Dementieva
New member
Đem bài này vào đây thì hình như không đúng lắm, mà chả biết đem vào đâu, danngoc xem nhé
Đoạn bôi xanh là sửa theo ý kiến bác Vũ khí Nga và danngoc, rất cám ơn các bác!
http://sacmauvanhoa.vdcmedia.com/QuocTe-c.asp?PostID=5418
[size=18:fe2573028b]Grigori Baklanov: Sự xấu hổ mạnh hơn nỗi sợ hãi [/size]
(2005-06-24T14:17:13)
Nhà văn Nga Grigori Baklanov sinh ngày 11-9-1923. Khi ông đến tuổi nhập ngũ, trong nước tiếng súng chiến tranh đã vang lên được hơn hai tháng, cuốn theo gần như cả thế hệ của ông. Baklanov xung phong ra mặt trận, lúc đầu là một người lính, và sau khi tốt nghiệp trường quân sự là một trung đội trưởng pháo cao xạ. Mười hai năm sau chiến tranh ông in truyện vừa đầu tiên Hướng nam mũi đột kích chính, tiếp theo là Tấc đất đã được độc giả đón nhận nhiệt liệt. Ngay lập tức giới phê bình chính thống xếp chúng vào loại “sự thật chiến hào”. Hoạt động văn học của Baklanov, tác giả các truyện vừa, tiểu thuyết, kịch bản phim, hồi ký chiến tranh, vẫn gặt hái được nhiều kết quả cho đến ngày hôm nay. Sau đây chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của nhà văn.
- Sự kiện nào trong cuộc đời mình được ông coi là đặc sắc nhất?
- Có lẽ, đó là sự ra đời của những đứa con. Nhưng đó là sự kiện cá nhân, mang tính chất gia đình. Còn nếu xét về sự kiện đáng kể nhất, không dám nói là đặc sắc nhất, thì tất nhiên, đó là chiến tranh. Người ta kể lại rằng vào những ngày cuối đời, trên giường bệnh, Vasin Bưcôv hay nhắc tới chiến tranh.
- Một lần ông nói rằng khi chiến tranh kết thúc, ông có cảm giác công việc chủ yếu trong cuộc đời đã hoàn thành.
- Đến tận bây giờ tôi vẫn có cảm giác như vậy.
- Và tôi còn nhớ lời ông nói về những người lính bị thương xếp hàng ở trạm cấp cứu: một con người có lương tâm, ngay cả khi máu đang chảy vẫn không chen ngang.
- Đúng như vậy.
- Chiến tranh đã qua đi từ lâu, và ký ức cũng trôi đi cùng với nó. Liệu có cần níu giữ ký ức này không hay cứ để cho nó vận hành theo quy luật?
- Điều này không phụ thuộc vào chúng ta lẫn thời gian. Cho dù hiện nay chúng ta có viết gì về cuộc chiến tranh năm 1812, có làm những bộ phim mới đi chăng nữa, thì trong ký ức mọi người nó sẽ mãi mãi như Lev Tolstoy đã mô tả. Chúng ta chưa có một “Chiến tranh và hoà bình” về cuộc chiến tranh này. Nhưng rõ ràng nó vẫn tiếp tục lay động con tim và khối óc của hàng triệu người. Đạo diễn tài năng Nikita Mikhalcov vừa làm một bộ phim về chiến tranh. Mới đây ông tuyên bố rằng bộ phim này sẽ không dành cho các cựu chiến binh. Một lời tuyên bố rất thú vị. Nhưng chính điều tương tự đã xảy ra. Sau chiến tranh xuất hiện rất nhiều cuốn sách viết về một cuộc chiến tranh chưa hề có, mà lẽ ra cần phải có. Văn học chiến tranh đích thực đến muộn hơn... Nếu như bộ phim của N. Mikhalcov không dành cho các cựu binh đã kinh qua chiến tranh, thì rõ ràng nhà đạo diễn vốn rất nhạy cảm này muốn khẳng định một cách hiểu chiến tranh mới nào đó. Nhưng chiến tranh muôn đời vẫn thế: nó vừa là bi kịch vĩ đại, vừa là chiến công vĩ đại của nhân dân.
- Ông bắt đầu viết về chiến tranh sau một số năm. Có lẽ, cái độ lùi thời gian đó là cần thiết, nhưng dù sao tôi vẫn có cảm giác, điều quan trọng là tác giả vẫn sống với những xúc cảm như khi ông ta đang trực tiếp cầm súng chiến đấu.
