CUỘC ĐỜI VÀ SỐ PHẬN - V. GROSSMAN

“Hãy chơi trò gì đi nào!” Chuikov nói, tay đẩy cái gạt tàn lớn đầy đầu mẩu thuốc lá sang một bên.

Ngay cả Krưlov, người tham mưu trưởng, cũng mất hết bình tĩnh. Gõ gõ ngón tay trên mặt bàn, ông nói: “Tôi không thể tưởng tượng ra điều gì tệ hơn được nữa. Chúng ta chỉ biết ngồi đây – chờ tới lượt bị ăn thịt!”

Chuikov chia bài và tuyên bố, “Chất Cơ làm chủ,” và rồi đột nhiên xóa hết cỗ bài đã chia. “Tôi không thể chịu được nữa!” ông nói. “Chúng ta cứ ngồi trong lỗ của mình như lũ thỏ vậy.” Ông ngồi đó trong im lặng. Khuôn mặt ông cau có đau khổ và tràn đầy căm hờn.

Như thể tiên đoán cho kết cục của chính mình, Gurov trầm ngâm lầm bầm: “Thêm một ngày như thế này thôi là tôi sẽ lên cơn đau tim mất!”

Ông chợt vỡ ra cuời lớn và nói: “Tại sở chỉ huy sư đoàn thậm chí không có chỗ để ù lì vào ban ngày. Tôi nghe nói rằng tham mưu trưởng của Lyudnikov có lần nhảy xuống một boongke và hét lớn: “Hurra! Tao đã đi từ chỗ đống cứt… !” Anh ta nhìn quanh và nhận thấy nữ bác sĩ mà mình yêu đang có mặt ở ngay đấy.”

Các đợt không kích của quân Đức luôn ngưng lại lúc chạng vạng tối. Một người khi tới Stalingrad vào ban đêm, tai điếc đặc vì tiếng đại bác, có lẽ sẽ tưởng tượng rằng số phận tàn nhẫn đã đưa anh ta tới đây đúng vào lúc một đợt phản công lớn sắp sửa nổ ra. Tuy nhiên, đối với cánh lính cựu, đó là thời gian để cạo râu, giặt giũ quần áo và viết thư; đối với các thợ tiện, thợ máy, thợ hàn và thợ sửa đồng hồ thì đó là thời gian để sửa đồng hồ, bật lửa, hộp đựng thuốc lá và các chiếc đèn dầu làm từ vỏ đạn với dây bấc xé từ chiếc áo khoác dài.

Trong ánh sáng lập lòe của lửa đạn ta có thể nhìn thấy hai bờ sông, các bồn xilô chứa dầu và các ông khói nhà máy và cảnh đổ nát của thành phố. Quang cảnh thật ảm đạm và chứa đầy điềm gở.

Trong bóng tối trung tâm điện tín như sống lại. Các nhân viên đánh máy gõ lách cách các thông báo, tiếng động cơ ì ầm, các mệnh lệnh được đánh sang mã Morse, các điện thoại viên trao đổi thông tin và các sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn, các khẩu đội và đại đội một lần nữa lại được nối kết với nhau… Các sĩ quan thông tin vừa mới tới thận trọng ho húng hắng trong khi chờ để được chuyển báo cáo của mình cho người sĩ quan trực.

Pozharsky *, vị tư lệnh pháo binh lớn tuổi; tướng Tkachenko, chỉ huy công binh chịu trách nhiệm về các điểm vượt sông đầy nguy hiểm; Guryev, sư đoàn trưởng vừa nhận nhiệm vụ của Sư đoàn xạ thủ Siberia; và trung tá Batyuk *, chiến sĩ Stalingrad kỳ cựu mà sư đoàn của anh được bố trí dưới chân Đồi Mamayev, tất cả đều vội vã báo cáo cho Chuikov và Krưlov. Ở ngay tuyến đầu, những bức thư gấp hình tam giác được chuyền tay cho người đưa thư… Trong khi đó những người chết được chôn cất – để trải qua đêm đầu cuộc an nghỉ vĩnh hằng của họ bên cạnh những hầm trú ẩn và chiến hào nơi các đồng đội của họ đang viết thư, cạo râu, ăn bánh mì, uống trà và tắm rửa trong những phòng tắm tự tạo.

