Khi chúng tôi ra đến ngoài, trong cảnh tranh tối tranh sáng của cái ngày buồn tẻ và âm u này, chúng tôi nghe thấy từ bốn phương trời vang lên tiếng còi nhà máy. Tiếng còi thét vang và giật giọng, chứa đầy triệu chứng chẳng lành. Hàng vạn công nhân nam và nữ đổ xuống đường; những xóm nhà tiều tuỵ nhả ra hàng vạn người mặt mũi xanh xao đói khổ. Thành phố Đỏ lâm nguy! Quân Cô-dắc đến! Làn sóng người tràn về phí Nam và phía Tây Nam, qua những phố cũ ký dẫn đến cửa Mát-xcơ-va. Nào đàn ông, đàn bà, trẻ con vác súng, xẻng, cuốc và những cuộn dây thép, bao đạn thắt ngay vào áo quần làm việc... Chưa bao giờ người ta được thấy một thành phố khổng lồ tự động kéo nhau đi như thế. Dòng người đổ đi như thác, cuốn theo hàng đại đội binh lính, súng đại bác, xe hơi, xe ngựa; vô sản cách mạng đem ngực mình ra bảo vệ thủ đô nước Cộng hoà công nông!
Một chiếc xe hơi đỗ trước cửa viện Xmon-ni. Một người mảnh khảnh, đeo cặp kính dày làm đôi mắt viền đỏ lại càng thêm to, đứng dựa vào một bên cái chắn bùn, hai tay đút túi chiếc áo khoác ngoài đã sờn. Ông ta nói có vẻ mệt nhọc. Gần đó một người thuỷ thủ cao lớn rậm râu, mắt trong sáng, vẻ nhìn đầy nhuệ khí thanh niên, đi lại một cách nóng nảy, vừa đi vừa nghịch một khẩu súng lục to tướng, ánh thép xanh biếc, không lúc nào rời tay anh ta. Đó là An-tô-nốp và Đi-ben-cô.
Mấy người lính đang buộc hai chiếc xe đạp quân dụng lên bệ xe. Người lái xe nhất định không chịu. Hỏng mất sơn còn gì! Đã đành anh ta là Bôn-sê-vích và anh biết rõ là xe hơi thì trưng dụng của một tên tư bản, còn xe đạp thì để cho các liên lạc viên dùng! Nhưng lòng tự kiêu nhà nghề của người lái xe khiến anh phản đối! Sau cùng, người ta đành phải để hai chiếc xe đạp lại...
Hai uỷ viên bộ Chiến tranh và bộ Hải quân sắp ra kiểm tra mặt trận cách mạng. Chúng tôi muốn đi theo có được không? Không được, chỉ có năm chỗ ngồi: hai uỷ viên, hai người tuỳ tòng và người lái xe. Mặc dầu vậy, một người bạn Nga của tôi mà tôi tạm gọi là anh Tơ-ru-xich-ca cứ nhất định ngồi vào xe, nói làm sao cũng không bẩy anh ta ra khỏi được...
Tôi không có lý do gì để không tin câu chuyện mà sau đó anh Tơ-ru-xích-ca kể cho tôi nghe về cuộc đi ngày hôm ấy. Lúc qua đại lộ Xu-va-rốp-xki, một người trên xe nêu vấn đề lương ăn. Có thể sẽ phải đi tới ba, bốn ngày trong một vùng lương thực khan hiếm. Xe đỗ lại. Nhưng còn tiền? Uỷ viên bộ Chiến tranh lục túi: chẳng có một xu. Uỷ viên bộ Hải quân cũng vậy, và anh lái xe cũng thế. Rốt cục là Tơ-ru-xích-ca bỏ tiền ra mua thức ăn.
Đến chỗ ngoặt của đại hộ Nép-xki thì nổ lốp. An-tô-nốp hỏi: "Làm thế nào bây giờ?". Đi-ben-cô giơ khẩu súng ra nói: "Trưng dụng một chiếc xe khác". An-tô-nốp dứng ra giữa phố và hãm một chiếc xe do một người lính lái. Anh nói: "Tôi cần chiếc xe của anh". Người lính trả lời: "Anh không lấy được".
