[size=18:2ff27060be]5[/size]
Viên Đại tá Mỹ có một căn phòng riêng trong khu trại đặc biệt. Ông ta được phép rời căn lán vào buổi chiều và được cấp những xuất ăn đặc biệt. Có tin đồn rằng chính nhà vua Thụy Điển đã can thiệp nhân danh mình, theo đề nghị của đích thân Tổng thống Roosevelt.
Người Đại tá này có lần tặng Thiếu tá Nikonov một phong sôcôla khi anh bị ốm. Ông ta rất quan tâm tới các tù binh chiến tranh người Nga và luôn cố gắng bắt chuyện với họ về chiến thuật của quân Đức và nguyên nhân của thảm họa năm 1941.
Ông ta thường nói chuyện với Yershov. Đôi khi ông nhìn sâu vào cặp mắt sáng thâm trầm của anh và quên đi rằng anh không biết nói Anh ngữ. Ông cảm thấy khó có thể tin được một người có gương mặt thông minh như vậy lại không hiểu được ông – đặc biệt là khi những gì họ đang nói lại đáng thú vị đến vậy.
“Tôi không thể tin được!” ông thốt lên. “Anh thực sự không hiểu sao?”
Còn Yershov đáp lại bằng tiếng Nga: “Viên trung sĩ già thành thạo mọi thứ ngôn ngữ - ngoại trừ những thứ tiếng nước ngoài.”
Tuy nhiên, bằng một ngôn ngữ bao gồm những nụ cười, ánh mắt, những cái vỗ lưng và mười tới mười lăm từ phức hợp thô kệch giữa tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Ý, những người Nga có thể trò chuyện một cách thân tình, đoàn kết, thông cảm, thấm đẫm tình yêu quê nhà, yêu thương vợ con, với con người từ hàng chục đất nước khác nhau.
Kamerad, gut, suppe, kinder, zigarette, arbeit và hơn chục từ khác có xuất gốc từ chính bản thân những trại tù này, Revier, Blockälteste, Kapo, Vernichtungslager, Appell, Appellplatz, Waschraum, Flugpunkt, Lagerschütze, * là đã đủ để diễn tả mọi thứ thiết yếu liên quan tới cuộc sống đơn sơ nhưng nhiều ngóc ngách của các tù nhân.
* Đồng chí, tốt, súp, trẻ em, thuốc lá, làm việc… bệnh xá, trực khối, cảnh trại, trại diệt chủng, điểm danh, sân điểm danh, tắm gội, điểm bay, lính gác trại. (chú thích của sách)
Cũng có nhiều từ Nga khác – rebyata, tabachok, tovarisch ** – cũng được người các quốc tịch khác sử dụng. Còn với từ dokhodyaga – có nghĩa là một tù nhân chỉ còn biết đơn độc dựa vào bản thân – được chấp nhận bởi tất cả năm mươi sáu quốc tịch.
[ …………………………………………………………………… ] +
** Các bạn, thuốc lá sợi, đồng chí. (chú thích của sách)
+ Đoạn bị mất trong bản thảo gốc. (chú thích của sách)
Các tù binh chiến tranh Xôviết thậm chí không thể cùng đồng lòng với nhau: một số sẵn sàng chết còn hơn là phản bội tổ quốc, trong khi những người khác lại tính gia nhập cùng Vlasov ++. Càng trao đổi và tranh luận với nhau, họ lại càng không thể thông cảm với nhau. Cuối cùng họ giữ im lặng, lòng đầy khinh miệt căm thù nhau.
++ Andrey Andreyevich Vlasov (14/9/1900 – 2/8/1946): gia nhập Đảng Công sản năm 1930. Từng sang Trung Hoa làm tùy viên quân sự bên cạnh Tưởng Giới Thạch. Trong thời gian đầu Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, từng là vị tướng được Stalin rất quan tâm. Tập đoàn quân do ông ta làm tư lệnh đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi tại trận Maskva năm 1941. Tư lệnh Tập đoàn quân Đội kích số 2 tại Mặt trận Leningrad, sau khi bị bắt làm tù binh đã phản bội tổ quốc và hợp tác với quân Đức. Chỉ huy Quân đoàn Giải phóng Nga (ROA). Bị quân Mỹ bắt làm tù binh và giao trả cho Hồng quân. Bị treo cổ năm 1946. - ND
Và trong cái im ắng của sự câm lặng và những phát biểu mù quáng đó, trong cái hỗn hợp những con người vây lấy nhau bởi cùng một nỗi tai họa, kinh hoàng và hy vọng, trong cái căm hận và thiếu cảm thông giữa những người cùng nói một thứ tiếng, ta có thể thấy gần hết cái bi kịch của thế kỷ hai mươi.