* Pozharsky: nhân vật lịch sử, tư lệnh pháo binh của Tập đoàn quân 62. Trung tá Batyuk: nhân vật lịch sử, Sư đoàn trưởng Sư đoàn xạ thủ 284. (chú thích của sách)
 
[size=18:10e5f4b9bd]8[/size]

Đó là khởi đầu thời kỳ khó khăn nhất của những người bảo vệ Stalingrad. Trong cảnh hỗn loạn của những trận chiến đường phố, của những trận tấn công và phản công đan xen chồng chéo, của trận chiến giành giật quanh “Ngôi nhà của các chuyên gia”, quanh chỗ cối xay, quanh Ngân hàng Quốc gia – và tại mỗi quảng trường, mỗi khoảng sân và hầm nhà – ưu thế của quân Đức là không thể chối cãi.

Mũi nhọn của quân Đức chọc vào khu vực phía Nam của Stalingrad đang được mở rộng mỗi ngày. Từ những vị trí gần dòng nước, xạ thủ đại liên Đức có thể vãi đạn khắp từ tả ngạn cho đến phía Nam của khu Krasnaya Sloboda. Các sĩ quan tham mưu chịu trách nhiệm ghi chú vị trí của chiến tuyến trên bản đồ thấy rõ mũi tên xanh dương di chuyển về phía trước ngày này qua ngày khác đều đặn ra sao, thấy cái dải nằm giữa đường màu đỏ của tuyến phòng ngự Xôviết và đường màu xanh nhạt của sông Volga ngày càng mỏng đi nhanh chóng ra sao.

Thế chủ động khi này là thuộc về quân Đức. So với những cơn thịnh nộ của chúng, các đòn phản kích của quân Nga không tài nào chặn nổi đà tiến không khoan nhượng của chúng. Từ sáng sớm đến chiều tối, bầu trời luôn giăng đầy tiếng gào rít của máy bay cường kích bổ nhào Đức, giã nát mặt đất bằng những loạt bom phá. Và hàng trăm con người sống sót ngày qua ngày với một câu hỏi kinh khủng: điều gì sẽ xảy ra ngày mai – hay vào tuần tới – khi cái dải hẹp của tuyến phòng ngự Xôviết bị thu lại thành một sợi mành, khi sợi mành này bị chọc thủng bởi hàm răng thép của mũi tấn công quân Đức ?
 
[size=18:ae2bf95ff1]9[/size]

Khuya hôm ấy, tướng Krưlov nằm xuống ngủ trong boongke. Mạch máu thái dương đập thình thịch và cổ họng khô rát: ngày hôm nay ông đã hút hết hàng chục điếu thuốc lá. Ông liếm vòm miệng khô khốc và quay mình úp mặt vào tường. Trong khi nằm đó, nửa thức nửa ngủ, ông nhớ lại trận đánh ở Odessa và Sevastopol: tiếng la hét của bộ binh Rumani khi chúng tấn công; Sevastopol và hạm đội huy hoàng của nó; Odessa và những khoảnh sân lát đá cuội khoác áo tầm xuân.

Một lần nữa ông nhớ lại sở chỉ huy tại Sevastopol. Cái kính kẹp mũi của tướng Petrov phản chiếu lấp lánh trong sương mù. Tia sáng vỡ thành hàng ngàn mảnh nhỏ và ông trông thấy biển cả. Một đám mây xám, đám bụi bốc lên do đạn bắn vào vách núi, lơ lửng trên đầu binh lính và thủy thủ rồi dừng lại trên đỉnh Sapun.

Ông nghe thấy tiếng sóng vỗ hờ hững vào mạn xuồng. Rồi một giọng cộc cằn vang lên từ dưới: “Nhảy !” Ông nhảy vào sâu thẳm – và rơi xuống thân chiếc tàu ngầm... Ông quay nhìn lần cuối về Sevastopol, về những ngôi sao, về những đám lửa trên bờ biển.
Chiến tranh gắn chặt trong ông thậm chí cả trong giấc ngủ... Chiếc tàu ngầm đưa ông tới Novorossisk. Đôi chân ông tê dại, ngực và lưng ướt đẫm mồ hôi, tiếng ồn của động cơ gõ búa lên đầu ông. Rồi động cơ ngừng và chiếc tàu ngầm đậu yên lặng bên bờ biển. Sự chật chội bên trong quả không thể chịu đựng được; cái trần, những hàng đinh tán ngang dọc, tất cả đang nghiền nát ông...

