Nhớ nước Nga
New member
“Người Hà Nội” tinh tướng
Tôi nhận ra điều này, từ khi tôi vào sống trong Sài Gòn. Nhưng cũng không phải ngay lập tức, mà chỉ sau ít nhất 3 năm sống với người Sài Gòn.
Điều ấy tôi nhận ra được trước tiên từ chính mình - vì tôi cũng là một người Hà Nội. Tôi thấy mình hay nói quá to, nói rườm rà bóng bẩy. Tôi thấy mình hay đi đứng ngênh ngang ngoài đường và tỏ ý coi thường những người khác mà tôi không ưa chỉ vì hình dáng bên ngoài. Tôi thấy mình có một vẻ mặt “đâm lê lạnh lùng”, và luôn sẵn sàng cảnh giác với người khác. Và còn nhiều nữa...
Đến một lúc nào đó, tôi chợt nhìn lại. Xung quanh tôi là các bạn người Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ, và cả những bạn miền Trung trong ký túc xá đại học. Rồi những người lam lũ và sang trọng mà tôi nhìn thấy ngoài đường. Họ không có lối sống giống như tôi. Hầu như họ đều niềm nở, và trên môi luôn sẵn nụ cười. Họ không có những ánh mắt gườm gườm lạnh lùng căm ghét và khuôn mặt khinh khỉnh cao ngạo. Họ không nói ngọng. Điều ấy tôi càng nhận thấy rõ hơn mỗi khi ra Bắc để về ăn Tết 1 tháng, sau đó lại quay vào Nam đi học. Tôi sống trong không khí Hà Nội tù đọng với những khuôn mặt khinh khỉnh ngang ngược, nói chuyện như cãi nhau và nói phét một tấc đến giời, để rồi quay lại vào Sài Gòn, và lại nhìn thấy không khí vui vẻ với những con người thân thiện.
Vì thế có thể nói rằng, tôi là một người Hà Nội, nhưng tôi không thích người Hà Nội, mà thậm chí còn khinh ghét. Tôi thích những người không phải là người Hà Nội, hoặc thích người Sài Gòn. Về phương diện này, tôi hoàn toàn đồng ý với “bé Crys”, là một cô bé người Sài Gòn, đã dại dột chửi thẳng người Hà Nội trên blog. Tôi cho rằng “bé Crys” chỉ sai ở điểm đứng ở quan đểm người Sài Gòn mà chê thẳng cánh người Hà Nội, còn thì nói không sai tí nào. Tôi thì khác. Tôi chê nhưng không phải vì cậy mình đã sống ở Sài Gòn mà chê. Mà rằng tôi nhận thấy nơi nào văn minh hơn thì tôi công nhận. Tôi không có thói quen bênh vực cái làng của mình (hoặc thành phố cũng vậy). Tôi chọn nơi văn minh hơn.
Xét về tâm lý thì so với người dân quê, người Hà Nội tự tin hơn hẳn. Nhưng gần đây, kể từ khi nước ta mở cửa kinh tế và cuộc sống có vẻ dư dả, thì sự tự tin của họ hầu như thái quá, trở thành sự tự cao. Lối sống ấy có thể lẫn vào cuộc sống bình thường ở Hà Nội, nhưng lại lộ rõ nguyên hình ở Sài Gòn. Vì thế đi trên đường phố Sài Gòn mà gặp một người như thế, có thể khẳng định ngay họ mới ở Hà Nội vào chưa lâu. Những người Sài Gòn, do không có thói quen để ý những chuyện không phải của họ, nên thường là họ không quan tâm. Chỉ có những người Hà Nội sống đã lâu ở phương Nam, mới để ý đến những người đồng hương của mình. Nếu người Hà Nội nhìn mấy người nhà quê lên và thấy buồn cười thế nào, thì người ở Sài Gòn nhìn người Hà Nội mới vào cũng giống gần như thế. Bởi vì họ đã bê nguyên cái nếp sống quen thuộc ở Hà Nội vào Sài Gòn, nên bộc lộ rõ vẻ lạc lõng trong một môi trường sống phóng khoáng và giản dị của đất phương Nam. Rất nhiều người Hà Nội lập nghiệp đã lâu tại Sài Gòn, cả những người Sài Gòn chính gốc, mỗi khi có việc ra Hà Nội, lúc trở vào đều có chung một số nhận xét sau:
- Người Hà Nội coi khinh tất thảy những người nhà quê và nhìn họ với thái độ miệt thị nhạo báng, cư xử bằng thái độ xếch mé trịch thượng. Nếu bán ve chai cho đồng nát hay mua rau của mấy người nhà quê đi bán rong, thì thể nào cũng phải chê ỏng chê eo, lật qua lật lại, bĩu môi khinh khỉnh rồi mới hạ tay xuống mua như nhón tay làm phúc. Người nhà quê mà hỏi đường thì coi chừng bị chỉ cho đi lung tung, hành hạ để tiêu khiển: “cho mày chết, đồ nhà quê!” Rất hay tỏ vẻ khoe khoang của cải và hiểu biết, nhất là khoe khoang sự sành sỏi về mọi ngón ăn chơi, thậm chí lấy điều đó làm tự hào. Thích tỏ vẻ ta đây để tăng tầm quan trọng của mình. Có thể dùng chính từ của người Hà Nội là “rất tinh tướng.”
