CÁI GIÁ CỦA CHIẾN THẮNG
Trong thời kỳ Xôviết, chí ít là cho tới thập kỷ 80 (của thế kỷ 20), cuộc chiến tranh vệ quốc thường được mô tả với hình ảnh Stalin và bộ sậu là đầu tàu của dân chủ, và chỉ có bọn đế quốc là lũ chủ mưu gây ra chiến tranh. Thiệt hại của Hồng quân được lờ đi, các số liệu thống kê ít khi được phổ biến, và gần như là không một dòng nói về hàng triệu người đã đầu hàng, hay về việc quân đội Đức đã thành công trong việc tuyển dụng và lập ra nhiều loại đơn vị chống Xôviết khác nhau từ những tù binh đó. (Theo những số liệu từ nhiều nguồn khác nhau mà tôi được biết, có khoảng 200.000 lính cô dắc trong đoàn lê dương Đức ngoài số lượng đã tham gia ROA – LTD). Hồng quân được mô tả là “đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng tập thể”, đã phải chịu những tổn thất to lớn do cuộc tấn công phản trắc và bất ngờ của Đức và do “sai lầm” của Stalin, nhưng đã chiến thắng một cách vinh quang sau đó. Suốt 14 năm sau chiến tranh, số người Liên Xô bị chết trong chiến tranh vẫn hoàn toàn là bí mật, so với con số thấp một cách phi lý là 7 triệu người do Stalin công bố năm 1946. (Pravda, 14 March 1946)
Cái sự thật quan trọng này vẫn rất khó có thể xác định thậm chí cả sau cuộc tổng điều tra dân số lần đầu tiên sau chiến tranh tiến hành năm 1959, cho thấy số nam giới ít hơn nữ giới hai mươi triệu người. Bản thân con số này không thể cho ta biết số người chết trong chiến tranh. Trong thực tế chắc chắn phải cao hơn, hiện con số chính thức là 27,7 triệu, nhưng rất nhiều người vẫn cho là như thế vẫn còn thấp hơn thực tế.
Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo Xôviết, những nhà tuyên truyền và phân tích đã sử dụng con số “hai mươi triệu người chết” này trong suốt 30 năm, và lý do của sự thiệt hại to lớn như vậy không bao giờ được bàn luận tới. Những hồi ức chiến tranh và các số liệu sử học chính thức đều bị kiểm duyệt hay thủ tiêu hay che dấu về số người Xôviết bị chết, điều này dễ giải thích vì lưỡi kéo kiểm duyệt.
Chỉ tới thời kỳ “cải tổ”, cái giá nhân mạng quá cao của chiến thắng mới được đề cập một cách nghiêm túc. Trong cuốn “Cái giá của Chiến thắng”, Boris Sokolov đã công bố những số liệu lấy từ một nguồn được công bố năm 1967, do cách thể hiện kín đáo, đã được lưỡi kéo kiểm duyệt của thời ấy bỏ qua. Đó là cuốn “Chiến tranh và quân y” của E.I. Smirnov, người lãnh đạo ngành quân y Hồng quân trong suốt chiến tranh. Nó chứa một bảng thống kê tổng số quân nhân thương vong, tàn tật, bệnh tật trong từng tháng, không phải là những con cụ thể, mà là phần trăm của từng tháng trong suốt chiến tranh.
Bảng thống kê cho thấy rõ ràng rằng phần lớn thương vong xảy ra không phải ở nửa đầu mà là nửa cuối chiến tranh, chúng vượt lên trên ngưỡng trung bình trong tới 18 tháng trên tổng số 23 tháng tính từ tháng Bảy 1943 tới tháng Năm 1945. Smirnov không đề cập tới số người chết, mà dựa trên tỷ lệ thông thường cứ một người chết thì có bốn người bị thương, do đó hầu hết người chết chắc chắn phải xảy ra trong nửa sau chiến tranh. Để phản bác lại với những ý kiến cho rằng do hầu hết khoảng thời gian này là lúc Hồng quân đang phản công, và tấn công thì người chết nhiều hơn là khi phòng thủ, Sokolov đã so sánh tỷ lệ thiệt mạng giữa Mặt trận phía Đông và MT phía Tây trong thời gian từ khi liên quân Anh-Mỹ-Canada đổ bộ lên Pháp tháng Sáu năm 1944 cho tới khi Đức đầu hàng tháng Năm 1945. Các số liệu này cho thấy tỷ lệ lính LX/lính Đức bị chết là 3/1 trong khi lính Đồng minh/lính Đức là 1/1,7; lính Đồng minh, những người cũng như lính LX cùng đang tấn công lúc đó, chịu thiệt hại ít hơn lính Đức đang phòng thủ. Như vậy, ta thấy Hồng quân đã trả giá cao hơn lính Đồng minh tới năm lần.