Rồi ông nghe một tiếng gầm và ánh chớp loé. Một khối bom ngầm nổ tung. Chiếc tàu ngầm lắc lư và ông bị bắn khỏi giường ngủ. Ông mở mắt ra và thấy mọi thứ đang bốc cháy. Một dòng lửa đang chảy về phía sông Volga ngang qua cái cửa mở của boongke. Ông có thể nghe thấy tiếng la hét và âm thanh lạch cạch của súng tiểu liên.

“Trùm cái này qua đầu ! Nhanh lên !” một chiến sĩ ông chưa hề thấy mặt hét lên với ông. Anh ta dúi một cái áo khoác lính cho ông.

Krưlov đẩy anh ta ra. “Chuikov ở đâu ?” ông hét lên.

Thình lình ông hiểu điều gì đã xảy ra: những bồn chứa dầu đang bốc cháy. Dầu cháy đang chảy thành dòng về phía sông Volga.

Dường như không thể chạy thoát khỏi dòng lửa nóng lỏng. Nó vượt qua, phát ra tiếng rền rỉ và bắn tanh tách, dòng dầu đang lấp đầy các hầm hố và băng về tuyến hào giao thông. Thấm đầy dầu, thậm chí cả đất sét và đá cũng bắt đầu bốc khói. Dầu cũng đang trào ra thành dòng đen bóng từ những chiếc xe tăng bị bắn thủng bởi đạn cháy; dường như những khối lửa và khói đã bị nhốt trong những xe tăng ấy nay đang từ từ tuôn ra.
Cuộc sống vốn từng ngự trị hàng trăm triệu năm trước, cuộc sống kinh khủng của những quái vật tiền sử, nay đã chui khỏi nấm mồ sâu thẳm của chúng; hú hét và gầm rống, bước dận những dấu chân khổng lồ, nó đang nghiến ngấu mọi thứ cuốn được xung quanh. Ngọn lửa bốc lên cao hàng ngàn thước, mang trong đám khói của nó hơi dầu đang bùng thành lửa khi bốc lên trời cao. Khối lửa rộng lớn đến nỗi trận gió cuốn xung quanh không thể mang đủ ôxy cho các phân tử hydrocarbon đang cháy; một cái vòm đen ngòm, đu đưa chia tách bầu trời mùa thu đầy sao với mặt đất bốc cháy. Thật khủng khiếp khi nhìn lên và trông thấy vòm trời bốc đầy dầu.

Những cột lửa và khói lúc này trông như những vật thể sống chứa đầy kinh hoàng và thịnh nộ, lúc khác lại giống những cây tùng cây dương đang run rẩy. Giống như những phụ nữ với mái tóc chảy dài, những đám mây đen và lửa đỏ hòa vào nhau trong một vũ điệu hoang dại.

Dòng dầu cháy rực phủ một lớp màng mỏng trên mặt nước, phun xèo xèo, bốc khói và vặn vẹo khi bị dòng chảy cuốn vào.

Thật ngạc nhiên khi các chiến sĩ đã nhanh chóng tìm được một lối thoát ra bờ sông. Một vài người trong đó chạy hai đến ba chuyến qua lại những boongke bốc cháy, giúp các sĩ quan tham mưu ra đến doi đất nằm giữa hai dòng lửa trôi ra sông Volga, một nhóm nhỏ đang đứng an toàn ở đó. Họ đã cứu được cả Chuikov. Họ mang Krưlov - người đã bị xem là mất tích – thoát khỏi đám lửa. Chớp cặp lông mi cháy trụi, họ cố gắng quay ngược về các boongke xuyên qua các bụi hoa lửa.

Các sĩ quan tham mưu của Tập đoàn quân 62 đứng đó cho tới sáng trên doi đất nhỏ. Vừa che mặt khỏi luồng hơi bỏng và phủi những đốm lửa rơi trên quần áo, họ vừa nhìn quanh Chuikov. Ông trùm một chiếc áo khoác lính trên vai và những túm tóc xù ra dưới chiếc mũ sĩ quan. Trông ông bình tĩnh và trầm tư.
 