- Anh nói đúng. Ví dụ, cuốn “Tấc đất” xuất bản năm 1959, được viết từ ngôi thứ nhất, mặc dù điều đó không có nghĩa là tôi viết về bản thân. Thủ pháp đó làm cho độc giả tin cậy hơn; họ nghĩ, đã ngôi thứ nhất thì nghĩa là sự thật. Tất cả vẫn sống động như là tôi viết trong chiến tranh. Còn cuốn “Mãi mãi là tuổi mười chín” đề cập tới thời gian khi con trai tôi đến cái tuổi mà tôi đang chiến đấu ngoài mặt trận. Đây là cái nhìn của một người cha đối với những chàng trai mãi mãi trẻ trung.
- Một trong những điều tốt đẹp nhất của những cuốn sách hay nhất về chiến tranh là lòng trắc ẩn. Khi ông nhận xét rằng trên đôi ủng của một người lính đã hy sinh vẫn còn dính đầy bùn đát, điều đó nói lên tính chất của cuộc chiến tranh nhiều hơn là một trận chiến đấu quy mô...
- Trong chiến tranh con người hiện lên như họ vốn có. Có cả những kẻ hèn nhát, những tên đê tiện, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những phẩm chất phi thường của con người. Đầu những năm 80 tôi nhận được một lá thư của người trưởng ban liên lạc cũ của trung đội tôi, trung sĩ Dzhundzgia. Cuối cùng, anh ta biết được địa chỉ của tôi và viết: “Tớ phát điên lên vì vui mừng”. Một bức thư hết sức cảm động mang âm hưởng của thời đại đó. Tôi vẫn còn nhớ những con người tuyệt vời đã từng chiến đấu với tôi. Tôi có một người bạn là chỉ huy khẩu đội 2, Sasha Belichenco. Sau chiến tranh anh ấy làm trưởng phòng quản trị ở một trường phổ thông. Sasha chiến đấu rất dũng cảm.
- Ông viết rằng điều tệ hại nhất là khi trong chiến tranh con người tiếc thân mình, và những người khác phải trả giá vì họ bằng máu. Còn điều tốt nhất thì thế nào, thưa ông?
- Là anh ta không tiếc thân mình và thương những người lính của mình... Nhưng thương những người lính trên mặt trận thì... Ví dụ, sau khi tốt nghiệp trường quân sự tôi trở thành trung đội trưởng. Gần như cả trung đội ai cũng lớn tuổi hơn tôi. Một lần, ban đêm tôi ra lệnh đào một cái hầm quan sát và ngụy trang cẩn thận. Sau đó tôi được điều động đi làm việc gì đấy và trở về lúc rạng đông. Mọi người mới chỉ đào được một cái hố nông choèn, có thể nằm nhưng không đứng được. Mà ngày mai người lính có thể bị bắn chết bởi điều đó. Anh thấy người lính đã hoàn toàn kiệt sức, dường như không làm được gì, mà anh vẫn bắt anh ta đào công sự đúng kích thước, và điều đó sẽ cứu sống anh ta. Tôi rất ngạc nhiên khi gần đây được đọc một bài báo về nhà văn Solzhenítsưn, nguyên là đội trưởng đội quân nhạc trong chiến tranh, nghĩa là ở xa tuyến đầu. Và tại đấy ông ta được nấu ăn riêng. Anh hãy hình dung rằng những người lính nhìn thấy anh ăn riêng, rằng anh ghê tởm những gì họ ăn. Thật không thể tưởng tượng nổi.
- Ông có nhắc tới tinh thần chiến đấu của quân đội, cái làm nên mọi chiến thắng. Mặc dù trong chiến tranh những người lính của chúng ta gặp vô vàn khó khăn, gian khổ...
