Câu chuyện của Semion Aria
Những người sống sót trở về từ chiến tranh thưởng trở nên mê tín hoặc tin vào định mệnh, cố gắng tìm kiếm niềm tin nơi Đức Chúa. Không nơi nào mà bàn tay của Định Mệnh lại xuất hiện rành rành đến vậy, không thể thay đổi và không tài nào tránh khỏi, như trong chiến tranh. Tôi đã có kinh nghiệm bản thân về điều này, và không chỉ là một lần.
Mùa đông những năm 1942-43 binh đoàn tăng nơi tôi có vinh dự được phục vụ đã phải chịu tổn thất rất lớn trong trận đánh tại Mozdok. Tôi đã không phải chịu làm một trong những người hy sinh tại đó do một trường hợp đặc biệt sau đây. Số mệnh, như đã thấy trước được diễn tiến của sự kiện nọ, theo như tôi hiểu, đã có một quyết định cứng rắn ngay lập tức đúng thời điểm đó để chuyển tôi từ vị trí cũ làm thợ lái tăng thành sang một vị trí khác, ít nguy hiểm tính mạng hơn. Bằng một giá không thể tưởng tượng ra nổi. Bà mụ Số mệnh lúc đầu đã không thành công lắm, nhưng Bà hành xử thật cương quyết và bển bỉ để đạt tới mục đích đã đặt ra.
Vào một ngày đông ảm đạm một đoàn xe tăng, trong đó có chiếc T-34 của chúng tôi, kéo vào khu làng Côdắc Levokumskaya sau một chặng dài hành quân. Quân Đức đang rút lui đã cho nổ tung chiếc cầu bắc qua sông Kuma đằng sau lưng chúng, và một kết cấu gỗ bắc ngang thay thế do những kỹ sư công binh làm từ bất cứ thứ gì họ có thể tìm ra xuất hiện trước chúng tôi vừa kịp lúc chúng tôi tiến được tới bờ sông. Sau khi liếc nhìn nó đầy ngờ vực, tiểu đoàn trưởng của tôi hỏi người kỹ sư công binh:
"Xe tăng có thể băng qua cái thứ này được không? Loại hai mươi lăm tấn?”
"Hoàn toàn có thể tin tưởng!" người kỹ sư đáp. "Được bàn tay của một đơn vị Cận vệ làm mà! Nhưng chỉ được đi từng chiếc một lần thôi.”
Chiếc tăng đầu tiên lăn chậm rãi và cẩn trọng qua những tấm ván lát tạm. Chiếc thứ hai tiến vào chỗ vượt sông cũng rất cẩn thận, từ từ chuyển hướng khỏi lối đi, lăn lên giữa cầu, và đột nhiên, ngay trước mắt mọi người, nó bắt đầu di chuyển không phải băng ngang qua mà là đi dọc dòng sông, và rồi nhào xuống giòng nước cùng với cây cầu, chỉ còn ló có mỗi mấy cái bánh xích khỏi mặt nước. Tổ lái được lôi ngay khỏi mặt nước đóng băng không phải là không có một chút trở ngại. Chúng tôi đã phải nhào xuống mới kéo được người lái lên. Tăng của tôi là chiếc thứ ba, kế tiếp. (Hồi ức của Alexandr Bodnar’ cũng có một đoạn tương tự số phận những người lính lái chiếc tăng bị rơi xuống sông này – LTD).
Sau một hồi nổi xung thiên thịnh nộ với đám kỹ sư, thậm chí còn dọa lôi ra xử bắn, tiểu đoàn trưởng tìm được một người địa phương đã luống tuổi để ông ta chỉ cho một chỗ nước cạn. Sau khi nhét được ông già vào trong chiếc Willy của mình, và sau khi đã giải thích cho tôi về trách nhiệm phải làm người lái chiếc xe dẫn đầu, viên tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho chúng tôi lên đường đi theo ông ta.
"Đừng chạy quá nhanh, nhưng cũng đừng có tụt lại phía sau” ông ta nói. "Nếu có chuyện gì trục trặc, tôi sẽ ra hiệu cho anh bằng đèn pin.”
Và thế là chúng tôi khởi hành trên con đường đất dọc bờ sông. Trong khi đó, bóng tối đã hoàn toàn bao phủ khung cảnh. Chúng tôi đã không còn một chiếc đèn pha nào ngay từ sau trận đánh đầu tiên, và thậm chí nếu chúng tôi có thì chúng tôi cũng không thể sử dụng do sợ bị máy bay địch phát hiện. Do đó tôi chỉ còn biết chạy theo ánh đèn xanh lè nhảy nhót liên tục của chiếc xe jeep chỉ huy trong bóng đêm, được phụ thêm bởi ánh trăng lờ mờ đang lúc lộ lúc khuất sau bóng mây, mắt không hề thấy rõ con đường đang chạy. Đoàn xe chạy nối đuôi sau xe tôi.
Chúng tôi cứ chạy theo kiểu ấy thêm khoảng mười cây số nữa. Như sau này mới biết, ông tiểu đoàn trưởng đã không chú ý tới một cây cầu khuất bé bắc qua một cái khe cạn và lái thẳng qua nó mà không hề chạy chậm lại hoặc kịp ra tín hiệu. Vì thế chiếc tăng của tôi đã phóng hết tốc lực vào cây cầu với tất cả sức nặng nhiều tấn của nó. Cây cầu không do dự, đổ sập ngay lập tức. Chiếc tăng đập mặt giáp thép phía trước xuống sườn khe, lật úp chổng hết xích lên trời rồi trượt xuống tận đáy khe.