Tỷ lệ này, và việc số thương vong của lính Xôviết cao gấp ba lần so với lính Đức trong khi lính Đức bị áp đảo về số lượng trong suốt gần hai năm từ tháng Bảy 1943 dưới một bầu trời do không quân Xôviết thống trị, cho thấy rằng các tướng lĩnh Xôviết xem nhẹ những thiệt hại nhân mạng trong khi phía đồng minh lại coi trọng điều này quá mức. Và trong nửa đầu của chiến tranh, khi quân Đức gần như luôn trong thế tiến công, thiệt hại của phía lính Xôviết trong thế phòng thủ cũng vượt trội so với lính Đức, bởi những người đầu hàng hàng loạt cũng cần được tính vào số thương vong trong chiến trận.
Đã có quá nhiều giai thoại của lính Đức minh chứng cho sự hoang phí sinh mạng của phe Liên Xô, cùng cuộc trò chuyện nổi tiếng giữa Eisenhower và Zhukov năm 1945, trong đó, khi được hỏi lính Xôviết đối phó ra sao với các bãi mìn, Zhukov đã đáp rằng lính của mình chỉ đơn giản nhận một lệnh là chạy băng qua chúng. Hơn nữa, sự cạnh tranh giữa các tướng lĩnh, được sự khuyến khích của Stalin, dẫn tới những trận đánh chiếm không cần thiết các pháo đài mà thực ra có thể dễ dàng bao vây hoặc vượt qua. Một yếu tố quan trọng khác là áp lực phải chiếm cho được những thị trấn và thành phố quan trọng cho kịp những dịp lễ Cách mạng quan trọng, ví dụ như tình trạng cấp bách cần được giải phóng của Kiev được phổ biến bởi lời hô hào rất không thích đáng trong quân đội để chiếm lại nó đúng dịp 7 tháng Mười Một, dịp lễ kỷ niệm Cách Mạng tháng Mười (Tập đoàn quân 38 đã phải thực hiện điều này với chỉ một ngày chuẩn bị).
Cuộc đối đầu giữa Nguyên soái Zhukov và Konev, được kích thích bởi Stalin bằng lời thông báo giả dối rằng Liên quân Anh-Mỹ đang dự định sẽ tiến vào Berlin trước tiên, và sự đến gần của ngày lễ Cách mạng quan trọng (Mùng Một tháng Năm) đã thúc đẩy việc mau chóng công phá Berlin. Trong 23 ngày chiến đấu, 81.000 lính Xôviết và Ba Lan đã hy sinh, 280.000 bị thương. Hầu hết những thương vong này là không cần thiết. Thành phố này, hầu như đã đổ nát hết do bom Anh-Mỹ, có thể bị bỏ đói cho tới lúc phải đầu hàng, có thể chỉ torng vòng vài ngày, chậm lắm cũng chỉ tới vài tuần, và chống đối dữ dội nhất chỉ là một số không nhiều đám lính Quốc xã cuồng tín trong số những kẻ phòng thủ.
Trận công chiếm Berlin không phải là trường hợp cá biệt. Trong rất nhiều trận công kích diễn ra từ 12 tháng Giêng tới khi nước Đức đầu hàng ngày 8-9 tháng Năm, 367.000 quân nhân Xôviết hy sinh, gần bằng tổng số lính Anh (375.000) hay lính Mỹ (405.000) chết trận trong toàn bộ cuộc chiến. Điều này không phải chỉ do lính Xôviết phải đối đầu với lực lượng Đức lớn hơn. Trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, lực lượng Quân đội Đức chia gần như đều nhau giữa Mặt trận phía Đông và Mặt trận phía Tây, trong khi đó quân Anh-Mỹ lại đang đánh nhau quyết liệt với quân Nhật, lực lượng mà cho tới lúc đó Liên Xô vẫn chưa tuyên chiến.
