Lực lượng Lục quân Nga thành lập năm 1992 từ các bộ phận của quân đội Xôviết. Từ đó, Lục quân Nga đã trải qua không ít thử thách: rút hàng nghìn binh lính từ nước ngoài, tham chiến tại Chechnya và tham gia các họat chiến dịch gìn giữ hòa bình tại các nước lân cận, cải tổ quân đội sâu rộng...
Nhiệm vụ
Lực lượng lục quân đảm nhiệm việc giữ gìn biên giới, đánh bật địch quân, chiến đấu trên đất liền trong cả chiến tranh thông thường cũng như chiến tranh có sử dụng vũ khí hủy diệt. Ngoài ra, lục quân còn bảo vệ lợi ích quốc gia của Liên bang Nga trong khuôn khổ các hiệp ước quốc tế.
Tổng chỉ huy Lục quân là cơ cấu đầu não của lực lượng này với những nhiệm vụ sau:
• Huấn luyện chiến đấu theo chương trình do Tổng tham mưu hoạch định
• Cải tổ cơ cấu quân đội, tinh giản lực lượng, nâng cao khả năng chiến đấu
• Phát triển và áp dụng lý thuyết quân sự vào thực tiễn
Lịch sử
Liên Xô tan vỡ kéo theo một loạt hệ lụy trầm trọng về chính trị, xã hội, quân sự, kinh tế, tâm lý, tinh thần… Có không ít nỗ lực giữ gìn hoặc vớt vát phần nào sự toàn vẹn của lực lượng vũ trang Xôviết. Tháng 12/1991, Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô cuối cùng, Nguyên soái Yevgeny Shaposhnikov được bổ nhiệm làm Chỉ huy tối cao của các lực lượng vũ trang SNG. Nhiều hiệp ước khác được kí kết giữa các nước cộng hòa LX cũ nhằm thành lập những lực lượng quân đội chung, nhưng không lâu sau đó Ucraina chọn con đường đi riêng về quốc phòng, châm ngòi độc lập về an ninh cho các nước khác. Nga quyết định hành động.
Ngày 7/5/1992, Tổng thống Boris Yeltsin ký sắc lệnh thành lập Bộ quốc phòng LB Nga, qua đó tập hợp lục quân và các lực lượng vũ trang khác vào dưới một mái nhà. Lúc này, Tổng tham mưu đang tiến hành rút hàng chục nghìn quân nhân từ Đông Đức, Ba Lan (nhóm quân Bắc), Tiệp Khắc (nhóm quân Trung tâm), Hungary (nhóm quân Nam) và Mông Cổ. Ba mươi bảy sư đoàn khác phải được rút về từ 4 nhóm quân đóng tại các nước Baltic, 4 quân khu với 57 sư đoàn được chuyển giao cho Belarus và Ucraina. Quá trình rút và chuyển quân quy mô cực lớn này từ lãnh thổ các cựu thành viên Hiệp ước Warsaw đòi hỏi những nguồn lực khổng lồ về vật chất, con người cũng như thời gian. Các quân khu nội địa chịu sức ép rất lớn do cơ sở hạ tầng không thể ngay lập tức tiếp nhận dòng lũ binh lính và vũ khí kéo về, vì thế nhiều trang thiết bị quân sự bị vứt bỏ trên đường chuyển quân. Lục quân Nga hiện nay được tạo thành chính từ sự hợp nhất giữa những lực lượng rút về này với các quân khu còn lại trên đất Nga sau khi Liên Xô tan rã.
Tháng 7/1992 Bộ quốc phòng công bố kế hoạch cải tổ quân đội, theo đó cơ cấu Quân đội – sư đoàn – trung đoàn được thay thế bởi cấu trúc quân đoàn – lữ đoàn. Mô hình mới theo dự tính sẽ nâng cao khả năng tác chiến độc lập, tăng tính cơ động, đơn giản hóa quy trình chỉ huy – kiểm soát. Thực tế cho thấy kế hoạch này không có sức sống mạnh mẽ. Số lượng lữ đoàn tăng lên, nhưng chất lượng không khác biệt nhiều so với sư đoàn trước đây. Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của kế hoạch cải tổ này. Trước hết, Tổng thống Boris Yeltsin quan tâm tới việc duy trì sự ổn định và trung thành của quân đội hơn là đưa ra những thay đổi cơ bản. Thứ 2, công việc bị trì trệ do thiếu kinh phí rót cho mục đích quân sự. Sau nữa là sự thiếu nhất quán trong giới quân đội về chính hướng đi của cải tổ. Tướng Pavel Grachev, Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của LB Nga muốn giữ mô hình quân đội Xô viết với 2 đặc điểm: các đơn vị quân có số lượng lớn với sức mạnh vừa phải và chế độ tổng tuyển quân. Bộ tổng tham mưu ủng hộ duy trì các thuyết quân sự, phương thức triển khai quân, vũ khí và nhiệm vụ của quân đội thời Xô viết.