Choáng váng vì va đập, tôi nhận ra mình đang bị vùi dưới một đống đạn 76mm vừa rơi khỏi thùng chứa, cùng với những băng đạn súng máy, các dụng cụ, phụ tùng dự trữ, thức ăn chiến lợi phẩm, một cái cưa, một chiếc rìu và vô số vật dụng khác trong xe tăng. Axít trong bộ ắcquy bị lật tuôn ra phùn phụt thành tia. Tất cả được soi sáng dưới thứ ánh sáng mang điềm gở phát ra do các vật dụng va chạm nhau. Tôi thì không sao, nhưng khắp người bị bầm dập. Suy nghĩ đầu tiên hiện trong đầu là: tôi đã nghiền nát mất tổ lái rồi... Lý do là trong khi hành quân tổ lái thường không ngồi trong xe, mà là ngồi phía trên bộ phận hộp số - một điểm rất ấm áp nằm ngoài phía sau tháp pháo – và phủ vải bạt lên người. Nhưng hóa ra là tất cả bọn họ vẫn còn sống - họ chỉ bị ném văng ra đất khi chiếc xe tăng lật nhào, như thề được bắn ra từ chiếc máy bắn đá. Giờ đây người xa trưởng, trung uý Kuts, đang la hét vọng tới từ bên ngoài:
"Aria! Cậu còn sống chứ?"
"Dường như thế," tôi đáp. "Những người khác có sao không?"
Và tôi trườn ra ngoài qua cái cửa nắp ở dưới (mà giờ đã là ở phía trên) rồi quan sát xung quanh. Quanh cảnh thật vô cùng ấn tượng. Chiếc tăng đang nằm trên tháp pháo của mình với toàn bộ xích xe chổng lên trời. Cái nòng pháo chọc thẳng xuống dưới đất. Chưa lần nào trong suốt cuộc chiến tranh tôi được trông thấy cảnh một chiếc xe tăng trong tư thế bất tự nhiên như thế này. Chúng tôi cùng lặng yên đứng nhìn Người Bạn chiến đấu đã ngã xuống của mình.
Tiểu đoàn trưởng xuất hiện ngay lập tức, tựa như một con quỷ vụt chui ra khỏi chiếc hộp. Ông ta giảng giải cho tôi một hồi theo đúng kiểu Nga la tư mọi thứ ông ta đang nghĩ về tôi, rồi hạ lệnh:
"Tôi để lại đây cho anh một chiếc xe để kéo anh lên. Anh phải kéo chiếc xe dậy, sắp đặt tất cả trở lại trật tự rồi có mặt kịp cùng chúng tôi vào sáng mai. Nếu không làm được – Tôi sẽ xử bắn anh!”
Chúng tôi không mất thời giờ để giải thích những gì chúng tôi đang nghĩ về ông ta mà lập tức bắt tay vào việc. Chúng tôi mất suốt đêm để đào một lối ra khỏi cái khe, dùng chiếc tăng kéo để trước tiên là lật ngang chiếc tăng của mình lại, rồi lật tiếp cho nó đứng đàng hoàng trên hai hàng xích – cùng một chuỗi tiếng động rầm rầm khủng khiếp, rợn hồn phát ra từ mọi bộ phận trên xe mỗi lần chúng tôi nỗ lực để lật nó lại. Rồi chúng tôi tháo gỡ tất cả đống sắt vụn bên trong rồi cố gắng khởi động nó bằng bộ khởi động khẩn cấp, dùng hơi nén. Và chiếc xe tăng, loại tăng tốt nhất của Thế chiến thứ 2, đã bắt đầu nổ máy ngay sau khi vừa trải qua cái tai nạn ghê gớm nhường ấy!
Chúng tôi chỉ còn lại một giờ đồng hồ để nghỉ ngơi và ăn uống. V à rồi chúng tôi tiếp tục lên đường khi bình minh vừa ló dạng. Nỗ lực đầu tiên của Số mệnh nhằm lôi tôi ra khỏi quân chủng xe tăng đã hoàn toàn thất bại...
Chúng tôi tăng tốc và vượt qua thành công con sông tại đúng vị trí đã định sẵn, rồi bắt kịp đoàn quân của mình vào giữa ngày, báo cáo tất cả lên tiểu đoàn trưởng và nhập vào trong đội hình. Tất cả bốn người chúng tôi đều đã sức cùng lực kiệt, nhưng trong đó tôi là người mệt nhất. Tôi chìm dần vào cơn ngủ không thể cưỡng lại được trên chiếc ghế lái của mình và mơ thấy chiếc xe tăng ẩn hiện trước mắt. Điều đó thật nguy hiểm hết sức. Trung uý, khi nhận ra tình trạng của tôi, ráng ở lại trong xe, cố gắng khích lệ, đá vào lưng tôi từ trên chiếc ghế của anh gắn trong tháp pháo (trong xe T-34, chỗ của xa trưởng nằm trong tháp pháo nhưng bố trí phía trên chỗ của người lái nằm hơi thụt xuống thân xe – LTD) hết lần này đến lần khác. Không còn ai khác có thể thay thế cho tôi. Xa trưởng lấy lý do là kiến thức thực tiễn về lái xe qua khóa huấn luyện thời chiến của mình quá ít ỏi, còn pháo thủ Kolia Rylin và người điện đài viên kiêm xạ thủ súng máy Vereschagin thì hoàn toàn không được học chút gì về lái xe. Khả năng thay thế của các thành viên tổ lái còn lại là hoàn toàn không có - thế là họ cứ tiếp tục nằm dài trên chỗ ấm áp của bộ phận động cơ. Trong khi đó tôi đang phải một mình chịu đựng với mức độ căng thẳng tột cùng, trên hết là phải lãnh nhận luồng khí lạnh rát như băng bị hút mạnh từ bộ quạt thông gió đang gầm rú đằng sau lưng tôi, phụt thẳng vào ngực.
