|
CÓ THỂ LÀ… Có thể là, ngày lại ngày dần trôi Cuộc đời tôi càng thấy thêm đơn chiếc. Có thể là, năm tiếp năm đi hết, Tôi hiểu ra mình đã chết trên đời. Có thể là, nhiều thế kỷ vụt trôi, Người đời sau, về tôi, quên không biết. Nhưng tôi ước: ngày lại ngày đi hết, Sống bình yên, không xấu hổ, ăn năn. Nhưng tôi mong: năm tiếp năm qua nhanh, Không phải làm quân bài gian – hai mặt. Và tôi ước: nhiều thế kỷ qua vùn vụt, Không một ai đến nhổ toẹt mộ phần tôi. 1984 |
НАВЕРНО Наверно, с течением дней, я стану ещё одиней. Наверно, с течением лет Пойму, что меня уже нет. Наверно, с течением веков Забудут, что был я таков. Но лишь бы с течением дней не жить бы стыдней и стыдней. Но лишь бы с течением лет двуликим не стать, как валет. И лишь бы с течением веков не знать бы на могиле плевков. 1984 |
|
Есть прямота Евгений Евтушенко Есть прямота, как будто кривота, Она внутри самой себя горбата. Жизнь перед ней безвинно виновата за то, что так рисунком не проста. Побойтесь жизнь спрямлять, не понимая, что можно спрявленьем согнуть, что иногда в истории прямая меж точками двумя – длиннейший путь 1979 |
CÓ CÁI THẲNG… Evghênhi Evtushenko Có cái thẳng, nhìn tưởng cong, như lệch vốn bên trong nó đã chệch, vẹo xiên. Chính cuộc đời đành mang lỗi, oan khiên: Không đơn giản – tranh hiện lên không rõ rệt. Anh đừng nắn đời mình cho thẳng tuột, không hiểu rằng, uốn thế có thể bẻ gục một người, rằng đôi lần lịch sử cho thấy rồi: Cái đoạn thẳng nối liền hai điểm kết lại chính là đường dài nhất trên đời. Tùng Cương dịch |
|
KHÔNG NÊN NÓI Evghênhi Evtushenko Không nên nói với trẻ em sai sự thật, đừng nên khuyên trẻ tin chuyện lọc lừa, không nên để trẻ đinh ninh trên trái đất toàn bình yên, sung sướng chốn thiên đường. Đừng nhồi nhét, chỉ chạy theo ý muốn, khiến trẻ nuôi mộng tưởng, trên cát, xây lâu đài, không dạy trẻ phải tin hoài những thứ chính chúng ta không tin nữa lâu rồi. Kẻ dối trẻ làm trẻ thêm cô độc khiến chúng nhầm lẫn danh dự với ô danh. Cứ để trẻ không chỉ thấy những gì sẽ đến mà còn nhìn rõ chuyện đang diễn ra. Giọt mật ngọt dối lừa là thuốc độc trong cháo, xin chớ tha tội dối trá trên đời, vì con cái không bao giờ tha lỗi cho mẹ cha bỏ qua tội dối lừa. Tùng Cương dịch |
НЕ НАДО ГОВОРИТЬ Евгений Евтушенко Не надо говорить неправду детям, не надо их в неправде убеждать, не надо уверять их, что на свете лишь тишь, да гладь да божья благодать. Не надо по желанью своему морочить их несбыточными снами – Учить не надо верить их тому, чему уже давно yже верим сами. Солгавший детям детство детям обезлюдеет, подсунет им бесчестье, словно честь. Пусть видят же не только то, что будет, пусть видят ясно видят то, что есть. Сладинка лжи –отрава в манной каше, риск лживый не прощайте у кутят и нас потом воспитанники наши за то, что мы прощали, не простят. 1952-1989 |
|