- Tất cả có căn nguyên rõ ràng. Ví dụ, trong cuốn Đấu súng Kuprin mô tả các sĩ quan nghèo xuất thân từ tầng lớp tiểu quý tộc, chưa nói tới những người lính, được nuôi dưỡng trong cảnh bần cùng. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc của chúng ta những người lính cũng phải ăn uống rất kham khổ. Tôi được biết ở Italya, nếu trên chiến trường người thương binh cần truyền dịch thì người ta kê dưới đầu anh ta một cái túi để anh ta dùng đầu ấn xuống và dịch tự chảy. Vào đầu chiến tranh chính mắt tôi nhìn thấy trên sân ga những người lính mang bình đựng nước bằng thuỷ tinh. Lính Đức được trang bị súng máy có báng gập. Súng máy của ta cũng tốt, nhưng dù sao chúng tôi cũng tìm cách thu nhặt súng máy của Đức trên chiến trường. Chúng nhẹ nhàng và tiện lợi hơn. Lính Đức có nến để thắp, còn chúng tôi phải chế tạo ra những chiếc đèn Hoa Kỳ bằng vỏ đạn. Lính Đức có bật lửa. Còn chúng tôi có gì? Đó là một dụng cụ tự tạo gồm một cái giũa và viên đá lửa, được gọi đùa là “Cachiusa”. Vâng, chúng ta có những cỗ xe tăng tuyệt vời, trước năm 1943, không có loại tăng nào sánh kịp với [color=blue:fe2573028b]T-34-76[/color], sau đó xuất hiện loại xe tăng tự hành ưu việt hơn xe tăng của Đức, nhưng tiện nghi sinh hoạt của người lính, cái đảm bảo tinh thần chiến đấu của quân đội, thì ta thua xa. Con người xếp ở hàng chót bét. Và điều này kéo dài cho tới ngày nay. Thật xấu hổ khi có hàng chục, thậm chí hàng trăm ngàn sĩ quan không có nhà ở, rằng ở các doanh trại xa xôi những người vợ của họ không có việc làm, phải hưởng đồng tiền trợ cấp chết đói...
- Ngoài mặt trận có ai đào ngũ không?
- Anh ta sẽ bị bắn ngay lập tức. Tinh thần chiến đấu của người lính phụ thuộc vào cái mà vì nó anh ta chiến đấu. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc của chúng ta mọi người chiến đấu vì Tổ quốc.
- Vì thế mà ông xung phong ra mặt trận?
- Phải chăng chỉ một mình tôi. Cả thế hệ của chúng tôi, nhiều người đã ra mặt trận.
- Ông có sợ không?
- Không có sự sợ hãi. Thứ nhất, vì anh còn trẻ; và thứ hai, anh không hình dung được nó là gi. Yulya Drunina viết: “Chỉ một lần em nhìn thấy trận đánh giáp lá cà. Một lần thật và trăm lần trong giấc ngủ. Ai nói rằng chiến tranh không đáng sợ. Kẻ ấy không biết gì về chiến tranh”. Quả là có một số người biết chế ngự nỗi sợ hãi. Sự xấu hổ mạnh hơn nỗi sợ hãi. Còn những người khác không thể vượt qua điều đó. Để có khả năng chiến đấu quân đội cần phải có mục đích rõ ràng, có những người sĩ quan tư duy hiện đại, vũ khí tối tân, và tất nhiên là sự tôn trọng những người lính và sĩ quan, được thể hiện trong việc nuôi dưỡng họ như thế nào.
- Còn các vị tướng thì sao? Có vẻ như đội ngũ tướng lĩnh của chúng ta đang ngày càng trở nên già cỗi...
- Trong khi người Mỹ tham chiến ở Iraq bằng vũ khí hiện đại, thì chúng ta hiện nay vẫn chiến đấu bằng sinh mạng con người. Nói chung, nguời ta cho rằng các tướng lĩnh bao giờ cũng được đào tạo cho cuộc chiến tranh trước đây. Trong khi đó hiện nay tư tưởng quân sự và vũ khí trên thế giới đã đạt tới trình độ rất cao. Điều này thật đáng sợ, vì rằng những bộ óc thông minh đang chế tạo ra những cái có thể tiêu diệt cả nhân loại. Phải chăng đó là công việc của con người?
- Nhân đây, xin ông cho biết thái độ của mình đối với việc Mỹ tấn công Iraq?
- Một mặt, tại sao một đất nước lại đi xâm lược một nước khác chỉ vì ở đấy người ta điều hành không như ý mình? Nhưng mặt khác, tôi tin rằng cuộc chiến tranh thế giới thứ hai có thể không xảy ra, nếu phương Tây và chúng ta không cho phép Hitller dần dần tiến tới nó. Và điều gì đã xảy ra khi người ta không can thiệp vào công việc của y? Một cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử mà nhiều thế hệ đã tham gia và biến mất dường như không ra đời.
- Nghe nói, ông vừa hoàn thành hai cuốn sách?
- Đúng vậy. Một tuyển tập truyện ngắn và một cuốn tập hợp các bài báo, hồi ký. Có điều, khác với thời trẻ, hiện nay tôi không muốn công bố ngay những gì mình mới sáng tác.
