HỒ SƠ THẾ CHIẾN THỨ HAI - 1941

[size=24:dd5f47a917][color=darkblue:dd5f47a917]Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941[/color][/size]
[size=18:dd5f47a917][color=darkblue:dd5f47a917]VI. Chiến dịch tấn công Tikhvin (10.11.41-30.12.41)[/color][/size]
Với mục đích đánh chặn, liên kết nhóm Tikhvin với phía sau của nó, bộ chỉ huy quân đội Xô Viết đã quyết định. Đội quân (Phía bắc) do tướng Ivanov chỉ huy có nhiệm vụ: kiểm soát cánh phải tại mặt phía nam khống chế toàn bộ đường cao tốc và tuyến đường sắt Tikhvin – Volkhov, chặn đường rút của quân Đức tại phía tây. Hỗ trợ bên sườn phải cho đội quân (Phía bắc), đội quân "Pavlovich" có nhiệm vụ cắt ngang tuyến đường sắt Tikhvin – Budogosh và đánh chặn đường rút của quân Đức tại hướng tây nam, do đó cả hai cánh quân sẽ từ hai phía bắc và nam chặn tất cả các phương tiện liên lạc của quân Đức, phá vỡ vòng vây xung quanh thành phố và giải phóng Tikhvin.
Sư đoàn súng trường số 65 xâm nhập vào thành phố từ hướng tây nam. Đội quân (Phía nam), do tướng Yakovlev chỉ huy có nhiệm vụ tiến thẳng vào phương diện chính tại Budogosh với mục đích cắt toàn bộ liên lạc và đường rút lui của quân Đức ở gần Tikhvin. Đồng thời với sự tấn công của của quân đoàn số 4, các lực lượng của mặt trận "Leningrad" tràn qua sông Volkhov để tấn công vào quân địch tại phương diện Kirishi, xúc tiến cho quân đoàn số 4 chiếm lĩn trận địa trên Tikhvin. Bên cạnh đó phía bên trái quân đoàn số 52 đã sẵn sàng đợi lệnh chiến đấu.
Ngày 19 tháng 11 cuộc tấn công của quân đoàn số 4 đã dần triển khai. Sáng ngày 5/12, quân đoàn số 4 ổn định lại đội hình và tăng cường củng cố thêm lực lượng, một lần nữa lại tổ chức tấn công. Quân đoàn (Phía bắc) đã chiếm được hữu ngạn sông Tikhvinka. Các cuộc tấn công của Hồng quân trên mặt trận phía đông và phía nam vào thành phố đang triển khai rất tốt đẹp.
Kết quả của ngày 8/12, sư đoàn súng trường số 65 và 191 đã phá vỡ tuyến phòng thủ của quân Đức và tiến vào Tikhvin. Tối ngày 9/12, cuộc tấn công quyết định bắt đầu, hai sư đoàn số 191 từ hướng bắc và sư đoàn số 65 từ hướng nam cùng một lúc triển khai lực lượng tấn công và được sự hỗ trợ bởi pháo binh. Không thể chống đỡ nổi các đợt tấn công như vũ bão của quân đội Xô Viết, quân Đức bắt đầu rút chạy. Vào đêm ngày 9/12/1941 hai sư đoàn số 191 và 65 của quân đội Xo Viết đã tấn công ồ ạt vào thành phố.
Mọi chiến sự trên phương diện Budogosh đã triển khai thành công rực rỡ, với sư đoàn súng trường số 65 và sư đoàn kỵ binh số 27 đã truy đuổi kẻ thù bền bỉ làm cho sư đoàn súng trường số 4 của Đức tan rã hoàn toàn tại Sitomli và đã chế ngự được con đường trên Budogosh, đưa quân Đức vào vòng vây. Quân Đức một số rút chạy vào rừng phía tây nam một số đầu hàng và chúng đã vứt bỏ lại các khí tài, vũ khí, thương binh…
Cuộc chiến đấu với quân thù trên hữu ngạn sông Volkhov cũng đã chấm dứt. Ngày 21/12 lực lượng trên cánh tả của quân đội đã giải phóng thành phố Budogosh và ngày 27/12 đã tiến đến sông Volkhov trên phương diện Kirishi. Do đó, tất cả vùng lãnh thổ và tuyến đường sắt Tihkvin-Volchov đã được quân đội Xô Viết làm chủ. Cuộc tấn công của quân Đức với chủ tâm đánh chặn con đường cuối cùng nối liền giữa Leningrad với tổ quốc và bóp ngẹt dự định phòng thủ của Leningrad bằng sự phong tỏa nguồn thực phẩm đã bị bẻ gãy. Các sư đoàn quân Đức đã bị đẩy lùi về ranh giới ban đầu.
http://lenbat.narod.ru
 
[size=24:f9f2ddb17a][color=darkblue:f9f2ddb17a]Trận đánh tại Minsk [/color][/size]

Trận đánh tại Białystok-Minsk là một cuộc chiến biên giới giai đoạn mở màn trong chiến dịch Barbarossa của cuộc xâm lược nước Nga do Đức tiến hành năm 1941.
Đội quân vũ trang Wehrmacht tràn ra khỏi Balan cùng với quân đoàn chính diện dưới sự chỉ huy của thống chế Fedor von Bock dọc theo trục Minsk - Smolensk tiến thẳng đến Moscow. Cái gọi là: Mũi pháo đài Bialystok, mặt trận phía tây Xô Viết đổi tên lại là Quân khu đặc biệt phía tây, được phòng vệ bởi các quân đoàn số 3, số 4, số 10 nằm dọc theo tuyến biên giới dưới sự chỉ huy của tướng Dmitry Pavlov, quân đoàn số 13 lúc đầu chỉ là một sở chỉ huy và chưa được bố trí lực lượng. Hồng quân được bố trí lực lượng tại Belarussia với kế hoạch phản kháng lại các cuộc tấn công của quân Đức, chế ngự địch đang chiếm đóng tại Balan
Khi quân Đức bắt đầu tấn công, tất cả các đường dậy liên lạc và các sân bay tại mặt trận phía tây bị quân Đức phá hủy hoàn toàn. Đội quân số 9 và số 4 của quân đoàn chính diện Đức xuyên qua phía bắc và phía nam đường biên giới của mũi pháo đài Bialystok. Ngày 23/6, quân đoàn số 10 Hồng quân Liên Xô tổ chức phản công theo kế hoạch đã dự định, nhưng bị thất bại. Ngày 24/6, tướng Pavlov ra lệnh cho tướng Boldin chịu trách nhiệm chỉ huy các quân đoàn cơ giới số 6, số 11 và quân đoàn kỵ binh số 6 tiếp tục tổ chức phản công theo hướng Grodno để phá vỡ vòng vây của địch cho lực lượng Hồng quân ở gần Bialystok. Cuộc phản công này bị tổn thất nặng nề, tuy nhiên một số đợn vị đã thoát ra được vòng vây và tiến đến Minsk. Chiều ngày 25/6 quân đoàn thiết giáp số 47 của Đức đã cắt đôi giữa Slonim và Volkovysk. Tướng Pavlov ra lệnh cho tất cả binh sĩ rút lui về mũi pháo đài phía sau sông Shchara tại Slonim để tránh vòng vây của quân địch. Các mũi quân chính không thể bẻ gãy được thế tiên công của quân Đức nên cũng phải rút, do cuộc rút lui nên đã mở ra hướng phía nam cho quân Đức tấn công vào Minsk.
Ngày 27/6 đội quân thiết giáp số 2 và số 3 đã liên kết tiến đánh phía bắc và phía nam gần Minsk. Ngày 28/6 quân đoàn số 4 và số 9 tập hợp tại phía đông Bialystok chia cắt lực lượng Hồng quân làm hai nhóm biệt lập: Một phần lớn tại Bialystok gồm quân đoàn số 9 và phần nhỏ còn lại tại Novogrudok gồm các quân đoàn số 3 và số 13. Sau 17 ngày, mặt trận phía tây Xô Viết đã tổn thất 420.000 binh sĩ trong tổng số 625.000 người. Ngày 29/6. Minsk thủ phủ của Belarussia bị thất thủ. Cuộc phản công tiếp theo của quân đoàn hành quân hàng không số 4 và quân đoàn cơ giới số 20 của Hồng quân cũng bị thất bại. Ngày 30/6 đội quân này hoàn toàn bị tan vỡ. Trong đó, các quân đoàn số 3, số 10, số 13 và một phần của quân đoàn Xô Viết số 4 cũng bị địch làm tê liệt gần như toàn bộ, số binh sĩ còn lại của quân đoàn Xô Viết số 4 quay lại phía đông theo hướng sông Berezina.
Sau cuộc chiến giành phần thắng, lực lượng vũ trang Đức (Wehrmacht) đã nhanh chóng tiến đánh Smolensk,
Chỉ huy mặt trận, tướng Pavlov và một số sĩ quan khác lập tức bị triệu tập về Moscow và bị cáo buộc là có chủ ý phá hoại tuyến phòng ngự, tránh né không giao chiến với quân địch và bị hành quyết, cùng với gia quyến bị quản thúc về tội phản bội tổ quốc (họ đã được phục hồi danh dự vào năm 1956) theo lệnh số NKVD - 00486 :(Operational Order of People's Commissar of Internal Affairs of the USSR by August 15, 1937 # 00486, Оперативный приказ народного комиссара внутренних дел СССР № 00486)
http://www.answers.com

