- Nhưng các xe tăng do Anh chế tạo vẫn không bị rút ra khỏi biên chế, chúng phải chiến đấu cho tới khi nào hư hỏng hết. Có khi nào lữ đoàn của ông gồm một hỗn hợp nhiều loại tăng, cả của Anh lẫn Mỹ không? Có vấn đề gỉ xảy ra khi phải phối hợp nhiều loại khí cụ do nhiều nước sản xuất như vậy không? Ví dụ như vấn đề về tiếp liệu và bảo trì chẳng hạn?
- Vâng, luôn luôn có vấn đề xảy ra. Nói chung, không còn nghi ngờ gì nữa, Matilda là một loại xe tăng rất vô dụng! Tôi xin ví dụ một nhược điểm của xe Matilda đã gây rất nhiều rắc rối cho chúng tôi. Có một thằng dở người nào đó ở Sở chỉ huy đã lập kế hoạch một chiến dịch tấn công và chuyển lữ đoàn chúng tôi tới vùng Yelnya, Smolensk và Roslavl. Địa hình ở đây rất nhiều đầm lầy và rừng rậm. Xe Matilda lại có giáp che hai bên bánh xích. Chúng được thiết kế giành cho các chiến dịch tại vùng sa mạc. Những tấm giáp này hữu dụng tại sa mạc-cát sẽ luồn gọn qua cái khe giữa giáp và bánh xích. Nhưng giữa vùng rừng đầm lầy nước Nga, bùn sẽ mắc kẹt vào cái khe đó. Bộ truyền động của xe Matilda có một phần phụ để dễ sang số. Trong điều kiện địa hình này bộ phận đ1o trở nên rất yếu, thường bị quá tải, nóng lên rồi hỏng. Chuyện này đối với người Anh thì khá dễ. Năm 1943 họ đã lập ra những bộ phận sửa chữa mà chỉ cần đơn giản là tháo 4 cái chốt sắt, lôi bộ phận máy cũ ra rồi lắp bộ mới vào. Trò này không phải lúc nào cũng phù hợp với chúng tôi. Trong tiểu đoàn tôi có tay thượng sĩ (tiếng Nga: Starshina) Nesterov, một cựu tài xế lái máy cày nông trang, chịu trách nhiệm chuyên viên cơ khí của tiểu đoàn. Ở cấp lữ đoàn chúng tôi cũng có một người đại diện (tôi đã quên mất tên anh ta rồi) của cái công ty Anh đã sản xuất ra những chiếc xe tăng này. Đã có lần tôi ghi lại tất cả những điều này, nhưng rồi khi xe tăng của tôi bị trúng đạn, tất cả vật dụng của tôi trong đó đều cháy sạch - ảnh chụp, giấy tờ tài liệu và cả quyển sổ ghi chép. Chúng tôi bị cấm giữ những sổ ghi chép khi ra chiến trường, nhưng tôi vẫn ranh mãnh tìm cách đem theo. Dù sao, tay đại diện người Anh đấy cũng thường xuyên can thiệp vào các cố gắng của chúng tôi nhằm sửa chữa cac bộ phận riêng biệt của chiếc tăng. Anh ta nói: "Ở đây có dấu niêm phong của xưởng chế tạo. Các anh không nên mó tay vào nó!” Chúng tôi đã tìm được cách tháo ra một chiếc và rồi lắp lại thành một cái mới. Nesterov đã sửa được một cách dễ dàng tất cả những bộ truyển động ấy. Một lần tay đại diện Ăng lê kia tới bên Nesterov rồi hỏi: "Anh đã từng học ở Đại học nào vậy?” Nesterov trả lời: "Ở nông trang đấy!"
Loại tăng Sherman được đánh giá cao hơn. Anh có biết rằng một trong những người thiết kế xe Sherman là một kỹ sư người Nga, tên là Timoshenko không? Anh ta còn có họ hàng xa với Nguyên soái S. K. Timoshenko đấy.