И В ДЕТЯХ ПРАВДЫ НЕТ… Евгений Евтушенко И в детях правды нет… В них тоже есть притворство. Война как эскимо для них в кино сладка. В них –крошечный вождизм, в них чёрное проворство расталкивать других локтями у лотка. Когда я вижу в них жестокости зачатки, конечно, их самих я, вовсе, не виню в том, что они порой волчаты – не зайчатки, хотя у них пока бескровное меню. Что старый подхалим! но лет пяти подлиза, но ябеда лет в семь- вот что меня страшит. Мой сын, чем хочешь стань- xотя бы футболистом, но человеком будь! И это всё решит. Поверь, что я тебя ни чем не опозорил Не сразу ты поймёшь, но в пору зрелых лет, что лишь отцовский страх кощунственно позволил сказать такую ложь: “И в детях правды нет…” 1974 |
TRONG TRẺ CON, KHÔNG CÒN SỰ THẬT Evghênhi Evtushenko Trong trẻ con, không còn sự thật, trẻ cũng quen dối trá mất rồi. Xem phim ảnh, có cảnh ngoài chiến trận như ăn kem ngọt lạnh mà thôi. Chúng sớm thích thói đòi làm tướng, cũng đã quen láu cá, tinh ranh, dám xuống tay hạ nhanh người khác trên đường đi, không muốn bị chen. Cứ mỗi lúc, ngắm nhìn đám trẻ thấy nhú lên mầm mống bạo hành, tôi, tất nhiên, với riêng lũ trẻ, không hề quy tội chúng, chung chung. Chúng nhiều lúc, đã như sói nhỏ, không còn là bầy thỏ hiền ngoan, tuy thực đơn bữa ăn của trẻ chưa có bài uống máu, gặm xương. Chúng chưa phải già dơ thớ lợ! nhưng đã quen nịnh bợ, mới lên năm, nhưng sáu, bẩy tuổi đã ngầm hớt lẻo. Đấy là điều làm tôi phải hãi hùng. Con trai hỡi, có làm gì khi lớn, dù theo nghề đá bóng trên sân, khuyên con hãy làm người trước đã. Đấy mới là cái quyết định thành công. Con hãy tin, cha không làm gì cả, khiến con trai phải xấu hổ vì cha. Ngay lập tức, chắc con chưa thể hiểu, nhưng trưởng thành, con sẽ phải nhận ra chỉ có nỗi âu lo của cha mẹ mới cho mình quyền hạ nhục, nói ngược câu ca: “Về đến nhà, đừng ra hỏi trẻ…” Tùng Cương dịch |
|
TRÊN THẾ GIỚI KHÔNG CÓ NGƯỜI TẺ NHẠT Evghênhi Evtushenko Trên thế giới không có người tẻ nhạt. Số phận con người như lịch sử hành tinh. Mỗi tinh tú một nét riêng khác biệt, không có hai hành tinh nào giống hệt nhau. Nếu ai đó sống cuộc đời lặng lẽ và đã quen cảnh im tiếng thế này, anh ta cũng thành hay với người khác, nhờ có riêng tính thầm lặng của mình. Ai cũng có thế giới riêng giữ kín. Trên đời này có giây phút tuyệt hay. Trên thế giới có một giờ khủng khiếp, nhưng chúng ta đâu được biết hoàn toàn. Và nếu có một con người vừa chết, chết cùng anh cả bông tuyết đầu mùa, cả nụ hôn đầu, lần đánh nhau thứ nhất… Anh mang theo hết mọi thứ ra đi. Vẫn còn lại những cầu đường, sách vở, những ô tô, những tranh vẽ, thơ ca, có nhiều thứ đúng còn đang lưu lại, vẫn có gì đó mãi mãi mất đi! Đây là luật của cuộc chơi tàn khốc. Con người không chết, chỉ các thế giới biến đi. Ta càng nhớ những người bình thường, lầm lỗi. Mà thực ra, ta biết gì tới họ đâu? Ta có biết về anh em, bè bạn, Ta biết gì về người thương duy nhất của ta? Ngay chính cả người cha thân yêu nhất ta đinh ninh biết hết, mà thật chẳng biết gì. Người khuất núi dần…Đều không trở lại. Vậy là thế giới bí mật không thể hồi sinh. Và cứ mỗi lần diễn ra như vậy, tôi thèm thét gào vì những gì vĩnh viễn mất đi. Tùng Cương dịch |
