“Chân dung nhà văn” của Xuân Sách

36. Nhà thơ/nhà chính trị Xuân Thủy.

Tiếp theo:

41.
Đôi vai thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy một cái hồn của em.

42.
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ màu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.


43.
Chị Tư Hậu đẻ ra anh
Ví như hòn đất nặn thành đứa con
Biển xa gió dập sóng dồn
Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ.

44.
Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bạn cũ chẳng còn ai.

45.
Đã qua đi một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ.


46.
Thơ ông tang tính tang tình
Cây đa bến nước mái đình vườn dâu
Thân ông mấy lượt lấm đầu
Miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm.

47.
Bắt đầu từ lão nghị hụt
Cầm dao giết một mạng người
Chị Nhàn phải đi bước nữa
Lấy đại đội trưởng của tôi
Cuộc đời mấy phen nổi gió
Phải đem tổ quốc thề bồi
Lần này ông ra ứng cử
Chắc là trúng nghị viên thôi.

48.
Ông Năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường Sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm.


49.
Có những lớp người đi vỡ đất
Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô
Lại gieo hạt bông hường bông cúc
Trên mảnh đất này hoa héo khô.

50.
Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.
 
Ủa, mọi người không ai thèm chơi trò Ai là ai nữa à? Có bạn TLV sốt sắng thì đang tự ái :roll: ?
 
41. Xuân Thiều
Đôi vai, Thôn ven đường, Đi xa

42. Nguyễn Thị Như Trang
Màu tím hoa mua, Ánh lửa từ chân sóng, Khoảng sáng trong rừng

43. Bùi Đức Ái (Anh Đức)
Chị Tư Hậu, Một truyện chép ở bệnh viện, Hòn Đất, Đứa con của đất, Biển xa, Giấc mơ ông lão vườn chim

44. Nguyễn Thế Phương
Đi bước nữa

45. Vũ Trọng Phụng
Cơm thầy cơm cô, Giông tố, Số đỏ

46 =?

47. Đào Hồng Cẩm
Đại đội trưởng của tôi, Chị Nhàn, Nổi gió, Tổ quốc, Nghị hụt.

48. Nguyễn Quang Sáng
Ông Năm Hạng, Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng, Cái áo thằng hình rơm

49. Hoàng Văn Bổn
Có những lớp người, Vỡ đất, Mùa mưa, Bông hường bông cúc, Trên mảnh đất này

50. Phù Thăng
Con nuôi trung đoàn, Phá vây
 
Cám ơn bạn Phi Lao nhé.
Riêng chân dung 46 quả là rất khó nhận biết, vì XS hình như chỉ phác thảo chung chung về sự nghiệp văn thơ của nhân vật, còn chủ yếu là nói về con người của ông ta. Quả thực là thơ của ông này tôi cũng không nhớ đã từng đọc hay chưa, nhưng tên thì đã từng nghe: Xuân Thiêm.

Nhân tiện, xin post lên đây bài viết giới thiệu về nhà thơ - chân dung thứ 46 - này:

Chuyện làng văn nghệ: Đại tá - nhà thơ Xuân Thiêm… "ở ẩn"

Trước khi nghỉ hưu ông được nhà nước cấp đất ở Tây Hồ (Hà Nội). Bộ tư lệnh Phòng không xây cho ông một căn hộ khá sang trọng. Vậy mà ông lại về quê ở? Còn căn hộ kia ông tạm để cho người thân quen. Kể cũng lạ…

Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Xuân Thiêm tên thật là Phạm Văn Thiêm (bút danh là Hồ Trương, Chiến Hào). Từ thời học sinh ở trường Đỗ Hữu Vị (Hà Nội) ông đã tham gia hoạt động phong trào yêu nước chống Pháp. Ông sinh năm 1926 ở làng Tả Hà, xã Hùng An, Kim Động, Hưng Yên. Ông tham gia hoạt động trước Cách mạng tháng 8-1945, từng là chủ nhiệm Việt Minh huyện, làm báo Hưng Yên, thành viên ban vận động thành lập Hội Văn nghệ Liên khu 3. Sau đó ông vào quân đội là lính của Đoàn Đồng Bằng (sư 320) rồi chuyển về tạp chí Văn nghệ Quân đội, (1957) ông từng là thư ký tòa soạn, trưởng phòng văn hóa-văn nghệ quân đội, ở cương vị này với "con mắt" của ông đã phát hiện và tạo điều kiện cho nhiều cây bút trẻ quân đội trở thành nhà văn, trong đó có Lê Lựu, Nguyễn Thị Như Trang, Đỗ Chu… Năm 1978, trước khi chuyển ngành với hàm đại tá, ông phụ trách Chánh văn phòng Ủy ban Trung ương, Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam, Phó tổng thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.