Lục quân phản ứng dè dặt trong cuộc khủng hoảng Hiến pháp 1993, khi Boris Yeltsin ra lệnh giải tán Quốc hội do không ủng hộ việc ông tập trung quyền lực và thực hiện cải cách. Dù chính thức tuyên bố ủng hộ Tổng thống, quân đội Nga do tướng Grachev đứng đầu cố gắng giữ trung hòa do phần lớn sỹ quan không muốn một cuộc binh biến bạo lực. Yeltsin đã phải vất vả thuyết phục mới yêu cầu được 5 sư đoàn đóng quanh Moscow nã đạn tòa nhà Quốc hội.
Người Chechnya, tranh thủ việc Liên Xô tan rã, tuyên bố độc lập vào tháng 11/1991 và bầu cựu sỹ quan không quân Xô viết Dzhokar Dudayev làm Tổng thống. Sau những nỗ lực ngoại giao bất thành, năm 1994 trong một cuộc họp Hội đồng an ninh LB Nga, Tổng thống Yeltsin ra tối hậu thư cho Chechnya: hoặc giải giáp vũ khí, hoặc Moscow sẽ vãn hồi trật tự.
Bộ trưởng Quốc phòng Grachev cam đoan với Tổng thống sẽ «tái chiếm Grozny trong vòng 2 tiếng với chỉ 1 trung đoàn không quân đánh bộ». Chiến dịch quân sự bắt đầu ngày 11/12/1994 nhưng mãi đến ngày 31/12 quân Nga mới tiến được vào thủ đô Grozny. Lữ đoàn hỏa lực cơ giới số 131 được lệnh tấn công thần tốc vào trung tâm Grozny nhưng gần như bị tiêu diệt hoàn toàn trong các cuộc phục kích của quân Chechnya. Chiến sự tiếp diễn với các mức độ khác nhau ở các mặt trận khác. Sau khi Dudayev bị ám sát, quân Chechnya dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh mới Aslan Maskhadov tái chiếm được Grozny. Thư ký hội đồng an ninh liên bang Alexander Lebed bắt buộc ngồi vào bàn đàm phán với phiến quân, hiệp định ngừng bắn được kí kết. Cuộc «trình diễn» của lục quân Nga trong cuộc chiến này được đánh giá là «cực kém» - biểu hiện của những vết thương chưa lành.
Chiến tranh Chechnya lần thứ 2 nổ ra vào tháng 8/1999 sau khi phiến quân Chechnya tràn sang Dagestan và một loạt các vụ đánh bom liên tiếp làm rung chuyển nước Nga. Lần này quân Nga đổi chiến thuật, dập pháo và tên lửa xuống trận địa địch quân trước khi triển khai lục quân. Trình độ tác chiến của quân Nga trong cuộc chiến này được nâng cao rõ rệt, lực lượng tham chiến được tập luyện từ trước, không ô hợp như lần trước. Tuy thế, chiến sự vẫn không hề dễ dàng, Chechnya đã biến thành vũng lầy chôn chân quân đội liên bang nhiều năm. Cuộc chiến cũng cho thấy nhiều sự rạn nứt và bất đồng ý kiến giữa các chỉ huy chiến trường với giới quân sự liên bang. Đại tá Gennady Troshev bị thải hồi năm 2002 vì từ chối chuyển từ quân khu Bắc Kavkaz sang chỉ huy quân khu Siberi ít quan trọng hơn.
Igor Sergeyev, Bộ trưởng Quốc phòng từ năm 1997, quyết tâm cải tổ quân đội trong điều kiện hết sức khó khăn. Vốn là cựu quân nhân phục vụ trong lực lượng tên lửa chiến lược, Sergeyev đưa ra một quyết định bị chỉ trích là vì lợi ích cục bộ địa phương: giải thể Tổng hành dinh Lục quân vào tháng 12/1997. Điều này có nghĩa Lục quân không còn đứng ngang hàng với Không quân hay Hải quân trong bộ máy quân sự. Các trường quân sự giảm mạnh về số lượng, quân khu Siberi và Transbaikal bị hợp nhất. Tháng 8/1998, Sergeyev tuyên bố đến cuối năm sẽ có 6 sư đoàn và 4 lữ đòan được đưa vào chế độ sẵn sàng chiến đấu 24/24. Tuy thế, khả năng tác chiến của quân nhân, thậm chí là trong các đơn vị ưu tú, cũng rất đáng lo ngại, một phần do thiếu xăng dầu và nguồn các sỹ quan phục vụ huấn luyện.