Ngay trong chặng nghỉ chân đầu tiên, sau khi ăn xong món kasha (cháo lúa mạch – LTD) với xuất Lend-Lease tushonka (thịt hộp Mỹ viện trợ - LTD), chúng tôi phát hiện ra có một chỗ rò rỉ dầu ở động cơ xe. Cú lộn nhào xuống đáy khe cạn không phải là không có hậu quả. Chúng tôi xác định rằng vết rò không đáng kể và tiếp tục lên đường sau khi đã quấn chặt vết nứt bằng nhiều lớp băng vải rồi lấy dây buộc lại.
Sau khi đi thêm được năm mươi cây số thì có chuyện gì đó xảy ra: sau một chặng dừng ngắn máy xe không chịu nổ nữa. Không, chỉ là không khởi động được mà thôi. Chúng tôi đi tìm người kỹ thuật viên. Anh ta bò vào trong một lát để cố xem xét động cơ bằng một cái xà beng rồi tuyên bố:
"Chỉ có một thằng đần độn mới nghĩ cái thứ băng garô như vậy là đủ để giữ cho dầu khỏi chảy ra! Nó chảy hết tiệt ra rồi! Động cơ của các cậu bị nghẹt rồi...”
"Chúng tôi phải làm gì bây giờ?" trung uý hỏi.
"Binh đoàn trưởng sẽ quyết định xem các anh sẽ phải làm gì. Nhưng xe tăng không thể đem ra sửa ngoài đồng trống được, cần phải thay cái động cơ, chúng tôi cần các dụng cụ cần thiết để làm chuyện đó. Bây giờ thì ngồi chờ đây đã, tôi sẽ đi báo cáo chuyện này, sáng mai chúng tôi sẽ gửi xe tới kéo các anh đi."
Đoàn quân lên đường và để chúng tôi lại một mình. Bão tuyết quay cuồng trên thảo nguyên trần trụi phủ đầy tuyết. Không một bóng cây, không một bụi rậm, chỉ thấy xa xa trên đường vài mái nhà thấp lè tè - một khu trại ven đường.
Không thể ngồi lại bên trong chiếc xe tăng đang đóng băng. Chúng tôi cố dựng tạm một thứ từa tựa túp lều bằng cách quàng tấm vải bạt qua nòng khẩu pháo. Chúng tôi đốt lên bên trong đó một xô dầu xăng để cố sưởi ấm và ăn chút gì đó. Vài giờ sau tất cả đều không thể nhận ra nhau vì đã nhuộm đầy muội bồ hóng.
"Thế này," trung uý thốt lên, "chúng ta không thể ngồi đến chết ở đây được... Hãy ra nghỉ đêm ở ngoài kia thôi," anh ta hất tay về phía mấy căn nhà ngoài xa. "Ở đấy có một ống khói, nghĩa là có lò sưởi. Có lẽ lại còn cả ít rơm sót lại nữa. Chúng ta sẽ để lại một người gác chiếc xe này. Cậu cũng cần phải ngủ một chút (anh ta hất đầu về phía tôi). Do đó cậu sẽ là người trực trước đúng một tiếng rưỡi đồng hồ - kế đó tôi sẽ phái người khác đến thay. Nhưng bù lại sau đó cậu sẽ được ngủ trọn giấc.”
Thế là tôi ở lại với chiếc xe tăng cùng một khẩu tiểu liên đeo trên vai. Thời gian từ từ trôi qua trong bóng đêm. Bước tới bước lui. Bước tới bước lui. Tôi không thể dựa lưng vào chiếc xe – mí mắt tôi luôn chỉ chực sụp xuống. Nhưng sau một tiếng rưỡi người thay thế vẫn không thấy tới, thậm chí sau cả hai tiếng đồng hồ. Quỵ xuống vì kiệt sức, bọn họ chắc đã lăn ra ngủ như chết. Tôi nã một phát tiểu liên – không có kết quả. Tôi cần phải làm một điều gì đó, nếu không đơn giản là tôi sẽ bị lạnh cóng cho tới chết. Đôi chân tôi không thể đứng vững được nữa. Tôi đóng kín cửa chiếc tăng lại và bắt đầu mò mẫm qua lớp tuyết dày trên thảo nguyên để tới chỗ mấy căn nhà. Tôi chật vật đánh thức tay trung uý, anh ta đang ngủ trên đống rơm, và cho anh ta biết về sự tồi tệ khi để cho tình thế diễn ra như vậy... Rylin, chật vật lắm mới hiểu được chuyện gì đã xảy ra, bò dậy từ chiếc giường ấm áp của mình và bước ra ngoài với khẩu tiểu liên. Tôi ngã vật xuống ngay chỗ của anh ta mà không cần suy nghĩ và ngủ như chết ngay lập tức.