Cảnh miêu tả kho chứa dầu bên hữu ngạn sông Volga, nơi sở chỉ huy Tập đoàn quân 62, bị phát nổ và bốc cháy: Vasily Grossman cõ lẽ đã tận mắt chứng kiến cảnh này, bởi thời điểm này ông cùng Ilia Erenburg là phóng viên chiến trường ngay tại Stalingrad. - ND
 
@danngoc: Mong danngoc cố gắng hoàn thành tác phẩm này.
Mình đang đọc, chưa xong nên chỉ giúp bạn được vài chỗ thôi. Khi nào đọc xong tiếng Nga sẽ đọc lại bản dịch của bạn. Đương nhiên là dịch qua tiếng Anh rồi thì chắc chắn sẽ có vài chỗ khác so với nguyên bản. Nếu phát hiện ra mình sẽ báo cho danngoc biết ngay.
 
Gurov nhìn quanh và nói : “Dường như rằng thậm chí lửa cũng không thể thiêu cháy được chúng ta.” Ông bắt đầu sờ nắn những nút áo nóng hổi trên áo khoác của mình.
“Này! Cậu cầm chiếc xẻng lại đây!” tư lệnh công binh, tướng Tkachenko nói lớn. “Đào một đường mương thông qua đây! Nếu không lửa sẽ chảy xuống chỗ chúng ta từ phía ụ đất kia!”

Ông quay về phía Krưlov.

« Mọi thứ quay về từ đầu, đồng chí tướng quân ạ. Lửa trôi xuống như nước và sông Volga đang bốc cháy. Tạ ơn Chúa là không có gió để sợ. Nếu không chúng ta đã bị quay sống mất rồi ! »

Chốc chốc một cơn gió nhẹ lại thổi từ phía sông Volga tới và chùm lửa khổng lồ lại xoay về phía họ.

Một vài người đi thẳng về phía dòng sông và tạt nước lên ủng mình; chúng bốc hơi lập tức trên lớp da thuộc nóng bỏng. Một vài người lặng lẽ nhìn xuống mặt đất. Một số tiếp tục quay nhìn về phía sau vai. Một số cố gắng gượng đùa : « Bây giờ thậm chí ta không cần đến diêm nữa - cứ châm lửa nhờ gió của sông Volga thôi. » Những người khác ghìm giữ cảm xúc, lúc lắc đầu mỗi khi sờ vào cái khóa thắt lưng nóng hổi.

Một vài quả lựu đạn phát nổ bên trong các hầm trú ẩn của tiểu đoàn bảo vệ thuộc sở chỉ huy. Tiếp theo là tiếng lạch tạch của đạn súng tiểu liên. Một quả đạn cối Đức rú rít xuyên qua đám lửa và nổ tung trên sông Volga. Xuyên qua làn khói họ thoáng thấy vài bóng người ở xa xa; có lẽ họ đang cố gắng làm chuyển hướng dòng lửa. Nhưng một lần nữa mọi thứ lại biến mất trong lửa và khói.

Nhìn chăm chăm vào đám lửa, trong đầu Krưlov chỉ còn duy nhất một ý nghĩ : bọn Đức có khai thác được đám cháy này và tổ chức một đợt tấn công hay không. Quân Đức không hề biết vị trí của sở chỉ huy Tập đoàn quân - một tù binh ta bắt được ngày hôm qua đã từ chối tin rằng nó vẫn còn đóng ở hữu ngạn... Và dường như ở đó chỉ là những hoạt động cục bộ khu vực... Đúng, vẫn còn cơ hội để sống sót cho tới lúc trời sáng. Miễn là gió đừng có thổi mạnh !

Ông nhìn sang Chuikov đang đứng cạnh mình, mắt chằm chằm quan sát đám cháy. Gương mặt phủ đầy sương giá của ông ta như được làm bằng đồng đánh sáng bóng. Khi ông bỏ mũ xuống và xoa tay lên tóc, trông ông như một người thợ rèn ở quê; người ông đẫm mồ hôi, những tia lửa nhảy nhót trên trán. Ông nhìn chằm chằm hết vào vòm lửa cháy lại dõi xuống sông Volga. Vài khoảng tối trên mặt sông nổi rõ trên những đám lửa vặn vẹo bập bùng. Krưlov hình dung trong đầu Chuikov cũng đang băn khoăn cùng những câu hỏi như ông : liệu quân Đức có tổ chức một cuộc tổng tiến công trong đêm hay không... ? Liệu họ có nên xây dựng lại sở chỉ huy tại đây nếu họ còn sống sót cho tới lúc trời sáng... ?