Dưới thời Tổng thống Putin, nguồn ngân sách dành cho quân sự tăng lên rõ rệt, Tổng hành dinh Lục quân được khôi phục, tính chuyên nghiệp trong tác chiến được cải thiện đáng kể. Chi phí quân sự năm tăng từ 141 tỉ rúp năm 2000 lên 219 tỉ năm 2001, chủ yếu đầu tư vào nguồn lực con người (tăng lương cho quân nhân, huấn luyện tác chiến…). Mô hình tuyển quân được chuyển dịch sang hướng chuyên nghiệp hóa: tăng tỉ lệ lính hợp đồng, giảm quân nghĩa vụ. Nhiều nhà bình luận quân sự cho rằng mô hình này, vốn rất phổ biến ở phương Tây, không có nhiều hy vọng sống ở Nga, do một vài thế lực quân sự cao cấp tỏ ra miễn cưỡng, không muốn áp dụng nó.
Quân nhân
Lục quân, ra đời năm 2002, thừa hưởng toàn bộ hệ thống tổ chức nhân sự của thời Xôviết, tuy nhiên với chất lượng thấp hơn. Lực lượng Lục quân Nga có khoảng 395 nghìn quân nhân, trong đó 190 nghìn lính nghĩa vụ, 35 nghìn lính không quân (số liệu năm 2006). Một thập kỷ trước, những con số tương ứng là 670 nghìn quân nhân và 210 nghìn lính nghĩa vụ. Có thể thấy tỉ lệ quân nghĩa vụ giảm xuống, đồng nghĩa với lính hợp đồng tăng lên. Cuối năm 2005, Bộ trưởng Sergei Ivanov tuyên bố phấn đấu chuyên nghiệp hóa tòan bộ trung sỹ.
Sau khi Liên Xô tan rã, tỉ lệ trốn nghĩa vụ quân sự tăng lên chóng mặt do những điều kiện hà khắc trong quân đội, chế độ đãi ngộ tồi tệ cùng với sự suy đồi của tinh thần phục vụ quốc gia – điều được ghi sâu trong trí người Xôviết. Các sỹ quan cấp thấp không quá mong muốn được phục vụ, vì tương lai sự nghiệp của họ hòan toàn nằm trong tay cấp trên trực tiếp – người có quyền điều họ lên Moscow hoặc ra biên cương xa xôi gần Trung Quốc theo ý muốn chứ không phải dựa trên năng lực hay công trạng. Nạn bạo hành trong quân ngũ cướp đi sinh mạng và làm bị thương hàng trăm binh lính mỗi năm (xem phần 1)
Tội phạm và tham nhũng trong Lục quân là những vấn đề làm nhức nhối dư luận, giảm nhuệ khí và trình độ chiến đấu của binh sỹ, làm xấu danh tiếng quân đội. Buôn bán vũ khí, ám sát thuê, đầu cơ kinh doanh, ăn hối lộ trốn nghĩa vụ, dùng ma túy… không còn là hiện tượng cá biệt. Bộ trưởng Sergei Ivanov năm 2002 từng nói tình trạng ăn cắp vật liệu quân sự là không thể chấp nhận được.
Tổ chức
Tổng thống LB Nga là chỉ huy tối cao của các lực lượng vũ trang. Lục quân được chỉ huy bởi Bộ Tổng tư lệnh đặt tại Moscow. Năm 1997 cơ quan này bị giải tán, nhưng được Tổng thống Putin phục hồi năm 2001 bằng việc bổ nhiệm Đại tá Nikolai Kormiltsev làm Tổng tư lệnh lục quân, kiêm Thứ trưởng Quốc phòng. Năm 2004 Kormiltsev chuyển giao chức vụ cho Đại tá Alexei Maslov.
Bộ Tổng tư lệnh gồm Cục tham mưu quân bộ, Cục lực lượng gìn giữ hòa bình, Cục hậu cần, Cục cán bộ, Cơ quan chuyên trách huấn luyện và học thuyết quân sự, quân phòng thủ vũ khí sinh hóa – phóng xạ, quân công binh, quân phòng không…
Lục quân có 6 quân khu (Moscow, Leningrad, Bắc Kavkaz, Volga-Ural, Siberi và Viễn Đông), 8 sở chỉ huy, 1 sở chỉ huy quân đòan, các sư đòan tăng, sư đòan súng cơ giới, sư đòan pháo, các tổ chức – xí nghiệp – cơ quan quân sự. Chia theo đặc tính chiến đấu, Lục quân gồm lực lượng súng cơ giới, tăng, pháo, tên lửa, phòng không, các quân đòan đặc biệt (trinh sát, thông tin, phóng xạ, kỹ thuật công binh, chống vũ khí sinh khóa, bảo vệ hậu cần, kỹ thuật, cơ giới), các cơ sở hậu cần.