- Anh có biết tôi là ai không?
An-tô-nốp chìa ra một tờ giấy chứng nhận rằng anh đã được cử làm tổng chỉ huy quân đội nước Cộng hoà Nga, và như vậy thì ai nấy đều phải tuân lệnh.
Người lính to tiếng cãi lại:
- Anh có là Diêm vương đi chăng nữa cũng chẳng lấy nổi xe này. Đây là xe của trung đoàn súng máy số 1 và đang chở đạn dược...
May là lúc ấy có một chiếc xe tắc-xi cũ ký, mang cờ Ý vừa đi đến (trong những thời kỳ loạn lạc, các chủ xe hơi tư thường đăng ký xe nhân danh các lãnh sự quán ngoại quốc để tránh khỏi bị trưng dụng). Khó khăn được giải quyết bằng cách tống cổ anh chàng to béo mặc áo lông sang trọng ngồi trong tắc-xi đó ra, và thế là phái đoàn lại tiếp tục đi.
Đến chỗ chắn ở Nác-va cách Xmon-ni khoảng mười dặm, An-tô-nốp đòi gặp viên chỉ huy xích vệ. Họ đưa anh đến cuối thành phố, tới một chỗ có chừng vài trăm công nhân đang đào chiến hào và đợi giao chiến với bọn Cô-dắc, An-tô-nốp hỏi:
- Thế nào, mọi việc tốt chứ, đồng chí?
Viên chỉ huy trả lời:
- Mọi việc đều rất tốt. Tinh thần anh em rất cao... Nhưng... có một điều là chúng tôi không có đạn...
An-tô-nốp nói: "Có hai nghìn triệu viên ở Xmon-ni. Để tôi ký cho anh cái giấy" và lục lọi tìm trong túi: "Có ai có mảnh giấy nào không?".
Đi-ben-cô không có giấy, các liên lạc viên cũng không. Tơ-ru-xích-ca chìa ra quyển sổ tay... Nhưng An-tô-nốp lại kêu: "Chết cha! Không có bút chì. Có ai có bút chì không?".
Tất nhiên là trong cả bọn, chỉ có Tơ-ru-xích-ca có bút...
* *
*
Bị bỏ lại, chúng tôi tìm cách đến ga Xác-côi-ê Xê-lô. Đi ngược đại lộ Nép-xki, chúng tôi thấy các đội xích vệ vũ trang, có người súng có lưỡi lê, có người không có. Hoàng hôn mùa đông xuống nhanh chóng. Đầu ngẩng cao, xếp hàng tư cũng không được đều lắm, họ bước đi trong bùn giá lạnh, không kèn không trống. Trên đầu họ, phấp phới một lá cờ đỏ, có mấy dòng chữ vàng nguệch ngoạc: "Hoà bình! Ruộng đất!". Họ đều rất trẻ. Mặt họ rõ là vẻ mặt của những người biết mình sắp phải hi sinh... Những kẻ đứng trên vỉa hè, với vẻ mặt vừa sợ sệt, vừa dè bỉu, căm hờn lặng lẽ nhìn họ đi qua.
Tại nhà ga, không ai biết Kê-ren-xki đang ở đâu và mặt trận ở đâu. Tàu không chạy quá Xác-côi-ê Xê-lô... Toa chúng tôi đầy những nông dân trở về quê, tay xách nách mang, nào hành lý, nào các báo buổi chiều. Chỉ thấy nói chuyện về cuộc cách mạng Bôn-sê-vích, nhưng ngoài ra thì khó mà biết rằng, nước Nga to lớn đang bị cuộc nội chiến cắt làm hai và đoàn tàu của chúng tôi đang đi về phía có chiến sự. Qua cửa sổ, chúng tôi nhìn thấy trong bóng tối mỗi lúc một dày đặc, những đám binh lính đang tiến về thành phố trên đường bùn lầy, vung tay vung chân tranh luận sôi nổi. Một đoàn tàu hàng, đầy ắp những lính, ánh lửa chiếu vào sáng rực, đang đỗ trên một khúc đường dồn tàu. Chỉ có thế. Sau lưng chúng tôi, phía chân trời, ánh đèn của thủ đô mờ dần trong đêm tối. Một chuyến tàu điện ì ạch đi về một chốn ngoại ô xa xăm.
