Cho các bác hiệu đính nhé - em tra từ mệt quá

. Đùa chứ ... bác nào biết từ nào thì chỉ giúp cái nhé.
To danngoc - còn cái nào cần dịch không?

=================
Larin Pavel Ivanovich - Phần 2
Chúng tôi dừng lại một hay là hai ngày gì đó, rồi triển khai đội hình ở đâu đó gần phòng tuyến Mannergeim. Chúng tôi đặt đài quan sát ở một chỗ сопке trống trải. Chẳng bao lâu sau quân Phần Lan bắt đầu bắn pháo, họ bắn rất khéo, rồi bộ binh của họ xông lên. Quân ta thì im lặng, còn chúng tôi thì quan sát. Trời đất ạ, họ mặc váy! Tôi lấy ống nhòm – tiểu đoàn nữ của Phần Lan tấn công. Bộ binh của chúng ta để họ tới gần đến khoảng cách của tầm ném lựu đạn. Rồi họ đánh, và tôi không nhớ là có người Phần Lan nào thoát khỏi không. Tất cả nằm ở đó!
Từ đài quan sát này có thể nhìn rõ mọi thứ, nhưng chẳng đào được – toàn là đá, phẳng như được mài. Nói chung là chúng tôi khuân những hòn đá kích thước 25 – 30 cm lại làm thành một бруствер. Pháo của đối phương lại bắn. Chẳng có chỗ nào nấp cả. Chúng tôi nằm xuống – hai cậu lính trinh sát của tôi, hai nhân viên topo, và tôi, cao cấp nhất trong số họ. Chúng tôi nằm giữa những hòn đá và chờ xem có quả mìn nào rơi vào chỗ chúng tôi chăng, thế là xong đấy. Nhưng mìn thì chỉ bay ngang qua. Mảnh va vào đá rất nhiều, nhưng không chạm phải chúng tôi. Tôi thấy các bạn tôi mặt mũi nhợt nhạt vì lo lắng. Pháo bắn xong, thì người Phần Lan lại xông lên, rồi cuộc tấn công bị bẻ gẫy, - chúng tôi không hề hấn gì. Sau đó tì tiểu đoàn bắt đầu bắn một ít.
- A.D. Thế ở đó có các đội trinh sát không?
- Có chứ. Mỗi khẩu đội có một trung đội điều khiển, còn trong mỗi trung đội điều khiển thì có một bộ phận trinh sát. Còn trong tay tôi lúc đó là bộ phận trinh sát của tiểu đoàn. Năm 1943, khi tôi được bổ nhiệm làm trung đội trưởng thì tôi là một trong số trinh sát xuất sắc nhất, thành thạo nhất. Từ trước chiến tranh, khi tôi mới nhập ngũ, thì các tiểu đội (подразделения) trinh sát được thành lập từ những người có trình độ trung học phổ thông. Cấp trên tính rằng những anh lính ấy sẽ phải khổ luyện, nhưng sẽ thông thạo mọi chuyện, và sau nửa năm thì các anh lính này sẽ thi để trở thành thiếu úy. Quả là chúng tôi đã phải cày ra trò, và các thầy đã dạy chúng tôi chuẩn bị số liệu rất đầy đủ. Công việc đó làm mất gần nửa tiếng. Cần cả thước lôgarit, rồi phải biêt tính khoảng cách, góc положения, точки наводки по буссоли, có tính tới các lôgarit và dữ liệu khí tượng – vận tốc và hướng gió ở các độ cao khác nhau. Rồi phải tính đến khối lượng đạn, trên đó có bao nhiêu dấu cộng hay trừ… Chúng tôi đã biết tất cả những điều đó. Nhưng trong chiến tranh thì có thêm nhiều lính mới, họ thì không biết những điều này.
Sau đó thì tiểu đoàn đóng quân ở đâu đó gần vùng Vưborg. Người Phần Lan đã bị đẩy ra khỏi đây. Gần thành phố có một con kênh chảy ngang qua, kênh Sammin. Quân Phần Lan ở bờ này, chúng tôi ở bờ kia. Tôi cùng với đồng chí đội trưởng trinh sát đi tìm chỗ đặt đài quan sát. Chúng tôi thấy một ngôi nhà bốn tầng. Chúng tôi leo lên. Đấy là một ngôi nhà dùng để ở, nhưng đã chẳng còn ai trong đó. Chúng tôi trèo lên các gác xép, lấy dao găm khoét lỗ, giống như lỗ châu mai амбразуры trên mái. Hóa ra là chúng tôi gần hơn tất cả. Chỉ cần động đậy một tý là đối phương có thể tiêu diệt chúng tôi ngay dưới mái nhà. Không được, chúng tôi phải chuẩn bị đài chỉ huy cho tiểu đoàn trưởng, chứ không chỉ là đài quan sát. Sau đó chúng tôi leo lên cái tháp trong pháo đài Phần Lan, nhưng không có chúng tôi thì trong cái tháp đó cũng đầy lính trinh sát rồi. Độc ống nhòm không cũng có sáu cái. Mà cái mái tháp cứ y như là cái mũ trụ của hiệp sĩ thời trung cổ. Lại không ổn rồi, vì ở đây sẽ là chỗ của chỉ huy trưởng, mà chỗ này thì chẳng được bảo vệ chút nào. Lại đi tìm tiếp. Cuối cùng chúng tôi tìm được một chỗ cao – chỗ máy nâng. Chúng tôi leo lên đó xem xét: thật tuyệt. Nhìn rõ mọi thứ xung quanh,mà xung quanh chỗ đó lại là các bức tường bê tông cốt thép. Một chỗ tuyệt vời, mà lại có chỗ trốn khi cần nữa chứ. Mà chúng tôi lại là những người đến đầu tiên – chưa có ai cả. Một lúc sau thì có thêm mấy người chỗ chúng tôi nữa, kể cả lái xe là tám người. Chúng tôi sắp xếp đài quan sát, đặt người canh gác ở cổng – như thường lệ cần làm. Chúng tôi bắt đầu xem xét và gặp một cánh cửa đóng kín. Chúng tôi đem móc sắt đến và mở cửa. Ối trời ạ! Trong đó là cả một kho bom, có nhẽ là hai chục, hay ba chục quả ấy, mỗi quả khoảng 200 kg. Lại còn dây đẫn đi đâu đó nữa chứ. Thế là chúng tôi đưa xe ra xa hơn, và đóng cánh cửa ấy lại. Lại kéo đống của cải từ xe lên trên, sang phía đối diện máy nâng – xa mấy quả bom ấy ra. Chúng mà nổ thì máy nâng chẳng sao đâu, bê tông mà, mà cũng chẳng động đến chúng tôi ở trên cao.
Chúng tôi ở đó ba hay bốn ngày gì đó. Quan sát kín đáo. Tháng bảy đã bắt đầu. Chúng tôi ngủ như khi ở nhà: ấm áp, tiện nghi: căng lều, thế là có mái che không sợ ướt. Ở đó có hai phòng nhỏ, chắc có lẽ là văn phòng, có cửa sổ nhỏ, mỗi chiều khoảng nửa mét, nhìn ra vịnh. Và chúng tôi cũng quan sát về hướng đó. Tường thì bằng bê tông cốt thép, tất cả đều ổn.