Tù binh chiến tranh Xô Viết tại Bialystok
3_115.jpg

Białystok năm 1941
6_248.jpg

Minsk sau thế chiến thứ hai
3_220.gif

Bọn Đức hành quyết nữ chiến sĩ 17 tuổi Masha Bruskina và các du kích khác tại Minsk tháng 10/1941
2_127.jpg

Quân thiết giáp của Đức tại Minsk (1941).
1_235.jpg
 
[size=24:a858a5401d][color=darkblue:a858a5401d]Trận đánh đầu tiên tại Kharkov[/color][/size]
Là một phần của chiến dịch Barbarossa. Quân đoàn phía nam của Đức đổ bộ thẳng vào thành phố Kharkov của Liên Xô (nay là Kharkiv, Ukraine) vào ngày 20/10/1941. Tại trong thành phố, một quân đoàn Nga đã thành lập một vành đai phòng thủ. Trong thời gian này, toàn bộ các công xưởng, xí nghiệpđã được tháo dỡ và xây dựng lại xa hơn nữa về phía đông. Ngày 21/10, tất cả các trang thiết bị của các công xưởng đượcbốc xếp lên các chuyến tảu hỏa để di chuyển. Cũng trong ngày hôm đó, quân Đức đã đánh phá 7 dặm tuyến đường sắt. Quân đoàn số 6 và số 7 của Đức tấn công các vị trí quân sự của Nga vào ngày 24/10 và kiểm soát toàn bộ thành phố cũng trong ngay hôm đó.
http://www.answers.com
 
[size=24:d93cac33da][color=darkblue:d93cac33da]Uman 7/1941-8/8/1941 một thất bại[/color][/size]

Trận đánh tại Uman 7/1941-8/8/1941 là một trận đánh trên mặt trận phía đông của thế chiến thứ hai vào mùa hè năm 1941. Cuộc chiến đã xảy ra tại phía tây Ukraina giữa quân đoàn phía nam của Đức được chỉ huy bởi tướng Gerd von Rundstedt với lực lượng quân đội Xô Viết trên phương diện quân tây nam, được chỉ huy bởi thống soái Semyon Budyonny, bao gồm cả lực lượng mặt trận tây nam Xô Viết dưới sự chỉ huy của đại tướng Mikhail Kirponos và lực lượng mặt trận phía nam Xô Viết dưới sự chỉ huy của tướng quân đội Ivan Tyulenev.
Trong những tuần đầu tiên của chiến dịch Barbarossa, tập đoàn quân phía nam của Đức đã nhanh chóng tiến thẳng đến phía đông , đánh chiếm Lvov, Tarnopol , Vinnitsa và làm mất hiệu lực 4 quân đoàn cơ giới của Hồng quân do tướng Kirponos chỉ huy trong một trận phản công. Vấn đề này đã diễn ra một trận giao chiến giữa các lực lượng xe tăng của hai bên. Lực lượng xe tăng của Xô Viết đông đảo hơn so với quân Đức, nhưng trong các cuộc giao chiến thì họ lại tỏ ra kém hiệu quả. Lực lượng quân Xô Viết cố gắng bẻ gãy dường hành quân của đội hình Đức, nhưng họ lại đánh cả hướng nam và bắc tại khu vực Dubno. Nhày 29/6/1941, quân Đức tạm dừng cuộc tiến, nhưng các lực lượng của quân đội Xô Viết cũng đã kiệt sức nên đành ra lệnh rút quân.
Ngày 10/7/1941, Thống soái Budyonny nhận lệnh tổng chỉ huy toàn bộ lực lượng trong chiến dịch trên phương diện phía tây nam, kết hợp tác chiến giữa các mặt trận tây nam và mặt trận phía nam. Budyonny chỉ huy 1.5 triệu binh sĩ ở hai vùng rộng lớn tại Uman và Kiev. Ông đã dành thế chủ động để mở màn ba cuộc tấn công sâu vào lãnh thổ Ukraina. Tướng Đức Ewald von Kleist của đội quân thiết giáp số 1 đánh bạt vào một mũi nhọn tấn công giữa hai cánh quân Xô Viết tại nam Kiev và bắc Uman, chiếm giữ được thành phố Berdichev ngày 15/7/1941 và thành phố Kazatin ngày 16/7/1941. Tướng Kazatin Karl-Heinrich von Stülpnagel chỉ huy tập đoàn quân số 17 Đức tiến thẳng đến phía nam Uman và tướng Ritter von Schobert chỉ huy tập đoàn quân số 11 Đức tiến đến từ hướng bắc biên giới Romania (Schobert bị chết ngày 11/9/1941 khi chiếc máy bay của ông ta hạ cánh xuống một bãi mìn)
STAVKA và chỉ huy của mặt trận phía nam đã sai lầm khi tính rằng quân Đức sẽ có ý định vượt qua sông Dnieper giữa Kiev và Cherkassy để tiếp tục tiến đánh Donbass cũng như đánh giá thấp mối hiểm nguy của quân Đức đang bao vây các quân đoàn Xô Viết số 6 và số 12. Ngày 28/7/1941, một mệnh lệnh của tổng chỉ huy mặt trận đã ban ra cho các lưc lượng tại mặt trận phía nam và mặt trận tây nam huy động lực lượng để đánh chặn quân Đức tại sông Dnieper và chỉ rút lui các lực lượng tại phương diện phía đông ra khỏi trận chiến. Kết quả, thời cơ rút lui của phương diện quân phía đông nam để tránh hiểm nguy trong vòng vây địch đã thất bại.
Ngày 2/8/1941, vòng vây đã bị thắt chặt bởi đội quân thiết giáp số 1 và quân đoàn bộ binh số 17 của Đức. Vòng vây lại tiếp tục được tăng cường siết chặt hơn nữa vào ngày hôm sau, do sư đoàn quân thiết giáp số 16 của Đức kết hợp với quân đoàn cơ giới Hungary (hay còn gọi là Gyorshadtest) tiến hành phong tỏa. Ngày 8/8/1941, mọi sự kháng trả của quân đội Xô Viết hầu như dừng lại. Hai mươi sư đoàn của quân đoàn Xô Viết số 6 và tập đoàn quân Xô Viết số 12 gần như tan vỡ. Theo như tường trình, khoảng 100.000 binh sĩ bị bắt giữ. Trong số tù binh chiến tranh đó có cả các sĩ quan chỉ huy của quân đoàn Xô Viết số 6 và tập đoàn quân Xô Viết số 12, bốn chỉ huy quân đoàn và mười một chỉ huy sư đoàn.
Tổng cộng quân đội Xô Viết bị tổn thất trong chiến dịch này rất khó để ước đoán. Nhưng cũng có thể tạm đưa ra một con số gần đúng là: 200.000 người bị chết và bị thương, 100.000 người bị bắt bắt giữ.
http://www.answers.com

Uman 1941
5_232.jpg

Lính Đức đi trinh sat trước trận đấu. Gần Uman- Ukraina, 8/1941
3_304.jpg

Uman- August 1941
2_303.jpg

Các khẩu pháo bỏ lại trong cuộc chiến. hầu như của dơn vị pháo binh quân đoàn số 12 Ukraina, vùng lân cận của Uman. 8/1941
1_489.jpg
 