ЛЮДЕЙ Евгений Евтушенко Людей неинтересных в мире нет. Их судьбы – как истории планет. У каждой всё особое, своё и нет планет, похожих на неё. А если кто-то незаметно жил и с этой незаметностью дружил, он интересен был среди людей самой неинтересностью своей. У каждого – свой тайный личный мир. Есть в мире этом самый лучший миг. Есть в мире этом самый страшный час, но это всё неведомо для нас. И если умирает человек, с ним умирает первый его снег, и первый поцелуй, и первый бой… Всё это забирает он собой. Да, остаются книги и мосты, машины и художников холсты, да многому остаться суждено, но что – то ведь уходит всё-равно! Таков закон безжалостной игры. Не люди умирают, а миры. Людей мы помним, грешных и земных. А что мы знали, в сущности, о них? Что знаем мы про братьев, про друзей, что знаем о единственной своей? И про отца родного своего мы, зная всё, не знаем ничего. Уходят люди… Их не возвратить. Их тайные миры не возродить. И каждый раз мне хочется опять от этой невозвратности кричать. 1961 |
|
XIN ĐỪNG PHÍ Evghênhi Evtushenko Xin đừng phí thời gian nhớ điều ác bởi tự do trong ta chỉ rước phiền hà. Quỷ tha đi, cái ác quấy rầy công tác, và, nói chung, gây rắc rối vô cùng. Với điều thiện, hãy ghi lòng, vì ơn Chúa, người xung quanh luôn giúp đỡ chân tình. Và thêm nữa, khi muốn làm điều thiện, ta đâu cần bỏ thật lắm thời gian. Tùng Cương dịch |
НЕ ТРАТЬ ВРЕМЯ Евгений Евтушенко Не трать время, чтобы помнить зло. Мешает это внутренней свободе. мешает просто – чёрт возьми!- работе,- ну в общем это хлопотно зело. Помните добро, благодаря за ласку окружающих и бога. На это дело, к стати говоря, времени уйдёт не так уж много 1964 |
|
GIỚI HẠN Evghênhi Evtushenko Tất mọi thứ trên đời đều hữu hạn: cả tình yêu, sự kiên nhẫn, khối óc lẫn con tim, cả vũ trụ bao la tưởng luôn vô hạn. Nhà thơ ơi, anh đau đớn uổng công, khi sức lực, tuổi đời anh không phải là vô tận. Anh hãy tin: chẳng đáng giận, phiền lòng. Còn câu chuyện người xấu chơi cười khẩy: Nghe như nhà thơ sức viết cạn rồi,- Xin anh chớ bận lòng và tức tối, Tới hạn rồi, anh vẫn đủ mạnh thôi. Thiên tài mấy cũng đều là hữu hạn- Chỉ có sự đểu cáng của con người là vô tận, vô cùng. Tùng Cương dịch |
ПРЕДЕЛ Евгений Евтушенко Предел на белом свете всему: Любви, терпенью, сердцу и уму и мнимой беспредельности просторы. Тебя напрасно мучает, поэт небеспредельность сил твоих и лет. Поверь в ней никакого нет позора. А то, что ухмыляется подлец: мол, вот он исписался наконец- Пусть это будет от тебя отдельно. Ты на пределе, а не скудел. Есть у любого гения –предел- лишь подлость человечья беспредельна. 1972 |
|
KHI THÌ CAY ĐỘC Evghênhi Evtushenko Khi thì cay độc, khi dễ bị tổn thương, người bảo vệ và quan toà của tôi đó, người yêu dấu của tôi nói rõ: em đã thôi yêu cả bản thân em. Người đàn bà đôi khi ở bước cùng đường dường như họ bị dồn vào kho hàng cũ thầm sợ mình bị xấu đi, già khú, căm ghét trò nhẫn tâm của những chiếc gương. Người yêu tôi do tôi đã, đang nặn nhào em nặn lại tôi theo số phận không có lẽ, người yêu ơi, em cũng hết yêu tôi, như chán yêu chính em? Thời gian luôn mưu mô, ghét ghen, chống lại tuổi xanh và sắc đẹp. Nhưng trong mắt tôi, thời gian dừng lại, đọng mắt tôi người phụ nữ tốt nhất là em. Cuộc chia xa mời gọi, đùa rỡn tôi nhưng tôi muốn vào em, như muốn về nhà quá. Em yêu hỡi, đừng cho phép mình nhé để tôi chán yêu em và thậm chí, em chán em. Tùng Cương dịch |