Chuikov cảm nhận được ánh mắt của Krưlov và mỉm cười. Vung tay vạch một vòng tròn rộng trong không khí, ông nói: “Thật là một cảnh ngoạn mục, đúng không? Mẹ nó!”

Đám cháy có thể nhìn thấy rõ từ phía Sở chỉ huy của Phương diện quân Stalingrad trên tả ngạn. Tham mưu trưởng, trung tướng Zakharov *, đi thẳng tới chỗ Yeremenko * ngay sau khi nhận được bản báo cáo đầu tiên. Yeremenko ra lệnh cho ông đích thân đi tới trung tâm thông tin và tìm cách liên lạc với Chuikov. Hít thở nặng nhọc, Zakharov tất tả ra đi. Một sĩ quan cần vụ soi đường cho ông bằng cái đèn pin; chốc chốc anh ta lại thốt lên “Xin cẩn thận, thưa đồng chí tướng quân!” mỗi khi anh gạt qua một bên những cành táo xà ngang đường. Ánh sáng phía xa chiếu sáng trên những thân cây và hắt những vệt sáng màu hồng lên mặt đất. Cái yên lặng xung quanh, chỉ bị phá vỡ bởi những tiếng hô khẽ của lính gác, khiến cái ánh lửa nhợt nhạt, câm lặng ấy dường như càng thêm vẻ đe dọa.

Chiến sĩ trực tổng đài, một cô gái trẻ, cho Zakharov hay rằng bọn họ đã mất hoàn toàn liên lạc với Chuikov - điện thoại, điện tín và điện đài …

* Các nhân vật lịch sử: Andrei Ivanovich Yeremenko (14/10/1892 – 19/11/1970): tham gia kỵ binh Buđiônưi huyền thoại năm 1918. Tư lệnh Phương diện quân Đông Nam, sau đó đổi tên thành Phương diện quân Stalingrad. Trong chiến dịch Sao Thổ, phương diện quân của ông đã yểm trợ tích cực trong các hoạt động bao vây và tiêu diệt Tập đoàn quân số 6 của Thống chế Paulus. Được phong Nguyên soái Liên Xô ngày 11/3/1955. Matvei Vasilievich Zakharov (17/8/1898 – 31/1/1972): Gia nhập Cận vệ Đỏ năm 1917. Tham mưu trưởng của Yeremenko tại Phương diện quân Stalingrad. Được phong Nguyên soái Liên Xô ngày 8/5/1959. Từng giữ các chức vụ quan trọng như Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô, Chánh thanh tra quân đội. - ND

“Còn liên lạc với các sư đoàn?” Zakharov vội vã hỏi.

“Chúng ta vẫn liên lạc được với Batyuk chỉ vừa một lúc trước, thưa đồng chí trung tướng.”

“Gọi anh ta cho tôi ngay lập tức!”

Zakharov vốn nổi tiếng với tính nóng nảy của mình; cô gái sợ đến nỗi thậm chí không dám liếc nhìn lại ông ta. Rồi đột ngột cô đưa ông cái tai nghe và mừng rỡ nói: “Đây rồi, thưa đồng chí tướng quân!”

Ở đầu dây bên kia là tham mưu trưởng của Batyuk. Cũng như cô gái, anh ta vội căng người khi nghe thấy tiếng thở nặng nề và giọng nói át của Zakharov.

“Việc gì đang xảy ra ở đó vậy? Báo cáo cho tôi ngay! Anh có liên lạc được với Chuikov không?”

Viên tham mưu trưởng cho Zakharov hay về những bồn chứa dầu bị bốc cháy và dòng sông lửa đã quét xuống Sở chỉ huy Tập đoàn quân. Họ vẫn chưa thể nối lại liên lạc với Chuikov, nhưng dường như không phải tất cả đều đã hy sinh. Xuyên qua khói lửa họ có thể nhận ra một nhóm người đang đứng trên bờ sông, nhưng chính dòng sông cũng đang cháy và hiện không có cách nào tiếp cận với những người này. Batyuk đã ra đi với đại đội bảo vệ của sở chỉ huy để dập tắt lửa và cứu những người sống sót.