Với cương vị ấy, nhà cửa đàng hoàng, đầy đủ tiện nghi, việc đi lại thuận tiện, nhiều bạn chí cốt, các con ông đều có cương vị trong xã hội. Vậy mà lúc nghỉ hưu ông lại về vùng quê hẻo lánh xa Hà Nội hơn 50km, xa thị xã Hưng Yên hơn 15km để vui với tuổi già. Tiếp xúc với ông, tôi mới hiểu ông về quê ở, bằng những việc ông làm, những điều ông nghĩ tất cả cho quê hương, không chỉ cho làng, xã ông, mà cho cả huyện, tỉnh nữa.

Ông nói: "Mình đi làm cách mạng, từ ngày ấy đến nay đã ngót 60 năm, đi biền biệt, làm việc cho đồng đội, cho dân, cho nước nhưng chưa làm được gì cho quê hương, làng xóm của mình. Ở tuổi ngót 80 còn sức khỏe, còn viết được, mình dành công sức cố gắng làm gì có ích cho quê hương để bù lại, dù là việc nhỏ". Phần đời còn lại làm được như thế, ông mới cho là hạnh phúc, niềm vui, trả được ân nghĩa cho nơi chôn rau cắt rốn của mình.

Quả ông đã làm như ông suy nghĩ. Đầu năm 1997, tái lập tỉnh Hưng Yên, ông xin chuyển hộ tịch, hội viên Hội nhà văn Việt Nam về sinh hoạt với Hội Văn nghệ tỉnh, về Đảng tịch, ông sinh hoạt tại địa phương (chi bộ thôn Tả Hà). Ông làm biên tập tạp chí Văn nghệ Phố Hiến tham dự các trại sáng tác văn học. Ông đề xướng và chủ biên, biên tập tập thơ "Gương mặt thơ Phố Hiến" (xuất bản 1999, tập tuyển chọn những bài thơ hay của 10 nhà thơ-Hội viên tiêu biểu của tỉnh. Ở tập này, ngoài viết lời giới thiệu chung, ông còn dành từ 2-3 trang giới thiệu công phu thơ của từng tác giả, chỉ ra những mặt được và chưa được của họ. Thật khách quan, chân thành. Tác phẩm này ông đã được UBND tỉnh Hưng Yên tặng thưởng giải Văn học nghệ thuật Phố Hiến lần thứ nhất. Năm 2002 ông lại bắt tay vào làm tuyển tập "Gương mặt thơ Phố Hiến" (tập 2). Ông cũng đề xuất với lãnh đạo tỉnh thành lập câu lạc bộ thơ Phố Hiến, chi Hội văn nghệ dân gian, mà ông là chi hội trưởng.

Thế vẫn chưa đủ, ông còn dành thời gian ngồi viết lịch sử xã Hùng An (quê ông) và "Hùng An-Văn hóa làng xưa và nay", lịch sử Đảng bộ Kim Động, lịch sử Đảng bộ Hưng Yên. Với những cuốn sách này ông tham gia từng phần, chủ yếu ông viết về thời kỳ trước và sau Cách mạng tháng 8. Ông cũng đã hoàn thành cuốn hồi ký về phong trào hoạt động yêu nước trường Đỗ Hữu Vị, có sự đóng góp của bạn đồng niên. Những cuốn lịch sử trên, ông trực tiếp viết hoặc chấp bút, bởi ông là người trong cuộc…

Nhà thơ Xuân Thiêm còn là hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, hiện nay ông mới hoàn thành cuốn "Các làng nghề truyền thống ở Hưng Yên" và "Chuyện danh nhân xưa và nay" ở vùng quê ông.
Chưa kể sách in chung, ông đã xuất bản hàng chục đầu sách, chủ yếu là chuyện thơ. Trong đó có "Cô gái Bãi Bồi" viết về Anh hùng lao động thủy lợi Phạm Thị Vách, người anh hùng thủy lợi.

Năm 1999 nhà xuất bản Quân đội nhân dân in bao cấp tập "Giữa khoảng trời mây bông" của ông-Đó là món quà của anh em văn nghệ sĩ quân đội, tặng ông trước khi ông bước vào tuổi 75.

Yêu quê hương, về với quê hương chưa phải vì cái thú điền viên, để thưởng không khí của một miền quê yên tĩnh. Thật tâm ông về "chốt" ở quê là vì công việc, vì món nợ tinh thần. Vậy thôi!

Có được một nhà thơ như Xuân Thiêm thật hiếm và cái làng Tả Hà (làng ông ở cạnh sông Hồng) có ông về "ở ẩn" thật vui!

Lê Hồng Thiện
 
51.
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay.

52.
Sớm nay nhấp một chén trà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là núi đôi
Những người cùng làng với tôi
Muốn sang đèo trúc muộn rồi, đừng sang.

53.
Biên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi
Mẫn và tôi tính chi li
Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh.

54.
Anh chẳng còn sống mãi
Với thủ đô luỹ hoa
Để những người còn lại
Bốn năm sau khóc oà.

55.
Chim chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng nháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài.

56.
Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ An khô cằn
Bao nhiêu năm nằm vạ
Trước cửa hội nhà văn.

57.
Đem than từ vùng mỏ
Về bán tận thủ đô
Bị đập chiếc cán búa
Hoá ra thằng ngẩn ngơ.