[size=24:48d6c96818][color=darkblue:48d6c96818]Trận chiến Brody[/color][/size]
Trận chiến tại Brody là một trận đánh lớn giữa tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Đức với 5 quân đoàn cơ giới Xô Viết tại Ukraina. Đây là một trong những trận đánh dữ dội nhất trong giai đoạn mở màn của chiến dịch Barbarossa.
Tập đoàn quân đoàn phía nam của Đức được triển khai lực lượng tại phía nam Balan và Romania, dưới sự chỉ huy của thống chế Gerd von Rundstedt. Tập đoàn quân đoàn này có các quân đoàn số 6 và số 17 tại Balan và quân đoàn số 11 đóng tại Romany. Lực lượng cơ giới của nó có một quân đoàn thiết giáp số 1 dưới sự chỉ huy của tướng Paul Ludwig Ewald von Kleist, lực lượng bộ binh bồm 33 sư đoàn, lực lượng thiết giáp gồm 3 sư đoàn môtô và 5 sư đoàn bọc thép. Hỗ trợ cho quân Đức còn có một số lực lượng khác của Romany, Italy và Slovakia.
Để chống trả quân Đức, tại phía nam có lực lượng mặt trận tây nam của Nga gồm có: Các sư đoàn cận vệ số 5, số 6, số 12, số 26. 27 sư đoàn súng trường và kỵ binh, 12 sư đoàn xe tăng cùng 6 sư đoàn môtô. Thêm một mặt trận Xô Viết ở phía nam cũng được gọi là mặt trận phía nam của Nga, tại đây tập trung các lực lượng quân Xô Viết như: sư đoàn số 9, số 18 cùng 17 sư đoàn súng trường và kỵ binh, 6 sư đoàn xe tăng và 3 sư đoàn môtô
Phía cánh tả tập đoàn quân phía nam của Đức được tung thêm sư đoàn số 6, số 17 và quân đoàn thiết giáp số 1. Bên phía quân đội Xô Viết gồm có quân đoàn số 5, số 6, số 26. Quân đoàn số 6, số 7 của Đức tiến hành tấn công vào vị trí tiếp giáp giữa các quân đoàn số 5, số 6, số 26 của Xô Viết, để cho tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Đức dồn một mũi nhọn bọc thép 600 xe tăng của nó tiến xuyên qua quân đoàn số 6 của Xô Viết thẳng tiến vào thị trấn của Brody
Ngày 26/6, năm quân đoàn cơ giới của Xô Viết gồm có: số 4, số 8, số 9, số 15 và số 19 với hơn 1.000 xe ào ạt phản công từ các phía bắc và nam, với mục đích đánh tạt vào sườn tập đoàn thiết giáp số 1 của Đức và cùng chiếm lĩnh trận địa gần thành phố Dubno. Trận đánh các quân đoàn cơ giới của Xô Viết với tập đoàn quân thiết giáp của Đức diễn ra mãnh liệt nhất trong toàn bộ thời kỳ chiến tranh. Trong suốt 4 ngày đêm, quân đội Xô Viết chiến đấu rất mãnh liệt, các biên đội xe tăng và các khẩu đội súng chống tăng của Đức rất khiếp sợ trước loại xe tăng T-34 mới của Xô Viết do các loại súng đạn của chúng hầu như không làm gì được loại xe này.
Tuy nhiên quân đội Xô Viết chưa thật sự triển khai đội hình tăng được một cách tốt nhất hoặc không tập chung hỏa lực thành từng nhóm. Xe tăng Xô Viết thường tác chiến độc lập, do vậy Luftwaffe đã thoải mái tràn khắp trên chiến trường , bẻ gãy đội hình quân Xô Viết và bắn phá loạn xạ vào bất kỳ mục tiêu nào mà chúng gặp. Kết quả, gọng kìm của các lực lượng Xô Viết dự định sẽ chiếm lĩnh trận địa tại Dubno bị thất bại.
http://www.answers.com
Những chiếc tăng T-35 và T-26 của quân đoàn cơ giới số 8 tại Dubno 7/1941
1_258.jpg
 
[size=24:7918ef67f6][color=darkblue:7918ef67f6]Trận đánh Tại Kiev[/color][/size]

Trận đánh tại Kiev là một trận bao vây khổng lồ trên đất Ukraina trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đến ngày nay nó vẫn được đề cập đến như là một trận đánh vây lớn nhất trong lịch sử. Trận đánh bắt đầu từ trung tuần tháng 8 đến 26/9/1941 và nó là một phần trong chiến dịch Barbarossa của quân Đức. Trong lịch sử quân đội của Xô Viết đây là một cuộc chiến đấu được coi như là một "Chiến dịch phòng thủ Kiev" – " Киевская оборонительная операция". Trong thời gian từ 7/7 – 26/9 gần như toàn bộ Hồng quân Liên Xô trên chiến trường Tây nam của Xô Viết đã giao tranh quyết liệt với vòng vây của quân Đức, 665.000 người bị bắt giữ làm tù binh. Trong trận chiến này, quân Đức đã vây kín tại Kiev không một kẽ hở, tuy nhiên chỉ có một số nhỏ binh sĩ Hồng quân thoát được ra ngoài trước khi quân Đức khép chặt vòng vây, bao gồm cả nguyên soái Budyonny, nguyên soái Timoshenko và chính ủy Khrushchev. Tuy nhiên, một sự thất bại chưa từng thấy đã xảy ra với Hồng quân tại đây nó nặng trọng hơn cả tấn thảm kịch đã xảy tại Minsk từ tháng 6 đến tháng7/1941. Ngày 1/9/1941 trên mặt trận tây nam, gồm 752-760.000 binh sĩ (850.000 cả quân dự bị và bộ phận hậu cần), 3.642 súng và pháo binh, 167 máy bay chiến đấu. Kế tiếp theo cuộc bao vây gồm 452,700 binh lính, 2,642 súng, pháo binh và 64 xe tăng, ngày 2/10 có 15.000 binh lính thoát khỏi vòng vây. Toàn bộ trên chiến trường tây nam có 700.544 bị thương vong bao gồm có 616.304 người bị chết, bị bắt giữ hoặc mất tích trong thời gian một tháng dài chiến trận trên đất Kiev. Theo kết quả đó, 4 quân đoàn Xô Viết (số 5, số 37, số 26 và số 21) gồm có sư đoàn 43 hầu như bị tổn thất toàn bộ.
Cuối tháng tám, bộ tư lệnh tối cao của Đức (OKH) đã phải có sự lựa chọn: Hoặc tiếp tục tiến quân thẳng đến Moscow, hoặc triệt tiêu lực lượng quân đội Xô Viết tại hướng nam. Bởi do quân đoàn phía Nam của Đức hiện đang thiếu lực lượng để dàn trải ra các mặt trận, một phần lớn lực lượng của quân đoàn chính diện Đức lại cần phải đi thực hiện nhiệm vụ khác. Sau cuộc bàn cãi trong nội bộ OKH, phần chính của đội thiết giáp số 2 (Panzergruppe 2) và lực lượng quân đội số 2 đã được tách ra khỏi quân đoàn chính diện của Đức để chuyển đến phía nam bao vây quân đội Xô Viết và sẽ liên kết với quân đoàn phía Nam tại phía đông Kiev
Các đội quân thiết giáp của Đức được xúc tiến nhanh chóng để hình thành thế trận bao vây với ý đồ đánh úp quân đội Xô Viết của nguyên soái Budyonny. Cuộc bao vây quân đội Xô Viết đã được tiến hành vào ngày 16/9 khi hai cánh quân của Đức giữa đội quân thiết giáp số 1 do Kliest chỉ huy và quân đoàn số 24 do Guderian chỉ huy đã gặp nhau tại Lokhvitsa, 120 dặm phía sau Kiev.
Sau đó, vòng vây đã được bịt kín. Về phía quân đội Nga, những sự choáng váng đã bộc lộ. Họ hầu như không còn khả năng để bẻ gãy được vòng vây của quân địch. Quân đoàn số 17 và quân đoàn số 6 thuộc tập đoàn quân phía Nam của Đức cũng như quân đoàn số 2 thuộc tập đoàn quân chính diện Đức sau đó đã được thêm sự trợ giúp của lực thiết giáp nên càng siết chặt vòng vây hơn nữa. Cuộc bao vây quân đội Nga tại Kiev ngày càng quyết liệt. Một trận chiến tấn công dữ dội của quân đội Xô Viết đã bị thất bại bởi pháo binh, xe tăng và máy bay địch cũng tham chiến. Ngày 19/9, Kiev đã có rất nhiều người bị thiệt mạng nhưng cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn không lúc nào ngưng nghỉ. Sau nhiều ngày giao tranh và bị nhiều tổn thất, ngày 26/9 Kiev thất thủ, quân Đức đã bắt giữ khoảng hơn 600.000 binh sĩ Hồng quân làm tù binh.
http://en.wikipedia.org
kiev.jpg
 