(Báo Văn nghệ)
Đoạn bôi xanh là sửa theo ý kiến bác Vũ khí Nga và danngoc, rất cám ơn các bác!
http://sacmauvanhoa.vdcmedia.com/QuocTe-c.asp?PostID=5418
[size=18:fe2573028b]Grigori Baklanov: Sự xấu hổ mạnh hơn nỗi sợ hãi [/size]
(2005-06-24T14:17:13)
Nhà văn Nga Grigori Baklanov sinh ngày 11-9-1923. Khi ông đến tuổi nhập ngũ, trong nước tiếng súng chiến tranh đã vang lên được hơn hai tháng, cuốn theo gần như cả thế hệ của ông. Baklanov xung phong ra mặt trận, lúc đầu là một người lính, và sau khi tốt nghiệp trường quân sự là một trung đội trưởng pháo cao xạ. Mười hai năm sau chiến tranh ông in truyện vừa đầu tiên Hướng nam mũi đột kích chính, tiếp theo là Tấc đất đã được độc giả đón nhận nhiệt liệt. Ngay lập tức giới phê bình chính thống xếp chúng vào loại “sự thật chiến hào”. Hoạt động văn học của Baklanov, tác giả các truyện vừa, tiểu thuyết, kịch bản phim, hồi ký chiến tranh, vẫn gặt hái được nhiều kết quả cho đến ngày hôm nay. Sau đây chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của nhà văn.
- Sự kiện nào trong cuộc đời mình được ông coi là đặc sắc nhất?
- Có lẽ, đó là sự ra đời của những đứa con. Nhưng đó là sự kiện cá nhân, mang tính chất gia đình. Còn nếu xét về sự kiện đáng kể nhất, không dám nói là đặc sắc nhất, thì tất nhiên, đó là chiến tranh. Người ta kể lại rằng vào những ngày cuối đời, trên giường bệnh, Vasin Bưcôv hay nhắc tới chiến tranh.
- Một lần ông nói rằng khi chiến tranh kết thúc, ông có cảm giác công việc chủ yếu trong cuộc đời đã hoàn thành.
- Đến tận bây giờ tôi vẫn có cảm giác như vậy.
- Và tôi còn nhớ lời ông nói về những người lính bị thương xếp hàng ở trạm cấp cứu: một con người có lương tâm, ngay cả khi máu đang chảy vẫn không chen ngang.
- Đúng như vậy.
- Chiến tranh đã qua đi từ lâu, và ký ức cũng trôi đi cùng với nó. Liệu có cần níu giữ ký ức này không hay cứ để cho nó vận hành theo quy luật?
- Điều này không phụ thuộc vào chúng ta lẫn thời gian. Cho dù hiện nay chúng ta có viết gì về cuộc chiến tranh năm 1812, có làm những bộ phim mới đi chăng nữa, thì trong ký ức mọi người nó sẽ mãi mãi như Lev Tolstoy đã mô tả. Chúng ta chưa có một “Chiến tranh và hoà bình” về cuộc chiến tranh này. Nhưng rõ ràng nó vẫn tiếp tục lay động con tim và khối óc của hàng triệu người. Đạo diễn tài năng Nikita Mikhalcov vừa làm một bộ phim về chiến tranh. Mới đây ông tuyên bố rằng bộ phim này sẽ không dành cho các cựu chiến binh. Một lời tuyên bố rất thú vị. Nhưng chính điều tương tự đã xảy ra. Sau chiến tranh xuất hiện rất nhiều cuốn sách viết về một cuộc chiến tranh chưa hề có, mà lẽ ra cần phải có. Văn học chiến tranh đích thực đến muộn hơn... Nếu như bộ phim của N. Mikhalcov không dành cho các cựu binh đã kinh qua chiến tranh, thì rõ ràng nhà đạo diễn vốn rất nhạy cảm này muốn khẳng định một cách hiểu chiến tranh mới nào đó. Nhưng chiến tranh muôn đời vẫn thế: nó vừa là bi kịch vĩ đại, vừa là chiến công vĩ đại của nhân dân.
- Ông bắt đầu viết về chiến tranh sau một số năm. Có lẽ, cái độ lùi thời gian đó là cần thiết, nhưng dù sao tôi vẫn có cảm giác, điều quan trọng là tác giả vẫn sống với những xúc cảm như khi ông ta đang trực tiếp cầm súng chiến đấu.