58.
Tưởng anh dọn về làng xưa
Ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà
Sướng cái bụng lắm lắm à
Đêm là đèo gió, ngày là Hồ Tây.

59.
Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt
Mở ra dòng thơ mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi.

60.
Cửa sông cất tiếng chào đời
Rồi ra đi những vùng trời khác nhau
Dấu chân người lính in mau
Qua miền cháy với cỏ lau bời bời
Đọc lời ai điếu một thời
Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu?
 
nào thì hưởg ứng câu đố của bác NA
51- NTN Tú
52- Vũ Cao- Núi đôi
53- Phan Tứ- Bên kia biên giới, Mẫn và tôi, Gia đình má Bảy
54-N. Huy Tưởng- Lũy hoa
55- Thu Bồn- dưới đám mây màu cánh vạc, Bài ca chim Chơ rao, Ba zan khát ( ngoai ra còn có ý đùa Thu Bồn yêu rât nhiều: "tình như chớp trắng nháy liên hồi"
56- Bùi Hiển- Nằm vạ
57- Võ Huy Tâm- Vùng mỏ
59- Thế Lữ -Nhớ rừng
60- N.Minh Châu- Cửa sông, Dấu chân người lính,Miền cháy, Cỏ lau,Phiên chợ Giát
 
Hihi, ủng hộ bác Nguyên Anh một tý - em bổ sung chút cho câu trả lời của chị Nheva nhé

53. Phan Tứ còn có tác phẩm Trước giờ nổ súng nữa
54. Nguyễn Huy Tưởng có Sống mãi với thủ đô, Những người ở lại, Bốn năm sau

57. Võ Huy Tâm có truyện Chiếc cán búa nữa
58. Nông Quốc Chấn - bài Dọn về làng
59. Tiếng sáo thiên thai
 
Tiếp nhé:

61.
Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô
Liệu Hạng Võ có lên ngôi hoàng đế?
Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu Cơ
Đời còn gì, và thơ cũng thế.

62.
“Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi”
Nay tôi yêu quê hương vì có ô che nắng
Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui.

63.
Nhen lên một bếp lửa
Mong soi gương mặt người
Bỗng cơn giông nổi dậy
Mây che một khung trời

Đất sau mưa hỡi đất
Màu mỡ trôi về đâu
Còn trơ chiếc guốc võng
Trăng mài mòn canh thâu.

64.
Một chút hương thơm trải bốn mùa
Mười năm lăn lóc chốn rừng già
Quay về khứng chịu cơn mưa móc
Đất trắng mưa rồi đất lại khô.

65.
Xưa thơ anh viết không người hiểu
“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.

66.
Người đi, ừ nhỉ người đi thật
Đi thật nhưng người lại trở về
Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu
Mà đắm hồn người trong tái tê.

67.
Không có vua thì làm sao có tướng
Nên về hưu vẫn phải chết ở chiến trường
Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc
Để vàng tôi trong lửa chịu đau thương.

68.
Hồn đã vượt Côn đảo
Thân xác còn trong lao
Bởi nghe lời mẹ dăn
Nên suốt đời lao đao.

69.
Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta

Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việc Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường hoa ở đây.

70.
Tay em cầm bông bần li
Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng
Chuyện tình kể trước rạng đông
Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ
Thiên đường thì quá mù mờ
Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma
Hành trình thơ ấu đã qua
Hỡi người hàng xóm còn ta với mình.
 
53. Đúng như Nina viết Phan Tứ còn có trước giờ nổ súng nữa, nhưng khi viết tác phẩm này ông ký bút danh Lê Khâm.
Xin đoán tiếp:
61.Chịu.Đây là ai nhỉ?
62.Giang Nam
63.Bằng Việt
64.Nguyễn Trọng Oánh
65.Xuân Sanh
66.Thâm Tâm
67.Nguyễn Huy Thiệp
68.Phùng Quán
69.Tố Hữu (bài này viết đau quá!)
70.Dương Thu Hương
 
hungmgmi nói:
53. Đúng như Nina viết Phan Tứ còn có trước giờ nổ súng nữa, nhưng khi viết tác phẩm này ông ký bút danh Lê Khâm.
Xin đoán tiếp:
61.Chịu.Đây là ai nhỉ?


[color=darkblue:cde0a5401a]61. Phạm Huy Thông[/color]
 
hungmgmi nói:
69.Tố Hữu (bài này viết đau quá!)
Thế cái này lại "xoa" quá chăng?

Từ ấy người đi làm cách mạng
Vần thơ ánh đỏ những hào quang
Việt Bắc mãi ngời qua năm tháng
Người về, để lại nhớ mênh mang...

Gió lộng trong lòng bao lứa đôi
Ngày bắc đêm Nam cảnh chia phôi
Vững tin son sắt ngày ra trận
Máu biến thành hoa nở thắm môi.

Từ ấy người đi Theo chân Bác
Ấm áp tiếng thơ để lại đời
Còn vẳng đâu đây như tiếng nấc:
“Bác đã đi rồi sao Bác ơi?”