Nhà ga ở Xác-côi-ê Xê-lô yên tĩnh, nhưng đây đó từng tốp binh lính thì thầm và nhìn một cách lo ngại về phía con đường sắt vắng ngắt đi về Gát-xi-na. Tôi hỏi họ thuộc đảng phái nào. Một người trả lời: "Chúng tôi chưa biết sự thực thế nào... Đúng rồi, Kê-ren-xki là một tên khiêu khích, nhưng chúng tôi cho việc người Nga lại bắn vào người Nga là không phải".
Ngồi ở văn phòng của uỷ viên nhà ga là một người lính trơn, to béo, vui tính và rậm râu, tay đeo băng đỏ của một uỷ ban trung đoàn. Giấy tờ của chúng tôi do Xmon-ni cấp có ngay hiệu quả đối với anh ta. Rõ ràng anh ta ủng hộ các Xô-viết, nhưng lại rất hoang mang. Anh bảo chúng tôi:
- Cách đây hai giờ, các đội xích vệ còn ở đây, nhưng họ lại đi rồi. Sáng nay, có một uỷ viên tới, nhưng khi bọn Cô-dắc đến thì ông ta lại quay trở về Pê-tơ-rô-gơ-rát.
Chúng tôi hỏi:
- Bọn Cô-dắc đến đây à?
Anh lính gật đầu buồn bã:
- Đã đánh nhau một trận. Bọn Cô-dắc đến đây lúc sáng sớm. Chúng bắt hai ba trăm người của chúng tôi làm tù binh và giết mất khoảng hai mươi nhăm người.
- Bọn Cô-dắc bây giờ ở đâu?
- Có lẽ chúng cũng chẳng đi xa đâu. Không biết đích xác giờ chúng ở đâu. Chúng đi về phía này... Anh ta vừa nói vừa chỉ về phía Tây.
Chúng tôi ăn một bữa thật ngon ở quán ăn nhà ga, vừa ngon vừa rẻ hơn ở Pê-tơ-rô-gơ-rát. Ngồi cạnh chúng tôi có một sĩ quan Pháp, vừa đi bộ từ Gát-si-na đến. Hắn ta bảo ở đó yên tĩnh lắm. Kê-ren-xki đóng chắc ở thành phố ấy.
Anh ta lại nói tiếp: "Dân Nga này lạ thật! Thật là một cuộc nội chiến lạ lùng! Đủ hết mọi trò trừ có đánh nhau!".
Chúng tôi đi vào thành phố. Ở cửa ga có hai người lính đứng, súng lắp lưỡi lê, đang bị chừng một trăm thương gia, công chức và sinh viên vây quanh chửi rủa. Hai người lính coi bộ ngượng ngập và sượng sùng như hai đứa trẻ bị mắng oan. Đứng đầu cuộc tấn công là một thanh niên cao lớn, mặc đồng phục sinh viên, mặt mũi kiêu căng. Y nói bằng một giọng láo xược: "Chắc các anh hiểu là khi các anh cầm súng đánh lại anh em trong nhà tức là các anh làm tay sai cho bọn sát nhân và bọn phản bội".
Anh lính nghiêm trang đáp:
- Không phải thế, người anh em ơi, anh không hiểu. Có hai giai cấp, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Chúng tôi...