Hồng quân trừng phạt rất nặng đối với tội đầu hàng, coi chúng gần ngang với sự phản bội, trừ phi đầu hàng khi bị thương và bất tỉnh, và hình phạt cũng đè nặng lên gia đình của những binh lính đó. Có trên bốn triệu rưởi lính Xôviết đầu hàng, hầu hết là trong sáu tháng đầu tiên. Đồng thời có 50.000 hoặc hơn nữa lính Nga đã gia nhập đạo quân của Vlasov – Quân đoàn Giải phóng Nga ROA, và hàng ngàn tù binh Xôviết khác gia nhập những đơn vị chiến đấu Đức như quân đoàn Lê dương Côdắc, Turkestan và Azerbaijan. Lượng binh sĩ Xôviết đầu hàng không chỉ vượt qua so với tổng số lính đầu hàng của tất cả những nước tham chiến khác cộng lại, nó còn lớn chưa từng thấy trong suốt toàn bộ lịch sử chiến tranh trên thế giới. Hơn nữa, số người tình nguyện hợp tác với đối phương, gồm hàng trăm ngàn tù binh Xôviết phục vụ trong các lĩnh vực lái xe, thợ đứng máy, đầu bếp và cần vụ trong các đơn vị lính Đức, chiếm tỷ lệ lớn vượt quá bất cứ quốc gia tham chiến nào, hoặc so với trong qua khứ lịch sử của chính nước Nga. Rất nhiều tù binh chiến tranh Xôviết được giải phóng bởi lính Anh-Mỹ đã nỗ lực tối đa để tránh bị cho hồi hương, và những người đã chịu hợp tác thì thà giết chết cấp dưới của mình rồi tự sát, như đã xảy ra tại Áo năm 1945, trong đợt Tập đoàn quân số 8 của Anh chuyển giao Binh đoàn Côdắc thuộc Wehrmacht (quân đội Đức) cho Hồng quân.
Những điều tiết lộ ấy xuất hiện khi Hồng quân, sau suốt 40 thập niên dưới danh tiếng “vinh quanh và vô địch”, nay bị phong tỏa bởi sự tiết lộ về tình trạng tham những trong giới tướng lãnh sĩ quan cao cấp và tình trạng đối xử tồi tệ với lính nghĩa vụ mới nhập ngũ, và kể từ năm 1978 đã bị lôi kéo tới một cuộc chiến tranh không chính thức tại Afghanistan mà không đạt được thắng lợi đáng kể nào. Điều này đẩy tới việc một số đông các tác giả đã xuất bản những số liệu mới về chiến tranh Xô-Đức và đưa tới câu hỏi hoài nghi về những số liệu thống kê quá dè dặt và lý tưởng trước đấy.
Một số nghiên cứu mới cho thấy, theo một số tướng lĩnh trong hầu hết các tập đoàn quân, nhưng tất nhiên không phải là tất cả trong bất cứ tập đoàn quân nào, cho rằng tất cả những tướng lĩnh hàng đầu của quân đội Xôviết chỉ là những tên đồ tể bất tài, chỉ có thể chiến thắng bằng một số quân vượt trội và phung phí sinh mạng binh lính. Tuy vậy, kết luận này lại lờ đi kinh nghiệm đúc kết từ lịch sử quân sự rằng số lượng không đảm bảo cho thắng lợi, và từ sự thật rằng vào năm 1941 các đơn vị Hồng quân thường bị tiêu diệt bởi những đội quân Đức nhỏ hơn nhiều. Do đó, chiến thắng quân Đức trong thời kỳ 42-45, thậm chí nếu luôn là với ưu thế vượt trội về quân số, vẫn cho thấy ít nhất là khả năng rút kinh nghiệm trong chiến đấu của Hồng quân.