- Người Hà Nội thiếu lễ độ nhã nhặn trong giao tiếp. Rất ít khi dùng từ “cám ơn” và “xin lỗi”. Họ không chửi lại vào mặt mình đã là còn may. Lại có sở thích soi mói, tò mò vào đời tư người khác mỗi khi có dịp, nhiều khi chẳng để làm gì mà chỉ với mục đích “nắm thêm thông tin”, “không bổ ngang cũng bổ dọc”. Cũng có khi nghe được xong, lại thì thầm nói cho người thứ ba nghe với vẻ hết sức bí mật quan trọng, để tỏ ra ta đây hiểu biết rộng, nắm nhiều thông tin. Thích góp ý và xen vào câu chuyện của người khác. Thích ngồi chồm hổm trên ghế bên quán nước vỉa hè mà bàn chuyện “thế giới đại sự” và săn tin vịt. Hay nói to oang oang, kêu gọi nhau í ới chốn đông người. Thích dùng nhiều tiếng lóng để vui đùa, nhiều khi hơi nhạt nhẽo kiểu như “vô tư đi”, “hơi bị được đấy”... Có nhiều người còn hay nói ngọng âm “l” và “n”.
- Người Hà Nội rất xởi lởibề ngoài nhưng thực ra là khép kín và không thật lòng cởi mở. Nếu có được mời ăn cơm rất nhiệt tình, thì cũng phải từ chối vài lần rồi mới có thể nhận lời, vì nếu nhận lời và ăn nhiệt tình ngay, có khi lại bị họ đánh giá là háu ăn mất lịch sự. Hay đề phòng và giữ miếng, thủ thế với nhau, nhiều khi bằng mặt mà không bằng lòng. Họ chơi cũng không dám hết mình với nhau, không thật bụng khi chơi, và làm cũng không hết mình.
Tại sao người Hà Nội, vốn được mệnh danh là người của Thủ đô thanh lịch, mà lại có nhiều thói xấu như vậy?