Rylin đứng trong giá lạnh được một chốc – và rồi đã phá vỡ lời thề khi nhập ngũ của mình...
Chúng tôi bước ra khỏi căn nhà khi trời vừa hừng sáng, miệng lầm bầm nguyền rủa Vereschagin vì đã ngủ quên mất phiên trực của mình. Nhìn lại trên đường - chiếc xe tăng đã biến mất. Nó không có ở đó. Bị lấy mất rồi. Cũng không thấy cả Rylin. Chúng tôi tìm thấy hắn ta trong căn nhà kế bên nơi hắn đang ngủ ngon lành, tay ôm đang lấy khẩu tiểu liên. Khi chúng tôi giải thích tình hình cho hắn, hắn vội chạy ra ngoài như thể muốn chua xót đi kiểm tra lại. Sau khi tận mắt nhìn thấy điều gì đã xảy ra, hắn tuyên bố rằng thật ra đêm qua, ngay sau khi hắn tới nơi chiếc xe và nhận ra cái mà hắn phải canh gác đã biến mất, hắn đã quay trở lại và đi ngủ. Để trả lời cho câu hỏi rất hợp lý rằng tại sao hắn không đánh thức chúng tôi dậy và tại sao hắn lại đi ngủ trong một căn nhà khác, hắn ta trả lời rằng hắn đã không muốn quấy rầy chúng tôi...
Câu chuyện này, mặc dầu thật vô cùng phi lý, hoàn toàn có thể cứu hắn thoát cái tội trạng mà thực ra không phải là nhỏ. Đấy là lý do vì sao hắn lại đang đàng hoàng đứng trên mặt đất mà dối trá không chút xấu hổ, mắt nhìn thẳng vào cả ba người chúng tôi. Do lập luận của chúng tôi chẳng có gì hợp lý hơn để bẻ lại câu chuyện dối trá của hắn, tôi, kẻ đã tự động rời bỏ vị trí gác, hóa ra lại chính là vật hy sinh. Đồng thời người chỉ huy là trung uý Kuts, người luôn phải chịu trách nhiệm cho tất cả, cũng vậy.
Và thế là chúng tôi bắt đầu thất thểu trên con đường thênh thang vùng Kuban, dẫm trên những vết rãnh bánh xe đóng băng, lòng tràn ngập cảm giác bất hạnh và kiệt quệ. Sau khi đi bộ khoảng mười cây số trong cái im lặng như tờ, chúng tôi tới được ngoại vi một khu làng Côdắc khá lớn, tại đó chúng tôi nhận ra vệt xích chiếc xe tăng rủi ro của mình. Hóa ra đám kỹ thuật viên khôn ngoan kia đã tới đây hồi đêm và tìm thấy chiếc xe tăng không được canh gác. Họ mở khóa cửa chiếc xe bằng chìa khóa riêng của mình rồi kéo nó đi. Tất nhiên, họ trông thấy khu trại và hiểu rằng tổ lái đang ở đâu, nhưng đã quyết định đùa một chút cho vui...
Trò đùa đó, cộng với việc khăng khăng dối trá của người bạn và đồng đội của chúng tôi, Rylin, đã bắt chúng tôi trả giá khá đắt. Binh đoàn trưởng, do tất cả tội lỗi của chúng tôi, đã ra lệnh đưa trung uý Kuts và tôi ra trước tòa án binh và xử với hình thức nghiêm khắc nhất của luật thời chiến. Quyết định này được đưa ra chỉ sau một cuộc thảo luận ngắn.
Đó là một câu chuyện không vui vẻ gì, sau sự việc này tôi không bao giờ quay trở lại quân chủng xe tăng lần nữa. Mặc dù tôi đã thoát khỏi tai nạn này mà toàn mạng.
Ví dụ trên cho thấy sức sáng tạo vô bờ mà Số mệnh dựng nên khi Bà muốn chuyển một con người được Bà nâng đỡ sang một quân chủng khác. Còn ai nữa ngoại trừ chính Số mệnh có thể tạo ra một loạt những tai nạn kỳ lạ như vậy nhằm thực hiện được mục đích đó?
Cũng cần kể thêm rằng nhiều năm sau chiến tranh tôi đã cố gắng để tìm ra số phận của những thành viên còn lại của tổ lái. Nhưng Cục lưu trữ về khu vực Trung Á của Bộ Quốc phòng không giữ những thông tin như thế trong kho của họ. Những con người đó đã tan biến trong quá khứ mà không để lại một vết tích, và chỉ còn bóng dáng của họ lang thang trong mớ ký ức lộn xộn của tôi...
Thêm một điều nữa, Rylin hẳn đã chủ ý thí mạng tôi, hắn hoàn toàn biết thừa rằng như thế là hại tôi. Nhưng chẳng phải hắn cũng chỉ là một công cụ mù quáng của Số mệnh, người đang bảo vệ cho tôi, đấy sao? Mọi chuyện xảy ra đều tuyệt đối khắng khít với nhau trong cái thế giới xảo trá này.