ТО ЯЗВИТЕЛЬНАЯ Евгений Евтушенко То язвительная, то уязвимая, мой защитник и мой судья, мне сказала моя любимая, что она разлюбила себя. Есть у женщин моменты загнанности, будто сунули носом в хлам, тайный ужас от собственной запусти, злость к безжалостным зеркалам. Мною вылепленная, мной лепимая, меня вылепившая, как судьба, неужели ты тоже, любимая, разлюбила меня, как себя? Время – это завистливый зоговор против юности и красоты. Но в глазах моих время замерло, и в них лучшая женщина – ты. Так зазывно играют разлуки мной, но в тебя я хочу, как домой. Не позвольте себе стать разлюбленной мной и даже тобою самой. 2005 |
То язвительная, то уязвимая,
|
НЕ ТРАТЬ ВРЕМЯ Евгений Евтушенко Не трать время, чтобы помнить зло. Мешает это внутренней свободе. мешает просто – чёрт возьми!- работе,- ну в общем это хлопотно зело. Помните добро, благодаря за ласку окружающих и бога. На это дело, к стати говоря, времени уйдёт не так уж много 1964 |
ĐỪNG PHÍ THỜI GIAN Evgeny Evtushenko Đừng phí thời gian nhớ những điều độc ác Điều đó làm phiền tự do ở trong ta Điều đó khiến anh không làm việc tốt Và nói chung, chuyện ấy quá ngầy ngà Hãy nhớ điều tốt, khi tạ ơn Thượng đế Những người xung quanh, vì ấm áp chân tình Và nhân tiện, để làm việc đó Chẳng tốn thời gian nhiều lắm đâu anh 1964 |
|
ÂN NGHĨA Evghenhi Evtushenko Sao có thể để chuyện này kéo dài mãi? Có cái gì như thể cái bất công… Hỏi khi nào và ở đâu nay thành mốt: “Người sống bị lãng quên, người chết được quan tâm” Con người ta khom lưng xuống, tu rượu say. Người nối người cứ chia tay đi mãi và dành cho lịch sử, người sống đọc điếu văn rõ ân tình về người chết chỉ ở nhà thiêu xác… Cái gì bắt Maiakôpxki phải tự sát? hỏi vì sao ông cầm súng tự bắn mình? Khi ông còn tiếng nói và hình hài lúc còn sống đáng ra mời ông hưởng dù một chút ân tình, ân nghĩa. Nhưng người sống chỉ gây lắm phiền hà chỉ khi chết mới thưởng lời ân nghĩa. Tùng Cương dịch |
НЕЖНОСТЬ Евгений Евтушенко Разве же можно, чтобы всё это длилось? Это какая –то несправедливость. “Живым – равнодушие, Внимание – мёртвым” Люди сутулятся, Выпивают. Люди один за другим выбывают и произносятся для истории нежные речи о них – в крематории Что Маяковского жизни лишило? Что револьвер ему в руки вложило? Ему бы – при всём его голосе, внешности- дать бы при жизни хоть чуточку нежности. Люди живые – они утруждают. Нежностью только за смерть награждают. |
|