Văn hóa Bắc bộ đã hình thành hàng ngàn năm, được arnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo vốn đề cao Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. Trong một xã hội thuần nông và Nho giáo nặng nề như vậy, cuộc sống diễn ra chậm chạp và ổn định, không có sự xáo trộn mạnh và không cần nhiều đến bản lĩnh như công cuộc khai phá vào phương Nam. Việc tiến thân không phải bằng con đường khoa học và sáng tạo cái mới, mà chỉ là học thuộc và thi nhau ngâm vịnh sách Thánh hiền, đã tạo ra lối sống được cụ thể hóa ơœ nông thôn là văn hóa làng xã “một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp”, ở chốn kinh thành bằng truyền thống gia đình gia giáo nề nếp, và cách cư xưœ rất trọng hình thức. Những gia đình có gốc gác Hà Nội lâu đời, đều là những người từ quê lên chốn kinh thành lập nghiệp để tiện kinh doanh buôn bán, lập thành những phường hội buôn theo nghề của làng cũ. Việc buôn bán, thực sự là một phương thức lao động mới (khác với việc cày cấy), cùng với lối sống nơi kinh thành đã làm thay đổi tư duy của những người vốn trước kia là nông dân. Sau khi đã trải qua nhiều thế hệ, trở nên có của ăn của để và có học thức, sẽ hình thành tâm lý tự tôn danh giá, củng cố lễ nghi trật tự để duy trì uy tín của dòng tộc và làm gương cho con cháu, “cho xứng đáng dòng dõi con nhà”. Đó có lẽ là những căn nguyên hình thành nên nếp sống gia giáo kín đáo, trầm tĩnh uyên thâm và cư xử lịch lãm của người Hà Nội xưa. Người Hà Nội có học thức, nhưng bảo thủ và khép kín vì cuộc sống an toàn ổn định, đầy định kiến trước những gì khác mình. Nếp sống ấy về sau đã không còn là hình thức mà trở nên máu thịt và hồn của người Hà Nội.
Về sau, khi dân nhập cư lên Hà Nội ngày càng nhiều, thì nếp sống tốt đẹp này đã bị pha loãng trong môi trường rộng lớn, trở nên biến thái theo chiều hướng xấu. Những người nhập cư, do “nhập gia tùy tục” nên họ tiếp thu lối sống của người Hà Nội một cách mặc nhiên, nhưng không tiếp thu được phần hồn vì thiếu gốc rễ tự tôn lưu truyền trong tâm thức, nên chỉ còn tiếp thu tính hình thức của lối sống này. Đồng thời do trải qua mặc cảm nghèo đói trong thời chiến tranh và thời bao cấp, nay được tự do làm kinh tế trở nên khá giả, liền nảy sinh tâm lý hưởng thụ và khoe khoang chứng tỏ mình, lâu ngày biến thái thành cách cư xử ngạo mạn khinh người – những người thấp kém hơn mình, nhất là những người nhà quê. Tất nhiên không phải ai cũng có thái độ như vậy. Nhưng đáng buồn thay, phần nhiều là như vậy. Những người Hà Nội cũ và những người có học thức sâu rộng, đi nhiều hiểu nhiều thì thật đáng trân trọng. Những người đang làm xấu đi chính là những người Hà Nội có trình độ thấp, hoặc ít đi đây đó, hoặc nông cạn tầm thường và bảo thủ nên lâm vào tình trạng “ếch ngồi đáy giếng tưởng trời bằng vung”. Tiếc thay số người đó ngày càng nhiều và arnh hưởng lẫn nhau. Trước đậy cái “phần hồn lịch lãm” ăn sâu vào tiềm thức, làm cho những người sống ở Hà Nội trở thành “người Hà Nội” và tạo nên văn hóa Hà Nội, thì bây giờ, cái “phần hình thức” trở nên biến tướng và cũng đang có nguy cơ thành “phần hồn ngạo mạn tinh tướng ”của người Hà Nội thế hệ mới”. Nếp sống của Hà Nội là nếp sống của một thành phố nhỏ, có lẽ giống như một cái làng lớn. Ở ó mọi người hầu như biết hết nhau, quan tâm đến nhau, để ý soi mói nhau và tự vỗ ngực khoe khoang với nhau. Tự cao và ngạo mạn, xét cho cùng, cũng biến hình từ mặc cảm tựti thua kém mà thành. Và tự cao với người nhà quê, thì lại tự ti trước người nước ngoài, thật là những thái độ thiếu tự tin không đáng có.