Thế rồi vào một trong những ngày ấy, khi tôi đang ở phía dưới thì nghe có tiếng gõ cổng! Tôi nói với cậu canh gác: nhìn xem có chuyện gì ở đó: “Ô! Đồng chí trung sĩ, có các tướng đến!” Chúng tôi mở cổng: một vị tướng đi vào, sau ông ta là một bầy đại tá, chắc cũng tới hai chục người. Ông tướng hỏi: “Thế đấy, cái gì ở chỗ các anh đấy?” Tôi báo cáo, rằng ở đây là đài quan sát và đài chỉ huy phía trên máy nâng. Ở đây không còn ai, ngoài đơn vị của tôi. Người canh gác, xe cộ - đều là thuộc quyền chỉ huy của tôi cả. “Thế à, cậu dẫn chúng tôi đi”. Tôi dẫn họ đi theo cầu thang bộ. Ông tướng và các đại tá bắt đầu thở phì phò – họ mệt mà, có mấy người trong số họ thì hơi béo, mà họ đã nhiều tuổi rồi. Cũng có vài người còn trẻ. Tôi dẫn họ lên trên: “Xin các cấp trên đừng có lộ mặt. Đối phương đang ở kia, ngay sau bức tường kia, đừng để lộ”. Tôi yêu cầu họ như thế, vì dù sao cũng là các chỉ huy cao cấp mà. Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi chỉ mới được phong hàm trung tá cách đây không lâu thôi. Còn ở đây thì toàn các đại tá. Một đại tá nhìn vào ống nhòm: “Anh kể xem cái gì ở chỗ nào bên kia”. Tôi kể rằng cách chỗ chúng tôi không xa có mấy hòn đảo, mà quân Phần Lan vẫn chưa bị đẩy khỏi đó, phía vịnh có một nhà ga nào đó, có những chỗ thấy được đội ngũ của đối phương, thấy cả đường sá. Ở đó thì tầm nhìn rất tốt. Tất cả như tên lòng bàn tay. Còn lúc đó là lúc đang im tiếng súng, gần như không ai bắn cả. Thế rồi ông tướng đi lùi ra: “Này cậu chỉ huy pháo binh, nhìn đi”. Anh ta cũng nhìn, và ông tướng nói với anh ta: “Nào, sờ thử chỗ đó xem!” Thế là mấy dàn Kachiusa cho vài loạt sang bên kia kênh, ông tướng quan sát qua ống nhòm: “Giỏi, bắn tốt đấy, đủ rồi”. Còn tôi thì nhìn: một đại tá tò mò quá ra hỏi chỗ tường. Thế là chúng tôi bị lộ. Lúc đó đã là sau buổi trưa rồi. Khi mà các cấp trên đã đi khỏi, tôi nói với đám lính: “Này các cậu, cẩn thận nhé, chúng ta sẽ phải trả giá đấy”. Mà y như rằng. Khoảng 1 giờ đêmthì nghe tiếng pháo, đạn bắt đầu nổ. Họ bắn vào máy nâng. Tôi cúi xuống, xách súng và xuống dưới. Tôi đuổi tất cả lính xuống, mình thì đi sau. Vừa mới đến cửa căn phòng cần vào thì một quả đạn bắn trúng tường và nổ. Hóa ra tuy là tường bê tông nhưng mà mỏng dính, có 10-12 cm thôi. Viên đạn vừa rơi vào thì tạo ra một cái lỗ đường kính tới mét rưỡi – hai mét. Nổ xong thì tôi đi qua khói đi tiếp. Mà từ chỗ chúng tôi đến cầu thang phải đi qua mấy cái tháp силосные башни, cao, đường kính khoảng 6m, mà qua chỗ đó có cầu: những phiến gỗ được đóng lại доски, сбитые реденько палочками … Đi khe khẽ thôi chúng cũng lắc lư. Các đồng đội tôi chạy qua những cái cầu ấy, còn cậu lính gác ở chỗ ống nhòm cũng chạy đi rồi. Tôi phát hiện ra điều đó ở dưới. Cũng may mà cậu ta chạy đi, không thì chắc đã hy sinh rồi. Tôi đi xuống dưới, điểm danh, thì thấy một cậu không có ủng. “Chân có bị thương không?” - “Không, không sao ạ”. Có mấy cậu chạy chân đất, không có cả vũ khí nữa. Đợt ném bom đã qua đi, nhưng chúng tôi không biết làm gì tiếp, vì người Đức có thói quen thế này: bắn một đợt, rồi im, rồi sau khoảng 15 phút thì lại bắn, rồi lại nửa tiếng sau nữa. Bỗng chúng tôi nghe thấy một tiếng kêu gì đó, chả hiểu là tiếng gì. Mở cổng ra thì thấy một chiến hạm. Các thủy thủ đang chất củi lên tàu, và khi bắn thì một viên đạn rơi vào tàu (hơi nước), từ đó hơi thoát ra, kêu ầm ĩ … клокочет с водой. Chúng tôi chạy đến chỗ các thủy thủ cạnh tàu, cũng nhiều người bị thương.
Sau đó chúng tôi chẳng ở lâu trên chỗ máy nâng nữa. Họ lại tiếp tục ném bom, chúng tôi chẳng thèm lên đó nữa, dỡ ống nhòm và dần dần dỡ tất cả của nả còn lại và để gần xe, che chắn kín đáo để không bị đa văng vào làm hỏng. Ngày 9 tháng 7, đúng ngày tôi tròn 20 tuổi, thì tiểu đoàn trưởng đến chỗ chúng tôi và trao tặng cho tôi huy chương “Sao đỏ”. Ngày hôm sau thì người ta rút chúng tôi khỏi chỗ đó và chuyển chúng tôi đến chỗ khác, cách đường mặt trận là 12 – 15 km, phía sau Vưborg, trên những quả đồi. Chúng tôi đặt đài quan sát trên một trong các điểm cao ấy. Khi chúng tôi còn ở trên máy nâng thì các cậu ấy lục lọi khắp nơi, và tìm ra một cái máy đong lúa mì, trong đó còn khá nhiều bột Chúng tôi gom được gần 2 bao, một phần thì đem đến chỗ ban chỉ huy, tham mưu, một phần cho cánh lính thông tin liên lạc, còn một phần để trong thùng xe của chúng tôi. Thế rồi sáng sáng, khi mà còn yên tĩnh và có thể đốt lửa thì anh chàng trung sĩ Strelchenko rán bánh xèo. Nhưng mà như thế chẳng được bao lâu.
