|
ELENA BLAGHINHINA 1903 CHỜ ĐỢI Lạnh dồn xuống hai chân – Có phải anh không nhỉ? Nghe lạ tiếng chân đi Không phải anh, không phải! Nghe xa tiếng cót két trên sàn, Chắc lần này anh đến? Tiếng bước gần rồi xa Đúng là anh chưa tới! Trong tai nghe tiếng chuông Hay có khi anh đến? Tim nghìn mảnh nát tan, Trời ơi, anh không đến! Đúng là chẳng nằm yên Muốn ngồi, không ngồi nổi, Đã nghẹn thở mất rồi Tiếng người còn ý nghĩa? Tai, mắt để làm gì? Tùng Cương dịch |
ЕЛЕНА БЛАГИНИНА 1903 ОЖИДАНИЕ Холодам рвануло по ногам- Может, это он? Но чужой в передней слышен гам. Нет, это не он! Половицы скрипнули вдали, Может, это он? Но шаги, приблизившись, ушли. Нет, опять не он! Слышится звонок в моих ушах- Может, это он? Сердце рaзрывается, но – ах! Нет, это не он! Вот поистине, ни сесть, ни лечь, Захватило дух. Для чего мне человечья речь, Зрение и слух? |
|
VIXXARIÔN XAIANÔV 1903-1958 Có bản lĩnh, tình yêu mới có, Có tình yêu, mới có hợp tan, Có tranh cãi, dỗi hờn khác lạ, Gọi là gì, tuỳ bạn đặt tên. Xin hãy hiểu và nhớ các cung bậc trên Bởi ta sẽ luôn cùng sống, Đôi khi ta nhìn ngắm mặt trời Qua cặp mắt nhắm nghiền vì đau chói. Tùng Cương dịch |
ВИCСАРИОН САЯНОВ 1903-1958 Без своеволья нет любви, И нет её без странных споров, Разлук, размолвок и раздоров,- Как хочешь это назови! Но всё пойми, и всё навеки, Отныне назовёшь своим, – На солнце так порой глядим Сквозь болью сведенные веки. |
|
A.K.TÔL XTÔI 1817-1875 MÙA XUÂN Ban mai…Mặt trời chiếu soi rực rỡ; Trong từng ngọn cỏ, sự sống rạt rào; Lặng lẽ mây đen bay lượn trên trời; Cô gái bước ra một dòng sông nhỏ. Cô đi từ bờ xuống Tiến về phía cái bè. Bỗng nhiên dừng chân đi, Trông cô như chết lặng. Trên trời âm thanh rót ra vang vọng. Cô khoanh trên ngực để hai cánh tay, Người đẹp lắng nghe tiếng hát bay bay; Đôi mắt nhìn quanh dịu dàng, trìu mến. Hai mắt cô phản chiếu Những tia nắng mặt trời. Tiếng sơn ca rộn vui Cô nghe sao thật thích. Tiếng hót vang hơn, vang nữa. Rộn trong tim cô sáng tươi Chính những thanh âm đang rơi. Đôi má cô ngời hửng đỏ. Dòng máu cô lên tiếng Trong khuôn ngực trẻ trung; Đôi môi cô thì thầm: “Anh yêu ơi, hãy đến…” Tùng Cương dịch |
A.К. ТОЛСТОЙ 1817-1875 ВЕСНОЙ Утро… Солнце ярко блещет; В каждой травке жизнь трепещет; В небе тучи тихо бродят; К речке девушка подходит. С берега спустилась, К плоту подошла. Вдруг остановилась, Точно замерла. Сверху звонко льются звуки. На груди скрестивши руки Песню слушает красотка; Глазки смотрят нежно, кротко. В глазках отраженье Солнечных лучей. Жаворонка пенье Любо слушать ей. Громче, громче звуки льются. В сердце чистом раздаются Те же звуки, те же трели, Ярко щечки заалели. Кровь заговорила В молодой груди; Губки шепчут:” Милый! Милый мой, приди!..” |
|