Khi anh ta kết thúc báo cáo, Zakharov nói: “Hãy bảo Chuikov… Nếu còn sống, hãy bảo với Chuikov…”

Ngạc nhiên vì quãng dừng hơi dài (Surprised by the long pause), cô gái trẻ rụt rè liếc nhìn Zakharov. Ông đang lau những giọt nước mắt bằng một chiếc khăn tay.

Đêm hôm đó, bốn mươi sĩ quan thuộc sở chỉ huy Tập đoàn quân bị thiêu chết trong những boongke cháy sụp.
 
danngoc nói:
Ngạc nhiên vì quãng dừng hơi dài (Surprised by the long pause), cô gái trẻ rụt rè liếc nhìn Zakharov. Ông đang lau những giọt nước mắt bằng một chiếc khăn tay.

"surprised by the long pause": ngạc nhiên vì thấy yên lặng khá lâu/ yên lặng một lúc lâu/ mãi không thấy câu trả lời, ba cách ấy bạn dịch cách nào cũng được. "Pause" ở đây là thời gian ngừng câu chuyện, là khoảng thời gian yên lặng.
 
[size=18:f77167e9a7]10[/size]

Krưmov đến Stalingrad ngay sau khi xảy ra chuyện những bồn chứa dầu bốc cháy.
Chuikov đã đóng sở chỉ huy mới của mình trên bờ sông dốc thoải, tại nơi trước kia có một trung đoàn bộ binh của Batyuk từng đóng chốt. Ông đến thăm người sĩ quan chỉ huy, đại uý Mikhailov, và gật đầu hài lòng khi kiểm tra cái boongke rộng rãi của mình được lợp nhiều lớp dầm xà gỗ chắc chắn. Nhìn thấy sự không hài lòng trên khuôn mặt đầy tàn nhang của viên đại uý, Chuikov nói rõ: “Cậu đã tự xây cho mình một cái boongke phía trên cứ điểm của cậu đấy, đồng chí đại uý ạ.” (You’ve built yourself a bunker above your station, comrade Captain.)
 
huytran nói:
danngoc nói:
Ngạc nhiên vì quãng dừng hơi dài (Surprised by the long pause), cô gái trẻ rụt rè liếc nhìn Zakharov. Ông đang lau những giọt nước mắt bằng một chiếc khăn tay.

"surprised by the long pause": ngạc nhiên vì thấy yên lặng khá lâu/ yên lặng một lúc lâu/ mãi không thấy câu trả lời, ba cách ấy bạn dịch cách nào cũng được. "Pause" ở đây là thời gian ngừng câu chuyện, là khoảng thời gian yên lặng.

Trong trường hợp này em vẫn thấy cách của bác có gì đó chưa ôn, chưa bằng giải pháp em chọn. Bác kiểm hộ em bản tiếng Nga nhé ạ?
 
huytran nói:
danngoc nói:
Ngạc nhiên vì quãng dừng hơi dài (Surprised by the long pause), cô gái trẻ rụt rè liếc nhìn Zakharov. Ông đang lau những giọt nước mắt bằng một chiếc khăn tay.

"surprised by the long pause": ngạc nhiên vì thấy yên lặng khá lâu/ yên lặng một lúc lâu/ mãi không thấy câu trả lời, ba cách ấy bạn dịch cách nào cũng được. "Pause" ở đây là thời gian ngừng câu chuyện, là khoảng thời gian yên lặng.

Em xin đề nghị phương án như sau:

"Ngạc nhiên vì thấy khoảng lặng hơi lâu..."

Bác thấy thế nào?
 
Nguyên bản đoạn trên mà danngoc và huytran nhắc đến như sau:
Девушка-связистка, удивленная длинной паузой и ожидая раската хриплого генеральского голоса, опасливо поглядела на Захарова, - он стоял, приложив платок к глазам
Theo mình, dịch là khoảng lặng hơi lâu như 2 bạn đã thống nhất là được, mà thực ra đoạn này trong bản dịch tiếng Anh cũng đã giản lược đi một chút so với nguyên bản rồi.
 