Tóm lại là chúng tôi không còn chiến đấu ở chỗ đó nữa. Hòa bình đã lập lại, chúng tôi lại sống theo khẩu phần bao cấp. Chỗ cuối cùng chúng tôi để của nả của mình, đài quan sát; trước đó là một vùng trung lập – cánh đồng khoai tây. Đã tới lúc đào khoai tây lên được rồi, mà lúc đó đang là lúc ngừng bắn với người Phần Lan – không bắn nữa. Thì chúng tôi cũng không bắn: “Đồng chí trung sĩ, chúng tôi đi đây, chúng tôi đào khoai tây nhé?” “Cậu nói gì thế!?” “Này, xung quanh chúng ta là cánh bộ binh, họ cũng đào khoai tây, mà chúng tôi thì cũng muốn”. “Nào – cậu này, cậu này nữa – các chiến sĩ tình nguyện nhé. Chạy tới chỗ này, chỗ kia. Vũ khí đem theo nhé! Cẩn thận kẻo chạm trán kẻ địch đấy nhé”. Họ đi và nhìn thấy: cả lính Phần Lan lẫn bộ binh của quân ta đều đào khoai tây. Tôi đã dặn họ là nếu có chuyện gì thì chạy về nhà, tức là chỗ đài quan sát ấy. Họ quay về: “Đồng chí trung sĩ, chúng tôi chạm trán kẻ địch. Anh nói cứ y như là tiên tri ấy”. Thôi kệ kẻ địch, chúng tôi cũng không cần quá nhiều khoai tây. Chẳng bao lâu nữa thì hòa bình, máy bay cùng với các máy bay tiêm kích bay đến Hensinki và ngược lại. Ở đây chiến tranh đã kết thúc. Nhưng chúng tôi vẫn còn tiếp tục đào công sự, xây dựng укрепления ở biên giới với Phần Lan. Chuyện đó cũng hay nhưng dài lắm. Tôi rút ngắn ở đây.
Tháng mười hai đã đến. Đầu tháng mười hai chúng tôi được chuyển ra biên giới. Sau đó thì lại rút chúng tôi ra và lại chất háng lên xe. Chúng tôi lên tàu đi đâu đó về phía nam. Đi qua Minsk, và tới gần Varsava thì xuống tàu, vài ngày đi trong rừng. Rồi sau đó И дальше на плацдарм. Там было два плацдарма Демблинский, от города Демблин, и Магнушевский, от города Магнушев. Мы попали на второй. Магнушевский плацдарм, ở đó có con sông Visla, còn gần đó là sông Filitsa. Chúng tôi đặt đài quan sát tại một điểm cao cạnh con sông này. Mà ở điểm cao ấy mới lắm đài quan sát của quân ta chứ! Cả cánh lính thông tin lẫn cánh lính pháo binh, còn xung quanh chỗ đồng trống thì là một xâu vũ khí, gần như cứ cách 5 m lại có một cái. Độ cao thì tốt thôi, nhưng cạnh đó là rừng, làm sao mà quan sát? Chúng tôi nhờ bên công binh kéo mấy cây thông gần đó xuống, thế là họ tới, dùng đủ cách để vít ngọn ba cây thông gần nhau, lấy gậy, đinh các kiểu nối lại, thế là thành đài, và chúng tôi vác ống nhòm leo lên đó. Nhưng vẫn chẳng rõ ràng gì hơn, trước mặt là rừng mà. Thế là các anh công binh lại leo lên, chặt bớt ngọn cây, vậy là chúng tôi có đài quan sát. Hai người có thể đứng đó được, nhưng nguy hiểm, vì đối phương thường nổ súng vào những điểm cao mà, thế là tôi để một cậu trinh sát ở trên đó với điện thoại, còn lính thông tin ở dưới. Chúng tôi lấy dây buộc anh ta vào thân cây, để nếu có bị thương thì cậu ttrinh sát cũng không bị ngã. Nếu bị thương thì chúng tôi sẽ đưa ra, chứ nếu mà ngã thì nguy hiểm lắm. Độ cao cũng gần 20 m mà. Leo lên cũng khó, mà leo xuống cũng khó. Chúng tôi làm một cái luỹ chắn công sự dưới đài quan sát. Ở đó đất cá, khoảng 20 cm phía trên thì lạnh đông cứng lại, rất khó đào, còn dưới nữa thì cát bở. Lũy chắn chúng tôi làm như thế này: в яме сруб поставили, đào xuống, rồi để đến 5 lớp thân cây lên. Đúng là pháo đài! Phải làm như thế vì đối phương bắn mìn минометов rất nhiều, chúng tôi gọi đó là vĩ cầm – những khẩu súng Đức 6 nòng. Mìn của họ mỗi quả chắc nặng khoảng 50 kg mỗi quả, cứ nổ một cái là tạo ra một cái phễu đường kính 5 m. Chúng tôi thì ngồi trong lũy, mìn có rơi vào lũy cũng chẳng sao. Nhưng người ngỗi trên cây thì làm gì được, nếu mìn nổ anh ta sẽ nghĩ rằng: “Bây giờ mảnh sẽ văng vào lưng, vào chân người đứng trên cây thôi”. Tôi thường xuyên thay đổi nhân viên thông tin. Ở trên cao vừa nguy hiểm vừa lạnh vì gió thổi. Chúng tôi ở đó khoảng 10 – 12 ngày. Tôi nghĩ, có lẽ số tôi may mắn: Chẳng ai đứng quan sát bị thương cả. Ở trong lũy chắn vừa lạnh, vừa ẩm – nhiệt độ khoảng âm 12 -14 ºC, đã là tháng giêng năm 45 rồi. Giá mà ở phía sau một chút thì còn có thể căng lều, đốt lửa. Còn chúng tôi thì đang ở ngay tiền tuyến, đâu có làm thế được. Mà khi anh nuôi đem đồ ăn đến cho chúng tôi thì mọi thứ đã nguội cả, có khi đóng băng luôn. Lúc đó chúng tôi có một cái lò chiến lợi phẩm của Đức, tròn, có móc. Chúng tôi chọn những cái nồi bán nguyệt (nửa tròn), để chừng 4 cái vào lò – cũng khá ấm. Cần phải có một cái ống cho lò – chúng tôi đục một cái lỗ nghiêng, nhét gậy vào đó. Tuy là gậy cũng cháy, nhưng không phải ngay lập tức. Chúng tôi thay gậy, để cho cái lỗ thông không bị tro lấp và nấu ăn ở đó. À, mà cái lũy chắn ấy thì lại quay cửa về phía địch. Tôi chỉ đạo xây dựng, nhưng rồi một lát sau thì trung đoàn trưởng đến, anh này còn trẻ và thiếu kinh nghiệm nhưng lại muốn chứng tỏ mình là chỉ huy. “Không xây lũy như thế, quay lại phía này!” –“Báo cáo đồng chí trung úy, tôi biết đâu là phía trước. Theo bản đồ của tôi thì quân Đức đang ở chỗ này đây”. Tôi đã ở trong quân ngũ 6 năm, suốt thời gian đó ở trong trinh sát. Tôi định vị với bản đồ tốt, và có thể làm mọi việc cần thiết khi đó. Còn anh ta thì mới ra trường, nhưng anh ta là chỉ huy. Thế là cứ bắt quay bằng được: “Tôi không thể quay được”. “Tôi sẽ bắn anh ngay bây giờ! Anh có nghe lệnh không đấy?” Anh ta rút súng lục ra, dọa bắn vào mũi. Thế là chúng tôi quay cửa. Thành ra lũy thì chắc chắn, nhưng bố trí tồi. Có lần một cái xe tự hành самоходка của Đức đến bắn đài quan sát, chúng tôi đã sợ là nó sẽ xông vào cái cửa ấy. Nhưng chuyện đó đã không xảy ra. Thì trong chiến tranh vẫn có những thằng ngốc mà.