Lính cơ giới súng trường áp đảo về số lượng so với các binh chủng khác, tạo thành nòng cốt của các đơn vị Lục quân chiến đấu. Lực lượng này được trang bị vũ khí mạnh để hủy diệt các mục tiêu trên đất và trên không: các ụ tên lửa, xe tăng, pháo, ụ súng cối, tên lửa điều khiển chống tăng, tên lửa chống máy bay, các phương tiện trinh sát và thông tin. Ước tính có khoảng 19 sư đòan cơ giới súng trường như thế trong Lục quân, ngòai ra Hải quân cũng có những đơn vị cơ giới súng trường riêng trong các lực lượng phòng thủ đất liền và bờ biển của Hạm đội Baltic, trong phương diện quân Đông Bắc và quân bảo vệ bán đảo Kamchatka cũng như một vài địa điểm khác thuộc cực Đông Bắc.
Binh chủng Tăng có vai trò lớn trong chiến trận, với vai trò chính trong việc hoàn thành những nhiệm vụ chiến trường quan trọng nhất. Có 3 sư đòan tăng: sư đoàn 4 và 10 trong quân khu Moscow, sư đoàn 5 trong quân khu Siberi. Các sư đoàn khác (sư đoàn 2 tại quân khu Siberi, sư đòan 21 tại quân khu Viễn Đông) đã bị giải tán trong những năm gần đây.
Binh chủng Pháo và Tên lửa có sức mạnh hỏa lực lớn nhất với nhiệm vụ đè bẹp sức kháng cực của các nhóm địch quân. Lục quân hiện có 5-6 sư đoàn súng máy/pháo phòng thủ cố định và 1 sư đoàn pháo chiến trường (sư đoàn vệ binh 34 tại quân khu Moscow). Sư đoàn 12 của quân khu Siberi và 15 của quân khu Viễn Đông cũng đã bị giải thể. Lực lượng Phòng không, với nhiệm vụ hủy diệt không lực địch, bao gồm các sư đoàn tên lửa đất đối không, pháo chống máy bay và các đơn vị khác. Hàng không quân đội, vốn được thành lập để hỗ trợ trực tiếp Lục quân, đã đựơc chuyển giao cho Không quân.
Trang bị
Lục quân sở hữu một lượng lớn vũ khí khí tài, trong đó số xe tăng thuộc hàng lớn nhất thế giới. Nhịp độ tái vũ trang của Lục quân cũng tăng khá nhanh trong những năm gần đây. Công nghệ quân sự mới liên tiếp cho ra đời nhiều thế hệ vũ khí mới, như tăng T-95, hệ thống tên lửa chống máy bay và chống tên lửa mới S-400 Triumph. Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Nga, Yury Baluyevsky, hứa với Tổng thống Putin sẽ trang bị cho gần 30 tiểu đòan hệ thống S-400 Triumph này cho đến năm 2015. Tiểu đoàn đầu tiên đóng tại ngoại ô Moscow đã nhận được loại vũ khí “độc nhất vô nhị trên thế giới” này (theo lời Yury Baluyevsky).
Trang bị cá nhân của quân sỹ Nga từ trước đến nay vốn có tiếng là cồng kềnh và bất tiện. Gần đây tình hình được cải thiện với việc đưa vào sử dụng các lọai áo giáp và mũ mới.
Vũ khí Số lượng
Tăng hạng nặng 22,800+
Tăng hạng nhẹ 150
(PT-72)
Xe bọc thép 15 000+
Xe bọc thép dành cá nhân 9 900+
Pháo kéo 12 765
Pháo tự hành 6 000
Dàn phóng đa tên lửa 4 500
Súng cối 6 000
Tên lửa đất đối không tự hành
2 500
Trực thăng
1700
Vũ khí cá nhân cho binh sỹ gồm: súng lục (Makarov PMM, Stechkin APS…), súng tiểu liên (PP-19 Bizon, AEK-919K Kashtan, PP-90M1…), súng ngắn (Saiga-12, TOZ-194), súng trường (AK-74M , AKS-74U, AKM, AS Val , OC-14 Groza, SR-3 Vikhr, 9A-91, AN-94, AK-103), súng máy (RPK-74, NSV, PKM…); sniper (SVD Dragunov, VSS Vintorez, SV-98…), chất nổ chống bộ binh (lựu đạn RGO, RGN; mìn MON, OZM; tên lửa vác vai RPO, RPG…); chất nổ chống tăng (TM-57, TM-62M, RPG-7V2…); hệ thống tên lửa phòng không vác vai (SA-14 Gremlin, SA-18, Igla-S).
Cấp bậc, cấp hàm trong quân đội
Hệ thống cấp bậc cấp hàm trong quân đội liên bang Nga không có gì thay đổi nhiều so với thời Xôviết. Điểm khác biệt lớn nhất so với quân đội phương Tây là ở một số cấp hàm tướng tá, ví dụ “Đại tá’’. Các cấp hàm khác được vay mượn từ tiếng Đức, Pháp, Mỹ, Hà Lan và Ba Lan trong quá trình thành lập quân đội chính quy vào thế kỷ 17 và tồn tại cho đến nay với ít thay đổi.