Dịch từ Nga sang Anh: Oleg Sheremet
Dịch từ Anh sang Việt: Lý Thế Dân
Những người sống sót trở về từ chiến tranh thưởng trở nên mê tín hoặc tin vào định mệnh, cố gắng tìm kiếm niềm tin nơi Đức Chúa. Không nơi nào mà bàn tay của Định Mệnh lại xuất hiện rành rành đến vậy, không thể thay đổi và không tài nào tránh khỏi, như trong chiến tranh. Tôi đã có kinh nghiệm bản thân về điều này, và không chỉ là một lần.
Mùa đông những năm 1942-43 binh đoàn tăng nơi tôi có vinh dự được phục vụ đã phải chịu tổn thất rất lớn trong trận đánh tại Mozdok. Tôi đã không phải chịu làm một trong những người hy sinh tại đó do một trường hợp đặc biệt sau đây. Số mệnh, như đã thấy trước được diễn tiến của sự kiện nọ, theo như tôi hiểu, đã có một quyết định cứng rắn ngay lập tức đúng thời điểm đó để chuyển tôi từ vị trí cũ làm thợ lái tăng thành sang một vị trí khác, ít nguy hiểm tính mạng hơn. Bằng một giá không thể tưởng tượng ra nổi. Bà mụ Số mệnh lúc đầu đã không thành công lắm, nhưng Bà hành xử thật cương quyết và bển bỉ để đạt tới mục đích đã đặt ra.
Vào một ngày đông ảm đạm một đoàn xe tăng, trong đó có chiếc T-34 của chúng tôi, kéo vào khu làng Côdắc Levokumskaya sau một chặng dài hành quân. Quân Đức đang rút lui đã cho nổ tung chiếc cầu bắc qua sông Kuma đằng sau lưng chúng, và một kết cấu gỗ bắc ngang thay thế do những kỹ sư công binh làm từ bất cứ thứ gì họ có thể tìm ra xuất hiện trước chúng tôi vừa kịp lúc chúng tôi tiến được tới bờ sông. Sau khi liếc nhìn nó đầy ngờ vực, tiểu đoàn trưởng của tôi hỏi người kỹ sư công binh:
"Xe tăng có thể băng qua cái thứ này được không? Loại hai mươi lăm tấn?”
"Hoàn toàn có thể tin tưởng!" người kỹ sư đáp. "Được bàn tay của một đơn vị Cận vệ làm mà! Nhưng chỉ được đi từng chiếc một lần thôi.”
Chiếc tăng đầu tiên lăn chậm rãi và cẩn trọng qua những tấm ván lát tạm. Chiếc thứ hai tiến vào chỗ vượt sông cũng rất cẩn thận, từ từ chuyển hướng khỏi lối đi, lăn lên giữa cầu, và đột nhiên, ngay trước mắt mọi người, nó bắt đầu di chuyển không phải băng ngang qua mà là đi dọc dòng sông, và rồi nhào xuống giòng nước cùng với cây cầu, chỉ còn ló có mỗi mấy cái bánh xích khỏi mặt nước. Tổ lái được lôi ngay khỏi mặt nước đóng băng không phải là không có một chút trở ngại. Chúng tôi đã phải nhào xuống mới kéo được người lái lên. Tăng của tôi là chiếc thứ ba, kế tiếp. (Hồi ức của Alexandr Bodnar’ cũng có một đoạn tương tự số phận những người lính lái chiếc tăng bị rơi xuống sông này – LTD).
Sau một hồi nổi xung thiên thịnh nộ với đám kỹ sư, thậm chí còn dọa lôi ra xử bắn, tiểu đoàn trưởng tìm được một người địa phương đã luống tuổi để ông ta chỉ cho một chỗ nước cạn. Sau khi nhét được ông già vào trong chiếc Willy của mình, và sau khi đã giải thích cho tôi về trách nhiệm phải làm người lái chiếc xe dẫn đầu, viên tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho chúng tôi lên đường đi theo ông ta.
"Đừng chạy quá nhanh, nhưng cũng đừng có tụt lại phía sau” ông ta nói. "Nếu có chuyện gì trục trặc, tôi sẽ ra hiệu cho anh bằng đèn pin.”
Và thế là chúng tôi khởi hành trên con đường đất dọc bờ sông. Trong khi đó, bóng tối đã hoàn toàn bao phủ khung cảnh. Chúng tôi đã không còn một chiếc đèn pha nào ngay từ sau trận đánh đầu tiên, và thậm chí nếu chúng tôi có thì chúng tôi cũng không thể sử dụng do sợ bị máy bay địch phát hiện. Do đó tôi chỉ còn biết chạy theo ánh đèn xanh lè nhảy nhót liên tục của chiếc xe jeep chỉ huy trong bóng đêm, được phụ thêm bởi ánh trăng lờ mờ đang lúc lộ lúc khuất sau bóng mây, mắt không hề thấy rõ con đường đang chạy. Đoàn xe chạy nối đuôi sau xe tôi.
Chúng tôi cứ chạy theo kiểu ấy thêm khoảng mười cây số nữa. Như sau này mới biết, ông tiểu đoàn trưởng đã không chú ý tới một cây cầu khuất bé bắc qua một cái khe cạn và lái thẳng qua nó mà không hề chạy chậm lại hoặc kịp ra tín hiệu. Vì thế chiếc tăng của tôi đã phóng hết tốc lực vào cây cầu với tất cả sức nặng nhiều tấn của nó. Cây cầu không do dự, đổ sập ngay lập tức. Chiếc tăng đập mặt giáp thép phía trước xuống sườn khe, lật úp chổng hết xích lên trời rồi trượt xuống tận đáy khe.