Rồi thì đến lúc tấn công – pháo bắn chuẩn bị. Mấy cậu lính thông tin đang sửa chữa đường dây chạy cả vào chỗ chúng tôi. Một cậu đứng ngay cửa, thế rồi có một quả mìn nổ ngay trên đầu cậu ấy.Cậu ta buông súng, mà súng lại không khóa chốt an toàn, thế là khi súng va phải đất thì cướp cò bắn phải tay cậu ta. Về sau suýt nữa cậu ta phải ra tòa án binh – người ta nghĩ rằng cậu này tự bắn vào tay mình. Cũng may là chúng tôi đã làm chứng. Người ta nghe theo chúng tôi, vì tôi là người có uy tín mà. Các cậu lính liên lạc của đơn vị khác cũng dựng một cái lũy cạnh chỗ chúng tôi. Họ đào một cái hào nho nhỏ, коммутатор у них стоит, hai người gác cửa, phủ cả hai tấm bạt lên cửa cho đỡ lạnh. Nhưng cái lũy thì lại sơ sài - có một lớp один накат và cây gỗ đường kính khoảng 15 cm, còn trên đó thì họ ném các cành cây và các mảnh gỗ to lên đấy – trông thì như là lũy ba lớp, nhưng thật ra chỉ có một ít cành và đất. Một quả mìn đã làm thủng lũy và rơi vào một chiến sĩ đang nằm cạnh máy điện thoại, mìn cắm thẳng vào bụng cậu ta nhưng không nổ. Sau khi chiếm được Varsava thì Bộ Chỉ huy tối cao đã khen thưởng chúng tôi. Sau đó thì chúng tôi được lệnh chuyển đến chỗ thành phố Radom cách Varsava về phía nam khoảng 60 km, ở có cũng tập trung pháo binh cũng kiểu như pháo binh của chúng ta. Hỏa tuyến tiến rất nhanh – mỗi ngày khoảng 25 – 30 km. Nhưng chúng tôi ở đó chẳng có việc gì làm cả. Thì cũng tham gia vào các đợt bắn chuẩn bị của pháo binh, nhưng không bắn vào các hỏa điểm, mà bắn rải thảm. Bắn vào các nút đường, vào những chiếc cầu ấy mà. Có lần các chiến sĩ trinh sát của chúng tôi đã tìm ra vị trí của một số khẩu đội bắn mìn 6 nòng. Thế là chúng tôi được lệnh bắn một cái như thế. Chúng tôi đã bắn tan tành, cả cái lũy gần đó cũng chẳng còn
- Thế các bác có trinh sát âm thanh không?
- Không, đó là звукометрическая разведка trinh sát đo đạc bằng âm thanh. Đó là một bộ phận riêng, nhưng chúng tôi không có.
Chúng tôi đóng ở Radome gần một tuần, mới dựng xong lũy thì có lệnh hành quân về phía trước. Ai đi ư? Tất nhiên là chúng tôi, những người lính trinh sát. Chúng tôi đi Poznan. Chúng tôi đi hai ngày – đã bị tụt lại so với hỏa tuyến tới 300 km. Hỏa tuyến đi rất nhanh, có vài đơn vị đã đến gần Oder rồi. Khi tới gần Poznan chúng tôi dừng lại ở đồn Nekv, trong ngôi nhà của một địa chủ. Chúng tôi có 3-4 người ở đó, còn lại thì đi tiếp tới Poznan, tới chỗ ban chỉ huy. Ở Poznan có một pháo đài cổ, nó đã ở đó mấy thế kỷ rồi. Quân SS và quân của Vlasov cố thủ ở đó. Chúng tôi thì có nhiệm vụ phá hủy pháo đài này. Nhìn chung thì pháo đài cũng giống như cremlin của Moskva, ở các góc tường có các tháp canh. Bên trong là trại lính, kho, hầm ngầm, vv… Tường pháo đài thì bằng gạch, dày khủng khiếp, tới 10 – 12 m. Chúng tôi không kiếm được chỗ nào đặt đài quan sát gần pháo đài cả, ở đó toàn là những ngôi nhà không cao. Chúng tôi đến chỗ nhà hát, thấy cửa khóa kín. Chúng tôi phá cửa vào, bên trong chẳng có ai cả, thế là chúng tôi leo lên trên và đặt đài quan sát ở đó. Chúng tôi lắp đặt kính quan sát, điện thoại; còn máy bộ đàm thì ở phía dưới. Thế rồi chúng tôi đóng tại nhà hát này. Chúng tôi chiếm một phòng rộng khoảng 20 mét vuông, dọn dẹp sạch sẽ - vì quân Đức lúc trước đóng ở đó, mà nhà hát thì không có toa lét. Hôi kinh khủng. Chúng tôi phải xách nước vào kỳ cọ. Cách đó không xa, ở gần đường sắt là một kho lạnh, cũng khá cao, thế là chúng tôi bố trí hai đài quan sát trên đó. Trong kho đầy thịt lợn, thế là chúng tôi ăn mỡ lợn thỏa thuê. Nào là luộc, nào là rán. Suốt cả cuộc chiến tranh chưa lúc nào chúng tôi được như thế cả. Chúng tôi tổ chức liên hoan, lấy rượu và sâm panh từ tiệm ăn ra. Tôi chẳng uống rượu bao giờ, những khi phát 100 gr vodka trước khi vào trận tôi toàn cho lại anh em cả, còn sâm panh thì tôi uống lần đầu tiên ở chỗ nhà hát đó. Chúng tôi lấy vải bạt phủ lên bàn – trông cũng lịch sự chán. Không có chỗ ngồi, chúng tôi phủ bạt và áo khoác lên các hòm rượu Chiến sĩ liên lạc trực ban cũng nhấm nháp chút chút. Giữa lúc đó thì tiểu đoàn trưởng đến: “Ồ, phòng tốt quá, các cậu giỏi thật! Đã sắp xếp xong cả rồi”. Tôi thì đã sợ rằng nếu tiểu đoàn trưởng thấy những hòm rượu, sẽ mắng: “À, các cậu uống rượu say rồi đập phá đấy hả”. Nhưng tiểu đoàn trưởng chỉ nói là ban chỉ huy tiểu đoàn sẽ đóng ở đó và chúng tôi phải chuyển sang phòng khác.
Chúng tôi bắn vào pháo đài, phá hủy các bức tường, tháp, tạo ra các đường tiến cho bộ binh. Tất cả các tháp canh ở góc tường đều bị chúng tôi phá hủy. Chỉ có mỗi tiểu đoàn pháo binh siêu nặng dự bị của chúng tôi là đơn vị bắn. Quân SS và quân của Vlasov thì cố thủ trong pháo đài, còn đơn vị tấn công lã các chiến sĩ quân đoàn cận vệ số 8 của Vasily Ivanovich Truikov.