N.H.
(SGGP chủ nhật, tuyển tập "Tố Hữu sống mãi trong lòng nhân dân & đất nước")
 
Eve nói:
15.
Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan.

Theo Eve thì bài chân dung này mới là đau nhất. Nghe nói trước khi ra đi, HT vẫn còn ngậm ngùi nhắc đến bài này và mong được sửa 1 chữ trong câu thơ thứ 2: "lại" thành "phải".
 
hungmgmi nói:
53. Đúng như Nina viết Phan Tứ còn có trước giờ nổ súng nữa, nhưng khi viết tác phẩm này ông ký bút danh Lê Khâm.
Xin đoán tiếp:
61.Chịu.Đây là ai nhỉ?
62.Giang Nam
63.Bằng Việt
64.Nguyễn Trọng Oánh
65.Xuân Sanh
66.Thâm Tâm
67.Nguyễn Huy Thiệp
68.Phùng Quán
69.Tố Hữu (bài này viết đau quá!)
70.Dương Thu Hương
65.
Xưa thơ anh viết không người hiểu
“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.
Em xin lỗi bác hungmgmi vì muốn sửa trong phần đáp án một chi tiết này (mong bác mở lượng hải hà mà đại xá cho em hai chữ “phạm thượng”).
Nhà thơ bác đoán là Xuân Sanh ở đoạn 65.
Xưa thơ anh viết không người hiểu
“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.
Thực ra đây là nhà thơ Đoàn Phú Tứ. Nhà thơ họ Đoàn này thuộc nhóm Xuân thu nhã tập cùng với cả Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Lương Ngọc..., mở ra một “trường phái” thơ mới hơn cả thơ mới (có người gọi là thơ... tắc tị). “Câu thơ, bài thơ chủ yếu dùng cách đảo câu, đảo chữ; triết lý không rõ ràng, không gắn với truyền thống văn hóa dân tộc, vì vậy mà thành đạt ít” (nhà thơ Huy Cận nhận xét như vậy). Ông Đoàn Phú Tứ có duy nhất một bài thơ được đưa vào “Thi nhân Việt Nam” là bài “Màu thời gian”, chắc ai cũng thuộc.
Câu thơ “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” trích trong bài “Buồn xưa”:
Buồn Xưa

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y
Rượu hát bầu vàng cung ướp hương
Ngón hường say tóc nhạc tràm mi
Lẳng xuân,
Bờ giũ trái xuân sa
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm
Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa.
…..
Ngọc quế buồn nào gội tó xưa
Hồn xa chĩu sách nhánh say sưa
Hiến dâng
Hiến dâng quả bồng hường
Hoàng tử nghiêng hồn vây tóc mưa,
Đường tràn xây trái buổi du dương
Thời gian ơi lướt hận chìm tường
Nguồn buồn lạnh lẽo thoát cung hơi
Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương.

Còn nhà thơ đoạn 61 thì theo tìm hiểu một số nhà nghiên cứu là lấy cảm hứng từ một tác giả Trung Quốc nên các bác không tìm ra được là đúng rồi.
 
Nhina nói:
Em xin lỗi bác hungmgmi vì muốn sửa trong phần đáp án một chi tiết này (mong bác mở lượng hải hà mà đại xá cho em hai chữ “phạm thượng”).
Nhà thơ bác đoán là Xuân Sanh ở đoạn 65.
Xưa thơ anh viết không người hiểu
“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.
Thực ra đây là nhà thơ Đoàn Phú Tứ. Nhà thơ họ Đoàn này thuộc nhóm Xuân thu nhã tập cùng với cả Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Lương Ngọc..., mở ra một “trường phái” thơ mới hơn cả thơ mới (có người gọi là thơ... tắc tị). “Câu thơ, bài thơ chủ yếu dùng cách đảo câu, đảo chữ; triết lý không rõ ràng, không gắn với truyền thống văn hóa dân tộc, vì vậy mà thành đạt ít” (nhà thơ Huy Cận nhận xét như vậy). Ông Đoàn Phú Tứ có duy nhất một bài thơ được đưa vào “Thi nhân Việt Nam” là bài “Màu thời gian”, chắc ai cũng thuộc.
Câu thơ “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” trích trong bài “Buồn xưa”:
Bài Buồn xưa là của Nguyễn Xuân Sanh, Nhina ạ. Tất cả các nguồn đều nói thế :roll: . Chùm thơ Nguyễn Xuân Sanh cũng có bài này. Và trong một bài viết của nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái cũng có chỗ nói lên điều đó:

Thời gian còn được mô tả bốn mùa nhịp nhàng đan dệt bởi những sợi tơ-trời-tinh-tế như có phấn, có hương, có nhụy trong thơ Đoàn Phú Tứ: Hương thời gian thanh thanh/ Màu thời gian tím ngắt. Không chịu thua, [color=red:8ee3e6d024]Nguyễn Xuân Sanh kỳ bí hơn, song vẫn thật là lộng lẫy: Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà.[/color]

(NGUYỄN THỊ MINH THÁI - Báo Thể thao và Văn hóa)
 
65.
Xưa thơ anh viết không người hiểu
“Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.

Nhina, cô bạn có nick giống mình thân mến, bác hungmgmi nói đến nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Đúng là Nguyễn Xuân Sanh và Đoàn Phú Tứ đều cùng ở trong nhóm Xuân Thu nhã tập, mà trước 1945 cùng viết những câu thơ ... kín mít hay hũ nút gì đó, đố mà hiểu. Câu “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà" của Nguyễn Xuân Sanh là một ví dụ. Bài "Buồn xưa" là của Nguyễn Xuân Sanh chứ nhỉ?