[size=24:1ac3254392][color=darkblue:1ac3254392]Rostov na Donu[/color][/size]
Trận đánh tại Rostov (1941) là một cuộc chiến trên mặt phía Đông của Thế chiến thứ II, cuộc chiến đấu này đã bao trùm toàn bộ khu vực Rostov trên sông Đông giữa lực lượng Hồng quân của mặt trận phía Nam - Xô Viết do tướng Yakov Timofeyevich Cherevichenko chỉ huy với tập đoàn quân phía Nam của Đức dưới sự chỉ huy của tướng Gerd von Rundstedt.
Sau khi đã giành phần thắng tại mặt trận Kiev trong tháng 9/1941, tập đoàn quân phía Nam của Đức từ phía sông Dnieper đã thúc quân xuống vùng bờ biển Azov. Quân đoàn số 6 của Đức do Walther von Reichenau chỉ huy tiến đánh Kharkov. Quân đoàn số 17 do Carl-Heinrich von Stülpnagel chỉ huy hành quân xuyên qua thành phố Poltava nhằm hướng Voroshilovgrad để tiến quân. Quân đoàn số 11 do Erich von Manstein chỉ huy tiến vào Crimea và cũng đã giành được kiểm soát toàn bộ vùng bán đảo này. Ewald von Kleist chỉ huy quân đoàn thiết giáp số 1 từ Kiev lao xuống bao vây Hồng quân Xô Viết tại Melitopol trong tháng 10/1941, chúng càn quét khắp khu vực phía đông vùng bờ biển Azov hướng về Rostov khu hạ nguồn sông Đông và cửa ngõ Caucasus.
Ngày 21/11 quân Đức đánh chiếm Rostov. Tuy nhiên các tuyến quân của Đức đã bị trải rộng ra khắp các mặt trận và chính Kleist đã phải cảnh báo rằng cánh quân phía sườn trái của ông ta rất dễ bị Hồng quân tấn công do lực lượng tăng thiết giáp ở đây sẽ chẳng làm được trò trống gì trong thời tiết của một mùa đông lạnh buốt này. Ngày 27/11 quân đoàn số 37 của Hồng quân Liên Xô dưới sự chỉ huy của trung tướng Anton Ivanovich Lopatin đã tổ chức phản công vào một mũi nhọn phía bắc thuộc quân đoàn thiết giáp số 1 của Đức, bắt buộc chúng phải rút chạy ra khỏi thành phố. Adolf Hitler lên tiếng phản đối cuộc rút chạy này. Khi đó Von Rundstedt đã bất tuân mệnh lệnh, do đó ông ta đã bị Hitler lập tức cách chức. Nhưng dù sao cuộc rút chạy của quân Đức cũng không thể tránh khỏi, quân đoàn thiết giáp số 1 của Đức cuối cùng cũng phải tháo chạy về phía sông Mius tại Taganrog. Đây cũng là cuộc chạy trốn đáng kể nhất của quân Đức trong thời kỳ chiến tranh.
http://www.answers.com

Sevastopol.jpg

Rostov.jpg
 
[size=18:feddb73c7c][color=darkred:feddb73c7c]Cuộc phá vây của chiến hạm Bismarck - 20-27 tháng năm, 1941[/color][/size]

1-1.jpg

[color=darkblue:feddb73c7c]Chiến hạm Bismarck của Đức trong thời gian chiến tranh


Mùa xuân năm 1941, trận không chiến tại Anh đã không thể bẻ gãy được ý chí chiến đấu của dân chúng nước Anh. Trận đánh dữ dội trên Đại tây dương hội tụ vào các đội U-boats Kriegsmarine của Đức, chúng tấn công các thương tàu làm tác động dữ dội đến nước Anh và nó cũng ý định làm cho người Anh phải chịu khuất phục. Ngoại trừ một số ngoại lệ, một số tàu chiến chính của Đức không tham gia vào các cuộc đột kích trên Đại tây dương này. Do đó chiến sự đã chuyển sang một trận đột kích của hạm đội Bismarck và chiếc tàu tuần dương hạng nặng Prinz Eugen trong tháng 5/1941.
Bismarck là một chiến hạm hiện đại được bọc thép chắc chắn, nó được trang bị 8 khẩu 15”. Các tuần dương đô đốc Gneisnau và Scharnhorst được biên chế cùng chiến hạm này, nhưng chiếc Gneisnau đã bị hư hỏng vì không kích còn chiếc Scharnhorst thì cần thay thế lại nồi hơi. Tiếp nữa còn có chiếc Tirpitz, nó cùng một kiểu với chiếc Bismarck, chiếc tàu chiến này được biên chế cùng hạm đội nhưng chưa được đưa vào sử dụng. Theo lịch trình cho tháng tư bị chậm lại do chiếc Prinz Eugen cần được tu sửa vì nó vừa bị trúng thủy lôi.
Đô đốc hải quân Đức Gunther Lütjens và các chuyên viên chiến lược của Y không hề biết rằng có một sự hợp tác rất chặt chẽ hiện đang lớn mạnh giữa các lực lượng hải quân Mỹ và Anh. Người Mỹ đã đồng ý mở rộng các hoạt động tuần tra của họ đến phía tây Đại tây dương, họ cũng đã chế tạo mới một loại máy bay tuần tra tầm xa - Catalina cho nước Anh. Những thỏa thuận này cho phép nước Anh tập trung huy động năng lực phòng thủ tại quốc gia của mình. Hơn nữa, chiếc tàu vận tải HMS - Vinh quang vừa mới được trang bị thành tàu chiến, nó đang sẵn sàng được tham chiến. Cơ quan tình báo cũng phát hiện được rằng, các tàu chiến Đức đã nhận được những hải đồ mới và hải cảng của Pháp tại Brest cũng được tân trang để tiếp nhận trợ giúp tàu chiến loại lớn.
Ngày19/5, Lütjens đến từ Đức để hỗ trợ cho Norway. Với nhiều lý do, Lütjens đã không ra lệnh cho Bismarck tiếp nhiên liệu từ tàu chở dầu. trong khi Bismarck đang ẩn nấp tại vịnh Norway, một chiếc máy bay do thám của RAF (không lực Hoàng gia Anh) đã phát hiện ra Bismarck ngày 20-21/5. Phát hiện này đã làm hoang mang cho tất cả lực lượng hải quân Hoàng gia. Bởi nếu như hai tàu chiến địch có thể đánh được vào cửa ngõ của Đại tây dương, chúng sẽ tiến hành tàn phá rất nguy hiểm cho hàng phòng thủ trên biển. Tổng tư lệnh lực lượng hải quân Hoàng gia Anh, đô đốc John Tovey có trong tay một số lượng tàu chiến rất đông đảo nhưng chúng lại được trải rộng trên rất nhiều vị trí. Những vị trí của hải quân Hoàng gia từ Gibraltar đến Iceland đã được báo động để canh phòng tàu chiến.
HMS Norfolk cùng với chiếc tuần dương hạm HMS Suffolk đã được điều đi tuần tra trên eo biển Đan Mạch giữa vùng Greenland và Iceland, ngày 23/5 chúng phát hiện thấy tàu chiến Đức và đã phát tín hiệu cảnh báo về tổng hành dinh đô đốc.
Sáng ngày 24/5, hai chiếc HMS Hood và HMS Prince của xứ Wales đã đến phạm vi thiết lập đội hình tại phía bắc và bắt đầu triển khai hỏa lực vào quân Đức. Chiếc Bismarck và chiếc Prinz Eugen của Đức quay lại bắn trả. Trong vòng 17 phút, chiếc Bismarck đã ba lần bắn trúng vào tàu chiến của Anh. Chiếc HMS Hood nổi giận, giáng trả liên tiếp hai lần hỏa lực trúng đối phương. Chiếc Prince của xứ Wales. Một chiếc tàu chiến mới cũng bị nhiều vết đạn do chiếc Bismarck và Prinz Eugen nã trúng.
Chiếc HMS Hood bị đánh chìm làm cho lực lượng Hải quân Hoàng gia và công chúng Anh nổi giận. Lütjens thấy rằng cuộc chiến sẽ bị thiệt hại giống như cuối trận Đại Tây Dương và Y quyết định đánh thẳng vào Brest để tìm lối thoát cho chiếc Prinz Eugen, trong khi đó chiếc Bismarck cố gắng lẩn trốn sự truy đuổi của các tàu chiến Anh. Lütjens hy vọng rằng, Y sẽ có được sự cứu viện từ căn cứ không quân tại Pháp trước khi các tàu chiến của Anh có thể bắt kịp.
Hải quân Anh lại một lần nữa mất dấu vết của chiếc Bismarck cho đến tận ngày 26/5, một sĩ quan hải quân Hoa kỳ trên chiếc máy bay tuần tiễu Catalina phát hiện ra chiếc Bismarck xuyên qua đám mây, Tovey liền thông báo ngay cho lực lượng hải quân Hoàng gia. Với hai phát thủy lôi, chiếc oanh tạc cơ ngư lôi thuộc hạm đội HMS Ark đã phá hỏng chiếc Bismarck, phát thứ nhất chỉ đánh hỏng nhẹ ở mớn nước gần sống mũi con tàu, nhưng phát thứ hai đã phá hủy nặng nề ở phần đuôi lái của nó.
Lütjens nhận thấy rằng ông ta đang gặp một trở ngại ngiêm trọng. Ông ta không thể điều khiển được con tàu được nữa và mức nhiên liệu dự trữ cho động cơ cũng sắp cạn kiệt. Ông ta cảm thấy hối tiếc vì đã không tiếp thêm nhiên liệu ở Norway.
Ngày 27/5/1941,Tovey tiếp tục giáng thêm hỏa lực vào chiếc Bismarck. Với lợi thế lực lượng và trang bị vũ trang đông đảo hơn, các tàu chiến của Anh đã liên tiếp giáng cho chiếc Bismarck những đòn chí mạng, làm cho nó dường như không thể chống trả. Sau khi bị hơn 400 phát đạn pháo nã trúng, chiếc Bismarck chở thành một chiếc tàu chiến bục nát. Trong khi lực lượng hải quân Hoàng gia đang tiến hành giải cứu thủy thủ đoàn của chiếc Bismarck thì một chiếc tàu ngầm Đức đã nã một phát thủy lôi vào họ làm cuộc giải cứu này bị chấm dứt, do vậy chỉ khoảng vài trăm trong số 2000 thủy thủ đoàn của chiếc Bismarck được giải thoát, Sau sự va chạm này, lính thủy Đức đã phải canh gác để cho đồng đội của họ thoát ra nhưng có một số đã không thể cứu được. Lütjens và ban tham mưu của ông ta đã chìm xuống cùng với chiếc Bismarck.
2.jpg