Trong thời kỳ Xôviết, chí ít là cho tới thập kỷ 80 (của thế kỷ 20), cuộc chiến tranh vệ quốc thường được mô tả với hình ảnh Stalin và bộ sậu là đầu tàu của dân chủ, và chỉ có bọn đế quốc là lũ chủ mưu gây ra chiến tranh. Thiệt hại của Hồng quân được lờ đi, các số liệu thống kê ít khi được phổ biến, và gần như là không một dòng nói về hàng triệu người đã đầu hàng, hay về việc quân đội Đức đã thành công trong việc tuyển dụng và lập ra nhiều loại đơn vị chống Xôviết khác nhau từ những tù binh đó. (Theo những số liệu từ nhiều nguồn khác nhau mà tôi được biết, có khoảng 200.000 lính cô dắc trong đoàn lê dương Đức ngoài số lượng đã tham gia ROA – LTD). Hồng quân được mô tả là “đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng tập thể”, đã phải chịu những tổn thất to lớn do cuộc tấn công phản trắc và bất ngờ của Đức và do “sai lầm” của Stalin, nhưng đã chiến thắng một cách vinh quang sau đó. Suốt 14 năm sau chiến tranh, số người Liên Xô bị chết trong chiến tranh vẫn hoàn toàn là bí mật, so với con số thấp một cách phi lý là 7 triệu người do Stalin công bố năm 1946. (Pravda, 14 March 1946)
Cái sự thật quan trọng này vẫn rất khó có thể xác định thậm chí cả sau cuộc tổng điều tra dân số lần đầu tiên sau chiến tranh tiến hành năm 1959, cho thấy số nam giới ít hơn nữ giới hai mươi triệu người. Bản thân con số này không thể cho ta biết số người chết trong chiến tranh. Trong thực tế chắc chắn phải cao hơn, hiện con số chính thức là 27,7 triệu, nhưng rất nhiều người vẫn cho là như thế vẫn còn thấp hơn thực tế.
Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo Xôviết, những nhà tuyên truyền và phân tích đã sử dụng con số “hai mươi triệu người chết” này trong suốt 30 năm, và lý do của sự thiệt hại to lớn như vậy không bao giờ được bàn luận tới. Những hồi ức chiến tranh và các số liệu sử học chính thức đều bị kiểm duyệt hay thủ tiêu hay che dấu về số người Xôviết bị chết, điều này dễ giải thích vì lưỡi kéo kiểm duyệt.
Chỉ tới thời kỳ “cải tổ”, cái giá nhân mạng quá cao của chiến thắng mới được đề cập một cách nghiêm túc. Trong cuốn “Cái giá của Chiến thắng”, Boris Sokolov đã công bố những số liệu lấy từ một nguồn được công bố năm 1967, do cách thể hiện kín đáo, đã được lưỡi kéo kiểm duyệt của thời ấy bỏ qua. Đó là cuốn “Chiến tranh và quân y” của E.I. Smirnov, người lãnh đạo ngành quân y Hồng quân trong suốt chiến tranh. Nó chứa một bảng thống kê tổng số quân nhân thương vong, tàn tật, bệnh tật trong từng tháng, không phải là những con cụ thể, mà là phần trăm của từng tháng trong suốt chiến tranh.
Bảng thống kê cho thấy rõ ràng rằng phần lớn thương vong xảy ra không phải ở nửa đầu mà là nửa cuối chiến tranh, chúng vượt lên trên ngưỡng trung bình trong tới 18 tháng trên tổng số 23 tháng tính từ tháng Bảy 1943 tới tháng Năm 1945. Smirnov không đề cập tới số người chết, mà dựa trên tỷ lệ thông thường cứ một người chết thì có bốn người bị thương, do đó hầu hết người chết chắc chắn phải xảy ra trong nửa sau chiến tranh. Để phản bác lại với những ý kiến cho rằng do hầu hết khoảng thời gian này là lúc Hồng quân đang phản công, và tấn công thì người chết nhiều hơn là khi phòng thủ, Sokolov đã so sánh tỷ lệ thiệt mạng giữa Mặt trận phía Đông và MT phía Tây trong thời gian từ khi liên quân Anh-Mỹ-Canada đổ bộ lên Pháp tháng Sáu năm 1944 cho tới khi Đức đầu hàng tháng Năm 1945. Các số liệu này cho thấy tỷ lệ lính LX/lính Đức bị chết là 3/1 trong khi lính Đồng minh/lính Đức là 1/1,7; lính Đồng minh, những người cũng như lính LX cùng đang tấn công lúc đó, chịu thiệt hại ít hơn lính Đức đang phòng thủ. Như vậy, ta thấy Hồng quân đã trả giá cao hơn lính Đồng minh tới năm lần.