Choáng váng vì va đập, tôi nhận ra mình đang bị vùi dưới một đống đạn 76mm vừa rơi khỏi thùng chứa, cùng với những băng đạn súng máy, các dụng cụ, phụ tùng dự trữ, thức ăn chiến lợi phẩm, một cái cưa, một chiếc rìu và vô số vật dụng khác trong xe tăng. Axít trong bộ ắcquy bị lật tuôn ra phùn phụt thành tia. Tất cả được soi sáng dưới thứ ánh sáng mang điềm gở phát ra do các vật dụng va chạm nhau. Tôi thì không sao, nhưng khắp người bị bầm dập. Suy nghĩ đầu tiên hiện trong đầu là: tôi đã nghiền nát mất tổ lái rồi... Lý do là trong khi hành quân tổ lái thường không ngồi trong xe, mà là ngồi phía trên bộ phận hộp số - một điểm rất ấm áp nằm ngoài phía sau tháp pháo – và phủ vải bạt lên người. Nhưng hóa ra là tất cả bọn họ vẫn còn sống - họ chỉ bị ném văng ra đất khi chiếc xe tăng lật nhào, như thề được bắn ra từ chiếc máy bắn đá. Giờ đây người xa trưởng, trung uý Kuts, đang la hét vọng tới từ bên ngoài:
"Aria! Cậu còn sống chứ?"
"Dường như thế," tôi đáp. "Những người khác có sao không?"
Và tôi trườn ra ngoài qua cái cửa nắp ở dưới (mà giờ đã là ở phía trên) rồi quan sát xung quanh. Quanh cảnh thật vô cùng ấn tượng. Chiếc tăng đang nằm trên tháp pháo của mình với toàn bộ xích xe chổng lên trời. Cái nòng pháo chọc thẳng xuống dưới đất. Chưa lần nào trong suốt cuộc chiến tranh tôi được trông thấy cảnh một chiếc xe tăng trong tư thế bất tự nhiên như thế này. Chúng tôi cùng lặng yên đứng nhìn Người Bạn chiến đấu đã ngã xuống của mình.
Tiểu đoàn trưởng xuất hiện ngay lập tức, tựa như một con quỷ vụt chui ra khỏi chiếc hộp. Ông ta giảng giải cho tôi một hồi theo đúng kiểu Nga la tư mọi thứ ông ta đang nghĩ về tôi, rồi hạ lệnh:
"Tôi để lại đây cho anh một chiếc xe để kéo anh lên. Anh phải kéo chiếc xe dậy, sắp đặt tất cả trở lại trật tự rồi có mặt kịp cùng chúng tôi vào sáng mai. Nếu không làm được – Tôi sẽ xử bắn anh!”
Chúng tôi không mất thời giờ để giải thích những gì chúng tôi đang nghĩ về ông ta mà lập tức bắt tay vào việc. Chúng tôi mất suốt đêm để đào một lối ra khỏi cái khe, dùng chiếc tăng kéo để trước tiên là lật ngang chiếc tăng của mình lại, rồi lật tiếp cho nó đứng đàng hoàng trên hai hàng xích – cùng một chuỗi tiếng động rầm rầm khủng khiếp, rợn hồn phát ra từ mọi bộ phận trên xe mỗi lần chúng tôi nỗ lực để lật nó lại. Rồi chúng tôi tháo gỡ tất cả đống sắt vụn bên trong rồi cố gắng khởi động nó bằng bộ khởi động khẩn cấp, dùng hơi nén. Và chiếc xe tăng, loại tăng tốt nhất của Thế chiến thứ 2, đã bắt đầu nổ máy ngay sau khi vừa trải qua cái tai nạn ghê gớm nhường ấy!
Chúng tôi chỉ còn lại một giờ đồng hồ để nghỉ ngơi và ăn uống. V à rồi chúng tôi tiếp tục lên đường khi bình minh vừa ló dạng. Nỗ lực đầu tiên của Số mệnh nhằm lôi tôi ra khỏi quân chủng xe tăng đã hoàn toàn thất bại...
Chúng tôi tăng tốc và vượt qua thành công con sông tại đúng vị trí đã định sẵn, rồi bắt kịp đoàn quân của mình vào giữa ngày, báo cáo tất cả lên tiểu đoàn trưởng và nhập vào trong đội hình. Tất cả bốn người chúng tôi đều đã sức cùng lực kiệt, nhưng trong đó tôi là người mệt nhất. Tôi chìm dần vào cơn ngủ không thể cưỡng lại được trên chiếc ghế lái của mình và mơ thấy chiếc xe tăng ẩn hiện trước mắt. Điều đó thật nguy hiểm hết sức. Trung uý, khi nhận ra tình trạng của tôi, ráng ở lại trong xe, cố gắng khích lệ, đá vào lưng tôi từ trên chiếc ghế của anh gắn trong tháp pháo (trong xe T-34, chỗ của xa trưởng nằm trong tháp pháo nhưng bố trí phía trên chỗ của người lái nằm hơi thụt xuống thân xe – LTD) hết lần này đến lần khác. Không còn ai khác có thể thay thế cho tôi. Xa trưởng lấy lý do là kiến thức thực tiễn về lái xe qua khóa huấn luyện thời chiến của mình quá ít ỏi, còn pháo thủ Kolia Rylin và người điện đài viên kiêm xạ thủ súng máy Vereschagin thì hoàn toàn không được học chút gì về lái xe. Khả năng thay thế của các thành viên tổ lái còn lại là hoàn toàn không có - thế là họ cứ tiếp tục nằm dài trên chỗ ấm áp của bộ phận động cơ. Trong khi đó tôi đang phải một mình chịu đựng với mức độ căng thẳng tột cùng, trên hết là phải lãnh nhận luồng khí lạnh rát như băng bị hút mạnh từ bộ quạt thông gió đang gầm rú đằng sau lưng tôi, phụt thẳng vào ngực.