Người Sài Gòn khác. Sài Gòn là miền đất mới, ban đầu rất hoang vu rừng thiêng nước độc, những người vào khai phá đều là những người quả cảm giang hồ, vì vậy tạo cho những người Sài Gòn thế hệ sau, và người phương Nam tính cách hào sảng, bộc trực, đơn giản, cương quyết và sôi nổi. Người Sài Gòn chấp nhận tất cả mọi người, không phân biệt quê hay tỉnh, và không để ý, đàm tiếu những chuyện lặt vặt, không để ý dòm ngó nhau. Người Sài Gòn sống giản dị và thực dụng, không phô trương hình thức, không khoe mẽ và tinh tướng. Người Sài Gòn làm việc hết mình và chơi cũng tới bến. Người Sài Gòn cũng có người trình độ học vấn cao và thấp, thậm chí là rất thấp, cũng có người chẳng bao giờ bước chân ra khỏi thành phố của mình, nhưng nói chuyện với họ không khó chịu như với “Người Hà Nội”, vì họ sống giản dị và tự nhiên. Có thể nhận xét thêm mà không sợ sai rằng, ở tất cả các vùng miền, các tỉnh của đất nước ta, mọi người đều sống giản dị và tự nhiên, mặc dù có thể họ không sâu sắc và hình thức như người Hà Nội, hoặc không thực dụng, hiệu quả và sôi nổi như người Sài Gòn. Chỉ có “Người Hà Nội” là sống một cách cố ý và tự cao về vùng đất của mình, do vậy mà trái với lẽ giản dị tự nhiên.
Yêu quý tự hào về vùng đất của mình là điều tốt. Nhưng không nên vì thế mà hạ thấp con người của những vùng đất khác, vì chẳng có lý do gì để có quyền làm như vậy cả. Sự khác nhau về lối sống làm phong phú cho nền văn hóa, tạo nên sức hấp dẫn của du lịch. Nhưng nên khác một cách tự nhiên chứ không phải là cố ý trái với tự nhiên. Tôi cũng là một người Hà Nội trước đây đã sống tại Sài Gòn, nhưng không phải là một “Người Hà Nội” trong ngoặc kép vì đã sớm nhận ra điều đó kể từ khi vào Nam. “Người Hà Nội” nên dẹp bỏ thói kiêu căng ngạo mạn và khệnh khạng, giữ gìn truyền thống gia giáo cùng sự sâu sắc hiểu biết, và học tập cách sống phóng khoáng giản dị sôi nổi của người phương Nam, thì sẽ trở nên dễ mến hơn, trưởnghành về nhân cách hơn, và xứng đáng được trân trọng. Những người Hà Nội vào lập nghiệp tại Sài Gòn, hầu hết đã làm được như vậy
Tôi nhận ra điều này, từ khi tôi vào sống trong Sài Gòn. Nhưng cũng không phải ngay lập tức, mà chỉ sau ít nhất 3 năm sống với người Sài Gòn.
Điều ấy tôi nhận ra được trước tiên từ chính mình - vì tôi cũng là một người Hà Nội. Tôi thấy mình hay nói quá to, nói rườm rà bóng bẩy. Tôi thấy mình hay đi đứng ngênh ngang ngoài đường và tỏ ý coi thường những người khác mà tôi không ưa chỉ vì hình dáng bên ngoài. Tôi thấy mình có một vẻ mặt “đâm lê lạnh lùng”, và luôn sẵn sàng cảnh giác với người khác. Và còn nhiều nữa...
Đến một lúc nào đó, tôi chợt nhìn lại. Xung quanh tôi là các bạn người Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ, và cả những bạn miền Trung trong ký túc xá đại học. Rồi những người lam lũ và sang trọng mà tôi nhìn thấy ngoài đường. Họ không có lối sống giống như tôi. Hầu như họ đều niềm nở, và trên môi luôn sẵn nụ cười. Họ không có những ánh mắt gườm gườm lạnh lùng căm ghét và khuôn mặt khinh khỉnh cao ngạo. Họ không nói ngọng. Điều ấy tôi càng nhận thấy rõ hơn mỗi khi ra Bắc để về ăn Tết 1 tháng, sau đó lại quay vào Nam đi học. Tôi sống trong không khí Hà Nội tù đọng với những khuôn mặt khinh khỉnh ngang ngược, nói chuyện như cãi nhau và nói phét một tấc đến giời, để rồi quay lại vào Sài Gòn, và lại nhìn thấy không khí vui vẻ với những con người thân thiện.