- Anh nói đúng. Ví dụ, cuốn “Tấc đất” xuất bản năm 1959, được viết từ ngôi thứ nhất, mặc dù điều đó không có nghĩa là tôi viết về bản thân. Thủ pháp đó làm cho độc giả tin cậy hơn; họ nghĩ, đã ngôi thứ nhất thì nghĩa là sự thật. Tất cả vẫn sống động như là tôi viết trong chiến tranh. Còn cuốn “Mãi mãi là tuổi mười chín” đề cập tới thời gian khi con trai tôi đến cái tuổi mà tôi đang chiến đấu ngoài mặt trận. Đây là cái nhìn của một người cha đối với những chàng trai mãi mãi trẻ trung.
- Một trong những điều tốt đẹp nhất của những cuốn sách hay nhất về chiến tranh là lòng trắc ẩn. Khi ông nhận xét rằng trên đôi ủng của một người lính đã hy sinh vẫn còn dính đầy bùn đát, điều đó nói lên tính chất của cuộc chiến tranh nhiều hơn là một trận chiến đấu quy mô...
- Trong chiến tranh con người hiện lên như họ vốn có. Có cả những kẻ hèn nhát, những tên đê tiện, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những phẩm chất phi thường của con người. Đầu những năm 80 tôi nhận được một lá thư của người trưởng ban liên lạc cũ của trung đội tôi, trung sĩ Dzhundzgia. Cuối cùng, anh ta biết được địa chỉ của tôi và viết: “Tớ phát điên lên vì vui mừng”. Một bức thư hết sức cảm động mang âm hưởng của thời đại đó. Tôi vẫn còn nhớ những con người tuyệt vời đã từng chiến đấu với tôi. Tôi có một người bạn là chỉ huy khẩu đội 2, Sasha Belichenco. Sau chiến tranh anh ấy làm trưởng phòng quản trị ở một trường phổ thông. Sasha chiến đấu rất dũng cảm.
- Ông viết rằng điều tệ hại nhất là khi trong chiến tranh con người tiếc thân mình, và những người khác phải trả giá vì họ bằng máu. Còn điều tốt nhất thì thế nào, thưa ông?
- Là anh ta không tiếc thân mình và thương những người lính của mình... Nhưng thương những người lính trên mặt trận thì... Ví dụ, sau khi tốt nghiệp trường quân sự tôi trở thành trung đội trưởng. Gần như cả trung đội ai cũng lớn tuổi hơn tôi. Một lần, ban đêm tôi ra lệnh đào một cái hầm quan sát và ngụy trang cẩn thận. Sau đó tôi được điều động đi làm việc gì đấy và trở về lúc rạng đông. Mọi người mới chỉ đào được một cái hố nông choèn, có thể nằm nhưng không đứng được. Mà ngày mai người lính có thể bị bắn chết bởi điều đó. Anh thấy người lính đã hoàn toàn kiệt sức, dường như không làm được gì, mà anh vẫn bắt anh ta đào công sự đúng kích thước, và điều đó sẽ cứu sống anh ta. Tôi rất ngạc nhiên khi gần đây được đọc một bài báo về nhà văn Solzhenítsưn, nguyên là đội trưởng đội quân nhạc trong chiến tranh, nghĩa là ở xa tuyến đầu. Và tại đấy ông ta được nấu ăn riêng. Anh hãy hình dung rằng những người lính nhìn thấy anh ăn riêng, rằng anh ghê tởm những gì họ ăn. Thật không thể tưởng tượng nổi.
- Ông có nhắc tới tinh thần chiến đấu của quân đội, cái làm nên mọi chiến thắng. Mặc dù trong chiến tranh những người lính của chúng ta gặp vô vàn khó khăn, gian khổ...
