|
Анна Ахматова * * * Я научилась просто, мудро жить, Смотреть на небо и молиться Богу, И долго перед вечером бродить, Чтоб утомить ненужную тревогу. Когда шуршат в овраге лопухи И никнет гроздь рябины желто-красной, Слагаю я веселые стихи О жизни тленной, тленной и прекрасной. Я возвращаюсь. Лижет мне ладонь Пушистый кот, мурлыкает умильней, И яркий загорается огонь На башенке озерной лесопильни. Лишь изредка прорезывает тишь Крик аиста, слетевшего на крышу. И если в дверь мою ты постучишь, Мне кажется, я даже не услышу. 1912 |
Anna Akhmatova * * * Giờ em sống đơn giản và thông thái, Nhìn lên trời cao, cầu nguyện chúa trời, Đi dạo thật lâu trước khi chiều xuống, Thì những lo âu vô ích sẽ mệt thôi. Khi lá ngưu bàng trong khe xào xạc, Chùm thanh lương trà trĩu đỏ vàng tươi, Thì em viết những dòng thơ vui vẻ Về cuộc đời mục nát đẹp tuyệt vời. Em trở lại. Con mèo lông mềm mại Liếm bàn tay, nũng nịu đùa chơi, Trên ngọn tháp nhà máy cưa gỗ ấy, Ở bên hồ ngọn đèn sáng rạng ngời. Chỉ đôi khi con cò bay lên mái Bỗng kêu lên phá yên tĩnh thẳm sâu. Và nếu như lúc ấy anh gõ cửa, Có lẽ em chẳng nghe thấy được đâu. 1912 |
|
Анна Ахматова *** Широк и желт вечерний свет, Нежна апрельская прохлада. Ты опоздал на много лет, Но все-таки тебе я рада. Сюда ко мне поближе сядь, Гляди веселыми глазами: Вот эта синяя тетрадь - С моими детскими стихами. Прости, что я жила скорбя И солнцу радовалась мало. Прости, прости, что за тебя Я слишком многих принимала. 1915 |
Anna Akhmatova * * * Ánh sáng chiều tà mênh mang vàng úa Lạnh mát tháng tư dịu ngọt vô cùng. Anh đã đến muộn - nhiều năm lắm, Nhưng dù sao vẫn khiến em mừng. Hãy ngồi lại đây, gần em một chút, Và hãy nhìn bằng cặp mắt vui tươi: Đây, cuốn vở bìa xanh này đấy - Là những vần thơ em viết thuở thiếu thời. Em xin lỗi, vì sống trong buồn bã Và ít khi vui với mặt trời. Em xin lỗi, vì em đã tưởng Và nhầm anh với rất nhiều người. 1915 |
|
Анна Ахматова *** Широк и желт вечерний свет, Нежна апрельская прохлада. Ты опоздал на много лет, Но все-таки тебе я рада. Сюда ко мне поближе сядь, Гляди веселыми глазами: Вот эта синяя тетрадь - С моими детскими стихами. Прости, что я жила скорбя И солнцу радовалась мало. Прости, прости, что за тебя Я слишком многих принимала. 1915 |
Anna Akhmatova * * * Chiều vàng trải bao la, Trời tháng tư mát dịu. Anh trễ nhiều năm thế, Mà em vẫn vui mừng. Ngồi gần em đi anh, Xem này anh, ngộ nhỉ: Đây xanh xanh cuốn vở - Thơ em hồi trẻ con. Đừng trách em sầu thương Ít hân hoan đón nắng. Đừng trách em ngớ ngẩn Nhầm bao người là anh. 1915 |
|
КОЛЫБЕЛЬНАЯ Анна Ахматова Далеко в лесу огромном, Возле синих рек, Жил с детьми в избушке темной Бедный дровосек. Младший сын был ростом с пальчик,- Как тебя унять, Спи, мой тихий, спи, мой мальчик, Я дурная мать. Долетают редко вести К нашему крыльцу, Подарили белый крестик Твоему отцу. Было горе, будет горе, Горю нет конца, Да хранит святой Егорий Твоего отца. 1915, Царское Село |