Ngay trong chặng nghỉ chân đầu tiên, sau khi ăn xong món kasha (cháo lúa mạch – LTD) với xuất Lend-Lease tushonka (thịt hộp Mỹ viện trợ - LTD), chúng tôi phát hiện ra có một chỗ rò rỉ dầu ở động cơ xe. Cú lộn nhào xuống đáy khe cạn không phải là không có hậu quả. Chúng tôi xác định rằng vết rò không đáng kể và tiếp tục lên đường sau khi đã quấn chặt vết nứt bằng nhiều lớp băng vải rồi lấy dây buộc lại.
Sau khi đi thêm được năm mươi cây số thì có chuyện gì đó xảy ra: sau một chặng dừng ngắn máy xe không chịu nổ nữa. Không, chỉ là không khởi động được mà thôi. Chúng tôi đi tìm người kỹ thuật viên. Anh ta bò vào trong một lát để cố xem xét động cơ bằng một cái xà beng rồi tuyên bố:
"Chỉ có một thằng đần độn mới nghĩ cái thứ băng garô như vậy là đủ để giữ cho dầu khỏi chảy ra! Nó chảy hết tiệt ra rồi! Động cơ của các cậu bị nghẹt rồi...”
"Chúng tôi phải làm gì bây giờ?" trung uý hỏi.
"Binh đoàn trưởng sẽ quyết định xem các anh sẽ phải làm gì. Nhưng xe tăng không thể đem ra sửa ngoài đồng trống được, cần phải thay cái động cơ, chúng tôi cần các dụng cụ cần thiết để làm chuyện đó. Bây giờ thì ngồi chờ đây đã, tôi sẽ đi báo cáo chuyện này, sáng mai chúng tôi sẽ gửi xe tới kéo các anh đi."
Đoàn quân lên đường và để chúng tôi lại một mình. Bão tuyết quay cuồng trên thảo nguyên trần trụi phủ đầy tuyết. Không một bóng cây, không một bụi rậm, chỉ thấy xa xa trên đường vài mái nhà thấp lè tè - một khu trại ven đường.
Không thể ngồi lại bên trong chiếc xe tăng đang đóng băng. Chúng tôi cố dựng tạm một thứ từa tựa túp lều bằng cách quàng tấm vải bạt qua nòng khẩu pháo. Chúng tôi đốt lên bên trong đó một xô dầu xăng để cố sưởi ấm và ăn chút gì đó. Vài giờ sau tất cả đều không thể nhận ra nhau vì đã nhuộm đầy muội bồ hóng.
"Thế này," trung uý thốt lên, "chúng ta không thể ngồi đến chết ở đây được... Hãy ra nghỉ đêm ở ngoài kia thôi," anh ta hất tay về phía mấy căn nhà ngoài xa. "Ở đấy có một ống khói, nghĩa là có lò sưởi. Có lẽ lại còn cả ít rơm sót lại nữa. Chúng ta sẽ để lại một người gác chiếc xe này. Cậu cũng cần phải ngủ một chút (anh ta hất đầu về phía tôi). Do đó cậu sẽ là người trực trước đúng một tiếng rưỡi đồng hồ - kế đó tôi sẽ phái người khác đến thay. Nhưng bù lại sau đó cậu sẽ được ngủ trọn giấc.”
Thế là tôi ở lại với chiếc xe tăng cùng một khẩu tiểu liên đeo trên vai. Thời gian từ từ trôi qua trong bóng đêm. Bước tới bước lui. Bước tới bước lui. Tôi không thể dựa lưng vào chiếc xe – mí mắt tôi luôn chỉ chực sụp xuống. Nhưng sau một tiếng rưỡi người thay thế vẫn không thấy tới, thậm chí sau cả hai tiếng đồng hồ. Quỵ xuống vì kiệt sức, bọn họ chắc đã lăn ra ngủ như chết. Tôi nã một phát tiểu liên – không có kết quả. Tôi cần phải làm một điều gì đó, nếu không đơn giản là tôi sẽ bị lạnh cóng cho tới chết. Đôi chân tôi không thể đứng vững được nữa. Tôi đóng kín cửa chiếc tăng lại và bắt đầu mò mẫm qua lớp tuyết dày trên thảo nguyên để tới chỗ mấy căn nhà. Tôi chật vật đánh thức tay trung uý, anh ta đang ngủ trên đống rơm, và cho anh ta biết về sự tồi tệ khi để cho tình thế diễn ra như vậy... Rylin, chật vật lắm mới hiểu được chuyện gì đã xảy ra, bò dậy từ chiếc giường ấm áp của mình và bước ra ngoài với khẩu tiểu liên. Tôi ngã vật xuống ngay chỗ của anh ta mà không cần suy nghĩ và ngủ như chết ngay lập tức.