Chiến hạm Bismarck bị bắn cháy bới các hạm đội hải quân Hoàng gia Anh
3.jpg

Những phát đạn đầu tiên của Quân Anh đã đánh trúng bên mạn chiến hạm Bismarck
4.jpg

Chiếc Bismarck đang bị chìm
http://worldwar2database.com[/color]
 
[size=24:fe014e7804][color=darkred:fe014e7804]Crete 27/4 - 31/5/1941[/color][/size]


battle-of-crete-1.jpg



[color=darkblue:fe014e7804]Với thất bại trong cuộc kháng cự của quân đội Hy Lạp trên thềm lục địa cùng với cuộc di tản của lực lượng Anh, chỉ huy lực lượng New Zealand, tướng Bernard C. Freyberg nhận định rằng: Theo logic trên đảo Crete sẽ là mục tiêu kế tiếp. Vị trí địa lý của Crete rất thuận lợi và ba sân bay ở đây nằm giữa khoảng cách ấn tượng của mỏ dầu lửa Rumany, cắt ngang Aegean từ Địa trung hải và có thể làm một căn cứ để nhằm đánh thẳng vào Ý, Bắc phi và Hy lạp
Khoảng 27.000 binh lính các nước (gồm Anh và một số nước thuộc địa khác), hầu như đã mệt mỏi và không được trang bị khí tài hạng nặng, đã đổ bộ lên Crete. Trong đó có 19.000 quân của Hy Lạp và Crete, phần lớn trong số họ chưa được đào tạo và không có trang bị đầy đủ. Ngay sau đó đội quân của Freyberg đã phải chịu những cuộc không kích khốc liệt trong suốt ba tuần lễ. 700 máy bay Đức xuất kích 300 đợt mỗi ngày, bắn phá và ném bom vào bất kỳ một mục tiêu nào tại đây. Do thấy không thể yểm trợ trên không cho Crete được nữa, RAF đã phải rút lui vào ngày 19/5/1941.
Ngay sáng hôm sau, 10.000 lính dù Đức đã đổ bộ trên 3 sân bay và bắt đầu tập hợ để liên kết đội hình. Nhưng hầu hết lớp đầu bị quân lính Anh bị hạ gục. 170 chiếc Ju-52 và hầu như tất cả tàu lượn bị tiêu diệt. 4.000 lính bị chết và 2.600 lính Đức bị thương
Nhưng lính Đức quay lại phản công rất dữ dội. Không thể chống trả các đợt tấn công dữ dội của quân Đức, đến ngày 31/5 tướng Freyberg phải ra tín hiệu cần phải rút lui. Hải quân Anh đã phải rút 18.000 binh lính ra Sfakia, sau đó tiếp tục di chuyển thêm 13.000 binh sĩ nữa. Kết cục, ba tàu tuần dương, sáu tàu khu trục của Anh bị phá hủy, máy bay vận tải của HMS bị thiệt hại nặng nề.
1-2.jpg

http://worldwar2database.com [/color]
 
[size=24:e6aabdcb9f][color=red:e6aabdcb9f]Trận chiến tại Hy Lạp 1940-1945[/color][/size]

[color=darkblue:e6aabdcb9f]Ngày 28/10/1940, 200,000 binh lính Ý tấn công vào Hy Lạp từ vùng Albany – Ý. Quân đội Hy Lạp dù sao cũng là một lực lượng rất khó để bị chinh phục. Do vậy quân đối Ý không những bị đánh tơi tả mà còn bị tống ra khỏi lãnh thổ Hy Lạp và buộc phải quay trở lại nơi xuất phát tại Albany.
Hitler rất tỏ ra giận dữ với Mussolini vì đã không thông báo gì với ông ta về cuộc xâm lược này. Như kế hoạch của Hitler với ý định tấn công Liên Xô vào mùa xuân năm 1941, quân đội Ý cần phải tác chiến cùng với quân Đức tại sườn phía nam. Vậy nay kế hoạch đó phải trì hoãn để bảo vệ Balkan.
Quân Đức tấn công Hy Lạp và Nam Tư vào ngày 6/4/1941. Chiến tuyến Metaxas, pháo đài trên đường biên giới Hy Lạp – Bulgary đã đánh chặn quân Đức dữ dội cho đến khi Nam Tư thất thủ vào ngày 17/4. Lúc này quân Đức tấn công vào Hy Lạp từ địa phận của Nam Tư và bắt đầu bao vây các vị trí quân sự của Hy Lạp.

Hiler đã chuẩn bị chuyển lực lượng sang tấn công nước Nga hòng bẻ gãy sự kháng cự của quân đội Hy Lạp. Toàn bộ bán đảo Peloponnesian đã bị chiếm đóng và Athens thất thủ vào ngày 27/4.
Lực lượng quân đội của khối thịnh vượng chung Anh quốc có tổng số 43.000 binh sĩ đã di tản đến Crete và Egypt. Do thiếu ưu thế về sức mạnh hải quân nên quân Đức toan tính đến con đường phải loại trừ bằng được Crete vì đây được coi như một mối hiểm họa đối với chúng. Quân đoàn dù Fallschirmjäger của Đức dưới sự chỉ huy của Kurt Student đã có câu trả lời này. Ông ta bắt đầu kế hoạch tác chiến để tấn công Crete bằng đường không.
Hy lạp bị quân Đức chiếm đóng đến tận năm 1944. Chúng rút lực lượng ra khỏi đây vì quân Đức rất cần quân lính và các thiết bị để lấp vào các vị trí đã bị tổn thất tại các chiến trường ở Pháp và Liên Xô. Khi đó gần như ngay lập tức Hy lạp bị chia cách ra làm hai phe phái, một bên thì ủng hộ các nước phương tây còn một bên theo các nước xã hội chủ nghĩa và nội chiến vì thế cũng bắt đầu bùng nổ. Sau WW II nước Mỹ đã trợ giúp phe ủng hộ phương Tây mở rộng cuộc nội chiến này.


greece6.jpg

Lính Đức tai Hy Lạp
http://worldwar2database.com [/color]
 