Xe Sherman cũng có những điểm yếu của nó, nhất là nó có trọng tâm rất cao. Nó thường hay lật nghiêng qua một bên như búp bê Matryoshka. Nhưng tôi còn sống sót tới ngày nay cũng là nhờ chính cái nhược điểm ấy. Tháng Mười Hai năm 1944 chúng tôi đang chiến đấu ở Hungary. Tôi đang dẫn đầu tiểu đoàn và khi tới một khúc rẽ, người lái xe của tôi lái trượt lên trên lề đường. Chiếc tăng của tôi đổ nghiêng một bên. Chúng tôi bị bắn tung lên nhưng vẫn còn nguyên vẹn. Trong khi đó bốn chiếc xe tăng của chúng tôi vẫn đi tiếp và bị lọt vào một ổ phục kích. Tất cả bọn họ đều bị tiêu diệt.
- Dmitriy Fedorovich, xe Sherman có các mắt xích xe bọc cao su. Vài nhà nghiên cứu ngày nay cho rằng đó là một điều bất lợi do trong chiến đấu cao su rất dễ bắt lửa. Khi chiếc tăng bị lột lớp cao su ấy ra thì không thể di chuyển được nữa. Ông có nhận xét gì về điều này?
- Xét về mặt khác các mắt xích có bọc cao su lại là một lợi điểm lớn. Trước tiên, các mắt xích này có tuổi thọ gấp khoảng tới hai lần mắt xích thép bình thường. Có thể tôi không chính xác lắm, nhưng tôi tin rằng tuổi thọ của xích xe T-34 là 2500 cây số. Tuổi thọ xích xe Sherman lên tới 5000 kilômét. Thứ đến, xe Sherman chạy như một chiếc ôtô trên những bề mặt cứng, trong khi xe T-34 của ta kêu ồn tới mức có quỷ mới biết cách xa bao nhiêu cây số đã nghe thấy tiếng ầm ầm của nó rồi. Còn nhược điểm của xích xe Sherman là gì? Trong cuốn sách của tôi, cuốn “Commanding the Red Army's Sherman Tanks”, có hẳn một chương nhan đề là "Đi chân trần". Trong đó tôi viết về một sự cố xảy ra vào tháng Tám năm 1944 tại Romania, trong Chiến dịch Jassy-Kishinev. Trời nóng ghê gớm, có nơi lên tới khoảng 30° C. Chúng tôi đã phải chạy gần 100 km trên đường nhựa trong chỉ một ngày. Lớp cao su bọc các bánh xích phụ nóng đến nỗi cao su chảy ra và dính xuống thành những vệt dài. Lữ đoàn của chúng tôi phải dừng lại khi chỉ còn cách Bucharest không xa. Lớp cao su chảy hết, bánh xích bắt đầu kẹt lại, tiếng động phát ra thật khủng khiếp, và cuối cùng chúng tôi phải dừng lại hẳn. Chuyện này được báo cáo lập tức về Maskva. Có phải là chuyện đùa không hử, cả một lữ đoàn phải dừng lại? Thật ngạc nhiên là sau đó người ta đã lập tức chuyển tới cho chúng tôi những bánh xích mới và chúng tôi chỉ mất có ba ngày để lắp chúng vào. Tôi không biết họ tìm đâu ra nhiều bánh xích trong một thời gian ngắn đến vậy. Và còn một tiểu tiết nữa về loại xích bọc cao su ấy. Thậm chí cả khi đi trên đất có phủ một lớp tuyết mỏng thôi chiếc tăng cũng bị trượt cứ như một con bò mập ị. Khi trò này diễn ra, chúng tôi đã phải buộc dây kẽm gai quanh xích xe hoặc buộc thêm những dây cáp và chốt sắt vào, từc làm bất cứ thứ gì để xe không bị trượt. Nhưng đó chỉ là đợt tăng chuyển tới đầu tiên thôi. Sau khi phát hiện chuyện đó, tay đại diện người Mỹ đã báo cáo về công ty của anh ta và đợt chuyển tăng kế tiếp đã có kèm những xích xe có gắn thêm chông và chốt sắt. Theo như tôi nhớ, có tới bảy bộ chốt cho mỗi bên xích, tổng cộng có mười bốn bộ cho mỗi chiếc tăng. Chúng tôi đem theo chúng trong thùng phụ tùng trên xe. Nhìn chung viên đại diện Mỹ làm việc rất hiệu quả. Bất cứ nhược điểm nào biết được anh ta đều lập tức báo cáo và chúng đều được sửa chữa ngon lành.