ÔLGA VƯXÔTXKAIA 1903-1970 Tình yêu thường thấy khác nhau. Có thể là ánh phản chiếu trên băng đá. Là cơn đau nhức nhối triền miên. Là cây táo đang đơm hoa kết trái. Là cơn cuồng phong và chuyến bay cao Là xiềng xích và trại giam ngục đá… Chúng ta vui vẻ hy sinh Ngay cả bình yên và công việc Cả cuộc đời vì hai chữ tình yêu! Nhưng cũng có tình yêu âm thầm đến Chìa tay nâng anh đứng dậy, giúp đỡ anh Còn dẫn dắt anh vượt qua năm tháng Cho đến cuối cuộc đời này Sẽ là linh hồn, lương tâm anh mãi. Tùng Cương dịch |
ОЛЬГА ВЫСОТСКАЯ 1903-1970 Любовь – она бывает разной. Бывает отблеском на льду. Бывает болью неотвязной. Бывает яблоней в цвету. Бывает вихрем и полётом. Бывает цепью и тюрьмой. Мы ей покоем и работой, И жизнью жертвуем самой! Но есть ещё любовь такая Что незаметно подойдёт И поднимая, помогая, Тебя сквозь годы поведёт И будет до последних дней Душой и совестью твоей. |
|
VLAĐIMIR KARPEKO 1922 Không, những gì đã có giữa hai ta Không thể xoá nhoà ra khỏi trí nhớ… Bởi thời gian có trôi qua. Với năm tháng, em còn buồn nhớ hơn nữa. Nhớ buổi gặp đầu tiên nhất Trong cuộc đời va chạm ít của em. Khi em thấy gần như đêm hôm đó Là giấc mơ, truyện cổ tích của em, Khi hai mắt ta nhìn nhau đắm đuối Bao nhiêu lời nói đã thành thừa, Do hạnh phúc xen cùng lo lắng Chợt đầu ta bỗng thấy quay cuồng, Thế giới chao đảo, trước mắt ta đó Ánh sáng trời sao xa xôi tắt lịm luôn… Em đừng dối lòng mình, anh biết, cùng năm tháng Em nhớ dấu vết không phai mờ lần gặp gỡ đầu tiên. Buổi gặp ấy sống trong tim em mãi. Cho dù em có ở với người khác rồi, Ngày ngày sẽ quen dần tiếng “mẹ” Của đàn con luôn ngậu ngã quanh em. Dù em có đòi gì đi nữa, Những phút giây làm mờ tối trời sao Đã đọng lại trong lần hò hẹn đó Sẽ không bao giờ xoá được với năm tháng qua đi. Tùng Cương dịch |
ВЛАДИМИР КАРПЕКО 1922 Нет, всё, что было между нами Едва ли в памяти твоей Сотрётся временем… С годами Ты будешь тосковать сильней. О той, о самой первой встрече В твоей нетронутой судьбе, Когда почти что сказкой вечер, Мечтою виделся тебе, Когда глаза в глаза глядели, И стали лишними слова, И от тревожного веселья Вдруг закружилась голова, Качнулся мир и перед нами Померк далёкий звездный свет… Не лги, я знаю, что с годами Неизгладимый той встречи след. Он будет жить в тебе упрямо. Пусть ты – с другим и день от дня Привычным станет слово “мама” Детей шумливая возня, - Но никогда, как ты ни требуй, Ни дни, ни годы не сотрут Тех, погасивших звёзды в небе Остановившихся минут. |
|
VAXILI KUBANHEV 1921-1942 NHỮNG NGÀY CÁCH XA NHAU Dù đi dọc hay ngang, Có đi toàn thành phố, Trái tim càng nức nở, Không thắng nổi nỗi đau. Đọng trong cửa nhà ai Tiếng chuông rơi, ánh sáng. Sát bên tôi, năm tháng Vắng bóng người yêu tôi… Dịu dàng nhất bao lời Một thời chưa kịp nói! Bao giấc mộng cần nhất Ta chưa thấy trong đời! Giá em đủ sức rồi, Em vươn người hét lớn: Nổi trên phong bì trắng Là dấu đóng tối đen… Nét chữ viết thân quen Chạy ngang xiên sang dọc. Thư viết càng vắn tắt, Càng kéo dài nỗi đau. Những ngày cách xa nhau Có tin thư chuyển đến – Biết nhiều tin tức nhất Nhờ tất cả trên tay. Tùng Cương dịch |