Vào một ngày trong thời gian đó thì tiểu đoàn trưởng cũng tới đây và gọi điện đến khẩu đội: “Này hãy gọi cậu này đến cạo mặt cho tôi”. Thế là anh chàng thợ cạo David từ chỗ khẩu đội đến chỗ chúng tôi, tôi quên mất họ của anh ta rồi. Anh ta không biết đường, người ta chỉ đường cho anh ta trên bản đồ, và chắc là anh ta bị lạc ở đâu đó và đến muộn. Tiểu đoàn trưởng chửi um: “Cấp trên gọi tôi lên họp, vậy mà cậu dám đến muộn, tôi điều cậu đến tiểu đội kỷ luật!”. Lúc đó chúng tôi đã có tiểu đoàn trưởng mới là Mikhailovsky Pavel Bogdanovich, đen như một người di gan, chửi tục thì phải biết. Anh ấy cạo râu, rồi lên xe đi họp. Có thể là anh ta đến muộn mà cũng có thể là không, nhưng anh ấy không về một mình, mà về với một ông tướng và một đoàn tùy tùng. Ông tướng ấy là trưởng Bộ phận trực chiến của Quân đoàn 8. Chúng tôi đưa họ đến một phòng sạch – căn phòng lớn trên tầng ba. Đầy cả người: ông tướng này, tùy tùng này, xe hơi Shevrole với lại súng? Súng trường tự động ấy. Tiểu đoàn trưởng dẫn ông tướng đến chỗ chúng tôi và nói rằng đây là sở chỉ huy của anh ta, còn chúng tôi là cấp dưới đứng bên tường trong căn phòng đó. Tất cả đều đi vào đó. Thế rồi trước khi đi thì tiểu đoàn trưởng ngửi thấy mùi thịt rán. “Các cậu kiếm được thịt lợn ở đâu vậy?”. – “Chúng tôi lấy ở kho lạnh, thưa đồng chí tiểu đoàn trưởng”. Thế là anh ấy ra lệnh cho cậu thợ cạo: “Này cậu, đã đến muộn thì phải chuộc lỗi nhé, đem thịt lợn về cho tôi. Mà chọn miếng nào ngon ngon nhé”. Thế là cậu David ấy chọn một súc thịt to, tới nhà hát rồi hỏi xem chúng tôi ở đâu. Rồi cậu ta vác súc thịt ấy đi loanh quanh trong nhà hát. Thế nào mà cậu ta lại đụng phải các sếp. Ông tướng và đám tùy tùng, ngài trung tá thủ trưởng của chúng tôi, thiếu tá tham mưu trưởng, chỉ huy trinh sát. Rồi thì lính trinh sát nữa chứ. Có khoảng 2-3 người lính liên lạc, còn trinh sát của chúng tôi thì có 8-10 người. Anh nghĩ xem, cánh cửa bỗng nhiên mở ra và một chiến sĩ bước vào. Mặt thì đỏ gay, mồ hôi nhễ nhại và vác một súc thịt lợn to trên vai đi vào. Anh ta nhìn xem có chuyện gì, xung quanh toàn chân là chân, ủng thì cứ gọi là bóng loáng; người thì đầy, anh ta tự hỏi mình đang ở đâu. Hé mắt nhìn qua súc thịt, chẳng thấy chúng tôi đâu cả. Mà là khách của chúng tôi. Chỉ huy nơi khác. Thế là anh ấy quay lưng lại và đi ra cửa. Còn tôi thì nhìn vị tướng. Trời đất ạ, chuyện gì sẽ xảy ra đây. Dù gì thì chiến sĩ ấy cũng là của chúng tôi. Mà là tên Мародер. Có nghĩa là chúng tôi cũng thế! Nhục thật! Chúng tôi đã được dạy là không được lấy gì ở bất cứ chỗ nào . Chưa ai lấy thậm chí là mảnh giẻ rách ở đâu đó. Thế mà cậu này lại vác một súc thịt lớn. Chúng tôi sẽ bị gì bây giờ? Vị tướng thì vẫn đứng, miệng há hốc, không nói được lời nào. “Chiến sĩ của đơn vị các anh đấy à?” – Tiểu đoàn trưởng: “Không, không phảo đơn vị chúng tôi”. Còn cậu David ấy, rúm ró cả lại, rồi lại còn súc thịt với lại súng carbin nữa? Không ai nhìn thấy rõ quân hàm của cậu ta, nên không thể biết chính xác rằng cậu ta là lính pháo binh. Không ai giữ cậu ta lại cả. Tùy tùng của vị tướng cũng khá đông: nào là đại tá, nào là thiếu tá. Ít nhất thì ngoài phố cũng có gần năm chục khẩu súng. Thế nhưng David trốn đi đâu mất, và người ta cũng cho qua chuyện này…
Gần như ngày nào thì pháo của chúng tôi cũng bắn, đã gần tới Ngày Quân đội Xô viết – 23 tháng hai. Chúng tôi đã xua hết đám lính Đức và lính Vlasov ở trong các chiến hào trước pháo đài. Đối phương chỉ còn ở phía sau tường, rất khó vào đó, đối phương cũng phòng thủ rất quyết liệt. Có lần các chiến ssĩ trinh sát vào được trong đó và bắt được 4 lính SS đem về. Chúng tôi đang đứng nói chuyện trên tầng ba, bỗng thấy có người đang rơi từ trên xuống, anh ta đang nhào lộn trong không khí. Oạch một cái xuống đất. Chuyện gì xảy ra vậy? Các cậu trinh sát dẫn đám lính đến cho trưởng bộ phận trực chiến отдела hỏi cung (đấy là các chiến sĩ trong đơn vị đó kể lại, không phải các chiến sĩ của chúng tôi). Hỏi cung người thứ nhất: đơn vị nào, vv – anh ta im lặng. “Nói đi, không thì chúng tôi quẳng ra ngoài cửa sổ đấy”. Vẫn không trả lời. Thế là các chiến sĩ của ta túm lấy anh ta và quăng ra ngoài cửa sổ. Anh có thể tưởng tượng được họ là những kẻ cuồng tín thế không? Không ai trong số họ trả lời một câu hỏi nào cả. Tất cả bị quăng ra ngoài cửa sổ. Tất nhiên là không ai sống sót.