Một nhược điểm khác của tăng Sherman là cấu tạo của nắp cửa cho vị trí của người lái xe. Nắp cửa của loạt xe Sherman thuộc đợt hàng tàu đầu tiên bố trí nằm trên nóc của thân trước xe và được mở thẳng lên phía trên. Thường người thợ lái hay mở nó ra để quan sát được tốt hơn. Đã có rất nhiều trường hợp trong khi tháp pháo đang quay thì nòng pháo va vào cái nắp này và đập lên đầu người lái. Đơn vị tôi cũng gặp phải trường hợp này một hoặc hai lần rồi. Về sau người Mỹ đã sửa được nhược điểm này. Giờ thì cái nắp được đẩy lên và gạt một cách gọn gàng sang một bên, giống như trên những xe tăng hiện đại ngày nay.
Tuy nhiên có một ưu điểm lớn của chiếc Sherman là việc sạc ắcquy cho xe. Trên xe T-34 của ta, để làm việc này cần phải mở máy và cho chạy hết tất cả công suất 500 mã lực của nó để sạc ắcquy. Trong khoang lái của chiếc Sherman có một động cơ phụ dùng xăng, nhỏ chỉ bằng bộ máy của xe môtô. Cứ bật nó lên và để kệ cho nó tự sặc ắcquy là xong. Vụ này quả là vô cùng tiện lợi cho chúng tôi!
Suốt một thời gian dài sau chiến tranh, tôi đi tìm câu trả lời cho một thắc mắc. Tại sao khi xe T-34 bốc cháy, chúng tôi phải cố chạy thật xa khỏi xe càng tốt, ngay cả khi điều đó vẫn bị cấm ngặt. Đạn trên xe lập tức phát nổ. Trong một thời gian khoảng 6 tuần, tôi đã chiến đấu trên một chiếc T-34 quanh vùng Smolensk. Xe của một đại đội trưởng của một trong những đại đội của chúng tôi bị trúng đạn. Tổ lái nhảy khỏi xe nhưng không thể chạy ra xa bởi bọn Đức dúi đầu họ xuống bằng súng máy. Họ phải nằm lại trên cánh đồng lúa mì trong khi chiếc tăng bốc cháy và nổ tung. Tới chiều, khi trận đánh đã kết thúc, chúng tôi tìm tới chỗ họ. Tôi nhận ra người đại đội trưởng nằm gục trên mặt đất cùng một mảnh vỏ thép xe cắm trên đầu. Khi chiếc Sherman cháy, đạn pháo không khi nào phát nổ. Sao vậy nhỉ?