Còn câu 61 bác TLV nói là Phạm Huy Thông thì đúng quá rồi - mấy câu của Xuân Sách là gợi cảm hứng từ bài "Tiếng địch sông Ô" của Phạm Huy Thông.

Huy Thông

Tiếng địch sông Ô


Sở Bá Vương ngồi yên trên mình ngựa,
Giương mắt buồn say ngắm chân trời xa.

Trong sương thu nhẹ đượm ánh dương tà,
Quân Lưu Bang đang tưng bừng hạ trại.
Khói tung bay trên vòm trời rộng rãi
Như muôn sao trong đám tối mơ màng.
Khắp bốn phương, giáo mác tỏa hào quang,
Liên tiếp nhau chen chúc xung quanh ven trời lờn.
Mấy làn trại (lưới xa xôi, mịt mùng và chắc chắn)
Đóng trùng trùng, điệp điệp trên đầu non.
Cờ chư hầu đỏ rực như pha son,
Quằn quại cong trên nền trời lá mạ.
Gió quát bên tai Vương, và rộn rã,
Tiếng quân reo, tiếng ngựa hí, tiếng loa vang,
Theo gió chiều vi vút vẳng đưa sang.

Nhưng, lặng lẽ, bâng khuâng, vua nước Sở,
Như pho tượng đồng, ngồi trên mình ngựa,
Để luồng mắt mênh mang
Như vấn vương, như vơ vẩn trên Ô giang.
Vì Vương rõ, phía sông Ô, binh Phàn Khoái,
Mới hôm trước bị quân mình xô qua ải,
Nên vòng vây chưa kịp khóa trước bình minh.
Vương toan, khi đêm tối, chỉ huy binh,
Chém quân Khoái vừa thua như cắt cỏ,
Phá trùng vi tan tành về hướng đó.
Vương sẽ dàn tướng sĩ bên kia sông,
Họp chư hầu còn trung tín cho thật đông,
Rồi máu Hán rửa lâng lâng hờn Cai Hạ.
Vương sẽ như năm nào đem binh mã
Lại tung hoành trên thế giới mênh mông,
Vương sẽ lại (ôi vinh quang) trong bão lửa vẫy vùng,
Vương sẽ lại tơi bời vung kiếm thép,
Và, đưa tay, giành lại tấm giang sơn,
Vương sẽ lại...
Nhưng bóng đêm đã xóa cảnh hoàng hôn,
Và phương xa, mơ hồ, trăng le lói,
Một trận gió hung hăng đùng đùng nổi,
Vặn mạnh cờ trên nóc trại ngất cao,
Vương khoan thai, buộc lại dải chiến bào,
Rồi xuống ngựa bước vào trong trướng gấm.


II

Trướng thênh thang, lạnh lùng và u ám,
Sở Bá Vương đứng sững trước cửa phòng,
Để nỗi buồn, một nỗi buồn u uất mênh mông,
Ngao ngán nhẽ, nặng đè lòng người chiến sĩ...
Và chống kiếm trước phòng sầu quạnh quẽ,
Hạng Vương vừa nhác thấy bóng Ngu Cơ,
Nên hỡi ôi! Tia hy vọng lờ mờ
Vương cảm thấy trong lòng ngầm ngấm tắt.
Vương trông...
Vẫn như gặp nàng lần thứ nhất,
Tim anh hùng như ngây ngất say sưa.
Tựa thân mềm vào lưng ỷ, nàng Ngu Cơ
Mắt mơ hồ nhìn qua khung cửa sổ,
Để hồn buồn chơi vơi như bay trên cành gió.
Chỗ nàng ngồi,
Một luồng trăng biêng biếc riêng soi,
Khiến Hạng Vương, trong lòng say, những tưởng
Rời cung Quảng, ả Hằng vừa bay xuống...

Thấy rèm châu êm ái bỗng cuốn lên,
Nàng bâng khuâng sực tỉnh giấc mơ tiên,
Ngoảnh đầu trông thấy quân vương bên trướng,
Nàng đứng dậy. Rồi cúi chào phu tướng,
Bước lại gần, chàng hé miệng, xót đau,
Rồi ngập ngừng toan nói...
Bỗng âu sầu,
Vẳng bên tai như từng lời thổn thức,
Như suối vắng âm thầm chiều thu khóc,
Địch xa xôi dìu dặt trên Ô giang,
Khúc bi ca não ruột và mơ màng,
Như càng khêu những nỗi sầu tịch mịch,
Như ôm ấp, như nấu nung lòng Hạng Tịch.