ВАСИЛИЙ КУБАНЕВ 1921-1942 В ДНИ РАЗЛУКИ Исходи весь город Поперёк и вдоль – Не умолкнёт сердце, Не утихнет боль. В чьих-то узких окнах Стынет звон и свет. А со мною рядом Больше друга нет. Сколько недосказано Самых нежных слов! Сколько недосмотрено Самых нужных снов! Есль б сил хватило, Можно закричать: На конверте белом Чёрная печать. И знакомый почерк Поперёк и вдоль. Чем письмо короче, Тем длиннее боль. В дни разлуки дальней Письменная весть – Самое большое Из всего, что есть. |
|
A. E. RADÔ RÊNÔV 1819-1891 Đừng trách em, chị ơi, Rằng em yêu anh quá, Chị ơi, sao buồn thế, Sống một mình, thiếu anh. Em không biết làm sao Chuỵên bỗng ra như vậy, Có gì như đổ vỡ Lòng giằng xé nỗi buồn. Toàn thân em đau nhừ, Người nóng như chảo lửa, Cái gì cũng lạnh, dở, Đau khổ nhớ anh ta. Sáng ngày và đêm đen Cả trong mơ, lúc thức Lệ rơi làm mờ mắt Ước bay đi gặp anh. Em không cần phục trang, Ruy băng, đá, gấm vóc, Mái tóc anh, ánh mắt Thiêu đốt trái tim em. Hãy thương em, chị ơi, Thôi đừng trách em mãi; Rõ số em phải thế, Chỉ biết yêu anh thôi. Tùng Cương dịch |
А. Е. РАЗОРЕНОВ 1819-1891 Не брани меня, родная, Что я так люблю его Скучно, скучно, дорогая, Жить одной мне без него. Я не знаю, что такое Вдруг случилось со мной, Что так рвётся ретивое И терзается тоской. Всё оно во мне изныло, Вся горю я, как в огне. Все немило, всё постыло, И страдаю я по нём. В ясны дни и тены ночи И во сне и наяву Слёзы мне туманят очи, Все летела б я к нему. Мне не нужны все наряды Ленты, камни и парчи, Кудри молодца и взгляды Сердце бедное зажгли. Сжался, сжался, родная, Перестань меня бранить; Знать, судьба моя такая Что должна его любить. |
|
NATALIA GRUĐINHINA 1918 Yêu không phải một người, Em không hề hối tiếc Chuyện quá khứ qua rồi… Người yêu đầu bị giết, Anh sau chẳng ra gì, Người thứ ba xa lạ Bỏ đi đận tuyết tan… Thôi đành, anh còn trẻ Còn em mệt rã rời… Đời đơn côi nặng nề. Với bạn xưa, vẫn gọi Thưa cả họ và tên. Thẳng băng, không e ngại Không chịu nghe khuyên giải, Kể anh đủ mọi điều Đúng giọng người dửng dưng. Anh vẫn quyết yêu em Không thuỷ chung, khó tính. Anh bảo:” Anh muốn làm Người yêu em cuối cùng, Ơi người tình của anh”. Anh nói:”Thì thời chiến, Gia đình ai vẹn lành!” Yêu anh, em hiểu được Điều quan trọng nhất là Nề nếp nhà nghiêm ngặt Không nhàn cư, ghen tuông, Em cần sống bình yên Quyền em yêu, chung thuỷ. Tùng Cương dịch |