Tên sinh viên ngắt lời: "Biết rồi, nhàm tai lắm rồi! Bọn nhà quê ngu dốt các anh chỉ cần nghe thấy vài công thức là lắp lại như vẹt chẳng cần hiểu gì cả". Đám đông phá lên cười. Y nói tiếp: "Tôi là một sinh viên mác-xít. Tôi nói cho anh biết là không phải các anh chiến đấu cho chủ nghĩa xã hội đâu, làm cho sự hỗn loạn, có lợi cho bọn Đức!".
Mặt người lính mồ hôi nhỏ giọt. Anh trả lời: "Tôi biết anh là một người học thức. Cái đó rõ ràng rồi. Còn tôi, tôi chỉ là một người bình thường. Nhưng theo tôi...".
Tên sinh viên ngắt lời với vẻ mặt khinh bỉ: "Chắc anh cho Lê-nin là bạn của vô sản?".
Người lính trả lời với vẻ mặt đau khổ: "Đúng, tôi nghĩ như vậy".
- Này anh ơi, anh có biết Lê-nin đã đi qua nước Đức trong một toa xe hoả niêm phong không? Anh có biết Lê-nin đã nhận tiền của Đức không?
Người lính khăng khăng trả lời:
- Tôi không biết rõ những cái ấy lắm, nhưng tôi thấy rằng điều gì ông ấy nói cũng đều đúng là những điều mà tôi và các người bình thường khác muốn được nghe. Anh thấy không, có hai giai cấp: vô sản và tư sản...
- Anh điên à, anh bạn! Tôi đã ở tù hai năm ở Sơ-lút-xen-bua vì hoạt động cách mạng. Khi đó thì các anh bắn vào các người cách mạng và hát "Cầu chúa bảo vệ cho Nga hoàng". Tên tôi là Vát-xi-li Gioóc-giơ-vich Pa-nin. Anh có nghe thấy tên tôi bao giờ không?
Anh lính kính cẩn trả lời:
- Rất tiếc là tôi không biết. Nhưng tôi chỉ là một kẻ dốt nát. Chắc anh là một vị đại anh hùng.
Tên sinh viên trả lời chắc chắn như đinh đóng cột:
- Hẳn đi chứ. Và tôi chiến đấu chống bọn Bôn-sê-vích đang phá hoại nước Nga của chúng ta và cuộc cách mạng cho tự do của chúng ta. Thế thì anh cắt nghĩa việc đó ra làm sao?
Anh lính gãi đầu:
- Tôi không biết cắt nghĩa ra sao cả.
Anh ta nhăn mặt nhăn mũi có vẻ suy nghĩ gay lắm:
- Đối với tôi thì mọi việc rõ lắm. Đúng rồi, tôi là một kẻ ít học thức. Nhưng tôi thấy chỉ có hai giai cấp: vô sản và tư sản...
Tên sinh viên kêu lên:
- Đấy, anh lại trở về cái công thức ngu xuẩn...
Anh lính cứ một mực tiếp tục:
- Chỉ có hai giai cấp, và kẻ nào không đi với giai cấp nọ thì đi với giai cấp kia...
Chúng tôi ngược phố đi lên. Đèn vừa ít, vừa cách xa, và người qua lại cũng thưa thớt. Một sự yên lặng đầy đe doạ bao trùm thành phố. Người ta cảm thấy như ở một nơi rửa tội, giữa âm phủ và thiên đường, một khu phi chiến địa chính trị. Chỉ các hiệu cắt tóc là đèn sáng choang và đầy ắp những người. Người ta xếp hàng trước các hiệu tắm; hôm đó là ngày thứ bảy, ngày mà khắp nước Nga tắm rửa và xức nước hoa. Tôi tin chắc rằng ở những nơi đang tiến hành những nghi thức đó, có lẫn lộn cả bộ đội Xô-viết và Cô-dắc.
Càng đi tới gần vườn ngự uyển thì phố xá càng vắng vẻ. Một thầy tu vừa run vừa chỉ cho chúng tôi đại bản doanh Xô-viết rồi lủi thẳng. Xô-viết đóng ở một cánh lâu đài của quận công, đối diện với vườn hoa. Cửa sổ tối đen. Cửa chính đóng. Một người lính, tay xỏ vào thắt lưng nhìn chúng tôi với một vẻ nghi ngờ. Anh ta nói: "Xô-viết đi rồi, cách đây hai ngày". Hỏi đi đâu thì anh nhún vai: "Không biết".