Vì thế có thể nói rằng, tôi là một người Hà Nội, nhưng tôi không thích người Hà Nội, mà thậm chí còn khinh ghét. Tôi thích những người không phải là người Hà Nội, hoặc thích người Sài Gòn. Về phương diện này, tôi hoàn toàn đồng ý với “bé Crys”, là một cô bé người Sài Gòn, đã dại dột chửi thẳng người Hà Nội trên blog. Tôi cho rằng “bé Crys” chỉ sai ở điểm đứng ở quan đểm người Sài Gòn mà chê thẳng cánh người Hà Nội, còn thì nói không sai tí nào. Tôi thì khác. Tôi chê nhưng không phải vì cậy mình đã sống ở Sài Gòn mà chê. Mà rằng tôi nhận thấy nơi nào văn minh hơn thì tôi công nhận. Tôi không có thói quen bênh vực cái làng của mình (hoặc thành phố cũng vậy). Tôi chọn nơi văn minh hơn.
Xét về tâm lý thì so với người dân quê, người Hà Nội tự tin hơn hẳn. Nhưng gần đây, kể từ khi nước ta mở cửa kinh tế và cuộc sống có vẻ dư dả, thì sự tự tin của họ hầu như thái quá, trở thành sự tự cao. Lối sống ấy có thể lẫn vào cuộc sống bình thường ở Hà Nội, nhưng lại lộ rõ nguyên hình ở Sài Gòn. Vì thế đi trên đường phố Sài Gòn mà gặp một người như thế, có thể khẳng định ngay họ mới ở Hà Nội vào chưa lâu. Những người Sài Gòn, do không có thói quen để ý những chuyện không phải của họ, nên thường là họ không quan tâm. Chỉ có những người Hà Nội sống đã lâu ở phương Nam, mới để ý đến những người đồng hương của mình. Nếu người Hà Nội nhìn mấy người nhà quê lên và thấy buồn cười thế nào, thì người ở Sài Gòn nhìn người Hà Nội mới vào cũng giống gần như thế. Bởi vì họ đã bê nguyên cái nếp sống quen thuộc ở Hà Nội vào Sài Gòn, nên bộc lộ rõ vẻ lạc lõng trong một môi trường sống phóng khoáng và giản dị của đất phương Nam. Rất nhiều người Hà Nội lập nghiệp đã lâu tại Sài Gòn, cả những người Sài Gòn chính gốc, mỗi khi có việc ra Hà Nội, lúc trở vào đều có chung một số nhận xét sau:
- Người Hà Nội coi khinh tất thảy những người nhà quê và nhìn họ với thái độ miệt thị nhạo báng, cư xử bằng thái độ xếch mé trịch thượng. Nếu bán ve chai cho đồng nát hay mua rau của mấy người nhà quê đi bán rong, thì thể nào cũng phải chê ỏng chê eo, lật qua lật lại, bĩu môi khinh khỉnh rồi mới hạ tay xuống mua như nhón tay làm phúc. Người nhà quê mà hỏi đường thì coi chừng bị chỉ cho đi lung tung, hành hạ để tiêu khiển: “cho mày chết, đồ nhà quê!” Rất hay tỏ vẻ khoe khoang của cải và hiểu biết, nhất là khoe khoang sự sành sỏi về mọi ngón ăn chơi, thậm chí lấy điều đó làm tự hào. Thích tỏ vẻ ta đây để tăng tầm quan trọng của mình. Có thể dùng chính từ của người Hà Nội là “rất tinh tướng.”
- Người Hà Nội thiếu lễ độ nhã nhặn trong giao tiếp. Rất ít khi dùng từ “cám ơn” và “xin lỗi”. Họ không chửi lại vào mặt mình đã là còn may. Lại có sở thích soi mói, tò mò vào đời tư người khác mỗi khi có dịp, nhiều khi chẳng để làm gì mà chỉ với mục đích “nắm thêm thông tin”, “không bổ ngang cũng bổ dọc”. Cũng có khi nghe được xong, lại thì thầm nói cho người thứ ba nghe với vẻ hết sức bí mật quan trọng, để tỏ ra ta đây hiểu biết rộng, nắm nhiều thông tin. Thích góp ý và xen vào câu chuyện của người khác. Thích ngồi chồm hổm trên ghế bên quán nước vỉa hè mà bàn chuyện “thế giới đại sự” và săn tin vịt. Hay nói to oang oang, kêu gọi nhau í ới chốn đông người. Thích dùng nhiều tiếng lóng để vui đùa, nhiều khi hơi nhạt nhẽo kiểu như “vô tư đi”, “hơi bị được đấy”... Có nhiều người còn hay nói ngọng âm “l” và “n”.