Hồn đê mê, Sở chúa vuốt tua rèm,
Say sưa nhìn cặp mắt long lanh đen,
Cặp mắt nồng nàn, mà xa xăm, mà say đắm,
Như chan hòa niềm ái ân đằm thắm,
Cặp mày thanh, êm ái như mây cong,
Như núi xuân lưu luyến hơi xuân phong,
Dưới vầng trán bâng khuâng sẽ dịu dàng uốn nét.
Tóc óng đen, như ao trong dưới bóng đêm mù mịt,
Chập chờn bay theo áng gió heo may,
Và êm buông như sóng cuốn trên lưng gầy.

Trên Ô giang đương mơ hồ dìu dặt,
Trong vùng tối âm u, dần dần tiếng địch... tắt.
Tiếng địch tắt. Nhưng dư âm
Trong sương khuya còn văng vẳng điệu âm thầm.
Nén thương đau, Vương ngậm ngùi sẽ kể
Niềm ngao ngán vô biên như trời bể.
Ôi! Tấm gan bền chặt như Thái Sơn
Bao nhiêu thu cay đắng chẳng hề sờn!
Ôi Những trận mạc khiến trời long đất lở!
Những chiến thắng tưng bừng, những vinh quang rực rỡ!
Ôi! Những võ công oanh liệt chốn sa trường!
Những buổi tung hoành, lăn lộn trong rừng thương!
Những tướng dũng bị đầu văng trước trận...!
Nhưng, than ôi! Vận trời khi đã tận,
Sức "lay thành, nhổ núi" mà làm chi?
Rồi buồn rầu, Vương tỏ cho nàng nghe
Hy vọng cuối cùng trong tim Vương còn sót lại,
Rồi Vương nói:
"Nhưng đau lòng ta biết mấy!
Ngay đêm nay, ta phải quyết... biệt ái khanh
Thì, nàng ôi, việc lớn mới mong thành.
Nhưng rời nàng, ôi... rời nàng, ta đâu nỡ...?
Mà mang nàng xông pha trong mưa lửa
Trùng vi kia ta thoát khỏi làm sao?"

Giọt châu sa lã chã trên áo bào,
Nàng Ngu Cơ bên mình chàng thổn thức.
Địch Trương Lương như ngậm sầu quyện khóc,
Lại não nùng dìu dặt trên Ô giang.
Trên Ô giang, tiếng địch thiết tha than,
Như tiếng nhạn kêu đêm nơi ven trời vò võ,
Như tiếng nhạn canh khuya thầm nhủ gió
Tự hư vô lại nức nở tiếng mơ màng,
Nàng Ngu Cơ...
Nàng Ngu Cơ, khẳng khái nắm tay chàng:
"Quân vương ơi ơi! Còn đợi chờ chi nữa
Mà đường xa chàng còn chưa ruổi ngựa?
Trống canh hai trong bóng sẫm đổ hồi,
Còn dùng dằng chi nữa, đi đi thôi!
Kìa! Thờ ơ, trăng mờ đang chênh chếch...
Còn ngồi đó mà nghe chi tiếng địch,
Cho chí đầy dần cạn trong tim đau.
Đừng nghe! Đừng nghe nữa! Hãy đi mau!
Nghe làm chi tiếng tre đằng than ai oán,
Khúc bi ca nặng nề và đòi đoạn,
Đầy những lời thương tiếc điệu thê lương.
Quân vương ôi! Mau sửa soạn lên đường,
Lên đường xa nơi mơ màng sương phủ...
Nào đâu trái tim xưa? Nào đâu tâm hồn cũ?
Lãnh truân chuyên xin gắng giữ chí bình sinh,
Khách anh hào chi xá kể nỗi điêu linh,
Ngày gian lao với quãng đường khe khắt?"

Địch Trương Lương trên Ô giang dìu dặt,
Tưởng trời đêm, trăng biếc lạnh lùng than.
Quỳ sát bên, nàng tha thiết tiếng khuyên van
"Đi đi chàng, nơi xa xăm, tiếng Địch
Càng não lòng, càng âm u, càng tịch mịch...
Đi đi chàng, còn thân Ngu đâu đáng bận trí quân vương?
Lá lìa cây dù gió xé bên vệ đường,
Dù nắng hun, dù mưa dầm làm tan nát,
Xin quân vương chớ bận lòng vì phận bạc!"
Nhưng lời lời tuy dũng cảm, oai linh,
Trong lòng đau niềm thống khổ vẫn mênh mông,
Cố... nàng cố nén u buồn... nhưng không được,
Và sóng lệ ào tuôn, nàng bưng đầu thổn thức...
Tiếng du hồn trong bóng tối vẫn lang thang,
Vẫn âu sầu dìu dặt phía Ô giang.
Địch âm thầm bên tai đưa văng vẳng,
Đương bâng khuâng trong khoảng trời yên lặng,
Bỗng véo von như chim hót, rồi bỗng ngừng,
Rồi lại nổi... xa xôi, và u uất não nùng.
Gan sắt đá như chơi vơi theo tiếng địch,
Vương thấy tan đâu chí anh hùng vô địch,
Cất tiếng buồn, chàng sẽ nói:
"Ái khanh ơi!
Đành... vận trời khi đã hết cũng đành thôi!
Không, phi ơi... thà cùng phi cùng sống chết
Còn hơn phải... phải trọn đời cách biệt!"