Cao Thắng_VCB
Nhiệm vụ
Lực lượng lục quân đảm nhiệm việc giữ gìn biên giới, đánh bật địch quân, chiến đấu trên đất liền trong cả chiến tranh thông thường cũng như chiến tranh có sử dụng vũ khí hủy diệt. Ngoài ra, lục quân còn bảo vệ lợi ích quốc gia của Liên bang Nga trong khuôn khổ các hiệp ước quốc tế.
Tổng chỉ huy Lục quân là cơ cấu đầu não của lực lượng này với những nhiệm vụ sau:
• Huấn luyện chiến đấu theo chương trình do Tổng tham mưu hoạch định
• Cải tổ cơ cấu quân đội, tinh giản lực lượng, nâng cao khả năng chiến đấu
• Phát triển và áp dụng lý thuyết quân sự vào thực tiễn
Lịch sử
Liên Xô tan vỡ kéo theo một loạt hệ lụy trầm trọng về chính trị, xã hội, quân sự, kinh tế, tâm lý, tinh thần… Có không ít nỗ lực giữ gìn hoặc vớt vát phần nào sự toàn vẹn của lực lượng vũ trang Xôviết. Tháng 12/1991, Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô cuối cùng, Nguyên soái Yevgeny Shaposhnikov được bổ nhiệm làm Chỉ huy tối cao của các lực lượng vũ trang SNG. Nhiều hiệp ước khác được kí kết giữa các nước cộng hòa LX cũ nhằm thành lập những lực lượng quân đội chung, nhưng không lâu sau đó Ucraina chọn con đường đi riêng về quốc phòng, châm ngòi độc lập về an ninh cho các nước khác. Nga quyết định hành động.
Ngày 7/5/1992, Tổng thống Boris Yeltsin ký sắc lệnh thành lập Bộ quốc phòng LB Nga, qua đó tập hợp lục quân và các lực lượng vũ trang khác vào dưới một mái nhà. Lúc này, Tổng tham mưu đang tiến hành rút hàng chục nghìn quân nhân từ Đông Đức, Ba Lan (nhóm quân Bắc), Tiệp Khắc (nhóm quân Trung tâm), Hungary (nhóm quân Nam) và Mông Cổ. Ba mươi bảy sư đoàn khác phải được rút về từ 4 nhóm quân đóng tại các nước Baltic, 4 quân khu với 57 sư đoàn được chuyển giao cho Belarus và Ucraina. Quá trình rút và chuyển quân quy mô cực lớn này từ lãnh thổ các cựu thành viên Hiệp ước Warsaw đòi hỏi những nguồn lực khổng lồ về vật chất, con người cũng như thời gian. Các quân khu nội địa chịu sức ép rất lớn do cơ sở hạ tầng không thể ngay lập tức tiếp nhận dòng lũ binh lính và vũ khí kéo về, vì thế nhiều trang thiết bị quân sự bị vứt bỏ trên đường chuyển quân. Lục quân Nga hiện nay được tạo thành chính từ sự hợp nhất giữa những lực lượng rút về này với các quân khu còn lại trên đất Nga sau khi Liên Xô tan rã.
Tháng 7/1992 Bộ quốc phòng công bố kế hoạch cải tổ quân đội, theo đó cơ cấu Quân đội – sư đoàn – trung đoàn được thay thế bởi cấu trúc quân đoàn – lữ đoàn. Mô hình mới theo dự tính sẽ nâng cao khả năng tác chiến độc lập, tăng tính cơ động, đơn giản hóa quy trình chỉ huy – kiểm soát. Thực tế cho thấy kế hoạch này không có sức sống mạnh mẽ. Số lượng lữ đoàn tăng lên, nhưng chất lượng không khác biệt nhiều so với sư đoàn trước đây. Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của kế hoạch cải tổ này. Trước hết, Tổng thống Boris Yeltsin quan tâm tới việc duy trì sự ổn định và trung thành của quân đội hơn là đưa ra những thay đổi cơ bản. Thứ 2, công việc bị trì trệ do thiếu kinh phí rót cho mục đích quân sự. Sau nữa là sự thiếu nhất quán trong giới quân đội về chính hướng đi của cải tổ. Tướng Pavel Grachev, Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của LB Nga muốn giữ mô hình quân đội Xô viết với 2 đặc điểm: các đơn vị quân có số lượng lớn với sức mạnh vừa phải và chế độ tổng tuyển quân. Bộ tổng tham mưu ủng hộ duy trì các thuyết quân sự, phương thức triển khai quân, vũ khí và nhiệm vụ của quân đội thời Xô viết.