BÀI HÁT RU CON Anna Akhmatova Xa thật xa trong khu rừng lớn, Cạnh con sông xanh thật là xanh, Có một bác tiều phu nghèo khó Sống với các con trong ngôi nhà nhỏ. Cậu trai út cao chỉ bằng ngón tay, - Ôi, làm sao cho con nín bớt, Ngủ đi, con yên lặng, con ngoan, Mẹ không phải là người mẹ tốt. Những tin tức cũng đôi khi bay đến, Bên hiên ngôi nhà nhỏ của ta, Cây thập tự Gheorgy trắng nhỏ Người ta vừa mới tặng cho cha. Khổ đau đã có, và sẽ còn có nữa Khổ đau sẽ không rời đến nơi xa, Hỡi vị thánh Gheorgy vĩ đại Hãy giữ gìn cho cha của con ta. 1915. Hoàng thôn |
Huy chương tháng Gheorgy hạng ba![]() Uploaded with ImageShack.us |
Huy chương tháng Gheorgy hạng tư![]() Uploaded with ImageShack.us |
|
Трилистник московский Анна Ахматова 1. Почти в альбом Услышишь гром и вспомнишь обо мне, Подумаешь: она грозы желала… Полоска неба будет твердо-алой, А сердце будет как тогда – в огне. Случится это в тот московский день, Когда я город навсегда покину И устремлюсь к желанному притину, Свою меж вас еще оставив тень. 2. Без названия Среди морозной праздничной Москвы, Где протекает наше расставанье И где, наверное, прочтете вы Прощальных песен первое изданье — Немного удивленные глаза: “Что? Что? Уже?.. Не может быть!” — Конечно!..” И святочного неба бирюза, И все кругом блаженно и безгрешно… Нет, так не расставался никогда Никто ни с кем, и это нам награда За подвиг наш. 3. Ещё тост За веру твою! И за верность мою! За то, что с тобою мы в этом краю! Пускай навсегда заколдованы мы, Но не было в мире прекрасней зимы, И не было в небе узорней крестов, Воздушней цепочек, длиннее мостов… За то, что все плыло, беззвучно скользя. За то, что нам видеть друг друга нельзя. 1961—1963 |
Cỏ ba lá Moskva Anna Akhmatova 1 Gần như đề vào album Anh nghe sấm, và sẽ nhớ tới em Anh sẽ nghĩ: cô ấy mong giông tố… Trên nền trời dọc ngang vạch đỏ, Và trái tim sẽ bốc lửa như xưa. Điều đó sẽ xảy ra vào một ngày kia Khi em rời Moskva này mãi mãi. Và hướng tới trời xanh bao mong đợi, Để lại bóng mình ở giữa các người. 2. Không có tiêu đề Moskva ngày lễ đang giá lạnh Là nơi chúng ta nói lời xa cách Và là nơi anh sẽ đọc cũng nên Những bài hát chia tay, tập đầu tiên - Đôi mắt sẽ có chút ngạc nhiên: “Cái gì? Là sao? Không thể!” - Tất nhiên!..” Bầu trời ngọc lam trong ngày lễ bình yên Tất cả chung quanh khoan khoái hồn nhiên. Ôi không, chẳng bao giờ người ta Lại chia tay như thế, nên chúng ta Đáng được thưởng vì chiến công này đấy. 3. Nâng cốc Uống mừng niềm tin và lòng chung thủy! Vì chốn này hai ta vẫn bên nhau! Dù chúng ta bị phù phép đời đời Nhưng không mùa đông nào đẹp hơn thế trên đời, Không có thánh giá nào đẹp hơn thế trên trời, Xích hoa mỹ hơn, hay cầu lại dài hơn… Uống vì những gì đang im lặng trôi qua. Uống vì ta chẳng nhìn thấy được ta. 1961—1963 |