[size=24:bd93062dd7][color=darkred:bd93062dd7]Cuộc chiến Trân châu cảng [/color][/size]

T629309A.jpg

[color=darkblue:bd93062dd7]Quả cầu lửa đã nhấn chìm chiếc USS Shaw trong cuộc tấn công của quân Nhật[/color]


[color=darkblue:bd93062dd7]Tháng tư năm 1940, một số máy bay chiến đấu hai tầng cánh "Cá kiếm" đã quá rệu rão của Anh, thành lập một nhiệm vụ với biệt hiệu " những chiếc Túi lưới" để tổ chức một đội hình mỏng manh tấn công vào hạm đội của Ý tại Taranto. Chỉ trong vài phút, lực lường này đã bị thiệt hại đáng kể bởi sự đánh trả của hạm đội Mediterranean của Ý.
Thủy sư đô đốc hải quân Nhật, Isoroku Yamamoto và ban tham mưu của ông ta tiến hành nghiên cứu kế hoạch tấn công vào Taranto, thậm trí còn làm nguyên một mô hình hải cảng này để rà soát một cách tỉ mỉ hơn nữa. Yamamoto cần tìm ra phương hướng – huy động một lực lượng lớn sẽ giao chiến ở một nơi nào đó gần Philippines, hòng thay đổi triệt để cái học thuyết chiếm ưu thế trong chiến tranh đã hằn sâu vào tiềm thức của cả hai bên lực lượng hải quân Nhật và hải quân Đồng minh. Theo các kế hoạch tác chiến khác nhau, cả hai bên cố gắng tạo ra một cuộc giao tranh chủ yếu ở một vùng biển nào đó mà các vũ khí hoặc đại pháo trên tàu chiến của mình đạt được ưu thế để dội thẳng hỏa lực vào hạm đội của đối phương để giành quyền quyết định trận đánh. Kế hoạch này đã được Togo và các sĩ quan của ông ta hoàn thành tại Tsushima, bây giờ được lực lượng hải quân đế quốc Nhật đem ra thực hiện với ý định sẽ làm được điều gì đó trên hạm đội của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.


Nhưng hai loại vũ khí mới đã được ra đời vào năm 1941, những thứ mà Togo đã không hề nhìn thấy chúng vào năm 1905. Đó là máy bay và tàu ngầm các loại vũ khí này đã thay đổi mọi thứ và chỉ có một vài sĩ quan trong lực lượng hải quân của cả hai bên mới được biết về chúng. Yamamoto đã công nhận tầm quan trọng của phi cơ, nhưng không thèm để ý đến sự "tiện ích" của tàu ngầm. Lực lượng hải quân của ông ta sở hữu số lượng máy bay nhiều hơn bất kỳ một lực nào của Nhật và các phi chiến của ông ta cũng là một lực lượng chiến đấu tinh nhuệ nhất dù ở bất kỳ nơi đâu. Một viên sĩ quan được bổ nhiệm làm chỉ huy Hạm đội không quân Thứ nhất này, mặc dù ông ta viên sĩ quan này không đủ khả năng để đảm đương trách nhiệm, nhưng Chuichi Nagumo vẫn cho thi hành quyết định của ông ta.

Tàu ngầm lại là một vấn đề khác, Nhật Bản đã có loại thủy lôi tốt nhất thế giới, các nước Đồng minh chưa được biết đến loại vũ khí này. Nó như một cây thương dài, tốc độ phóng nhanh hơn, kích thước lớn hơn và có sức công phá mạnh hơn so với bất kỳ vũ khí cùng loại nào của quân Đồng minh, riếng với Mỹ thì các loại vũ khí này của họ đặc biệt rất thiếu sự tin cậy. Đội tàu ngầm của Nhật là những chiếc tàu rất xuất sắc với những thủy thủ đoàn được đào tạo và có tay nghề cao, nhưng chúng được trang bị rất cồng kềnh để nhận nhiệm vụ đánh chìm các tàu chiến chính của đối phương và không được xác định nhiệm vụ trong các cuộc giao chiến với các tàu ngầm khác. Trong khi đó nước Anh, là một quốc đảo cũng như Mỹ đã hiểu rất rõ một chiếc tàu ngầm có thể phá hủy trực tiếp như thế nào. Cả hai quốc gia này rất thấm thía trận đánh chiếc Lusitania của Anh trong WW I
Với sự thiếu hụt về khả năng tác chiến của tàu ngầm. Hải quân đế quốc Nhật đã phát triển thêm các tàu chiến mẹ để đối phó với các trận đánh tàu ngầm. Hàng loạt những chiếc HA thành lập, mỗi chiếc được mang theo hai đoàn thủy thủ đoàn và hai quả thủy lôi, năm chiếc trong số đó sẽ tiến hành phá hủy vòng ngoài mạng lưới tàu ngầm của đối phương để lẻn vào Trân châu cảng và với mục đích đánh đắm bất kỳ mục tiêu nào mà chúng có thể phá hủy.
[img]http://www.sheppardsoftware.com/images/Europe/factfile/USSArizonaPearlHarbor.jpg
Chiếc USS Arizona sunk đang bị chìm tại Trân châu cảng. Con tàu bị đánh trúng thân bụng. Các kết cấu và dài chỉ huy bị đánh nghiêng và đổ sập

Hawaii năm 1941 là một địa điểm rất khác biệt so với hầu hết người Mỹ ngày nay thường nghĩ. Nó đã từng là căn cứ xuất phát cho hạm đội Thái bình dương của Mỹ ngay từ hồi tháng mười 1941 và rất nhiều hàng hóa quân dụng để dành trang bị cho một lực lượng khổng lồ chưa được thành lập.
Hạm đội nhổ neo từ vịnh Hiroshima ngày 28/11. Nó phải ẩn mình trong làn mưa bão và mất một tuần để vượt qua Bắc Thái bình dương, 6 giờ sáng hạm đội đã đến cách Oahu 200 hải lý.
Cuộc tấn công bắt đầu vào ngày chủ nhật bởi những người tiến hành cuộc chiến Nhật Bản tin rẳng trong lúc này hải quân Mỹ sẽ phải rút lui do cần phải thực hiện lễ Chúa nhật. Có một cuộc liên hoan được tổ chức vào đêm trước hôm đó và chiến hạm Hoa kỳ (USS) Arizona đã được thiết đãi linh đình trong bữa tiệc này. 4 giờ sáng, hầu như toàn bộ thủy thủ trên chiến hạm đã về giường ngủ, một số ít trong số họ mới biết rằng đa số xạ thủ trên tháp pháo canh số 2 đã tử trận sau một vài giờ quân Nhật nã đạn.
eeis_02_img0822.jpg

Ba chiếc tàu chiến U.S bị không quân Nhật đánh trúng tại Trân châu cảng ngày 7/12/1941. Từ trái sang: Chiếc USS West Virginia bị thiệt hại nặng nề, chiếc USS Tennessee bị hư hại và chiếc USS Arizona bị chìm

Các trang thiết bị khí tài, hỏa lực của lực quân đội và hải quân Mỹ đã hoàn toàn không được chuẩn bị cho một cuộc tấn công dữ dội mà họ đã phải đón nhận. Với kế hoạch hành động chớp nhoáng của quân Nhật đã làm cho Hawaii không thể ngờ đến. Tướng quân Short và thủy sư đô đốc hải quân E. Kimmel không hề nghĩ rằng cuộc đột kích táo bạo này đã có thể xảy ra. Những chiếc P – 40 của đoàn không quân Short được bố trí đỗ vào các dãy gọn gàng để tránh bị phá hủy, nhưng chúng được tập hợp lại dày đặc cùng với nhau do vậy đây cũng lại là một mục tiêu lý tưởng cho bom oanh tạc. Kimmel cũng lại không nghĩ rằng thủy lôi có thể hoạt động được trong các vùng nước cạn của Trân châu cảng. Trên thực tế trong khi xảy ra chiến sự, các phi cơ của hải quân Mỹ đã công kích rất thành công, một sĩ quan đã nhận xét rằng; Với một luồng nhỏ, toàn bộ hải cảng sẽ bị ách tắc nếu như chỉ có một chiếc tàu chiến bị đánh chìm phía trong cảng.