НАТАЛЯ ГРУДИНИНА 1918 Любила я не одного, Не каюсь, дело прошлое… Один убит, и ничего Другой не дал хорошего, А третий сделался чужим, Ушёл по снегу талому… Что ж делать – был он молодым, А я уже усталою… Потом безвыходно жила В угрюмом одиночестве, Своих друзей и тех звала По имени и отчеству, И не смутясь, не оробев, Советчиков не слушая, Сказала про всё тебе – По праву равнодушия. А ты решил меня любить, Недобрую, неверную, Сказал – Хочу последним быть Твоим, моя непервая.- Сказал – война, сказал – обрыв Свой собственный у каждого. И поняла я, полюбив То, что важнее важнoго Суров семейный наш устав- Ни праздности, ни ревности, Мне нужен мир во имя прав Моей любви и верности. |
|
ALECHXANĐR IASHIN 1913-1968 BÊN BIA MỘ Em từ nay không cách xa anh rồi. Không ai đè nén tâm hồn ta nữa. Hạnh phúc ta thật quá vững bền, Không bất hạnh nào đáng gọi là đau khổ. Anh không mong có sự đổi thay nào, Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, Mọi sự rồi sẽ giống năm đầu, Y hệt như năm cuối, Thời gian của hai ta đã đứng lại rồi. Không còn tranh cãi hoài giận dữ, Giờ đây ta gặp gỡ nhau bình yên, Chỉ có tiếng lá phong, lá gia xào xạc… Anh chỉ còn một việc là yêu. Tùng Cương dịch |
АЛЕКСАНДР ЯШИН 1913-1968 У НАДГРОБЬЯ Ты теперь от меня никуда, И никто над душой не властен, До того устойчиво счастье, Что любая беда – не беда. Никаких перемен не жду, Что бы вперёдь со мной ни случилось, Будет всё как в первом году, Как в последнем было году,- Время наше остановилось. И размолкам уже не быть. Ныне встречи наши спокойны, Только липы шумят да клёны. Вот теперь-то мне и любить. |
|
XAMUIL MARSHAK 1887-1964 Dù ngôn ngữ của anh rực rỡ, Vườn hoa ngôn từ cũng héo mau. Còn sự thật trần trụi như lưỡi kiếm Sẽ không bao giờ hết lấp lánh đâu. *** Cuộc sống là cội nguồn đầu cho nghệ thuật Thơ ca là nguồn suối thứ hai. Nguồn cội đầu mà chết lặng, Thì thơ ca cạn kiệt chữ tình. Nếu nguồn suối thứ hai bị quên lãng, Mỗi câu thơ chắc chắn sẽ thành câm. Tùng Cương dịch |
САМУИЛ МАРШАК 1887-1964 Как ни цветиста ваша речь, Цветник словесный быстро вянет. А правда голая, как меч, Вовек сверкать не перестанет. *** Питает жизнь ключом своим исскуство. Другой твой ключ – поэия сама. Захлог один – в стихах не стало чувства. Забыт другой – строка твоя нема. |
|
MIKHAIL IXACÔPXKI 1900-1973 CÔ GÁI LÊN ĐƯỜNG Sắp sửa trên sân ga Còi khởi hành sẽ phát, Cô gái sắp ra đi Về Viễn Đông xa lắc. Cô có đức nết na Không ai bằng cô được, Cô gái thật đáng yêu Phải xa – sao mà tiếc. Rộn ràng trên sân ga Ngập chan hoà ánh nắng, Có một chàng trẻ trai Đi tiễn đưa bạn gái. Anh chưa biết nói gì Để chia tay cô bạn, Anh chưa biết đem gì Tặng cô khi li biệt. Muốn tặng trái tim mình Thì cô đâu có lấy, Anh chỉ hé môi cười Nhìn thẳng về phía trước. Muốn tặng cô mặt trời Mặt trời không với được. Chàng trai quyết định rồi: -Mình học bay thành thục. Đường về miền Viễn Đông Sẽ đặt trong mây biếc, Những gì chưa nói ra Sau này, anh nói hết. Anh sẽ như chim bay, Tìm đến cô, sáng sớm, Những gì chưa tặng ngay Sau này, anh tặng nốt. Tàu lăn bánh khởi hành, Chào bạn, bạn đi nhé! Cô hãy đợi một năm Đón anh phi công trẻ. Trong gió phấp phới bay Chiếc khăn thêu rực rỡ. Có cô gái ra đi Về Viễn Đông xa lắc. Tùng Cương dịch |