LƯƠNG TÂM CẮN RỨT EVGHENHI EVTUSHENKO Ta đang sống, không lo cho ngày phải chết nên ta quên không biết xấu hổ với lương tâm. Chính lương tâm như vị thánh vô hình luôn có mặt khắp nẻo đường trần thế. Bầy con cháu đang lang thang khắp chốn bị quàng vai, với cây gậy cầm tay, đau nhức lương tâm là nỗi đau khác thường trên mảnh đất thật bất lương với họ. Đi từ bờ rào nhà này sang ngõ nọ, từ thềm nhà này tới bậu cửa nhà kia, họ cứ đi như hành khất, người mù mang trong ngực chỉ có hình tượng Chúa. Có phải họ đã lầm bầm trách móc dùng móng tay kín đáo gõ liên hồi vào cửa sổ nhà những người nông nô, đập vào cửa dinh Sa hoàng bằng nắm đấm. Có phải họ trên xe tam mã phi mệt quá đã phóng nhanh đưa Puskin trong bão tuyết tối đen, chở Đôxtôiepxki về nơi tù giam, nói nhỏ với Tônxtôi: “Nên bỏ chạy!”. Lũ đao phủ hiểu rất nhanh câu chuyện: Kẻ lương tâm dằn vặt rồi gây sự phiền hà Lương tâm giằng xé là điều nguy nan, Phải đánh bật lương tâm đi, mới không có người dằn vặt. Nhưng giống những tiếng kèn xung trận làm chuyển rung nhà lũ đao phủ đêm đêm Lương tâm cắn rứt là cơn đau triền miên đã xâm nhập vào tim gan quân đao phủ. Thế là kẻ bảo kê lũ dối trá, những con người mất danh dự từ lâu mà cho dù họ còn có lương tâm đâu nhưng vẫn bị giống như lương tâm giằng xé. Khi trái đất luôn luôn có chuyện: không một ai là vô tội, trắng trong, vẫn có người nghe được tiếng lương tâm:”Mình đã làm gì?” Ta có thể làm việc gì cho đất nước. Tôi chẳng tin nhà tiên tri phỏng đoán, không tin có Rôma thứ hai hay thứ một ngàn tôi tin tiếng kêu khe khẽ:”Các anh làm gì đây?” tôi tin tiếng kêu cay đắng:”Ta đang làm gì thế?” Tôi xin hôn đôi tay anh đen xạm, của đức bất tin, nơi ranh giới trượt trơn, nhức nhối lương tâm là cơn đau thanh cao vì niềm tin cuối cùng tôi níu chặt. Tùng Cương dịch |
МУКИ СОВЕСТИ Eвгений Евтушенко Мы живём, умереть не готовясь, забываем поэтому стыд, но мадонной невидимой совесть на любых перекрестах стоит. И бредут её дети и внуки при бродяжьей клюке и суме. Муки совести – странные муки на бессовестной к стольким земле. От калитки опять до калитки, от порога опять на порог, они странствуют, словно калики, у которых за пазухой – бог. Не они ли с укором бессмертным тусклым ногтем стучали тайком в слюдяные окошечки смердов, а в хоромы царей – кулаком? Не они ли на загнанной тройке мчали Пушкина в темень пурги Достоевского гнали в остроги и Толстому шептали: “ Беги!” Палачи понимали прекрасно: Тот, кто мучится, тот баламут. Муки совести – это опасно. Выбьем совесть, чтоб не было мук. Но как будто набатные звуки, Сотрясая их кров по ночам, муки совести – грозные муки проникали к самим палачам Ведь у тех, кто у кривды на страже, кто давно потерял свою честь, если нету и совести даже – муки совести вроде бы есть. И покуда на свете на белом, где никто не безгрешен, никто. в ком-то слышится: “Что я наделал?” Можно сделать с землёй кое-что. Я не верю в пророков наитья во второй или в тысячный Рим, верю в тихое: “Что вы творите?” верю в горькое: “Что мы творим?” Я целую вам тёмные руки у безверья на скользком краю, муки совести – светлые муки за последнюю веру свою. 1966 |
|