Còn có một trường hợp như thế này nữa. Một cậu hạ sĩ của quân ta, Kostia Martưnov, một chàng trai rất tốt quê ở Krasnoyarsk. Khi cậu ta trực ban thì luôn luôn nhấp vài ngụm ở thùng rượu. Ngoảnh qua ngoảnh lại đã thấy cậu ta say. Tôi bảo cậu ta: “Này, lấy súng của cậu và đi khỏi đây, nhớ đừng để ai thấy nhé”, rồi phân công một cậu lính thông tin khác gác thay. Thế nhưng mà cái cậu Martưnov ấy, cậu ta lang thang trong nhà hát thế nào lại tìm ra được đường lên phía trên và cậu ta trèo lên mái nhà. Mái nhà ở đấy thì cũng có с загородкой, giống nhú ở những chỗ khác. Ở đó có những bao мешочки брезентовые với cát, khối lượng mỗi bao khoảng mười kg. Cậu ta còn đang say lang thang ở đó thì thấy có xe hơi đi tới: ai vậy nhỉ, liệu có phải kẻ địch không? Cậu ta bèn lấy một bao quăng xuống. Cái bao rơi từ độ cao 18-20 m xuống đất, vỡ tung như là lựu đạn. Một bao, hai bao. Thế là các cậu cầm súng trường ở dưới chạy lên, tìm thấy cậu ta đang say xỉn. Họ hỏi: “Chiến sĩ của các anh đấy à?”. Chạy đi đâu được, trong người cậu ta có thẻ Hồng quân mà. Đành phải nói “Vâng, chiến sĩ của chúng tôi”. Thế là cậu ta bị giáng cấp.
Chúng tôi đi tiếp. Đầu tiên thì đi cùng Quân đoàn 8, Quân đoàn này đi từ Poznan sang phía tây, sau đó thì chúng tôi được lệnh chuyển hướng, và chúng tôi dừng lại ở thôn Germzforph. Không phải làng, mà là thôn thật sự, ở làng thì còn có nhà thờ, ở đây thì không. Ở đó chẳng có ai là người Đức cả. Nhưng có rất nhiều người Nga và người dân Liên Xô, từ nhiều nơi khác, chủ yếu là từ Đôn bass. Còn tôi thì nhập ngũ ở Đô nhets, và bạn bè tôi cũng chủ yếu là người Đô nhets. Hóa ra là đồng hương – chủ yếu là phụ nữ. Họ bị bắt làm việc ở các trại chăn nuôi gia súc. Họ đã được giải phóng, nhưng người ta vẫn chưa cho họ đi khỏi nơi đó, vì không biết mặt trận đang tiến về phía nào và nên đưa những người đi đâu. Họ vắt sữa bò và đem sữa cho các chiến sĩ của chúng tôi, thậm chí có một lần tôi còn uống thẳng từ xô sữa ấy.
Chúng tôi đóng quân trong làng đó khoảng gần tháng. Sau đó chúng tôi được lệnh hành quân tới Quynstegen (?). Tôi vẫn còn giữ được một tấm bản đồ thời gian đó. Ở đó thì thành phố này tên là Quysten. Một thành phố nho nhỏ kiểu như Mozaisk, một pháo đài cổ. Ở đó có sông Oder chảy, rồi sau nữa thì các sông khác đổ vào sông Oder, hình như có cả sông Varta nữa. Thành phố không lớn lắm, có khoảng 20 -30 ngàn dân sinh sống thôi. Nhưng chúng tôi phải vất vả lắm mới chiếm được nó – có rất nhiều trở ngại: sông với lại đường giao thông. Nó như một cái nút trên đường tới Berlin. Chúng tôi đóng ở cách thành phố khoảng 60 km. Trên cái bản đồ này những đường màu xanh là tuyến trước đấy, sâu khoảng 3 km, còn tuyến mặt trận là khoảng 7 km. Плацдарм không lớn lắm, nhưng đầy quân. Ở đó còn có làng Raitvain. Mép làng nằm ở góc này của bản đồ, chỗ tam giác màu đỏ ấy, đó là đài quan sát của chúng tôi ở đó. Còn từ chỗ này thì dốc xuống thoai thoải. Ở chỗ này là đường sắt, ngay cạnh đường sắt cùng độ cao với chúng tôi là Chỉ huy sở của Nguyên soái Giukov. Ở đây là một chỗ khá bằng phẳng, thỉnh thoảng có chỗ cao hơn xung quanh khoảng 3-5m thôi, không hơn. Còn ở đây là đường nhựa, rồi những đường sá khác có trồng cây. Rồi thì làng xóm. Thôn Altuhedan. Chúng tôi bị máy bay bắn ở đó, nhưng không ai việc gì. Ở đây là một điểm cao, đây là đường trước làng ấy. Tiểu đoàn trưởng hôm đó uống cũng kha khá, anh ta quyết định chiếm điểm cao ấy chỉ bằng đơn vị chúng tôi thôi, thế là anh ta điều các trinh sát tới đó. Chúng tôi chẳng bao giờ muốn làm điều đó, nhưng vẫn phải làm. Thế là chúng tôi được nêm mùi đạn пулеметы, đối phương chặn ngay hướng tiến công của chúng tôi, may mà không ai bị sao, và chúng tôi quay lại. Tiểu đoàn phân bố các điểm lửa như thế này, chúng tôi bắn vào thôn vào các điểm tập trung đông lính Đức, vào các nút đường. Sau đó quân Đức rút về các cao điểm Zeelov nổi tiếng. Ở đây là nơi tểu đoàn của chúng tôi đã đi qua một trong số các con đường. Ở đây là thành phố Quystenvalden. Quân Đức tập hợp dọc theo đường phòng tuyến này, còn chúng tôi đã chọc thủng phòng tuyến ấy ở đây. Từ đây là đường thẳng tới Berlin. Trung đoàn bắn vào các vị trí hỏa lực, chủ yếu là bên kia kênh. Sau đó, khi cuộc tấn công đã bắt đầu thì các trật tự chiến đấu thay đổi, từ đây chúng tôi đi theo hướng này sang phía Tây. Ở đây là các vụ trí tiền tiêu của quân Đức dọc theo đường sắt và theo chiều sâu. Còn đây là vị trí tiền tiêu của chúng tôi. Cuộc tiến công nổ ra vào ngày 16 tháng 4 năm 1945. Từ đây chúng tôi tiếp tục tiến theo lịch trình, còn sa đó thì theo đường cái tới Shustenvald và tới Berlin theo trục đường đi về phía Frankfurt-on-Oder. Chúng tôi ở đây, cách đó khoảng 25 km về phía nam là thành phố Frankfurt-on-Oder. Phần lớn binh lính của Mặt trận Belorussia đã tấn công từ đây.
Vào khoảng 4 giờ sáng, hoặc muộn hơn một chút, các đèn pha chiếu sáng được bật lên. Tôi nhớ theo tài liệu sách vở là có 140 đèn pha một triệu nến (1 nến = 1W?). Chiếu sáng trưng cả các vị trí tiền tiêu. Và trận đánh bắt đầu. Chúng tôi bắn sâu vào đây. Đối với quân Đức, việc chúng ta sử dụng đèn pha là hoàn toàn bất ngờ. Tất nhiên là đèn pha đã giúp chúng tôi nhiều.
- A.D. Cũng giúp các bác ư? Bây giờ có nhiều người nói rằng những chiếc đèn pha ấy còn làm mù quân ta nhiều hơn.