Nhờ các bác giúp tiếp đoạn này:

Krưmov đến Stalingrad ngay sau khi xảy ra chuyện những bồn chứa dầu bốc cháy.

Chuikov đã đóng sở chỉ huy mới của mình trên bờ sông dốc thoải, tại nơi trước kia có một trung đoàn bộ binh của Batyuk từng đóng chốt. Ông đến thăm người sĩ quan chỉ huy, đại uý Mikhailov, và gật đầu hài lòng khi kiểm tra cái boongke rộng rãi của mình được lợp nhiều lớp dầm xà gỗ chắc chắn. Nhìn thấy sự không hài lòng trên khuôn mặt đầy tàn nhang của viên đại uý, Chuikov nói một cách hồ hởi: “Cậu đã tự xây cho mình một cái boongke ra trò phía trên cứ điểm của cậu đấy, đồng chí đại uý ạ.” (Seeing the dismay on the Captain’s freckled face, Chuykov said brightly: “You’ve built yourself a bunker above your station, comrade Captain.”)
 
Ban tham mưu trung đoàn thu thập đồ đạc quân trang, di chuyển xuôi xuống khoảng ba mươi hay bốn mươi mét theo dòng nước và lùa luôn tay tiểu đoàn trưởng ra khỏi chỗ trú của anh ta. Viên tiểu đoàn trưởng giờ đây không còn chỗ trú ẩn quyết định để cho các đại đội trưởng của mình yên thân – căn hầm của họ chỗ nào cũng đã chật cứng hết rồi – và ra lệnh xây dựng một hầm trú ẩn mới trên thảo nguyên.

Khi Krưmov đến chỗ sở chỉ huy thì công việc bố trí sắp xếp đang vào lúc sôi nổi náo nhiệt nhất. Các lính công binh đang đào một mạng lưới hầm hào liên lạc nối giữa những khu vực khác nhau – Ban chính trị, Ban tác chiến và Ban pháo binh. Cuộc nói chuyện của anh với Chuikov bị gián đoạn hai lần do ông này phải ra ngoài để kiểm tra tiến độ của công việc nói trên.

Có lẽ không đâu trên thế giới mà công việc xây dựng nơi ở lại được thực hiện nghiêm túc như ở Stalingrad. Những hầm trú ẩn ấy được xây dựng sao cho không chỉ giữ được hơi ấm hay gây ấn tượng cho hậu thế. Nó được xây dựng theo cách việc được đón chào thêm một buổi bình mình và ăn thêm một bữa ăn nữa tùy thuộc vào sự vững chắc của các dầm gỗ, độ sâu của các dãy chiến hào, độ gần gũi của khu nhà xí và hiệu quả của công tác ngụy trang.

Khi người ta nói chuyện với một ai đó, họ luôn đề cập tới chất lượng hầm trú ẩn của anh ta: “Batyuk đã dùng súng cối dọn dẹp rất ngon lành trên Đồi Mamayev. Anh ta cũng có một hầm trú ẩn rất tuyệt. Một tấm cửa gỗ sồi khổng lồ cứ như ở trong nhà của Đại biểu nhân dân vậy (nguyên văn : the Senate ?). Chà, cái đầu của hắn ta khá thật.” (Yes, he’s certainly got a head on his shoulders) Còn khi kể về một người khác thì lại: “Vâng, cậu có biết không, tay này bị buộc phải rút lui trong đêm tối. Hắn không liên lạc được với đơn vị của mình và hắn bị chiếm mất một vị trí phòng thủ xung yếu… Còn sở chỉ huy của hắn, từ trên cao cũng có thể thấy được. Và hắn treo một tấm vải bên ngoài cửa – để giữ cho ruồi khỏi bay vào, tớ nghĩ thế. Một tay đầu óc rỗng tuếch – tớ nghe nói rằng vợ hắn đã bỏ hắn từ trước chiến tranh.”
 
Chết rồi, chiều nay em mới được xem bản gốc tiếng Nga. So với bản tiếng Anh em thấy có tương đối khác biệt (tuy nhiên trình tiếng Nga của em là zero nên không thể sử dụng được). Chắc phải phiền các bác chịu khó chỉnh lại, rà soát thật kỹ cho thật khớp với bản tiếng Nga thôi. Nếu không bản dịch thế này thì vứt đi ngay từ đầu.