Đi quá một chút tới một toà nhà to đèn sáng choang, nghe bên trong có tiếng búa gõ. Chúng tôi đang ngần ngừ thì thấy một người lính và một chàng thuỷ thuỷ khoác tay nhau đi tới. Tôi đưa cho họ xem giấy thông hành của Xmon-ni và hỏi họ:
- Các anh ủng hộ Xô-viết chứ?
Họ không trả lời và nhìn nhau với vẻ lo ngại. Người lính thuỷ thủ trỏ tay vào toà nhà hỏi:
- Trong ấy có chuyện gì thế?
- Tôi không biết.
Người lính rụt rè đưa tay mở cửa. Chúng tôi thấy một gian phòng rộng, căng vải và có chậu cây, với nhiều hàng ghế và một cái sân khấu đang dựng dở.
Một người đàn bà đẫy đà, tay cầm búa, miệng ngậm đầy đanh đi ra hỏi:
- Các anh muốn gì?
Người lính thủy vẻ ấp úng hỏi:
- Tối nay có diễn không?
Người đàn bà sầm mặt trả lời:
- Tối chủ nhật sẽ có một ban nghiệp dư biểu diễn. Thôi các anh đi đi.
Chúng tôi định bắt chuyện với anh lính và anh thủy thủ, nhưng họ trả lời với một giọng vừa nghi ngại vừa ngượng ngùng, rồi đi mất vào bóng tối.
Chúng tôi tiếp tục đi về phía cung điện nhà vua, dọc theo vườn hoa rộng lớn tối om với những tòa nhà kỳ quái, những chiếc cầu kiểu Nhật lờ mờ trong đêm tối, và tiếng nước róc rách ở các bể nước. Khi chúng tôi tới gần một cái động nhân tạo, có một con thiên nga bằng sắt hình dáng nực cười phun một dòng nước bất tận, chúng tôi có cảm tưởng có người đang theo dõi mình. Ngẩng mặt lên, chúng tôi gặp những con mắt nghi ngờ và thiếu thiện cảm của chừng năm sáu người to lớn vũ trang , đứng trên một chỗ đất cao.
Tôi trèo lên hỏi họ:
- Các anh là ai?
Họ trả lời:
- Chúng tôi là đội gác.
Họ đều có vẻ mỏi mệt. Điều này không có gì lạ, sau những tuần lễ tranh luận ngày đêm như vậy.
Tôi lại hỏi:
- Các anh thuộc bộ đội Kê-ren-xki hay bộ đội của các Xô viết?
Họ nín lặng giờ lâu, nhìn nhau có vẻ bối rối, rồi trả lời.
- Chúng tôi trung lập.
Qua cửa bán nguyệt tòa lâu đài đồ sộ của Hoàng hậu Ca-tơ-rin, chúng tôi vào đến sân trong, và hỏi trụ sở đại bản doanh. Một người lính đứng gác ở cửa một cánh lâu đài hình vòng cung, bảo chúng tôi là viên chỉ huy đang ở trong đó.
Trong một căn phòng lịch sự trang trí kiểu Giooc-Giơ đệ tam, được một lò sưởi hai mặt ngăn làm hai phần không đều, một nhóm sĩ quan đang trò chuyện với vẻ lo ngại. Trông họ đều nhợt nhạt, thiếu bình tĩnh và rõ ràng là thiếu ngủ.. Chúng tôi trình giấy mà bôn-sê-vích của chúng tôi cho một người trong bọn mà người ta giới thiệu với tôi là đại tá, một sĩ quan đã có tuổi, râu bạc, đeo nhiều huân chương. Ông ta có vẻ ngạc nhiên, và hỏi chúng tôi một cách lễ độ:
- Làm sao các ông đến được đây an toàn tính mạng nhỉ? Phố xá bây giờ nguy hiểm lắm. Ở Xác-côi-ê Xê-lô, những vấn đề chính trị đang gay go lắm. Sáng nay đã đánh nhau, và sáng mai sẽ lại đánh nhau nữa. Khoảng 8 giờ, Kê-ren-xki sẽ vào thành phố.