МИХАИЛ ИСАКОВСКИЙ 1900-1973 УЕЗЖАЕТ ДЕВУШКА Скоро на платформе Прозвучит свисток, Уезжает девушка На Дальний Восток. Девушка хорошая - Лучше не сыскать, Девушка любимая - Жалко отпускать. На весёлой станции, Солнцем залитой, С девушкой прощается Парень молодой И не знает парень- Что ей говорить, И не знает парень – Что ей подарить. Подарил бы сердце- Сердца не берёт, Только улыбается Да глядит вперёд. Подарил бы солнце – Солнца не достать. И решает парень: -Научусь летать. На восток дорогу В тучах проложу. Всё, что не досказано После доскажу. Полечу, как птица Прямо на зарю. Всё, что не подарено После подарю. Поезд отправляется, Девушка, прощай! Лётчика-молодчика Через год встречай. На ветру колышется Вышитый платок. Уезжает девушка На Дальний Восток. |
|
AFANAXI FET 1820-1892 Hạnh phúc sao: chỉ có đôi ta và đêm tối! Cả dòng sông như gương chiếu trời sao; Trên đầu ta, em hãy ngước nhìn nào: Trời sâu thẳm và hiện ra trong suốt! Em cứ gọi anh là người mất trí! Hãy gọi là gì tuỳ ý của em; Giây phút này, lí trí anh yếu đuối Thấy trong lòng sóng tình ái trào dâng, Đến nỗi không biết lặng im, không thể! Anh phát ốm, đang yêu, nhưng khổ đau và say đắm – Ôi em hãy nghe và hiểu! anh không giấu được sự đam mê, Anh muốn nói: anh yêu em nhiều lắm, Chỉ yêu em và mong muốn có em! Tùng Cương dịch |
АФАНАСИЙ ФЕТ 1820-1892 Какое счастье: и ночь и мы одни! Река - как зеркало и вся блестит звездами; А там-то… голову закинька да взгляни: Какая глубина и чистота над нами! О, называй меня безумным! Назови Чем хочешь; в этот миг я разумом слабею И в сердце чувствую такой прилив любви, Что не могу молчать, не стану, не умею! Я болен, я влюблён; но мучась и любя - О слушай! о пойми! страсти не скрываю, И я хочу сказать, что я люблю тебя - Тебя, одну тебя люблю я и желаю! |
|
FIOĐOR CHIUTTREV 1803-1873 NƯỚC MÙA XUÂN Ngoài đồng ruộng, tuyết vẫn còn trắng xoá, Nước rì rầm, không khí đã vào xuân- Nước chạy nhảy, làm bờ sông thức giấc Nước chảy đi, kêu róc rách báo tin. Nước loan báo tin vui bay mọi hướng: “Xuân đang về, xuân đang đến rồi đây! Chúng tôi hoả tốc đưa tin cho xuân trẻ, Xuân cử chúng tôi đi trước để báo tin.” Xuân đang đến, xuân đang về rồi nhé Ngày tháng Năm, trời ấm áp, thanh bình, Họp thành điệu múa vòng tròn sáng bừng, hồng thắm Đang hân hoan mở hội lúc xuân về! Tùng Cương dịch |
ФЁДОР ТЮТЧЕВ 1803-1873 ВЕСЕННИЕ ВОДЫ Ещё в полях белеет снег, А воды уж весной шумят - Бегут и будят сонный брег, Бегут и плещут и гласят… Они гласят во все концы: “Весна идёт, весна идёт! Мы молодой весны гонцы, Она нас выслала вперёд!” Весна идёт, весна идёт - И тихих, тёплых майских дней Румяный, светлый хоровод Толпится весело за ней! |
|