Tỷ lệ này, và việc số thương vong của lính Xôviết cao gấp ba lần so với lính Đức trong khi lính Đức bị áp đảo về số lượng trong suốt gần hai năm từ tháng Bảy 1943 dưới một bầu trời do không quân Xôviết thống trị, cho thấy rằng các tướng lĩnh Xôviết xem nhẹ những thiệt hại nhân mạng trong khi phía đồng minh lại coi trọng điều này quá mức. Và trong nửa đầu của chiến tranh, khi quân Đức gần như luôn trong thế tiến công, thiệt hại của phía lính Xôviết trong thế phòng thủ cũng vượt trội so với lính Đức, bởi những người đầu hàng hàng loạt cũng cần được tính vào số thương vong trong chiến trận.
Đã có quá nhiều giai thoại của lính Đức minh chứng cho sự hoang phí sinh mạng của phe Liên Xô, cùng cuộc trò chuyện nổi tiếng giữa Eisenhower và Zhukov năm 1945, trong đó, khi được hỏi lính Xôviết đối phó ra sao với các bãi mìn, Zhukov đã đáp rằng lính của mình chỉ đơn giản nhận một lệnh là chạy băng qua chúng. Hơn nữa, sự cạnh tranh giữa các tướng lĩnh, được sự khuyến khích của Stalin, dẫn tới những trận đánh chiếm không cần thiết các pháo đài mà thực ra có thể dễ dàng bao vây hoặc vượt qua. Một yếu tố quan trọng khác là áp lực phải chiếm cho được những thị trấn và thành phố quan trọng cho kịp những dịp lễ Cách mạng quan trọng, ví dụ như tình trạng cấp bách cần được giải phóng của Kiev được phổ biến bởi lời hô hào rất không thích đáng trong quân đội để chiếm lại nó đúng dịp 7 tháng Mười Một, dịp lễ kỷ niệm Cách Mạng tháng Mười (Tập đoàn quân 38 đã phải thực hiện điều này với chỉ một ngày chuẩn bị).
Cuộc đối đầu giữa Nguyên soái Zhukov và Konev, được kích thích bởi Stalin bằng lời thông báo giả dối rằng Liên quân Anh-Mỹ đang dự định sẽ tiến vào Berlin trước tiên, và sự đến gần của ngày lễ Cách mạng quan trọng (Mùng Một tháng Năm) đã thúc đẩy việc mau chóng công phá Berlin. Trong 23 ngày chiến đấu, 81.000 lính Xôviết và Ba Lan đã hy sinh, 280.000 bị thương. Hầu hết những thương vong này là không cần thiết. Thành phố này, hầu như đã đổ nát hết do bom Anh-Mỹ, có thể bị bỏ đói cho tới lúc phải đầu hàng, có thể chỉ torng vòng vài ngày, chậm lắm cũng chỉ tới vài tuần, và chống đối dữ dội nhất chỉ là một số không nhiều đám lính Quốc xã cuồng tín trong số những kẻ phòng thủ.
Trận công chiếm Berlin không phải là trường hợp cá biệt. Trong rất nhiều trận công kích diễn ra từ 12 tháng Giêng tới khi nước Đức đầu hàng ngày 8-9 tháng Năm, 367.000 quân nhân Xôviết hy sinh, gần bằng tổng số lính Anh (375.000) hay lính Mỹ (405.000) chết trận trong toàn bộ cuộc chiến. Điều này không phải chỉ do lính Xôviết phải đối đầu với lực lượng Đức lớn hơn. Trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, lực lượng Quân đội Đức chia gần như đều nhau giữa Mặt trận phía Đông và Mặt trận phía Tây, trong khi đó quân Anh-Mỹ lại đang đánh nhau quyết liệt với quân Nhật, lực lượng mà cho tới lúc đó Liên Xô vẫn chưa tuyên chiến.