- Người Hà Nội rất xởi lởibề ngoài nhưng thực ra là khép kín và không thật lòng cởi mở. Nếu có được mời ăn cơm rất nhiệt tình, thì cũng phải từ chối vài lần rồi mới có thể nhận lời, vì nếu nhận lời và ăn nhiệt tình ngay, có khi lại bị họ đánh giá là háu ăn mất lịch sự. Hay đề phòng và giữ miếng, thủ thế với nhau, nhiều khi bằng mặt mà không bằng lòng. Họ chơi cũng không dám hết mình với nhau, không thật bụng khi chơi, và làm cũng không hết mình.
Tại sao người Hà Nội, vốn được mệnh danh là người của Thủ đô thanh lịch, mà lại có nhiều thói xấu như vậy?
Văn hóa Bắc bộ đã hình thành hàng ngàn năm, được arnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo vốn đề cao Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. Trong một xã hội thuần nông và Nho giáo nặng nề như vậy, cuộc sống diễn ra chậm chạp và ổn định, không có sự xáo trộn mạnh và không cần nhiều đến bản lĩnh như công cuộc khai phá vào phương Nam. Việc tiến thân không phải bằng con đường khoa học và sáng tạo cái mới, mà chỉ là học thuộc và thi nhau ngâm vịnh sách Thánh hiền, đã tạo ra lối sống được cụ thể hóa ơœ nông thôn là văn hóa làng xã “một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp”, ở chốn kinh thành bằng truyền thống gia đình gia giáo nề nếp, và cách cư xưœ rất trọng hình thức. Những gia đình có gốc gác Hà Nội lâu đời, đều là những người từ quê lên chốn kinh thành lập nghiệp để tiện kinh doanh buôn bán, lập thành những phường hội buôn theo nghề của làng cũ. Việc buôn bán, thực sự là một phương thức lao động mới (khác với việc cày cấy), cùng với lối sống nơi kinh thành đã làm thay đổi tư duy của những người vốn trước kia là nông dân. Sau khi đã trải qua nhiều thế hệ, trở nên có của ăn của để và có học thức, sẽ hình thành tâm lý tự tôn danh giá, củng cố lễ nghi trật tự để duy trì uy tín của dòng tộc và làm gương cho con cháu, “cho xứng đáng dòng dõi con nhà”. Đó có lẽ là những căn nguyên hình thành nên nếp sống gia giáo kín đáo, trầm tĩnh uyên thâm và cư xử lịch lãm của người Hà Nội xưa. Người Hà Nội có học thức, nhưng bảo thủ và khép kín vì cuộc sống an toàn ổn định, đầy định kiến trước những gì khác mình. Nếp sống ấy về sau đã không còn là hình thức mà trở nên máu thịt và hồn của người Hà Nội.