Lục quân phản ứng dè dặt trong cuộc khủng hoảng Hiến pháp 1993, khi Boris Yeltsin ra lệnh giải tán Quốc hội do không ủng hộ việc ông tập trung quyền lực và thực hiện cải cách. Dù chính thức tuyên bố ủng hộ Tổng thống, quân đội Nga do tướng Grachev đứng đầu cố gắng giữ trung hòa do phần lớn sỹ quan không muốn một cuộc binh biến bạo lực. Yeltsin đã phải vất vả thuyết phục mới yêu cầu được 5 sư đoàn đóng quanh Moscow nã đạn tòa nhà Quốc hội.
Người Chechnya, tranh thủ việc Liên Xô tan rã, tuyên bố độc lập vào tháng 11/1991 và bầu cựu sỹ quan không quân Xô viết Dzhokar Dudayev làm Tổng thống. Sau những nỗ lực ngoại giao bất thành, năm 1994 trong một cuộc họp Hội đồng an ninh LB Nga, Tổng thống Yeltsin ra tối hậu thư cho Chechnya: hoặc giải giáp vũ khí, hoặc Moscow sẽ vãn hồi trật tự.
Bộ trưởng Quốc phòng Grachev cam đoan với Tổng thống sẽ «tái chiếm Grozny trong vòng 2 tiếng với chỉ 1 trung đoàn không quân đánh bộ». Chiến dịch quân sự bắt đầu ngày 11/12/1994 nhưng mãi đến ngày 31/12 quân Nga mới tiến được vào thủ đô Grozny. Lữ đoàn hỏa lực cơ giới số 131 được lệnh tấn công thần tốc vào trung tâm Grozny nhưng gần như bị tiêu diệt hoàn toàn trong các cuộc phục kích của quân Chechnya. Chiến sự tiếp diễn với các mức độ khác nhau ở các mặt trận khác. Sau khi Dudayev bị ám sát, quân Chechnya dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh mới Aslan Maskhadov tái chiếm được Grozny. Thư ký hội đồng an ninh liên bang Alexander Lebed bắt buộc ngồi vào bàn đàm phán với phiến quân, hiệp định ngừng bắn được kí kết. Cuộc «trình diễn» của lục quân Nga trong cuộc chiến này được đánh giá là «cực kém» - biểu hiện của những vết thương chưa lành.
Chiến tranh Chechnya lần thứ 2 nổ ra vào tháng 8/1999 sau khi phiến quân Chechnya tràn sang Dagestan và một loạt các vụ đánh bom liên tiếp làm rung chuyển nước Nga. Lần này quân Nga đổi chiến thuật, dập pháo và tên lửa xuống trận địa địch quân trước khi triển khai lục quân. Trình độ tác chiến của quân Nga trong cuộc chiến này được nâng cao rõ rệt, lực lượng tham chiến được tập luyện từ trước, không ô hợp như lần trước. Tuy thế, chiến sự vẫn không hề dễ dàng, Chechnya đã biến thành vũng lầy chôn chân quân đội liên bang nhiều năm. Cuộc chiến cũng cho thấy nhiều sự rạn nứt và bất đồng ý kiến giữa các chỉ huy chiến trường với giới quân sự liên bang. Đại tá Gennady Troshev bị thải hồi năm 2002 vì từ chối chuyển từ quân khu Bắc Kavkaz sang chỉ huy quân khu Siberi ít quan trọng hơn.
Igor Sergeyev, Bộ trưởng Quốc phòng từ năm 1997, quyết tâm cải tổ quân đội trong điều kiện hết sức khó khăn. Vốn là cựu quân nhân phục vụ trong lực lượng tên lửa chiến lược, Sergeyev đưa ra một quyết định bị chỉ trích là vì lợi ích cục bộ địa phương: giải thể Tổng hành dinh Lục quân vào tháng 12/1997. Điều này có nghĩa Lục quân không còn đứng ngang hàng với Không quân hay Hải quân trong bộ máy quân sự. Các trường quân sự giảm mạnh về số lượng, quân khu Siberi và Transbaikal bị hợp nhất. Tháng 8/1998, Sergeyev tuyên bố đến cuối năm sẽ có 6 sư đoàn và 4 lữ đòan được đưa vào chế độ sẵn sàng chiến đấu 24/24. Tuy thế, khả năng tác chiến của quân nhân, thậm chí là trong các đơn vị ưu tú, cũng rất đáng lo ngại, một phần do thiếu xăng dầu và nguồn các sỹ quan phục vụ huấn luyện.