VE RÔNHICA TUSHNÔVA CÃI NHAU Chiều tháng bảy kéo dài làm mệt mỏi ánh hoàng hôn chậm rãi bò khỏi mái nhà. Mà nói thật, trong mỗi lần cãi vã: lỗi tại em và lỗi cả ở anh. Ta đã nói những câu tàn ác nhất, tất những gì khi bực tức nghĩ ra, để kết thúc, ta còn qua hình phạt: giam trong phòng ngột ngạt, ở riêng Em biết anh đang buồn phiền, nghiệt ngã nhìn mây trời lờ lững trôi qua… Những chiều tối thế này đâu nhiều lắm, cuộc đời này cũng đâu quá bao la! Thì có thể, người đời yêu nhau đấy không phải lúc nào cũng nồng cháy như ta… Và có lẽ, chuyện dư thừa của báu làm ta quên không biết quý, nâng niu! Em thừa nhận quyền đàn ông tự ái. Em không mong xâm phạm mãi điều này. Anh yêu hỡi! Trăng Matxcơva sao đẹp quá… Mở ra nào, em gõ cửa phòng anh. Tùng Cương dịch |
ВЕРОНИКА ТУШНОВА ССОРА Вечер июльский томительно долог, медленно с крыши сползает закат… Правду сказать – как в любой из размолвок, я виновата, и ты виноват. Cамое злое друг другу сказали, всё , что придумать в сердцах довелось, и в заключенье себя наказали: в комнатах душных заперлись врозь. Знаю, глядишь ты печально и строго на проплывающие облака… А вечеров-то не так уже много, жизнь-то совсем уж не так велика! Любят друг друга, пожалуй, не часто так, как смогли мы с тобой полюбить… Это, наверно, излишек богатства нас отучил бережливым быть! Я признаю самолюбье мужское. Я посягать на него не хочу. Милый! Какая луна над Москвою… Милый открой – я в окно постучу. |
Xin giới thiệu một bản dịch của chị tykva đã đăng trên NNN, theo mình người dịch đã thành công khi chọn được thể thơ, thể hiện không khí tươi vui, rộn rã những ngày đầu xuân :
FIOĐOR CHIUTTREV
1803-1873
NƯỚC MÙA XUÂN
Ngoài đồng ruộng, tuyết vẫn còn trắng xoá,
Nước rì rầm, không khí đã vào xuân-
Nước chạy nhảy, làm bờ sông thức giấc
Nước chảy đi, kêu róc rách báo tin.
Nước loan báo tin vui bay mọi hướng:
“Xuân đang về, xuân đang đến rồi đây!
Chúng tôi hoả tốc đưa tin cho xuân trẻ,
Xuân cử chúng tôi đi trước để báo tin.”
Xuân đang đến, xuân đang về rồi nhé
Ngày tháng Năm, trời ấm áp, thanh bình,
Họp thành điệu múa vòng tròn sáng bừng, hồng thắm
Đang hân hoan mở hội lúc xuân về!
Tùng Cương dịch
ФЁДОР ТЮТЧЕВ
1803-1873
ВЕСЕННИЕ ВОДЫ
Ещё в полях белеет снег,
А воды уж весной шумят -
Бегут и будят сонный брег,
Бегут и плещут и гласят…
Они гласят во все концы:
“Весна идёт, весна идёт!
Мы молодой весны гонцы,
Она нас выслала вперёд!”
Весна идёт, весна идёт -
И тихих, тёплых майских дней
Румяный, светлый хоровод
Толпится весело за ней!
Fedor Chiutchev
Dòng nước mùa xuân
Tuyết còn phủ trắng ngoài đồng –
Dòng nước xuân đã xôn xao,
Đánh thức đôi bờ ngái ngủ,
Chảy trong tiếng sóng dạt dào...
Tiếng nước reo vang như hát:
“Mùa xuân nhờ nước tuyết tan
Như người đưa tin hoả tốc
Báo xuân tươi trẻ sắp sang!
Mùa xuân, mùa xuân đến rồi,
Tháng năm êm ả sáng tươi
Và theo gót xuân hớn hở
Dân gian vui múa khắp nơi!...”