Thực tế, cuộc đột kích vào Trân châu cảng đã được dự báo từ trước. Một điệp viên của Nga – Richard Sorge tại Tokyo đã thông báo cho Stalin rằng; cuộc đột kích đã được chuẩn bị thực hiện. Cơ quan tình báo của Mỹ cũng đã có dự báo; Trân châu cảng có thể sẽ là một mục tiêu tấn công, Nhưng các nguồn cảnh báo lặp lại chiến tranh đã không hề nhắc đến hải cảng này. Trong khi đó, USS Ward đã đánh chìm một chiếc tàu ngầm Nhật bên ngoài hải cảng lúc 4: 55' AM. Một trạm rada của Anh đã bắt được tín hiệu của máy bay Nhật lúc 7AM, nhưng cũng không hề phát đi một tín hiệu cảnh báo nào.

Cờ lệnh của Mỹ đã được kéo lên trên khắp hạm đội lúc 7:45 AM. Vào lúc 8 AM, 359 máy bay Nhật trong hai đợt xuất kích từ các hướng của chúng đã tấn công vào Trân châu cảng. Lúc 8:15 AM, tháp pháo canh số 2 của chiếc USS Arizona bị đánh trúng bởi một quả đạn pháo hải quân cải tiến thả xuống từ một chiếc oanh tạc cơ của Nhật. Kho vũ khí con tàu bị nổ tung và nó bị thổi bùng lên, chiếc cầu tàu bị gãy vụn, cột cờ ở phía trái mũi tàu bị văng vào trong. Chiếc USS Arizona "cơn mưa lính thủy" gần như 1200 thủy thủ trên tàu bị tử chiến.
pearl-harbor.jpg

Trân châu cảng, Hawaii. Một chiếc tàu cứu hộ nhỏ đang giải cứu cho một thủy thủ từ chiếc USS West Virginia trọng tải 31,800 tấn đang bị bốc cháy (cận ảnh). Khói cuốn ra từ phía giữa thân tàu nơi mà đã bị thiệt hại nặng nề nhất.
Trong khi chiếc Arizona đã vĩnh viễn chìm sau dưới bùn trong hải cảng thì chiếc USS West Virginia cũng bị bốn quả thủy lôi nện trúng, chiếc USS Oglala bị lật úp và cuộc chiến mới chỉ bắt đầu. Khi đó những cơn mưa bom và thủy lôi rơi xuống trên khắp Trân châu cảng và trạm hàng không đảo Ford. Trạm hàng không quân đội Kehnoe bị băm vụn ra từng mảnh cách đó không xa.
Vào lúc 8:45 chiếc USS Nevada, được chỉ huy bởi một sĩ quan cấp dưới, đã mở tốc lực chạy ra đại dương để thu hút bớt sự tập trung của quân Nhật tại cảng hòng thay đổi phần nào hướng công kích của chúng. Nó đã hút hàng chục oanh tạc cơ và máy bay chiến đấu của Nhật chuyển hướng tấn công về phía mình và cũng bị trúng đòn hàng loạt. Sau đó chiếc USS Nevada cũng bị chìm dần và viên chỉ huy đã đưa nó "an nghỉ" vào nơi gần bờ để tránh bị chìm vào luồng cảng.
Lúc 9:30, Đợt công kích tiếp theo lại bắt đầu và cuộc phá hủy hạm đội Mỹ ở mức độ cao hơn. Hầu như toàn bộ 29 chiếc phi cơ Nhật đều nhả đạn xuống hải cảng trong đợt công kích thứ hai này. Chúng thậm chí còn phá hủy nặng nề các tàu chiến và máy bay của quân đội Mỹ. Chỉ có bốn hoặc năm chiếc máy bay US còn lại ở trên cao và rất nhiều những chiếc P-26 và P-35 bị phá hủy ngay bên dưới. 10:30 kẻ tấn công cuối cùng mới rút đi. Cuộc thu dọn chiến trường được bắt đầu ngay khi đó và đến tận năm 1944 mới kết thúc. Nhưng những vết thương tâm lý của nước Mỹ vẫn còn lưu mãi đến ngày nay.
Mo.gif

Trân châu cảng ngày nay, trên hình là chiếc USS Missouri và các vị trí "nhang khói" cho những chiếc USS đã bị đánh chìm xưa kia tại đây

http://worldwar2database.com
[/color]
 
[size=24:08468881ae][color=darkred:08468881ae]Mặt trời mọc 12/1941 – 5/1942[/color][/size]
JapanTakeSaigon.jpg

[color=blue:08468881ae]Quân chiếm đóng Nhật Bản tiến vào Sài Gòn qua một chiếc cầu sắt ngày 15/9/1941 [/color]

[color=darkblue:08468881ae]Các nước Đồng minh đã đánh giá quá thấp về sức mạnh của quân phát xít Nhật. Đồng minh cho rằng Nhật chưa có thể làm lên trò trống gì trong giai đoạn này. Mặc dù đã có nhiều báo cáo ở Đại lục và đến cuối năm 1941 một đội quân tình nguyện Hoa kỳ đã được huy động, họ cũng vẫn tin tưởng rằng các loại máy bay chiến đấu của phương Tây vẫn có khả năng vượt trội hơn hẳn các đối thủ cùng loại của Nhật Bản.
Song, cuộc tấn công của quân Nhật vào 7 – 8/12/1941 thực sự là cú choáng váng cho những ai vẫn còn có những mộng tưởng và họ cũng không bao giờ ngờ đến một sức mạnh như vậy. Quân Nhật đã dường như ngay lập tức có mặt khắp mọi nơi trong cùng một thời điểm: Ngày đầu tiên một mình đơn độc tuyên bố chiến tranh, quân Nhật đã tấn cồng bằng đường biển, lục địa hoặc đường không trên khắp Thái bình dương: Trân châu cảng, Manila, Midway, Hong Kong, Thailand, Shanghai, Wake, Guam, Singapore, Ấn Độ và các vùng lân cận phía đông Hà Lan Malaya và Burma. Quân Nhật thường chiếm ưu thế về số lượng, trang bị khí tài cũng như chiến thuật và huấn luyện, các điều kiện đó đã cho phép chúng di chuyển rất nhanh xuyên suốt Thái bình dương.

Các đảo lần lượt bị quân Nhật nhanh chóng đánh chiếm:
1941
08/12: Doanh trại quân đội nước ngoài ở Thượng Hải

1-4.jpg

Col Samuel L. Howard và ban tham mưu trung đoàn hải quân số 4 của ông ta tại Thượng Hải, 28/11/1941. John E. Drake Papers,

10/12: Guam
2-2.jpg

Tù binh Nhật tại Guam.

25/12: Hong Kong
3-2.jpg

Quân Nhật Tại Hồng Kông 1941

1942

02/1: Manila, Philippines
4-2.jpg

Quân lính Nhật đổ bộ vào Philippines, 16/12/1941

25/1: Balikpapan, Java
5-1.jpg

Máy bay Nhật đánh bom xuống gần tàu tuần dương của Hà Lan ở Java

14/2: Quân dù Nhật đổ bộ lên mỏ dầu Palembang, Sumatra
6-1.jpg

Những bể dầu bị quân Nhật đốt cháy tại Palembang, Sumatra ngày 14/2/1942

17/2: Singapore
7-1.jpg

Quân đội Nhật sau khi đánh chiếm Singapore, đang hành quân qua trung tâm thành phố, 2/1942

19/2: Hàng không mẫu hạm thứ nhất đánh bom tấn công cảng Darwin
8-1.jpg

Đánh bom cảng Darwin 1942

05/3: Batavia, Java
9-1.jpg

Đội quân lính xe đạp của Nhật tiến vào Batavia, Java, 3/1942

20/3: Chiếm đóng toàn bộ Admiralty và Western Solomons
10-1.jpg

Máy bay oanh tạc B-17 của Mỹ ném bom xuống các vị trí quân sự của Nhật trên đảo Solomon

08/4: Rangoon, Burma
seaJap-i-Burma-June-14-42.gif

Lính Nhật tiến vào Burma 1942

09/4: Bataan
11.jpg

Quân Nhật tại Bataan

07/5: Corrigedor thất thủ, kết thúc toàn bộ sự kháng trả trên Philippines
15.jpg

Quân đội Nhật bản diễu binh mừng chín thăng tại thủ đô Manila của Philippines[/color]