- Tất cả có căn nguyên rõ ràng. Ví dụ, trong cuốn Đấu súng Kuprin mô tả các sĩ quan nghèo xuất thân từ tầng lớp tiểu quý tộc, chưa nói tới những người lính, được nuôi dưỡng trong cảnh bần cùng. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc của chúng ta những người lính cũng phải ăn uống rất kham khổ. Tôi được biết ở Italya, nếu trên chiến trường người thương binh cần truyền dịch thì người ta kê dưới đầu anh ta một cái túi để anh ta dùng đầu ấn xuống và dịch tự chảy. Vào đầu chiến tranh chính mắt tôi nhìn thấy trên sân ga những người lính mang bình đựng nước bằng thuỷ tinh. Lính Đức được trang bị súng máy có báng gập. Súng máy của ta cũng tốt, nhưng dù sao chúng tôi cũng tìm cách thu nhặt súng máy của Đức trên chiến trường. Chúng nhẹ nhàng và tiện lợi hơn. Lính Đức có nến để thắp, còn chúng tôi phải chế tạo ra những chiếc đèn Hoa Kỳ bằng vỏ đạn. Lính Đức có bật lửa. Còn chúng tôi có gì? Đó là một dụng cụ tự tạo gồm một cái giũa và viên đá lửa, được gọi đùa là “Cachiusa”. Vâng, chúng ta có những cỗ xe tăng tuyệt vời, trước năm 1943, không có loại tăng nào sánh kịp với [color=blue:fe2573028b]T-34-76[/color], sau đó xuất hiện loại xe tăng tự hành ưu việt hơn xe tăng của Đức, nhưng tiện nghi sinh hoạt của người lính, cái đảm bảo tinh thần chiến đấu của quân đội, thì ta thua xa. Con người xếp ở hàng chót bét. Và điều này kéo dài cho tới ngày nay. Thật xấu hổ khi có hàng chục, thậm chí hàng trăm ngàn sĩ quan không có nhà ở, rằng ở các doanh trại xa xôi những người vợ của họ không có việc làm, phải hưởng đồng tiền trợ cấp chết đói...
- Ngoài mặt trận có ai đào ngũ không?
- Anh ta sẽ bị bắn ngay lập tức. Tinh thần chiến đấu của người lính phụ thuộc vào cái mà vì nó anh ta chiến đấu. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc của chúng ta mọi người chiến đấu vì Tổ quốc.
- Vì thế mà ông xung phong ra mặt trận?
- Phải chăng chỉ một mình tôi. Cả thế hệ của chúng tôi, nhiều người đã ra mặt trận.
- Ông có sợ không?
- Không có sự sợ hãi. Thứ nhất, vì anh còn trẻ; và thứ hai, anh không hình dung được nó là gi. Yulya Drunina viết: “Chỉ một lần em nhìn thấy trận đánh giáp lá cà. Một lần thật và trăm lần trong giấc ngủ. Ai nói rằng chiến tranh không đáng sợ. Kẻ ấy không biết gì về chiến tranh”. Quả là có một số người biết chế ngự nỗi sợ hãi. Sự xấu hổ mạnh hơn nỗi sợ hãi. Còn những người khác không thể vượt qua điều đó. Để có khả năng chiến đấu quân đội cần phải có mục đích rõ ràng, có những người sĩ quan tư duy hiện đại, vũ khí tối tân, và tất nhiên là sự tôn trọng những người lính và sĩ quan, được thể hiện trong việc nuôi dưỡng họ như thế nào.
- Còn các vị tướng thì sao? Có vẻ như đội ngũ tướng lĩnh của chúng ta đang ngày càng trở nên già cỗi...
- Trong khi người Mỹ tham chiến ở Iraq bằng vũ khí hiện đại, thì chúng ta hiện nay vẫn chiến đấu bằng sinh mạng con người. Nói chung, nguời ta cho rằng các tướng lĩnh bao giờ cũng được đào tạo cho cuộc chiến tranh trước đây. Trong khi đó hiện nay tư tưởng quân sự và vũ khí trên thế giới đã đạt tới trình độ rất cao. Điều này thật đáng sợ, vì rằng những bộ óc thông minh đang chế tạo ra những cái có thể tiêu diệt cả nhân loại. Phải chăng đó là công việc của con người?
- Nhân đây, xin ông cho biết thái độ của mình đối với việc Mỹ tấn công Iraq?
- Một mặt, tại sao một đất nước lại đi xâm lược một nước khác chỉ vì ở đấy người ta điều hành không như ý mình? Nhưng mặt khác, tôi tin rằng cuộc chiến tranh thế giới thứ hai có thể không xảy ra, nếu phương Tây và chúng ta không cho phép Hitller dần dần tiến tới nó. Và điều gì đã xảy ra khi người ta không can thiệp vào công việc của y? Một cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử mà nhiều thế hệ đã tham gia và biến mất dường như không ra đời.
- Nghe nói, ông vừa hoàn thành hai cuốn sách?
- Đúng vậy. Một tuyển tập truyện ngắn và một cuốn tập hợp các bài báo, hồi ký. Có điều, khác với thời trẻ, hiện nay tôi không muốn công bố ngay những gì mình mới sáng tác.
(Báo Văn nghệ)