Một trường hợp tương tự đã xảy ra với tôi tại Ukraina. Xe tăng của tôi bị trúng đạn. Chúng tôi nhảy khỏi xe nhưng bọn Đức nã cối như mưa quanh chúng tôi. Chúng tôi đang nằm dưới gầm xe tăng trong khi nó phát hỏa và bùng cháy. Chúng tôi nằm đó rất lâu mà không biết phải chạy đi đâu. Quân Đức nã súng máy và đạn cối vung vãi khắp cánh đồng trống xung quanh chiếc xe tăng. Chúng tôi buộc phải nằm đó. Lớp quân phục trên lưng tôi bắt đầu nóng bỏng lên do sức nóng từ chiếc xe đang bốc lửa. Chúng tôi đều cho mình chắc là tiêu phen này! Chúng tôi chờ nghe thấy tiếng nổ lớn và thế là tất cả chấm hết! Một nấm mồ chung cho anh em tổ lái! Chúng tôi nghe thấy rất nhiều thùm thụp rất lớn phát ra từ trong tháp pháo. Đó là số đạn xuyên thép bị bung ra khỏi thùng đạn. Lửa sẽ lan tới tiếp chỗ đạn phá (HE) và địa ngục sắp sụp xuống ngay bây giờ đây này! Nhưng không có chuyện gì xảy ra hết. Tại sao vậy nhỉ? Do loại đạn phá của ta thì phát nổ còn đạn của Mỹ thì không chăng? Hóa ra đó là do đạn của người Mỹ chứa loại thuốc nổ tinh khiết hơn. Đạn của ta chứa thêm thành phần gì đó làm tăng sức công phá của cú nổ lên gấp một lần rưỡi, nhưng đồng thời lại tăng độ nguy hiểm khi đạn phát nổ.
Dmitriy Loza cùng cha mình là ông Fedor Loza
- Có ý kiến đáng chú ý rằng trang bị bên trong của tăng Sherman rất tuyệt. Có thật vậy không?
- Đúng vậy. Không thể tả được! Chúng thật đẹp mắt! Với chúng tôi thì rất đáng kể. Như ngày nay người ta thường nói, “tiêu chuẩn Âu Châu”. Nó như một bức tranh ảnh Tây Âu vậy! Trướt hết, bên trong xe được sơn màu sắc rất đẹp. Kế đến, ghế ngồi rất thoải mái, bọc bằng thứ da nhân tạo rất tuyệt. Nếu một xe tăng loại này bị bắn tan hay bị phá hỏng, và nếu nó không được canh chừng thì đúng là chỉ cần vài phút sau là đám bộ binh đã lột sạch mọi thứ đồ đạc trong xe. Thứ đó để đóng giày thì tuyệt! Đẹp vô cùng!
- Dmitriy Fedorovich, ông suy nghĩ thế nào về quân Đức? Có coi họ như bọn phát xít và là quân xâm lược hay không?
- Khi có kẻ nào đứng trước mặt anh với vũ khí trong tay, và nếu vấn đề là ai sẽ giết ai, thì chỉ có một câu trả lời. Hắn chắc chắn là kẻ thù. Ngay khi tên Đức buông vũ khí hoặc bị chúng tôi bắt làm tù binh, thì mọi chuyện sẽ hoàn toàn đổi khác. Tôi chưa từng đặt chân đến nước Đức. Tôi đã kể cho anh nhưng nơi tôi từng chiến đấu rồi. Có lần có một vụ xảy ra ở Hungary. Chúng tôi đang dùng loại xe tải chiến lợi phẩm Đức "letuchka" (một loại xe tải nhẹ). Chúng tôi đang đột phá sâu vào hậu phương quân Đức. Chúng tôi hành quân dọc một con đường và một chiếc xe tải nhẹ của chúng tôi bị tụt lại phía sau. Và rồi có một chiếc xe tải Đức, cùng loại với chiếc của chúng tôi, chạy nối đuôi vào sau đội hình hành quân. Đi được một quãng thì cả đoàn dừng lại. Tôi đi bộ dọc xuống cuối đoàn, kiểm tra từng chiếc xe một. “Mọi chuyện ổn không?” Mọi chuyện đều ổn cả. Tôi tiến tới chiêc xe cuối cùng trong đoàn và cất tiếng hỏi: “Sasha, mọi chuyện ổn chứ?” Tôi nghe thấy tiếng đáp: "Vas?" (“Gì vậy” tiếng Đức – LTD) Bọn Đức! Tôi lập tức nhảy sang một bên và hô lớn “Bọn Đức!” Chúng tôi bao vây chúng, gồm một lái xe và hai tên nữa. Chúng tôi tước vũ khí chúng và rồi chiếc xe tải nhẹ của ta xuất hiện trên đường. Tôi hỏi: "Sasha, cậu đã ở đâu vậy?" Cậu ta trả lời: “Chúng tôi đi lạc”. “Tốt, hãy xem đây,” tôi nói với cậu ta, "Ở đây có một chiếc xe tải khác cho cậu đây!”