- Ồ không đâu. Chúng giúp quân ta nhiều chứ. Dĩ nhiên khi bộ binh tấn công thì là chuyện khác, những chiếc đèn pha này chiếu từ phía sau. Mỗi người lính bị đèn chiếu từ phía sau thì đều giống như chúa Jesu ấy, tức là bị thấy rất rõ ràng. Dĩ nhiên như thế là nguy hiểm và khó khăn, nhưng mặt khác thì đối phương cũng không thể nào bắn vào những người lính bộ binh ấy được khi họ bị những ngọn dèn pha hàng triệu nến chiếu vào mắt. Vì vậy mà quân ta đã vượt qua phòng tuyến của đối phương, chọc thủng phòng tuyến – mọi chuyện bình thường. Có lẽ là các cựu chiến binh – bộ binh thì thấy khác, nhưng tôi là lính pháo binh mà. Cánh quân của chúng tôi tiến đến bao vây Berlin vào đêm 23 rạng ngày 24. Các cánh khác thì còn đến đó từ đêm 21, 22. Chúng tôi chiến đấu dành từng căn nhà, từng phố. Đến nỗi nếu không thể vượt qua phố, pháo bắn cũng không được – toàn nhà với nhà, thì chúng tôi tháo các đạn phản lực định hướng khỏi các “Cachiusa”, để các Cachiusa chúng ở cửa sổ rồi bắn về phía ngôi nhà ngược lại. Chính tôi thấy điều đó. Các trận chiến đường phố là việc còn xa lạ đối với chúng tôi, trước đó chúng tôi luôn luôn ở trong điều kiện tác chiến, nếu không kể cái pháo đài ở Poznan. Các đài quan sát của chúng tôi luôn luôn là nơi nào đó trên cánh đồng, trên đồi, trong rừng, như là ở Varsava. Còn chuyện lầy lội, không được ngủ - là chuyện đáng sợ.
Chúng tôi bắn vào Berlin theo các điếm hỏa lực, vào các nút tập trung chống cự, nơi tập trung rất nhiều quân Đức, không thể chọc thủng được. Bắn vào các cây cầu, những ngôi nhà lớn, nhà ga. Sau đó bắn vào Bộ Chỉ huy của Hitler, vào Nhà Quốc hội Đức, rồi bắn cả vào các cây cầu ở ngoại ô thành phoos, khi quân Đức rút đi. Ngày 27 tháng 4 tôi có vinh dự được chỉ huy tiểu đoàn. Tức là thế này. Lúc đó chúng tôi đã gần Nhà Quốc hội rồi, còn cách khoảng hai cây số, cây số rưỡi gì đó. Nhưng thường thì chúng tôi bắn dựa vào quan trắc dấu hiệu đứt gẫy– một thuật ngữ pháo binh; còn ở đây thì chúng tôi không hề trông thấy kẻ địch, kể cả ở chỗ vị trí hỏa lực cũng như ở chỗ đài quan sát. Đài quan sát của chúng tôi thì ở số 3 phố Shlezingerstrasse. Đó là một ngôi nhà chung cư lớn có cả thang máy, còn phía trên có cái tháp thang máy, anh em chúng tôi đã biến nó thành đài quan sát. Nhưng từ chỗ đó chúng tôi chẳng thấy gì, vì trước chỗ đó là các ngôi nhà đã bị bắn phá, một số chỗ bị sập, đang cháy. Chúng tôi bắn theo diện tích. Rồi đến ngày 27 thì tiểu đoàn trưởng nhận được lệnh đẩy hàng ngũ chiến đấu lên trước. Các đài quan sát thì phải đặt thật gần Nhà Quốc hội Đức, hoặc là gần Sở chỉ huy Không quân, hay là Bộ Tổng tham mưu của Hitler. Tiểu đoàn trưởng cùng với đồng chí chỉ huy pháo binh, trung đội trưởng của tôi, và hai chỉ huy khẩu đội đi tìm chỗ đặt đài quan sát. Bấy giờ là khoảng 6 giờ chiều. Bỗng có chuông điện thoại: “Yêu cầu chỉ huy đến chỗ sở chỉ huy nghe điện thoại”. Người cao cấp nhất ở đây bấy giờ là tôi. Thế là tôi nhấc ống nghe. “Số 18 ra lệnh phát hỏa theo mục tiêu 21”. Mà mục tiêu 21 tức là Nhà Quốc hội Đức. “Tuân lệnh phát hỏa!”. Làm gì tiếp theo bây giờ? Tôi biết rằng chúng tôi có một khẩu đội pháo đang ở vị trí, ở khu vực sân bay Tempilhoph, còn những khẩu đội khác đang di chuyển trên chiến trường. Có một số khẩu đội đang ở vị trí. Tôi truyền lệnh tới đó: “Chuẩn bị bắn theo mục tiêu 21”. Lúc đó tôi có một bản đồ tỷ lệ 10 cm, rất tiện lợi, ở đó vẽ rõ đến từng ngôi nhà trên bản đồ, có cả Nhà Quốc hội Đức lẫn Bộ Tổng tham mưu của Hitler. Trên bản đồ của chúng tôi mọi mục tiêu đã được ký hiệu rành rọt. Tôi truyền lệnh chuẩn bị. Trong lúc các khẩu đội còn đang đứng một chỗ thì các trinh sát pháo binh, hay khẩu đội trưởng với tư cách người thành thạo nhất đã chuẩn bị xong số liệu. Ví dụ, điểm hỏa lực ở đây, tất cả các khoảng cách đã biết, thế thì chúng tôi наводим орудия по точкам наводки это, ví dụ một nhà thờ hay ngôi nhà nào đó, từ đó cách ra sang trái, sang phải theo khoảng cách như thế nào, góc bao nhiêu, hoặc по буссолям, theo kim địa bàn, nhưng như thế thì không chính xác bằng. Tôi gấp rút chuẩn bị số liệu, tôi có планшет, bản đồ, tôi bắt đầu ký hiệu trên bản đồ, cái gì ở đâu, tổng hợp so sánh số liệu của tôi và của những người khác – mọi chuyện đều ổn cả. Chúng tôi đã sẵn sàng. Tôi ra lệnh: “Phát hỏa!” và nghe thấy tiếng “s-s-s-s”, cứ y như là có một đoàn tàu chạy trong không khí ấy – đó là đạn của chúng tôi bay đấy. Đạn nổ ở đâu đó gần đích. Chúng tôi bắn 42 phát đạn vào Nhà Quốc hội Đức. Rồi có lệnh từ đó truyền tới. Tôi nhấc ống nghe, nghe thấy ai đó hét rất ghê: “Ngừng bắn!”. Tóc trên đầu tôi dựng đứng cả lên – chắc là chúng tôi bắn vào quân mình rồi. Quân ta đang vây Nhà Quốc hội, chỉ còn cách đó khoảng 300 mét thôi. Chúng tôi thì bắn theo diện tích, ngộ nhỡ có viên đạn nào không bay đến đích thì sao. Sởn gai ốc hết cả người, tôi ra lệnh mà. Đâu có ai ra lệnh cho tôi, ngoài cái anh kia, mà số 18 là ai thế nhỉ? Thậm chí tôi còn không biết họ của anh ta nữa mà. Thế là tôi sẽ phải chịu trách nhiệm. Mà cũng có thể là không, ai mà biết được. Nói tóm lại là tôi hết sức lo lắng. Sau một khoảng thời gian lại nghe thấy lệnh: “Chuẩn bị bắn vào mục tiêu 20”. Tất cả những chuyện đó đều xảy ra trong ngày 27 tháng 4 cả. Sau đó thì đến loạt bắn phá Bộ Tổng tham mưu của Hitler đầu tiên của chúng tôi. Chúng tôi gửi đi 18 phát đạn. Lại được lệnh ngừng bắn. Sau một khoảng thời gian nữa thì nghe thấy – giỏi lắm, các cậu bắn tốt đấy. Chuyển lời cám ơn của các đơn vị tấn công đến anh em nhé– mà lúc đó thì trung đoàn số 151 đang tấn công. Ừ thì tôi chuyển lời cám ơn. Rồi còn trong khi chúng tôi đang bắn vào Bộ Tổng tham mưu của Hitler thì tham mưu trưởng chạy đến chỗ sở chỉ huy của chúng tôi. Trong suốt cả cuộc chiến tranh đấy là lần thứ hai anh ta đến đây. Lần thứ nhất là ở chỗ đèo Kareli, lần thứ hai là lần này đây. Anh ta chạy đến, tôi báo cáo: “Báo cáo đồng chí thiếu tá, chúng tôi đang bắn vào mục tiêu số 20 – Bộ Tổng tham mưu của Hitler”. “Các cậu đã bắn bao nhiêu phát rồi?”. Hai hay là ba gì đó. Mà lúc đó tôi đã vẽ bảng bắn, chuyển lửa như thế nào. Tức là bắn sang trái 20, sang phải 20, столько-то дальномер меньше. Và các khẩu đội cũng thế: chúng tôi tổng hợp, hội ý mà. Cứ hai phút thì bắn một phát. Không thể nhanh hơn được – nòng nóng bỏng lên mất…
- A.D. Không thể bắn nhanh hơn vì nòng súng nóng lên nhanh quá ấy ạ?