Đỏ và Đen EVGENHI EVTUSHENKO Ở Brianshina có một ngôi làng nhỏ xưa gọi theo tên cũ là làng Đen rồi chính quyền dưới thời Lê nin ra mệnh lệnh bắt đổi tên thành Đỏ. Đang bay lượn con gì? Chim ưng đỏ. Mũi dân say rượu củ cải đỏ rồi, áo người làng thắm đỏ máu rơi, nhưng chúng tôi không ai đỏ mặt vì xấu hổ. Có phải cái giá của máu đổ là say sưa khổ nhục trần đời, nó cưỡng bức lịch sử của chúng tôi được gọi cơn cuồng đổi tên tất cả. Giờ, tôi đang ở làng Đỏ. Ở đây vui vẻ ít thôi, nhưng tôi thấy buồn cả người, ngồi nhai dưa chuột kêu rau ráu. Vẫn như trước, làng tối đen, tối quá, trong cửa hàng, người làng, toàn là thứ ăn vay, người là người của thế giới thứ ba. Chúng ta là thế giới thứ tư. Từ thứ ba – ta rớt hạng. Đã đổ xuống cái bệ đỡ cho tượng xe tam mã phóng nhanh như chim của Gôgôn, cũng đổ nghả đổ nghiêng đám tượng ngựa đang bị đói. Làng Đỏ suốt ngày huyên náo đàn ngỗng nháo nhác, gầy còm, ngồi ghế dài, chuyện trò lai rai là mấy mẹ, mấy bà đầu bạc trắng. Đầu họ một màu tóc trắng nỗi đau dai dẳng, dằng dai. “Chuyển lời cho Matxcơva nhé, con ơi tất cả dân làng bị bỏ rơi hồi bé, đã bỏ sức vào nơi hầm mỏ vậy mà ai đó ở trung ương về cuỗm sạch tiền than chuồn đi đâu. Gửi tặng cho làng đây, từ Mỹ, tiền cứu tế, giúp dân. Hỏi tiền nhân đạo đâu rồi? Tiền đã hoá thành phân chuồng hết. Thôi được, dân làng sẽ khắc vượt tiền gửi là tiền nước ngoài, nhưng nửa năm trời, đợi hoài đồng tiền của ta là giấy lộn (tiền gỗ). Quê hương đâu có là mẹ. Quê hương chỉ đáng hạng con. Chuyện trên biết hiểu ra sao? Với người ở đây, vùng đồi nhỏ. Nghĩa là cuộc chơi vô bổ lấy đỏ thay cho tên đen? Theo mưu điều ác, nên khắp nơi, ở đâu cũng lòi cái đen tối. Có thể chính tôi là một phần tội lỗi? Đã sống quen xu nịnh, quen hèn? Làm sao còn dám nhìn mặt các mẹ, các bà đây, các bà mẹ già nua, đầu bạc trắng xấu hổ ghê, xấu hổ lắm mà đường đi cấm chẳng thấy đâu. Chính người làng đã bị bỏ rơi, nhà nào cũng họ Matrenhin, vẫn nghe tiếng lương hưu của họ đang quay tít vòng trong nhà băng đấy. Chính người làng đã đè nén nhau không tiên đoán được điều gì, ngoài tối đen, xuyên qua lớp đất đồi đỏ ngoèn, lép nhép chui lên chỉ thấy tối đen, tối quá. Không thể làm ngơ đâu, Brianshina ơi, kiểu lao dịch nào theo sắc màu, và nếu họ lại chơi ba màu sắc thì đấy đúng là điềm gở chắc. Lịch sử mà lặp lại là nguy nan. Thì từ xưa, sách vở vẫn nói luôn: “Trên đầu ta, nỗi nhục tam sắc phơ phất lá cờ đói nghèo”. (Lời trích rút từ G.Ađammôvich như vết thương xưa nhức nhối đau. Nước Nga lại thấy bóng đêm trước rạng đông. Liệu có ngày, một sâu rượu, tay không, ở cái làng đã đổi tên Tam sắc vẫn không chịu đọc Đgioixơ dù bị tra tấn. Bọn nhíp chào đón hả hê nhạc pôp xanh - đỏ -nâu, thôi chẳng kiếm tìm mua Bêlinxky và Gôgôn nữa, chỉ tha chở về toàn Marinhina cả. Bằng gót chân, cảm nhận có cục nghẹn chặn ngang của quê hương đất mẹ đã gắn bó thân quen, tôi đem chiếu cho đám cao bồi ở Ôklahôma xem đấy phim “Đàn sếu bay qua”, tôi thấy phát khóc. Mọi việc đã làm đều không phải mưu mô, mà chính là thất bại của ngay chúng ta, khiến ta cảm giác ông Xakharôp chưa hề sống ở nước Nga nữa. I xaievich là bậc kỳ tài mà chịu cảnh làm người ngoài ở ngay nước mình. Xtalin thì từ lâu đã chết lại hiện hữu hơn Xôngienhisưn đang sống. Phải chăng tất cả những người tử vì đạo của ta đều ngây thơ chết trong cuộc đấu tranh và chúng ta không cần cho ai cả mà tôi nghĩ, chính ta chả cần ta nữa. Đành cam phận, ta sống vui vẻ, nhát hèn, chính ta đã phản bội một điều lớn lao. Ta đã đặt mọi thứ vào tên “đỏ”, tất cả hoá ra chỉ có “đen tối”. Tùng Cương dịch |
