt gà nhà hàng xóm.
Làn sóng tuyên truyền lý thuyết mới Anhxtanh làm cho người ta tin vật lý cổ điển bị đánh bại. Poincare là một cây cổ thụ vật lý lý thuyết đã tỏ ra thận trọng nhưng bền bỉ chứng tỏ ngược lại. Ông là người chứng tỏ những khiếm lhuyeets của phép biến đổi Lorentz cũng như Galileo. “Sự không tương hợp giữa các kết quả lý thuyết với quan sát thiên văn” là dấu hiệu cảnh bảo không nên vội vàng với phán xử cuối cùng về cơ học mới (Панов и др., с.551).
Có tiền đề hoàn toàn khác ở Anhxtanh: ông ta có mục đích chính, dẫn đến rốt cục tạo ra thuyết tương đối, không phải là mong muốn chấm dứt trái ngược giữa kết quả thực nghiệm Michelson-Morley và thuyết ether, thịnh hành ở thế kỷ XIX. Lý thuyết Anhxtanh được thiết kế giống như một giáo lý vật lý, rất tuyệt vời để chứa những “lỗ đen” và “vũ trụ giãn nở”, ảo giác như tiêu diệt kinh thánh cũ – về mặt vật lý có vẻ là có căn cứ, nhưng lại trái nghịch không thể hợp với thực tế.
Cái ý niệm thần bí cổ đại của Anhxtanh đã làm cho 1 người chú ý, nhà triết học tài năng Nga A. F. Losev có cuốn “Phép biện chứng hoang đường” (Диалектике мифа) trong đó viết: “Nguyên lý tương đối… làm cho thứ có thể hiểu được thành hoang tưởng và kỳ dị… Và từ bây giờ chúng ta có thể thấy những cảm xúc tuyệt đối không khoa học sáng rực lên xung quanh thuyết tương đối… Và với ý định tốt cuối cùng thì Ủy ban vật lý ở Mat-xcơ-va cũng đã đi đến kết luận rằng sự lựa chọn giữa Anhxtanh và Newton là vấn đề niềm tin, chứ không phải là hiểu biết khoa học của chính mình.” Chính Losev nhận thấy: “Không công nhận khoa học ở khía cạnh toán học của lý thuyết này ít nhất chỉ có thể là không am hiểu sự vật và dốt nát khoa học nói chung.” Nhưng khía cạnh vật lý của lý thuyết lại khác: “Chúng không nhằm khám phá cơ chế bên trong của hiện tượng, mà chỉ đơn thuần mô tả toán học chúng. Toán học trong những lý thuyết này được nhấn mạnh, và bản chất vật lý xuất hiện từ qui luật toán học, không trái ngược” (Ацюковский, с.23).
Khái niệm toán học chứ không phải vật lý nhanh chóng đưa thuyết tương đối đến thành công, bởi đầu tiên, vì nó giải thoát các nhà vật lý khỏi phải suy nghĩ về bản chất của quá trình, đó là một sự trút bỏ gánh nặng lớn cho những ai không còn khả năng, thứ hai, nó cho phép mô tả một cách hình thức một số quá trình mà trước kia đã không thể mô tả vì thiếu những lý giải vật lý phù hợp” (Денисов, с.3).
Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Ở một mức độ nào đó hiện tượng chấp nhận thuyết tương đối “vĩ đại” thiếu phê phán có liên quan đến những khái niệm và ý tưởng tôn giáo và huyến bí, chỉ là thứ nói lại bằng thứ ngôn ngữ ngụy khoa học mang dáng vẻ toán học. Cũng như ether, ví dụ, là một “tiên tri” bị chối bỏ bởi Anhxxtanh trong thuyết tương đối hẹp, mặc dù cốt lõi của lý thuyết chứa những kết luận của cả Lorentz và Poincare, rút ra với giả định chỉ trong khuân khổ khái niệm ether tĩnh. Nhưng hóa ra, kết luận “lỗi lạc” về việc vắng mặt ether lại đã từng được công bố từ tận năm 1888. “Học thuyết bí mật” của H.P. Blavatsky – là một trong những sổ tay của Anhxtanh.
Nói ngắn gọn, giáo sư A. A. Denisov đã đúng đến vô cùng tận khi gọi thuyết tương đối hẹp, thuyết tương đối rộng là "Kinh thánh": tước đoạt bản chất vật lý bằng học thuyết “chủ nghĩa giáo điều” toán học có gốc rễ giáo phái và thần bí Kabbalistic, một dạng trình bày tiên tri của Kinh cựu ước dựa trên “niềm tin”. Một kẻ là fan Anhxtanh người Pháp phát biểu: “Nói về tầm nhận thức này sẽ mãi mãi là không thể chấp nhận được đối với những kẻ phàm phu. Những miêu tả trừu tượng, mà cần để hiểu nó, chúng ta cần trước nhất từ bỏ lối suy nghĩ truyền thống” (Ацюковский, с.142). Luôn thể, cần phải nghĩ về việc tránh xa khỏi những kẻ không tiếp thu được những thủ đoạn toán học của ngụy-vật lý tự biện.
Viện sĩ A. A. Logunov là người xác nhận: “Điều quan trọng là họ không tìm kiếm sự thật”. Ông kể về 1 trường hợp xảy ra với fan Anhxtanh trong cuộc hội thảo quốc tế ở Mat-xcơ-va, một nhà khoa học phản đối ý tưởng của ông. Anh ta liến thoắng chứng tỏ gì đó, ông đề nghị anh ta đơn giản là viết dự kiến của mình lên bảng. Khi anh ta làm xong, ông ngay lập tức chỉ ra sai lầm của anh ta cho cả phòng họp. Sau đó ông biết, một viện sĩ có tiếng, đáng kính đã trách mắng vị giáo sư đáng thương: Hãy nói anh đã làm cái gì! Đã nói và chán ngấy rồi, tại sao lại viết những công thức như thế?! Lẽ nào trong trường hợp đấy người ta viết công thức!” (“День”, № 6/92).
John Cheppel, một nhà khoa học lịch sử Mỹ nói: “Họ chẳng biết sự phản đối của chúng tôi, bởi họ không nghe. Họ không tham dự cuộc họp của chúng tôi, họ không đọc tạp chí của chúng tôi. Khi họ bác bỏ bài viết của chúng tôi, họ không thèm thậm chí là đọc qua chúng” (The Scientist10, Vol.9 № 10/95).
Ông A. Logunov nêu ý kiến về thuyết tương đối rộng: "Quan hệ ngày nay đối với học thuyết này phần lớn dựa trên niềm tin. Nhưng khoa học không phải là tôn giáo” (“Наука и жизнь”, № 3/87). Khái niệm tương đối của Anhxtanh – không phải là khoa học, mà là tôn giáo và giáo phái ngụy học thuyết, thêu dệt nên từ những giáo điều na ná vật lý và những dạng “phép màu” khác nhau.