Hồng quân trừng phạt rất nặng đối với tội đầu hàng, coi chúng gần ngang với sự phản bội, trừ phi đầu hàng khi bị thương và bất tỉnh, và hình phạt cũng đè nặng lên gia đình của những binh lính đó. Có trên bốn triệu rưởi lính Xôviết đầu hàng, hầu hết là trong sáu tháng đầu tiên. Đồng thời có 50.000 hoặc hơn nữa lính Nga đã gia nhập đạo quân của Vlasov – Quân đoàn Giải phóng Nga ROA, và hàng ngàn tù binh Xôviết khác gia nhập những đơn vị chiến đấu Đức như quân đoàn Lê dương Côdắc, Turkestan và Azerbaijan. Lượng binh sĩ Xôviết đầu hàng không chỉ vượt qua so với tổng số lính đầu hàng của tất cả những nước tham chiến khác cộng lại, nó còn lớn chưa từng thấy trong suốt toàn bộ lịch sử chiến tranh trên thế giới. Hơn nữa, số người tình nguyện hợp tác với đối phương, gồm hàng trăm ngàn tù binh Xôviết phục vụ trong các lĩnh vực lái xe, thợ đứng máy, đầu bếp và cần vụ trong các đơn vị lính Đức, chiếm tỷ lệ lớn vượt quá bất cứ quốc gia tham chiến nào, hoặc so với trong qua khứ lịch sử của chính nước Nga. Rất nhiều tù binh chiến tranh Xôviết được giải phóng bởi lính Anh-Mỹ đã nỗ lực tối đa để tránh bị cho hồi hương, và những người đã chịu hợp tác thì thà giết chết cấp dưới của mình rồi tự sát, như đã xảy ra tại Áo năm 1945, trong đợt Tập đoàn quân số 8 của Anh chuyển giao Binh đoàn Côdắc thuộc Wehrmacht (quân đội Đức) cho Hồng quân.
Những điều tiết lộ ấy xuất hiện khi Hồng quân, sau suốt 40 thập niên dưới danh tiếng “vinh quanh và vô địch”, nay bị phong tỏa bởi sự tiết lộ về tình trạng tham những trong giới tướng lãnh sĩ quan cao cấp và tình trạng đối xử tồi tệ với lính nghĩa vụ mới nhập ngũ, và kể từ năm 1978 đã bị lôi kéo tới một cuộc chiến tranh không chính thức tại Afghanistan mà không đạt được thắng lợi đáng kể nào. Điều này đẩy tới việc một số đông các tác giả đã xuất bản những số liệu mới về chiến tranh Xô-Đức và đưa tới câu hỏi hoài nghi về những số liệu thống kê quá dè dặt và lý tưởng trước đấy.
Một số nghiên cứu mới cho thấy, theo một số tướng lĩnh trong hầu hết các tập đoàn quân, nhưng tất nhiên không phải là tất cả trong bất cứ tập đoàn quân nào, cho rằng tất cả những tướng lĩnh hàng đầu của quân đội Xôviết chỉ là những tên đồ tể bất tài, chỉ có thể chiến thắng bằng một số quân vượt trội và phung phí sinh mạng binh lính. Tuy vậy, kết luận này lại lờ đi kinh nghiệm đúc kết từ lịch sử quân sự rằng số lượng không đảm bảo cho thắng lợi, và từ sự thật rằng vào năm 1941 các đơn vị Hồng quân thường bị tiêu diệt bởi những đội quân Đức nhỏ hơn nhiều. Do đó, chiến thắng quân Đức trong thời kỳ 42-45, thậm chí nếu luôn là với ưu thế vượt trội về quân số, vẫn cho thấy ít nhất là khả năng rút kinh nghiệm trong chiến đấu của Hồng quân.