Chúng tôi hỏi:
- Quân Cô-dắc đâu?
Ông ta chỉ tay:
- Khoảng một nghìn năm trăm thước về phía này.
Chúng tôi lại hỏi:
- Ông đang chuẩn bị bảo vệ thành phố chống lại chúng à?
Ông ta mỉm cười:
- Không đâu. Chúng tôi giữ thành phố cho Kê-ren-xki đó.
Chúng tôi lạnh cả người vì theo như giấy má của chúng tôi giới thiệu thì chúng tôi toàn là những tay cách mạng trung kiên cả.
Viên đại tá hắng giọng nói tiếp:
- Với những giấy má mà người ta cho các ông thì tính mạng của các ông khó toàn được nếu bị bắt. Nếu các ông muốn xem trận đánh thì tôi sẽ ra lệnh cấp cho các ông buồng ở khách sạn các sĩ quan, và nếu sáng mai các ông qua đây lúc bảy giờ sáng, tôi sẽ cấp giấy tờ khác.
- Thế tức là các ông ủng hộ Kê-ren-xki?
- Nghĩa là…..cũng không hoàn toàn ủng hộ Kê-ren-xki.
Viên đại tá ngập ngừng:
- Phần lớn binh lính đều là bôn-xê-vích. Sáng nay, sau trận đánh, họ đều đi về phía Pê-tơ-rô-gơ-rát, mang theo các khẩu pháo. Thật ra chẳng có người lính nào ủng hộ Kê-ren-xki , nhưng có một số người không muốn đánh chác gì cả. Các sĩ quan thì hầu hết đã sang phe Kê-ren-xki hoặc đã biến mất. Các ông xem đấy, địa vị chúng tôi rất khó xử….
Chúng tôi rút ra kết luận là như vậy sẽ không có đánh nhau….Rất lịch sự, viên đại tá cho quan hầu dẫn chúng tôi trở lại nhà ga. Viên quan hầu là người miền Nam, bố mẹ là người Pháp di cư sang Bét-xa-ra-bi. Ông ta nói luôn mồm:” Mệt nhọc, nguy hiểm, tôi chẳng ngại, nhưng có điều gay là đã ba năm nay tôi chưa được gặp mẹ tôi….”.
Tàu trở về Pê-tơ-rô-gơ-rát trong đêm tối lạnh buốt. Qua cửa sổ, tôi thấy từng đám đông binh lính hoa tay múa chân cạnh những đống lửa sưởi, và ở các ngả đường có những xe thiết giáp vướng vào nhau, người lái xe chui ra khỏi ụ súng gọi nhau ơi ới….
Trong cái đêm hỗn loạn ấy, có từng tóan binh lính và xích vệ không có người chỉ huy đi lang thang trên cánh đồng không chỗ trú, trong cảnh rối ren vô trật tự, còn các ủy viên của ủy ban quân sự cách mạng thì chạy từ tóan này sang toán kia, cố gắng tổ chức sự phòng vệ.
Khi quay trở về thành phố, chúng tôi thấy quần chúng bị kích thích dâng lên như sóng triều ở đại lộ Nep-xki. Trong không khí có một cái gì khác thường. Từ ở nhà ga Vac-xô-vi nghe vọng đằng xa có tiếng đại bác. Trong các trường học sĩ quan, không khí sôi nổi. Các nhân viên Viện Đu-ma đi hết trại lính này đến trại lính khác để diễn thuyết và kể những chuyện hãi hùng về sự tàn ác bôn-xê-vích: nào là giết học sinh sĩ quan ở Cung điện Mùa Đông, nào là hiếp nữ binh, giết một cô gái ngay trước viện Đu-ma, giết hoàng thân Tu-ma-nốp….
