Nhân đã có phong trào làm câu đối, tôi xin giới thiệu tóm tắt về việc đối để các bạn tham khảo.
Một câu đối có 2 phần: câu đề và câu đối. Có thể người này ra đề, người khác đối lại. Mà cũng có thể một người làm cả hai vế.
Một số nguyên tắc phải tuân thủ khi làm câu đối, hay còn gọi là các yêu cầu để một câu đối được coi là chỉnh:
1. Từ đối từ:
- Đối theo chức năng của từ: Danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ...
- Đối theo âm: bằng đối trắc, trắc đối bằng
- Đối theo tính chất từ: tượng thanh đối với tượng thanh, tượng hình đối với tượng hình, số đếm đối với số đếm, thán từ đối với thán từ...
- Từ kép nói lái đối với từ kép nói lái.
2. Ý đối ý:
- Điển tích đối với điển tích. Ví dụ trong câu đầu có Lã Bố thì câu đối phải có Điêu Thuyền, hay chí ít thì cũng là một nhân vật lịch sử như Tây Thi... Câu chuyện lịch sử đối với câu chuyện lịch sử.
- Âm đối với dương, dương đối với âm. Ví dụ Nước đối với Non, Mặt trăng đối với Mặt Trời, Nam đối với nữ, già đối với trẻ, nghèo khổ đối với sung sướng...
- Khen đối với chê. Ví dụ "Khen ai khéo kết đèn cù" thì phải đối lại là "Ghét kẻ dở trèo cột mỡ". Mỉa mai đối với mỉa mai...
Cứ thế suy rộng ra.
3. Không gian, thời gian hay bối cảnh cũng phải đối nhau. Ví dụ "Đêm ba mươi" đối với " Sáng mồng một", "Giữa Hải Phòng em đi dạo phố" đối với "Trên Hà nội chị đứng ven đường"...
4.
Cái quan trọng nhất là cái ý tác giả muốn diễn đạt qua câu đối. Ý hay, sắc sảo, mới lạ, hình ảnh vừa độc đáo vừa gần gũi.
Cuối cùng, cũng giống như mọi tác phẩm thơ văn nên câu đối còn phải thỏa mãn những yêu cầu sáng tạo của thơ văn nữa.
Thế nào là tử đối?
Tử đối là những câu đề không sao có thể đối được. Trong lịch sử văn học Việt nam có câu "Da trắng vỗ bì bạch" là một ví dụ.
"Bì bạch" với tư cách là danh từ thì cũng chính là "Da trắng", nhưng với tư cách trạng từ thì nó là từ tượng thanh chỉ hiệu ứng âm thanh khi ta vỗ vào da. Do đó không thể tìm ra cặp từ Việt - Hán nào mà từ Hán danh từ lại cũng là từ Việt trạng từ!