Dưới thời Tổng thống Putin, nguồn ngân sách dành cho quân sự tăng lên rõ rệt, Tổng hành dinh Lục quân được khôi phục, tính chuyên nghiệp trong tác chiến được cải thiện đáng kể. Chi phí quân sự năm tăng từ 141 tỉ rúp năm 2000 lên 219 tỉ năm 2001, chủ yếu đầu tư vào nguồn lực con người (tăng lương cho quân nhân, huấn luyện tác chiến…). Mô hình tuyển quân được chuyển dịch sang hướng chuyên nghiệp hóa: tăng tỉ lệ lính hợp đồng, giảm quân nghĩa vụ. Nhiều nhà bình luận quân sự cho rằng mô hình này, vốn rất phổ biến ở phương Tây, không có nhiều hy vọng sống ở Nga, do một vài thế lực quân sự cao cấp tỏ ra miễn cưỡng, không muốn áp dụng nó.
Quân nhân
Lục quân, ra đời năm 2002, thừa hưởng toàn bộ hệ thống tổ chức nhân sự của thời Xôviết, tuy nhiên với chất lượng thấp hơn. Lực lượng Lục quân Nga có khoảng 395 nghìn quân nhân, trong đó 190 nghìn lính nghĩa vụ, 35 nghìn lính không quân (số liệu năm 2006). Một thập kỷ trước, những con số tương ứng là 670 nghìn quân nhân và 210 nghìn lính nghĩa vụ. Có thể thấy tỉ lệ quân nghĩa vụ giảm xuống, đồng nghĩa với lính hợp đồng tăng lên. Cuối năm 2005, Bộ trưởng Sergei Ivanov tuyên bố phấn đấu chuyên nghiệp hóa tòan bộ trung sỹ.
Sau khi Liên Xô tan rã, tỉ lệ trốn nghĩa vụ quân sự tăng lên chóng mặt do những điều kiện hà khắc trong quân đội, chế độ đãi ngộ tồi tệ cùng với sự suy đồi của tinh thần phục vụ quốc gia – điều được ghi sâu trong trí người Xôviết. Các sỹ quan cấp thấp không quá mong muốn được phục vụ, vì tương lai sự nghiệp của họ hòan toàn nằm trong tay cấp trên trực tiếp – người có quyền điều họ lên Moscow hoặc ra biên cương xa xôi gần Trung Quốc theo ý muốn chứ không phải dựa trên năng lực hay công trạng. Nạn bạo hành trong quân ngũ cướp đi sinh mạng và làm bị thương hàng trăm binh lính mỗi năm (xem phần 1)
Tội phạm và tham nhũng trong Lục quân là những vấn đề làm nhức nhối dư luận, giảm nhuệ khí và trình độ chiến đấu của binh sỹ, làm xấu danh tiếng quân đội. Buôn bán vũ khí, ám sát thuê, đầu cơ kinh doanh, ăn hối lộ trốn nghĩa vụ, dùng ma túy… không còn là hiện tượng cá biệt. Bộ trưởng Sergei Ivanov năm 2002 từng nói tình trạng ăn cắp vật liệu quân sự là không thể chấp nhận được.
Tổ chức
Tổng thống LB Nga là chỉ huy tối cao của các lực lượng vũ trang. Lục quân được chỉ huy bởi Bộ Tổng tư lệnh đặt tại Moscow. Năm 1997 cơ quan này bị giải tán, nhưng được Tổng thống Putin phục hồi năm 2001 bằng việc bổ nhiệm Đại tá Nikolai Kormiltsev làm Tổng tư lệnh lục quân, kiêm Thứ trưởng Quốc phòng. Năm 2004 Kormiltsev chuyển giao chức vụ cho Đại tá Alexei Maslov.
Bộ Tổng tư lệnh gồm Cục tham mưu quân bộ, Cục lực lượng gìn giữ hòa bình, Cục hậu cần, Cục cán bộ, Cơ quan chuyên trách huấn luyện và học thuyết quân sự, quân phòng thủ vũ khí sinh hóa – phóng xạ, quân công binh, quân phòng không…
Lục quân có 6 quân khu (Moscow, Leningrad, Bắc Kavkaz, Volga-Ural, Siberi và Viễn Đông), 8 sở chỉ huy, 1 sở chỉ huy quân đòan, các sư đòan tăng, sư đòan súng cơ giới, sư đòan pháo, các tổ chức – xí nghiệp – cơ quan quân sự. Chia theo đặc tính chiến đấu, Lục quân gồm lực lượng súng cơ giới, tăng, pháo, tên lửa, phòng không, các quân đòan đặc biệt (trinh sát, thông tin, phóng xạ, kỹ thuật công binh, chống vũ khí sinh khóa, bảo vệ hậu cần, kỹ thuật, cơ giới), các cơ sở hậu cần.