КРАСНОЕ И ТЁМНОЕ ЕВГЕНИИ ЕВТУШЕНКО На Брянщине было укромное село под названием Тёмное. Село указанием властным назвали при Ленине Красным. Кто реяли? Красные соколы. У пьяниц носы были свекольны. Промокли от крови шинели, но мы от стыда не краснели. А разве той крови стоила позорнейшая из маний - насилующая историю мания переназваний? А я в Красном селе и чуть-чуть навеселе, но совсем по-грустному огурцом похрустываю. А село как прежде тёмное-тёмное. В магазинах и на людях всё заемное, все какие-то ошмётки третьемирные. Мы четвёртый мир. Из третьего мы вырваны. Развалился облучок птицы-тройки Гоголя. Завалились на бочок лошади от голода. В селе Красное галдят доходяги-гуси, а на лавочках сидят белые бабуси. Седина их выбелила, а вот боль не выболела. “Передай Москве, милок, все мы в детстве угнатые. В шахтах вкалывали впрок. да ктось в центре уволок деньги наши угольные. Слали нам из США помочь гуманозную. Где она? Да как ушла в жижицу навозную. Ладно мы переживём деньги иностранные, но полгода ждём-пождём наши деревянные. Нам уж Родина не мать. Родина нам дочка. Как всё это понимать Здеся, с бугорочка? Значит, вся игра напрасная – Тёмное менять на Красное? И везде по воле зла темнота повылезла. Может я сам – часть зла? Жил, виляя, труся? Как мне вам глядеть в глаза, белые бабусиЁ Стыдно, стыдно, а пути не видно. Мы сами собой проворонены. Все наши дворы –Матренины, и слышится пенсий их шорох, крутящихся в банках оффшорных. Мы сами собой угнетённые. Ничто, кроме тьмы, не пророча, всплывает всё тёмное тёмное сквозь липкие красные клочья. А не всё равно тебе, Брянщина, какая по цвету барщина, и если играют в три цвета, то это дурная примета. Опасно увлечьcя повтором. Ведь сказано было и как: “Над нами трёхцветным позором полощется нищенский флаг”. (Цитата из Г. Адамовича, как рана давняя, ноющая) Вновь тьма на Руси дорассветная, Не станет убогий пропойца в селе под названьем Трёхцветное читать и под пытками Джойса. Подростки приветствуют с гоготом попсу серо-буро-малиновую и вместо Белинского с Гоголем с базара несут Маринину. Подошвами чувствуя комья приросшей родимой земли, я, плача, кручу в Оклахоме ковбоям Летят журавли. Всё то, что случилось – не заговор а собственный наш провал, такой, что как будто Сахаров в России не существовал. Исаевич стал виртуален в своей стране как не свой. Реальнее мёртвый Сталин чем Солженицын живой. Неужто все наши мученики наивно сгорали в борьбе, и мы не нужны никомушеньки – по-моему, даже себе. Смирились мы, труса празднуя. Мы предали нечто огромное. Мы ставили всё на “красное” а выпало снова “тёмное”. 1999 |