Về sau, khi dân nhập cư lên Hà Nội ngày càng nhiều, thì nếp sống tốt đẹp này đã bị pha loãng trong môi trường rộng lớn, trở nên biến thái theo chiều hướng xấu. Những người nhập cư, do “nhập gia tùy tục” nên họ tiếp thu lối sống của người Hà Nội một cách mặc nhiên, nhưng không tiếp thu được phần hồn vì thiếu gốc rễ tự tôn lưu truyền trong tâm thức, nên chỉ còn tiếp thu tính hình thức của lối sống này. Đồng thời do trải qua mặc cảm nghèo đói trong thời chiến tranh và thời bao cấp, nay được tự do làm kinh tế trở nên khá giả, liền nảy sinh tâm lý hưởng thụ và khoe khoang chứng tỏ mình, lâu ngày biến thái thành cách cư xử ngạo mạn khinh người – những người thấp kém hơn mình, nhất là những người nhà quê. Tất nhiên không phải ai cũng có thái độ như vậy. Nhưng đáng buồn thay, phần nhiều là như vậy. Những người Hà Nội cũ và những người có học thức sâu rộng, đi nhiều hiểu nhiều thì thật đáng trân trọng. Những người đang làm xấu đi chính là những người Hà Nội có trình độ thấp, hoặc ít đi đây đó, hoặc nông cạn tầm thường và bảo thủ nên lâm vào tình trạng “ếch ngồi đáy giếng tưởng trời bằng vung”. Tiếc thay số người đó ngày càng nhiều và arnh hưởng lẫn nhau. Trước đậy cái “phần hồn lịch lãm” ăn sâu vào tiềm thức, làm cho những người sống ở Hà Nội trở thành “người Hà Nội” và tạo nên văn hóa Hà Nội, thì bây giờ, cái “phần hình thức” trở nên biến tướng và cũng đang có nguy cơ thành “phần hồn ngạo mạn tinh tướng ”của người Hà Nội thế hệ mới”. Nếp sống của Hà Nội là nếp sống của một thành phố nhỏ, có lẽ giống như một cái làng lớn. Ở ó mọi người hầu như biết hết nhau, quan tâm đến nhau, để ý soi mói nhau và tự vỗ ngực khoe khoang với nhau. Tự cao và ngạo mạn, xét cho cùng, cũng biến hình từ mặc cảm tựti thua kém mà thành. Và tự cao với người nhà quê, thì lại tự ti trước người nước ngoài, thật là những thái độ thiếu tự tin không đáng có.
Người Sài Gòn khác. Sài Gòn là miền đất mới, ban đầu rất hoang vu rừng thiêng nước độc, những người vào khai phá đều là những người quả cảm giang hồ, vì vậy tạo cho những người Sài Gòn thế hệ sau, và người phương Nam tính cách hào sảng, bộc trực, đơn giản, cương quyết và sôi nổi. Người Sài Gòn chấp nhận tất cả mọi người, không phân biệt quê hay tỉnh, và không để ý, đàm tiếu những chuyện lặt vặt, không để ý dòm ngó nhau. Người Sài Gòn sống giản dị và thực dụng, không phô trương hình thức, không khoe mẽ và tinh tướng. Người Sài Gòn làm việc hết mình và chơi cũng tới bến. Người Sài Gòn cũng có người trình độ học vấn cao và thấp, thậm chí là rất thấp, cũng có người chẳng bao giờ bước chân ra khỏi thành phố của mình, nhưng nói chuyện với họ không khó chịu như với “Người Hà Nội”, vì họ sống giản dị và tự nhiên. Có thể nhận xét thêm mà không sợ sai rằng, ở tất cả các vùng miền, các tỉnh của đất nước ta, mọi người đều sống giản dị và tự nhiên, mặc dù có thể họ không sâu sắc và hình thức như người Hà Nội, hoặc không thực dụng, hiệu quả và sôi nổi như người Sài Gòn. Chỉ có “Người Hà Nội” là sống một cách cố ý và tự cao về vùng đất của mình, do vậy mà trái với lẽ giản dị tự nhiên.
Yêu quý tự hào về vùng đất của mình là điều tốt. Nhưng không nên vì thế mà hạ thấp con người của những vùng đất khác, vì chẳng có lý do gì để có quyền làm như vậy cả. Sự khác nhau về lối sống làm phong phú cho nền văn hóa, tạo nên sức hấp dẫn của du lịch. Nhưng nên khác một cách tự nhiên chứ không phải là cố ý trái với tự nhiên. Tôi cũng là một người Hà Nội trước đây đã sống tại Sài Gòn, nhưng không phải là một “Người Hà Nội” trong ngoặc kép vì đã sớm nhận ra điều đó kể từ khi vào Nam. “Người Hà Nội” nên dẹp bỏ thói kiêu căng ngạo mạn và khệnh khạng, giữ gìn truyền thống gia giáo cùng sự sâu sắc hiểu biết, và học tập cách sống phóng khoáng giản dị sôi nổi của người phương Nam, thì sẽ trở nên dễ mến hơn, trưởnghành về nhân cách hơn, và xứng đáng được trân trọng. Những người Hà Nội vào lập nghiệp tại Sài Gòn, hầu hết đã làm được như vậy