Lính cơ giới súng trường áp đảo về số lượng so với các binh chủng khác, tạo thành nòng cốt của các đơn vị Lục quân chiến đấu. Lực lượng này được trang bị vũ khí mạnh để hủy diệt các mục tiêu trên đất và trên không: các ụ tên lửa, xe tăng, pháo, ụ súng cối, tên lửa điều khiển chống tăng, tên lửa chống máy bay, các phương tiện trinh sát và thông tin. Ước tính có khoảng 19 sư đòan cơ giới súng trường như thế trong Lục quân, ngòai ra Hải quân cũng có những đơn vị cơ giới súng trường riêng trong các lực lượng phòng thủ đất liền và bờ biển của Hạm đội Baltic, trong phương diện quân Đông Bắc và quân bảo vệ bán đảo Kamchatka cũng như một vài địa điểm khác thuộc cực Đông Bắc.
Binh chủng Tăng có vai trò lớn trong chiến trận, với vai trò chính trong việc hoàn thành những nhiệm vụ chiến trường quan trọng nhất. Có 3 sư đòan tăng: sư đoàn 4 và 10 trong quân khu Moscow, sư đoàn 5 trong quân khu Siberi. Các sư đoàn khác (sư đoàn 2 tại quân khu Siberi, sư đòan 21 tại quân khu Viễn Đông) đã bị giải tán trong những năm gần đây.
Binh chủng Pháo và Tên lửa có sức mạnh hỏa lực lớn nhất với nhiệm vụ đè bẹp sức kháng cực của các nhóm địch quân. Lục quân hiện có 5-6 sư đoàn súng máy/pháo phòng thủ cố định và 1 sư đoàn pháo chiến trường (sư đoàn vệ binh 34 tại quân khu Moscow). Sư đoàn 12 của quân khu Siberi và 15 của quân khu Viễn Đông cũng đã bị giải thể. Lực lượng Phòng không, với nhiệm vụ hủy diệt không lực địch, bao gồm các sư đoàn tên lửa đất đối không, pháo chống máy bay và các đơn vị khác. Hàng không quân đội, vốn được thành lập để hỗ trợ trực tiếp Lục quân, đã đựơc chuyển giao cho Không quân.
Trang bị
Lục quân sở hữu một lượng lớn vũ khí khí tài, trong đó số xe tăng thuộc hàng lớn nhất thế giới. Nhịp độ tái vũ trang của Lục quân cũng tăng khá nhanh trong những năm gần đây. Công nghệ quân sự mới liên tiếp cho ra đời nhiều thế hệ vũ khí mới, như tăng T-95, hệ thống tên lửa chống máy bay và chống tên lửa mới S-400 Triumph. Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Nga, Yury Baluyevsky, hứa với Tổng thống Putin sẽ trang bị cho gần 30 tiểu đòan hệ thống S-400 Triumph này cho đến năm 2015. Tiểu đoàn đầu tiên đóng tại ngoại ô Moscow đã nhận được loại vũ khí “độc nhất vô nhị trên thế giới” này (theo lời Yury Baluyevsky).
Trang bị cá nhân của quân sỹ Nga từ trước đến nay vốn có tiếng là cồng kềnh và bất tiện. Gần đây tình hình được cải thiện với việc đưa vào sử dụng các lọai áo giáp và mũ mới.
Vũ khí Số lượng
Tăng hạng nặng 22,800+
Tăng hạng nhẹ 150
(PT-72)
Xe bọc thép 15 000+
Xe bọc thép dành cá nhân 9 900+
Pháo kéo 12 765
Pháo tự hành 6 000
Dàn phóng đa tên lửa 4 500
Súng cối 6 000
Tên lửa đất đối không tự hành
2 500
Trực thăng
1700
Vũ khí cá nhân cho binh sỹ gồm: súng lục (Makarov PMM, Stechkin APS…), súng tiểu liên (PP-19 Bizon, AEK-919K Kashtan, PP-90M1…), súng ngắn (Saiga-12, TOZ-194), súng trường (AK-74M , AKS-74U, AKM, AS Val , OC-14 Groza, SR-3 Vikhr, 9A-91, AN-94, AK-103), súng máy (RPK-74, NSV, PKM…); sniper (SVD Dragunov, VSS Vintorez, SV-98…), chất nổ chống bộ binh (lựu đạn RGO, RGN; mìn MON, OZM; tên lửa vác vai RPO, RPG…); chất nổ chống tăng (TM-57, TM-62M, RPG-7V2…); hệ thống tên lửa phòng không vác vai (SA-14 Gremlin, SA-18, Igla-S).
Cấp bậc, cấp hàm trong quân đội
Hệ thống cấp bậc cấp hàm trong quân đội liên bang Nga không có gì thay đổi nhiều so với thời Xôviết. Điểm khác biệt lớn nhất so với quân đội phương Tây là ở một số cấp hàm tướng tá, ví dụ “Đại tá’’. Các cấp hàm khác được vay mượn từ tiếng Đức, Pháp, Mỹ, Hà Lan và Ba Lan trong quá trình thành lập quân đội chính quy vào thế kỷ 17 và tồn tại cho đến nay với ít thay đổi.
Cao Thắng_VCB