Ở Viện Đu Ma, Ủy ban Cứu quốc và Cứu cách mạng họp phiên bất thường ở phòng họp A-lếch-xăng, các ủy viên chạy tứ phía…..Tất cả các nhà báo bị tống cổ khỏi viện Xmon-ni đều có mặt tại đó, coi bộ phấn khởi. Khi chúng tôi kể tình hình Xác-côi-ê Xê-lô thì họ không tin. Sao? Ai chẳng biết rằng Xác-côi-ê đã ở trong tay Kê-ren-xki và quân Cô-dắc đã tiến đến tận Pun-cô-vô rồi. Người ta hình như đang bầu một ủy ban để ra ga đón Kê-xen-xki ngày mai…
Một nhà báo với vẻ tối ư bí mật thầm thì cho biết là cuộc phản cách mạng sẽ bắt đầu lúc nửa đêm. Hắn đưa cho tôi xem hai bản tuyên cáo: một bản do Gốt và Pôn-cốp-ni-cốp ký, hạ lệnh động viên ra chiến đấu dưới lệnh của Ủy ban Cứu quốc, những học sinh sĩ quan, những binh lính đang dưỡng bệnh, và các người trong hội Huân chương Thánh Giooc-giơ; bản tuyên cáo kia thì của chính Ủy ban Cứu quốc, nguyên văn như sau:
Gửi nhân dân Pê-tơ-rô-gơ-rát
Các đồng chí công nhân, binh lính và công dân của Pê-tơ-rô-gơ-rát cách mạng!
Bọn bôn-sê-vích, trong lúc kêu gọi đòi hòa bình ngoài mặt trận, thì lại xúi giục huynh đệ tương tàn ở hậu phương.
Đừng nghe theo lời kêu gọi khiêu khích của chúng!
Đừng đào chiến hào!
Hãy hạ khí giới xuống!
Phá bỏ những chướng ngại vật phản bội!
Hỡi các binh lính, hãy quay về trại!
Tàn sát nhau ở Pê-tơ-rô-gơ-rát là giết cách mạng!
Nhân danh tự do, hòa bình và ruộng đất, hãy đoàn kết quanh Ủy ban cứu quốc và Cứu cách mạng.
Lúc chúng tôi rời Viện Đu-ma, một tóan xích vệ, với nét mặt rắn đanh của những người bị dồn vào thế cùng, giải đi trong phố âm u vắng ngắt chừng một tá tù binh đều là ủy viên trong ban địa phương của Hội đồng Cô-dắc, bị bắt quả tang đang âm mưu phản cách mạngtại bản doanh của chúng….
Một người lính, theo sau có một cậu bé xách một thùng hồ đi dán những cáo thị lớn:
….Sắc lệnh này tuyên bố thiết quân luật tại thành phố Pê-tơ-rô-gơ-rát và các ngoại ô. Tất cả các hội nghị và các cuộc họp ngoài trời đều cấm cho đến khi có lệnh mới.
N. PỐT-VÔI-XKI
Chủ tịch Ủy ban quân sự cách mạng.
Không khí huyên náo những tiếng không rõ rệt, tiếng còi xe, tiếng kêu, tiếng súng nổ đằng xa. Thành phhó không ngủ, lo ngại và căng thẳng.
Sáng sớm, một tóan học sinh sĩ quan,ngụy trang làm lính của trung đoàn Xê-mê-nốp-xki , tới nhà điện thoại Trung ương ngay trước giờ đổi gác. Chúng có khẩu lệnh bôn-xê-vích nên đổi gác không ai nghi kị gì cả. Vài phút sau, An-tô-nốp đến kiểm tra thì bị chúng bắt ngay và giam vào một phòng nhỏ. Khi tóan lính chính thức đến đổi gác thì chúng nổ súng; một số người bị chết.
Cuộc phản cách mạng bắt đầu….