- Vậy ông không cảm thấy căm thù binh lính đối phương sao?
- Không, tất nhiên. Chúng tôi hiểu rằng họ cũng là con người cả thôi.
- Quan hệ giữa các ông đối với cộng đồng cư dân địa phương thế nào?
- Khi Phương diện quân Ukraina số 2 tiến tới biên giới Rumani tháng Ba năm 1944, chúng tôi dừng bước và đóng quân lại đó cho tới tận tháng Tám. Theo luật thời chiến, toàn bộ cư dân địa phương phải bị di tản từ khu vực chiến sự về phía sau khoảng 100 km. Những người này lại vừa mới gieo trồng cho các khu vườn của mình. Chính quyền thông báo thông tin của cuộc di tản cư dân qua radio và đưa phương tiện vận chuyển tới tập hợp họ vào sáng hôm sau. Nước mắt vòng quanh, những người Moldavia đó chỉ còn biết lắc đầu. Làm sao có thể như vậy được? Họ phải bỏ lại các khu vườn của mình! Cái gì sẽ còn lại sau khi họ trở về? Và rồi cuộc di tản đã được tiến hành như yêu cầu, chúng tôi hoàn toàn mất liên lạc với cộng đồng cư dân đó. Thời điểm đó tôi đang là người phụ trách công tác tiếp đạn cho cả tiểu đoàn. Binh đoàn trưởng gọi tôi lên và bảo: "Loza, nghe nói anh trước kia xuất thân là nông dân phải không?” Tôi gật đầu. "Tốt, tôi cũng nghĩ vậy. Tôi chỉ định anh làm chỉ huy việc này. Anh phải chịu trách nhiệm coi sóc các khu vườn kia và phải đảm bảo rằng mọi thứ phải được chăm sóc đúng cách. Và Chúa sẽ giáng họa nếu chỉ cần có một quả dưa chuột nhỏ thôi bị phá hoại! Không được đụng vào bất cứ thứ gì! Nếu quá cần thì hãy tự đi mà trồng lấy cho riêng mình”. Những đội công tác được thành lập; trong binh đoàn của tôi chúng tôi có 25 người. Suốt mùa xuân và mùa hè chúng tôi nhặng xị xung quanh những khu vườn nọ. Tới mùa thu, khi quân đội phải rút về, chúng tôi được lệnh phải mời người giám đốc nông trang tới làm đại diện và chính thức chuyển giao cho ông ta tất cả những cánh đồng và khu vườn đó. Khi các bà chủ nhà trở về nơi tôi từng ở lại, bà ta lập tức chạy tới vườn của mình và lặng người không nói nên lời. Bà ta trông thấy vô số bí ngô, cà chua và dưa hấu. Bà chạy như bay về nhà, quỳ xuống chân tôi và cố hôn lên đôi ủng. "Con yêu quý! Chúng ta đã nghĩ rằng mọi thứ đều bị bỏ mặc và phá nát đi rồi. Nhưng hóa ra là mọi thứ vẫn còn nguyên, và tất cả những chuyện chúng ta phải làm là đi thu hoạch chúng!” Đấy là một ví dụ về cách chúng tôi quan hệ với cư dân địa phương.