Em cố gắng giữ nguyên tắc là dịch phải đúng là tiếng Việt thật chuẩn, nhưng đồng thời không bỏ sót một ý nhỏ nào so với bản gốc mới có thể khả dụng. Các bác chịu khó giúp em nhé.
 
@danngoc: Mình không có bản tiếng Anh nên không rõ họ dịch thế nào. Tuy nhiên thì dù sao dịch từ nguyên bản vẫn chuẩn hơn từ bản dịch lại qua 1 ngôn ngữ khác rồi. Có điều người có khả năng thì chưa biết tiếng Nga, người biết tiếng Nga thì chưa có khả năng. Theo mình cuốn này cần rất thận trọng khi dịch. Dịch cho anh em trong diễn đàn này thôi cũng phải tế nhị nữa là.
 
Bác huytran đâu rồi? Bác sửa giúp em mấy câu trong ngoặc đơn với? Cứu em!

Các bác khác hứa hỗ trợ em bản tiếng Nga mà?!
 
Có lỗi quá, dạo này cứ bận công chuyện, để cả hơn tháng mới trả lời.

"Above your station" là 1 thành ngữ có nghĩa như là "vung tay quá trán", hay đại khái như khi nguời ta nói "live above your station", có nghĩa như là "giẻ cùi tốt mã", xa hoa quá khả năng tài chính và địa vị của mình.

"He's got a head above his shoulders" nghĩa là, tay này biết suy nghĩ, biết chuyện, có đầu óc thật đấy. Cái cung cách của câu nói này, nếu tôi dịch thì chắc sẽ thêm vào cuối câu "chứ chẳng chơi đâu" để chuyển đạt cho sát.
 
PHẦN 2 – Chương 15

Có rất ít người đi thử tìm cách định nghĩa “cái tốt”. “Cái tốt” là cái gì? “Cái tốt” giành cho ai? Có hay chăng một cái tốt chung – giành cho mọi dân tộc, mọi bộ lạc, mọi điều kiện sống? Hay cái tốt của tôi lại là sự xấu xa của anh? Có phải cái tốt cho dân tộc tôi lại là tàn độc đối với dân tộc anh? Cái tốt có trường tồn và bất di bất dịch không? Hay cái ngày hôm qua là tốt thì lại ngược lại vào ngày hôm nay, cái hôm qua là độc ác thì hôm nay lại tốt?

Khi Ngày Phán xét Cuối cùng tới gần, không chỉ có các triết gia và tu sĩ, mà mọi người trên trái đất – có học và thất học - đều sẽ suy nghĩ về bản chất của cái tốt và cái xấu xa.

Phải chăng con người đã tiến hóa qua suốt thiên niên kỷ bằng khái niệm về cái tốt của mình? Khái niệm đó có phổ biến với tất cả mọi người - cả người Hy Lạp và Do Thái – như Thánh tông đồ (Apostle ) đã giả thiết? Có phổ biến với mọi giai cấp, mọi quốc gia và mọi chính quyền? Thậm chí với mọi muông thú, cây cỏ và nấm rêu – như Phật Tổ và kinh giới của ngài đã tuyên bố? Bởi chính vị Phật Tổ (Buddha) đã phải khước từ sự sống để choàng lên nó lòng nhân từ và sự tốt đẹp.

Quan điểm của Thiên chúa giáo (Christian), ra đời sau Phật Tổ năm thế kỷ, giới hạn thế giới sự sống vào khuôn khổ mà khái niệm về cái tốt có thể áp dụng được. Không phải bất cứ vật thể sống nào - chỉ có con người. Cái tốt của những người Thiên chúa giáo đầu tiên, mong muốn bao phủ cả nhân loại, đến lượt mình vạch lối cho một cái tốt Thiên chúa giáo thuần khiết; cái tốt của người Hồi giáo cũng xuất hiện riêng biệt. (?)
Hàng thế kỷ trôi qua và cái tốt Thiên chúa giáo tách ra riêng biệt thành các cái tốt Thiến chúa giáo La Mã (Catholicnism), Thệ phản (Protestantism, thường gọi là Tin Lành) và Chính thống giáo (Orthodoxy). Và cái tốt của Chính thống giáo cho ra đời những cái tốt riêng biệt của đức tin cũ và mới.

(còn tiếp)
 
Back
Top