Rồi đỡ cằm, chán nản, Sở Bá Vương
Để cặp mắt im giương
Đuổi bóng những ngày vinh trong âm tối.
Nhưng nàng Ngu lại băn khoăn tha thiết gọi:
"Thiếp đâu ngờ, quân vương hỡi, trí trượng phu
Lại không hơn lòng nhi nữ chút nào ư?
Nếu vì thiếp, chỉ than ôi, vì tiện thiếp
Mà chàng quên chí cao cùng sự nghiệp,
Thì thân hèn thà vơ vất dưới tuyền đài
Để, đành lòng, chàng nghĩ đến cuộc tương lai.
Đi đi, chàng, đi đi, phu tướng hỡi!
Ngại ngần chi, và u sầu chi mãi...!
Niềm ái ân xưa, chàng hãy gác một bên lòng
Và, quyết tình lên ngựa, thẳng xa rong!
Quân vương trông, trăng liềm càng phai ánh.
Đi đi thôi!"
Sở Bá Vương, lòng quyết định,
Nhìn Ngu Cơ lần cuối và nghẹn ngào:
"Ta đi đây... nàng ở lại... Dù sao,
Có nhan sắc nhường kia nàng chớ sợ...
Vì nay mai khi Hán binh vào trại Sở,
Ta quyết Bang phải hậu đãi riêng nàng."
Rồi đi ra.
Nhưng trầm trầm bổng bổng Ô giang
Địch Trương Lương vẫn vô hình nức nở,
Như non nước tô sương ngùi than thở
Hòa nỗi lòng u uất cõi đen sâu.
Vương dừng hia đứng lại trước rèm châu,
Rồi, e ấp, ngoảnh nhìn người dưới trướng.
Tiếng than dài vẫn đâu đây bay lưởng vưởng...
Khi nặng nề, khi đắm đuối, khi ngân nga,
Khi mơ hồ, khi êm ả, khi cao xa.
Tiếng địch rung trong cảnh sầu không giới hạn.
Hy vọng gần tàn trong tim Vương như tàn hẳn.
Nhưng bỗng:
- "Buổi gió cuồng xa tống lá vàng bay,
Ta muốn nàng tường lòng son sắt chẳng đổi thay.
Lúc gian nguy cách biệt nàng, ta đâu nỡ!...
Đi! Ta cùng đi! Cùng xông pha trong sóng lửa!
Ta quyết sẽ mang nàng vượt khoỉ trùng vi,
Rồi, cùng nhau ta cùng dấn bước lưu ly!
Mà ví bằng Cao Xanh kia không tựa nữa,
Đôi ta, cùng nhau, cùng chôn thây trong da ngựa:
Bên mình phi, dù bỏ mạng cũng cam tâm."

- "Nếu chàng mong còn trở lại đất Hoài Âm.
Nếu chí xưa, chí nghiêng trời lệch đất,
Trong trái tim anh hùng chưa tan nát,
Thì, chàng ơi!
Đường mênh mông chàng vỗ ngựa ra đi thôi.
Bằng vì quyến, vì thương thân hèn mọn,
Mà đễn nỗi chàng đành buông chí lớn,
Tiện thiếp đây xin khuất bóng trước mặt chàng,
Cho chàng đi, đi ngang dọc bước ngang tàng,
Cho phỉ sức cường long nơi hồ hải."
Dứt lời, nàng hăng hái,
Tới bên chàng, cao tuốt lưỡi gươm xanh.
Rồi tự ải.

Vẫn âm thầm trong cõi tối mênh mông,
Địch Trương Lương như ngậm ngùi kể lể,
Nghẹn lời thương chiếc vong hồn quạnh quẽ,
Liều theo mây bạt gởi kiếp lênh đênh!
Như đã dày, đã dạn nỗi điêu linh
Hạng Vũ như không còn biết đau đớn,
Mặt gang thép, nỗi u buồn chẳng gợn,
Chàng nghiêng mình lặng đứng trông người yêu.
Nhưng... hồn bâng khuâng trong cảnh mộng tiêu điều,
Chàng còn cố hình dung đôi mắt sáng,
Đôi mắt sâu xa, và ảo huyền, và xán lạn,
Mà ngàn thu đành tối mãi tự đêm nay.
Nên, tuy nhường... không cảm động mảy may,
Như thản nhiên, như lạnh lùng, như vô giác,
Mà, ngập ngừng trong khóe mắt,
Lần đầu tiên, lệ chiến sĩ long lanh.
Lần đầu tiên, người chiến sĩ đa tình
Để lệ bạc thầm lăn trên gò má.
Trong khi tiếng địch thổi, âm thầm và buồn bã,
Trên Ô giang như khóc lóc nỗi phân ly,
Càng ngày càng réo rắt, càng lâm ly,
Càng âm u, càng mơ màng, càng thảm thiết.