Trong chiến tranh quân y hoạt động tốt, nhưng có những trường hợp và quân y cũng không thể gíup gì khác mà chỉ còn biết nhún vai! Anh bạn ạ, Rumani thời gian đó đúng là cái ổ điếm bậu thỉu dơ dáy nhất toàn Châu Âu! Chúng tôi có một câu như sau: "Nếu anh có 100 Lei (tiền Rumani), anh có thể ngủ với một nữ hoàng!” Khi bắt được tù binh Đức, trong túi chúng lúc nào cũng chứa đầy bao cao su, tới 5-10 chiếc. Chính trị viên của chúng tôi hết sức đắc ý: "Hãy xem đấy! Chúng đem theo những thứ này để có thể tha hồ cưỡng hiếp phụ nữ của chúng ta!” Nhưng bọn Đức thông minh hơn ta nhiều và hiểu rõ những bệnh qua đường tình dục có thể gây tác hại thế nào với một quân đội. Giá mà quân y chúng ta chỉ cần cảnh báo chúng tôi về những căn bệnh đó! Dù chỉ ở lại không lâu tại Rumani, các bệnh này đã lây lan khủng khiếp trong những đơn vị chúng tôi. Quân đội ta vẫn có hai bệnh viện: một dành cho những ca phẫu thuật và một để chữa trị những vết thương nhẹ. Và người ta đã phải lập riêng ra một khu cho các bệnh tình dục, dù không được chính thức tổ chức quản lý và cung cấp trang thiết bị.
Dưới đây là cách mà chúng tôi quan hệ với cư dân Hungary. Khi tiến vào Hungary tháng Mười năm 1944, chúng tôi chỉ gặp toàn những ngôi làng bỏ hoang. Khi chúng tôi bước vào những ngôi nhà, các bếp lò vẫn còn ấm, trên đó bày những món ăn nóng hổi, nhưng trong nhà chẳng còn ai. Tôi còn nhớ tại một thị trấn có treo một bức tranh tuyên truyền khổng lồ trên tường một căn nhà. Bức tranh mô tả cảnh một người lính Nga đang ăn thịt một đứa trẻ con. Những con người đó đã quá sợ hãi đến nỗi chỉ nghe thấy hơi chúng tôi là họ đã bỏ trốn mất tiêu! Họ bỏ lại toàn bộ tài sản của mình. Sau này, thời gian trôi đi, khi đã hiểu rằng tất cả những chuyện đó đều là tuyên truyền và hết sức phi lý, họ bắt đầu quay trở về nhà mình.
Tôi còn nhớ cái lần chúng tôi dừng chân tại miền bắc Hung, gần biên giới với Tiệp Khắc. Lúc này tôi đã là tham mưu trưởng của tiểu đoàn. Một sáng nọ người ta báo cáo với tôi rằng một bà già người Hung đã đột nhập vào một kho thóc trong đêm hôm trước. Chúng tôi có một nhân viên phản gián trong đơn vị, thuộc lực lượng SMERSH (tiếng Nga là "Smert Shpionam" hay "cái chết cho bọn gián điệp", thành phần của NKVD trong cơ cấu Hồng quân). Mỗi tiểu đoàn cơ giới đều có một sĩ quan SMERSH, còn ở các đơn vị bộ binh thì chỉ ở cấp trung đoàn trở lên mới có. Tôi đề nghị viên sĩ quan SMERSH chỗ chúng tôi đi kiểm tra xem sao. Họ xục xạo quanh cái kho và phát hiện ra một cô gái chỉ độ 18 hay 19 tuổi. Khi bọn họ lôi cô ta ra, khắp người cô đầy ghẻ lở và cô ho liên hồi. Bà già kia khóc như mưa, chắc bà ta nghĩ rằng chúng tôi sắp cưỡng hiếp cháu gái mình. Thật là phi lý! Không ai đụng một ngón tay lên cô ấy! Ngược lại, chúng tôi đã chữa chạy cho cô ấy. Sau này cô tới chỗ chúng tôi thường xuyên hơn, thậm chí có mặt quanh chúng tôi còn nhiều hơn ở chính nhà cô. Hai mươi năm sau chiền tranh, khi có dịp ghé thăm Hungary, tôi đã gặp lại cô. Đã là một người phụ nữ vô cùng xinh đẹp! Cô đã lập gia đình và đã có con.