|
SỰ BIẾT ƠN Evghênhi Evtushenkô Em bảo anh:”Bé đã ngủ rồi”, kéo tấm màn che nôi con nằm cho kín, đưa tay tắt đèn trần, dáng bối rối, người rúm lại, áo ngoài rơi xuống ghế ngồi. Anh với em không nói về tình yêu. Em thầm thì điều gì, nói nghe lúng búng, không rõ âm “r”, như vướng nuốt nho trong họng, sau hàm răng trắng bóng, trắng tinh. “Anh biết rằng em phỉ nhổ từ lâu cuộc đời em. Bỗng tự nhiên ra cùng quẫn! Em là đàn ông mặc váy. Thân ngựa chở nặng. Giờ bỗng lại là phụ nữ. Nực cười không?” Phải biết ơn -anh coi là nghĩa vụ của anh. Khi đi tìm sự bảo vệ ở người không được ai bảo vệ, anh vùi mình, gồng người lên như sói, trong đống chăn đầy tin tưởng của em. Nhưng em như sói con bị xua đuổi, cô đơn, nước mắt đầm đìa, thì thào bên tai anh không ngớt, rằng em biết ơn anh nhiều lắm, làm anh xấu hổ lạnh toát sống lưng. Anh muốn ôm em bằng cả đống vần thơ, vẻ lúng túng, lúc mặt tái đi, khi đỏ lựng, nhưng một phụ nữ! đang cám ơn anh! đấy chứ vì anh là đàn ông, đã dịu dàng quá với em! Làm sao có thể vậy trên thế giới này? Quên mất trọng trách hàng đầu của người phụ nữ, ta xoá chỗ họ đi. Ta hạ thấp họ xuống cho ngang bằng, bình đẳng với cánh đàn ông. Một thời kì hay hớm làm sao được chuẩn bị, thật oan nghịêt, qua bao thế kỷ: đàn ông giống đàn bà ở cái gì đó, đàn bà lại y hệt như đám đàn ông. Ôi Đức Chúa, anh thấy nếp vai em thụt sâu trong những ngón tay anh, trông đói gầy và trần trụi, và đôi mắt của giống người trên đời chưa từng gặp gào thét lên, khi biến thành mắt đàn bà! Bóng chạng vạng rồi phủ lên nửa phần mắt em. Đang loé sáng, âm thầm, như nến cháy… Đức Chúa ơi! Người đàn bà cần quá ít- Chỉ cầu được coi là phụ nữ mà thôi. Tùng Cương dịch |
БЛАГОДАРНОСТЬ Евгений Евтушенко Она сказала:” Он уже уснул”,- задернув полог над кроваткой сына, и верхний свет неловко погасила и, съежившись, халат упал на стул. Мы с ней не говорили про любовь. Она шептала что-то, чуть картавя, звук “р”, как виноградину, катая за белою оградою зубов. “А знаешь: я ведь плюнула давно на жизнь свою. И вдруг так огорошить! Мужчина в юбке. Ломовая лощадь. И вдруг – я снова женщина. Смешно?” Быть благодарным – это был мой долг. Ища защиты в беззащитном теле, зарылся я, зафлаженный, как волк, в доверчивый сугроб её постели. Но как волчонок загнанный, одна, она в слезах мне щёки обшептала и то, что благодарна мне она, меня стыдом студёным обжигало. Мне б окружить её блокадой рифм, теряться, то бледнея, то краснея, но женщина! Меня! Благодарит! за то что я! Мужщина! Нежен с нею! Как получиться в мире так могло? Забыв про смысл певопричинный, мы женщину сместили. Мы её унизили до равенства с мужчиной. Какой занятный общества этап, коварно подготовленный веками: мужчины стали чем-то вроде баб, а женщины – почти что мужиками. О Господи, как сгиб её плеча мне вмялся в пальцы голодно и голо, и как глаза неведомого пола преображались в женские глаза. Потом их сумрак полузаволок. Они мерцали тихими свечами… Как мало надо женщине – мой Бог! чтобы её за женщину считали |