Rylin đứng trong giá lạnh được một chốc – và rồi đã phá vỡ lời thề khi nhập ngũ của mình...
Chúng tôi bước ra khỏi căn nhà khi trời vừa hừng sáng, miệng lầm bầm nguyền rủa Vereschagin vì đã ngủ quên mất phiên trực của mình. Nhìn lại trên đường - chiếc xe tăng đã biến mất. Nó không có ở đó. Bị lấy mất rồi. Cũng không thấy cả Rylin. Chúng tôi tìm thấy hắn ta trong căn nhà kế bên nơi hắn đang ngủ ngon lành, tay ôm đang lấy khẩu tiểu liên. Khi chúng tôi giải thích tình hình cho hắn, hắn vội chạy ra ngoài như thể muốn chua xót đi kiểm tra lại. Sau khi tận mắt nhìn thấy điều gì đã xảy ra, hắn tuyên bố rằng thật ra đêm qua, ngay sau khi hắn tới nơi chiếc xe và nhận ra cái mà hắn phải canh gác đã biến mất, hắn đã quay trở lại và đi ngủ. Để trả lời cho câu hỏi rất hợp lý rằng tại sao hắn không đánh thức chúng tôi dậy và tại sao hắn lại đi ngủ trong một căn nhà khác, hắn ta trả lời rằng hắn đã không muốn quấy rầy chúng tôi...
Câu chuyện này, mặc dầu thật vô cùng phi lý, hoàn toàn có thể cứu hắn thoát cái tội trạng mà thực ra không phải là nhỏ. Đấy là lý do vì sao hắn lại đang đàng hoàng đứng trên mặt đất mà dối trá không chút xấu hổ, mắt nhìn thẳng vào cả ba người chúng tôi. Do lập luận của chúng tôi chẳng có gì hợp lý hơn để bẻ lại câu chuyện dối trá của hắn, tôi, kẻ đã tự động rời bỏ vị trí gác, hóa ra lại chính là vật hy sinh. Đồng thời người chỉ huy là trung uý Kuts, người luôn phải chịu trách nhiệm cho tất cả, cũng vậy.
Và thế là chúng tôi bắt đầu thất thểu trên con đường thênh thang vùng Kuban, dẫm trên những vết rãnh bánh xe đóng băng, lòng tràn ngập cảm giác bất hạnh và kiệt quệ. Sau khi đi bộ khoảng mười cây số trong cái im lặng như tờ, chúng tôi tới được ngoại vi một khu làng Côdắc khá lớn, tại đó chúng tôi nhận ra vệt xích chiếc xe tăng rủi ro của mình. Hóa ra đám kỹ thuật viên khôn ngoan kia đã tới đây hồi đêm và tìm thấy chiếc xe tăng không được canh gác. Họ mở khóa cửa chiếc xe bằng chìa khóa riêng của mình rồi kéo nó đi. Tất nhiên, họ trông thấy khu trại và hiểu rằng tổ lái đang ở đâu, nhưng đã quyết định đùa một chút cho vui...
Trò đùa đó, cộng với việc khăng khăng dối trá của người bạn và đồng đội của chúng tôi, Rylin, đã bắt chúng tôi trả giá khá đắt. Binh đoàn trưởng, do tất cả tội lỗi của chúng tôi, đã ra lệnh đưa trung uý Kuts và tôi ra trước tòa án binh và xử với hình thức nghiêm khắc nhất của luật thời chiến. Quyết định này được đưa ra chỉ sau một cuộc thảo luận ngắn.
Đó là một câu chuyện không vui vẻ gì, sau sự việc này tôi không bao giờ quay trở lại quân chủng xe tăng lần nữa. Mặc dù tôi đã thoát khỏi tai nạn này mà toàn mạng.
Ví dụ trên cho thấy sức sáng tạo vô bờ mà Số mệnh dựng nên khi Bà muốn chuyển một con người được Bà nâng đỡ sang một quân chủng khác. Còn ai nữa ngoại trừ chính Số mệnh có thể tạo ra một loạt những tai nạn kỳ lạ như vậy nhằm thực hiện được mục đích đó?
Cũng cần kể thêm rằng nhiều năm sau chiến tranh tôi đã cố gắng để tìm ra số phận của những thành viên còn lại của tổ lái. Nhưng Cục lưu trữ về khu vực Trung Á của Bộ Quốc phòng không giữ những thông tin như thế trong kho của họ. Những con người đó đã tan biến trong quá khứ mà không để lại một vết tích, và chỉ còn bóng dáng của họ lang thang trong mớ ký ức lộn xộn của tôi...
Thêm một điều nữa, Rylin hẳn đã chủ ý thí mạng tôi, hắn hoàn toàn biết thừa rằng như thế là hại tôi. Nhưng chẳng phải hắn cũng chỉ là một công cụ mù quáng của Số mệnh, người đang bảo vệ cho tôi, đấy sao? Mọi chuyện xảy ra đều tuyệt đối khắng khít với nhau trong cái thế giới xảo trá này.
Dịch từ Nga sang Anh: Oleg Sheremet
Dịch từ Anh sang Việt: Lý Thế Dân