[color=darkblue:08468881ae]Trong khi lực lượng bộ binh của Nhật đang xúc tiến mạnh mẽ, lực lượng hải quân đế quốc Nhất cũng tàn phá mọi thứ trên đường đi của chúng. Duy chỉ có một thắng lợi nhỏ nhoi của quân Đồng minh là họ đã phá hủy được 5 chiếc tàu vận tải Balikpapan của địch đang thả neo vào ngày 24/1. Toàn bộ lực lượng hải quân đế quốc Nhật đều có khả năng phối hợp các cuộc tấn công của chúng với tàu chiến và binh lính đã được huấn luyện cùng nhau cho các chiến dịch ban đêm. Hầu như tất cả các lực lượng thủy quân của Đồng minh chưa hề có sự phối hợp tác chiến cùng với nhau như vậy trước đó, chứ chưa nói đến thực hiện chiến dịch vào ban đêm. Hầu như các tàu chiến của họ cũng đã bị "quá đát" và không có khả năng đánh địch ban đêm hoặc yểm trợ bằng không quân. Ngày 10/12, chiếc HMS Prince của Wales và chiếc HMS Repulse bị đánh chìm trên được đi cứu viện Singapore, những chiến hạm này không có sự yểm trợ bằng không quân trên đường. Ngày 27/2, một trận đánh trên vùng biển Java đã nổ ra, kết quả là tất cả các sức mạnh thủy quân còn lại trên vùng biển Đông nam Á của quân Đồng minh bị phá hủy hoàn toàn. Ngày 9/4, chiếc HMS Hermes và một số tàu chiến khác bị tàu hàng không mẫu hạm Thứ nhất của Nhật đánh chìm tại Ấn Độ dương.
Với sự thất thủ của Philippines. Cuộc chiến của quân Nhật thực hiện đã lên đến đỉnh điểm, mặc dù nó xem ra có vẻ khó có thể hình dung được tại thời điểm đó. Lực lượng hải quân của Đồng minh hiện rất kém ưu thế về số lượng tàu chiến, máy bay và binh lính, họ trở nên quá yếu nằm giữa quân Nhật và cảng Moresby ở New Guinea. Một lực lượng đổ bộ của quân Đồng minh với mệnh lệnh phải chiếm giữ bằng được cảng Moresby đã được tiến hành, nhưng cũng bị chặn đứng và phải dừng lại tại vùng biển San hô, trong trận này Mỹ bị mất chiếc tàu Lexington, trong khi đó quân Nhật cũng bị mất chiếc IJN Shoho. Quân Nhật cuối cùng cũng tạm dừng các cuộc tấn công
http://worldwar2database.com[/color]
 
[size=24:de8605ac50][color=darkred:de8605ac50]Nhật Bản xâm lược Việt Nam[/color][/size]
2-3.jpg

[color=darkblue:de8605ac50]Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp (áo trắng) gặp gỡ các sĩ quan Mỹ của văn phòng cục chiến lược (OSS) vào mùa hè năm 1945 để thỏa luận chiến dịch chống quân Nhật

Cuộc xâm lược của phát xít Nhật vào Việt Nam (Indochina một thuộc địa của Pháp trước đây), được biết thêm với một cái tên (Cuộc viễn chinh Việt Nam). Cuộc xâm lược này thực sự là một cố gắng rất lớn của đế quốc Nhật, trong thời gian cuộc chiến Trung – Nhật thứ hai để phong tỏa Trung Quốc hòng ngăn chặn nước này nhập khẩu vũ khí, quân dụng, nhiên liệu và 10.000 tấn nguyên liệu/ một tháng được cung cấp từ Mỹ thông qua tuyến đường sắt Hải phòng – Vân Nam.
Trong khi chiến dịch của quân Nhật đánh chiếm Long Châu và tiếp tục nhằm tới Quảng Tây, nước Pháp đã có ký hòa ước với Đức quốc xã ngày 22/6/1940, nó có ảnh hưởng đến giới chức của chính quyền Vichy trong vùng không bị chiếm đóng của Pháp. Hệ thống cai trị Vichy này ngoài ra cũng kiểm soát hầu hết các thuộc địa nước ngoài của Pháp bao gồm cả Việt Nam, một trong những lãnh thổ là cửa ngõ của Trung Quốc thông ra ngoài thế giới. Với việc quân Nhật đoạt được Lan Châu, con đường quốc lộ ở đây ngay lập tức bị cắt đứt, nhưng còn một tuyến đường sắt vẫn được sử dụng để vận chuyển hàng hóa từ Hải Phòng đến Vân Nam. Bất chấp các cuộc đánh bom của quân Nhật, tuyến đường sắt Vân Nam này vẫn được bảo toàn để lưu thông. Nước Nhật tức tối và bắt đầu ép buộc chính quyền Vichy đóng toàn bộ tuyến đường sắt này, ngày 5 tháng 9, đội quân mặt trận phía nam Trung Quốc của Nhật dưới sự điều khiển của bộ tham mưu lính đồn trú ở Việt Nam đã tổ chức tiến hành độ bộ để hất cẳng đội quân viễn chinh Pháp. Đội quân này được chỉ huy bởi thiếu tướng Takuma Nishimura cùng với sự trợ giúp của hải quân và máy bay chiến đấu từ hàng không mẫu hạm và các căn cứ không quân ở đảo Hải Nam.
Ngày 22/9, Nhật và chính quyền Vichy ở Việt Nam đã ký một hiệp định được quyền đóng quân và mượn địa danh Việt Nam để quá cảnh sang nước khác, nhưng giới hạn quân Nhật chỉ có thể đồn trú tại Việt Nam không qúa 6000 binh lính trên địa điểm đóng quân… Hơn nữa, tại điều khoản cuối cùng của bản hiệp ước bắt buộc các lực lượng hải quân, không quân và bộ binh của Nhật phải đóng cửa các doanh trại đồn trú của mình trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Trong vài giờ đồng, các đội hình của sư đoàn số 5 dưới sự chỉ huy của trung tướng Akihito Nakamura đã vượt qua biên giới tại ba vị trí và đóng chặt ga đầu mối tại tỉnh Lạng Sơn. Hành động này trái ngược với những qui ước trong bản cam kết đã được ký kết và cuộc giao tranh đã xảy ra giữa quân Nhật với một lữ đoàn thực dân và đội lính Lê dương Pháp đến tận ngày 25, cuối cùng Lạng Sơn bị quân Nhật chiếm đóng. Sự việc này đã mở một cánh cửa cho quân Nhật tiến vào Hà Nội. Tuy nhiên chính quyền Vichy vẫn còn những lực lượng phònh bị tại phía bắc, phía nam và các tiểu đoàn còn nguyên vẹn đang trấn giữ trên tuyến đường Lạng Sơn – Hà Nội
Ngày 23 tháng 9, chính quyền Vichy đã tiếp cận chính quyền Tokyo để phản kháng sự vi phạm điểu khoản ký kết của lực lượng quân đội mặt trận phía nam Trung Quốc của Nhật Bản
Trong khi đó các máy bay chiến đấu của lực lượng đặc nhiệm ngoài khơi của Nhật Bản từ Hải Phòng Vịnh Bắc bộ Việt Nam, bắt đầu xuất kích vào rạng sáng ngày 24/9. Một đại diện ngoại giao của chính quyền Vichy đã đi đến thương lượng, nhưng cũng trong lúc đó các lực lượng phòng thủ bở biển vẫn được lệnh sẵn sàng nhả hỏa lực chống lại bất kỳ lực lượng nào của Nhật cố tình đổ bộ.
Ngày 26/9, quân Nhật đã đổ bộ vào bờ biển tại xã Đồng Tac phía nam Hải Phòng và bắt đầu tiến đánh cảng Hải Phòng. Tiếp theo đó là những chiếc xe tăng Nhật cũng được đổ bộ vào bờ biển và Hải Phòng bắt đầu bị đánh bom gây ra thương vong cho một số người. Buổi chiều, khoảng 4.500 quân lính Nhật và hàng tá xe tăng của chúng đã tiến được ra ngoài thành phố Hải Phòng.
Tối ngày 26/9 cuộc giao tranh đã bắt đầu tắt dần. Quân Nhật chiếm được sân bay Gia Lâm ở ngoại thành Hà Nội, tuyến đường sắt nối toa xe trên biên giới Vân Nam tại Lào Cai và Phủ Láng Thượng (Bắc Giang) ngang qua tuyến đường sắt từ Hà Nội – Lạng Sơn gần biên giới tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc. Lính Nhật còn đóng 900 quân lính tại cảng Hải Phòng và hơn 600 tên tại Hà Nội.
Ngày 27/9 Nhật Bản ký kết liên minh quân sự với Đức và Italya

1-5.jpg

Nông dân Việt Nam đang tải đạn cho Việt Minh chống Nhật[/color]
 
Back
Top