III

Bên mình Ngu Cơ đứng bao lâu, chàng không biết
Nhưng, đến khi, bàng hoàng, chàng lặng lẽ ngẩng trông,
Thì Hán binh đã đông nghịt bên bờ sông,
Và trời cao, than ôi, vừa quyết trắng.
Mà...!
Mà tiếng địch âm thầm trong bóng đêm văng vẳng
Trên Ô giang, đã bặt hẳn tự bao giờ.
 
Cảm ơn bác Nhina đã có ý kiến trao đổi.
Bác ạ, nhà thơ mà cụ Xuân Sách nêu trong 65 đích thị là cụ Xuân Sanh đấy, không phải là cụ Đoàn Phú Tứ như bác nói đâu bác ạ.
Bài Buồn xưa bác pót ở trên là của cụ Xuân Sanh đấy chứ?
Mà thú thực, em cũng chỉ biết cụ này qua bài Buồn xưa thôi, trong đó câu "Đáy đĩa...." được coi là"cái đinh" đóng chết cụ vào trí nhớ độc giả từ trước đến nay.
 
Híc híc, em xin lỗi các bác vì nhầm lẫn. Nguyên do cũng tại cái tội đá nhầm sân. Thưa các bác, em vốn không thích thơ (và không mê được nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái vì rất nhiều nguyên nhân), nay bị đích thị giáng cho một đòn chí mạng. Âu cũng là tội tưởng mình là ‘cầu thủ ngoại hạng”, sân nào cũng nhảy vào, ai dè bị ngay thẻ đỏ. Thật là đau xót!
Nhân đây, em hỏi một câu không ăn nhập với chủ đề lắm, xin lỗi các bác trước. Các bác có biết tác phẩm nào của nhà văn Nga Solzhenitsyn (Солженицын) dịch ra tiếng Việt không?
 
Nhina nói:
Âu cũng là tội tưởng mình là ‘cầu thủ ngoại hạng”, sân nào cũng nhảy vào
Ái chà, Nhina cũng giống Nina cả cái khoản này nữa à :D. Tớ đã được cái danh hiệu "nhân vật spam nhất NNN" - nhìn thấy 1700 bài mà phát ngượng! - thế nhưng rồi thì hầu như box nào cũng có bài spam của mình :D

Nhina nói:
Nhân đây, em hỏi một câu không ăn nhập với chủ đề lắm, xin lỗi các bác trước. Các bác có biết tác phẩm nào của nhà văn Nga Solzhenitsyn (Солженицын) dịch ra tiếng Việt không?
Nina nghĩ là ... hơi khó. Lý do là trước năm 89 thì sách của bác này bị Liên Xô cấm, do đó chắc là VN không dịch. Sau đó thì ... nói chung khá nhiều người VN ... quay lưng lại với văn học Nga, nên cũng chưa chắc.

Cá nhân Nina thì không thích bác này lắm.
 
Tiếp tục:

71.
Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố
Bị lạc đường về hội nhà văn
Ừ nhỉ bao giờ quay trở lại
Với năm anh em trong một chiếc xe tăng.


72.
Ván bài lật ngửa tênh hênh
Con đường thiên lí gập ghềnh mãi thôi
Thay tên đổi họ mấy hồi
Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ.

73.
Mẹ và em đang ở đâu
Giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa
Ổ rơm teo tóp ngày mùa
Xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi
Bờ tre kẽo kẹt liên hồi
Bầu trời vuông với một ngôi sao dời
Đánh thức tiềm lực suốt đời
Ai?
Chẳng ai đáp lại lời của tôi.

74.
Anh đã đứng trước biển
Cù Lao Chàm kia rồi
Nhưng khoảng cách còn lại
Xa vời lắm anh ơi.

75.
Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo

Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu
Bao giờ mày ra tay.

76.
Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông Hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng.


77.
Người về đồng cói người ơi
Phía ấy mặt trời mọc lại
Một thời xa vắng, xa rồi
Phủ Khoái xin tương oai oái

Ở đời gặp may hơn khôn
Nào ai dám ghen dám cãi
Người đã đi Mĩ hai lần
Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!

78.
Anh đứng thành tro… em có biết
Hôm qua lại gặp chuyến xe bò
Vẫn anh đi với vầng trăng cũ
Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ.


79.
Ôi màu tím hoa sim
Nhuộm tím cuộc đời dài đến thế
Cho đến khi tóc bạc da mồi
Chưa làm được nhà, còn bận làm người
Ngoảnh lại ba mươi năm
Tím mấy ngàn chiều hoang biền biệt.

80.
Kiên Trì dấn bước đường chinh chiến
Nửa gánh giang hồ nửa ái ân
Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh
Tráng sĩ có về với bến xuân.
 
Back
Top