- Đúng thế đấy. Lại còn nạp đạn nữa chứ, mất 18-20 giây. Chúng tôi nạp đạn như thế này này: khoảng hai chiến sĩ pháo binh dùng tời nâng đạn lên, nòng thì chúc xuống dưới một chút. Такими, банники называются, снаряд с лотка в ствол. … đạn vào nòng. Потом мешок пороху сюда, специальный, он из таких как бы галет сделан, сшит из зарядов, полный заряд - мешок вот какой здоровый. Sau đó thì một bao thuốc súng đặc biệt, bao thuốc súng ….- bao to đùng. Ở đây thì thường thường người ta nạp không đầy thuốc súng – tùy thuộc vào khoảng cách ấy mà. Закрывается затвор. Sau đó thì đóng … lại. Tất cả mọi người tránh ra, chỉ còn lại người cuối cùng наводчик …Anh ta kéo sợi dây – thế là đạn được bắn đi. Chúng tôi không để nòng súng ở vị trí như hồi ở đèo Kareli, ở đây chúng tôi để nòng súng góc 50 – 60 độ, bởi vì cần phải để đạn rơi tù trên xuống cho trúng.
… Tham mưu trưởng chạy đến, nhìn vào cái bảng của tôi. Aha, đã tổng hợp, so sánh với khẩu đội đnag bắn. Và anh ta bắt đầu ra lệnh, còn tôi thì đứng ra một bên – nhìn. Chúng tôi đã bắn 18 phát, và lại nhận được lệnh ngừng bắn. Và họ còn nói rằng Larin khá lắm, sẽ nhận được huy chương Cờ đỏ. Sau đó mấy ngày thì chúng tôi đã thôi bắn, thôi chiến đấu ở Berlin (mà cuối cùng thì tôi cũng không nhận được huy chương Cờ đỏ), người ta đưa chúng tôi ra khỏi Berlin ngày 3 tháng 5 (ngày mùng 2 là chúng tôi đã ngừng chiến đấu rồi), đã là lúc hòa bình trong thành phố. Sau mỗi lần bắn thì lính pháo binh chúng tôi phải làm báo cáo: bắn bao nhiêu phát, bao nhiêu phát trúng đích, còn lại bao nhiêu, bao nhiêu người chết. Tức là báo cáo chiến đấu, rồi sau đó báo cáo được đi tiếp lên trên, còn chúng tôi thì lưu lại tài liệu. Tôi cùng hai trinh sát được giao nhiệm vụ xem xét các mục tiêu 20 -21 và ghi lại, có bao nhiêu phát trúng, và trúng vào đâu. Mà ngoài Nhà Quốc hội ra chúng tôi còn bắn vào các điểm chống cự nữa, và các điểm này cũng được đánh số. Có các vết lõm, đổ vỡ bên trong tòa nhà, đó là vết đạn của chúng tôi. Trước nhà Quốc hội có chôn hai chiếc xe tự hành Đức, chỉ còn tháp pháo nhô lên khỏi mặt đất. Chỗ trước cửa chính được ký hiệu là điểm 97. Chúng tôi bắn vào đó, bắn vào các khu khác, và người Đức đã phải chịu đựng đáng kể. Mà đạn của chúng tôi mà nổ thì to phải biết nhé. Độc thuốc nổ không đã là 50 kg rồi. Tôi đã quan sát thấy một bức tranh như thế này. Nhưng không phải là khi chiếm nó, mà là ngày hôm sau. Chúng tôi chui vào đó – trời đất ạ, - trong đó không thể nào đi nổi. Bên trong nhà có đến hàng ngàn người. Ở phía kia thì tường đổ, tất cả sập xuống cầu thang, trong đố rất nhiều xác, cả quân ta lẫn quân Đức. Chúng tôi đi vòng quanh nhà, đếm được nhiều phát đạn trúng đích, lập biên bản những phát đạn ấy. Sau đó đi vào Bộ Tổng tham mưu của Hitler ngang qua metro, cũng xem metro của họ được chút ít. Nhưng khi chúng tôi đi sang Bộ Tổng tham mưu của Hitler lúc rạng sáng thì một kẻ cuồng tín nào đó nhằm bắn từ súng máy vào chúng tôi từ trên mái nhà. Đó đã là mùng 3 tháng 5 rồi. Chúng tôi vừa chạy vừa ẩn giữa các tòa nhà qua phố, bắn vào phía này thì chúng tôi chạy sang phía kia. Việc vô hiệu hóa kẻ bắn phá này không phải là việc của chúng tôi. Ngoài chúng tôi ra còn hàng trăm người nữa, ở chỗ nào đó có ai đó bị trúng đạn, thế là ai đó bắn trả lại chàng thiện xạ này, nghe tiếng súng rất rõ. Nhưng chúng tôi chẳng có hơi sức đâu để ý đến việc đó – nhiệm vụ chiến đấu của chúng tôi là phải đi tới đó và đếm những phát đạn. Chúng tôi chạy qua phố và vào trong một tòa nhà. Hóa ra đó là Bưu điện thành phố. Cũng có thể không phải là Bưu điện thành phố mà chỉ là bưu cục thôi, ai mà biết được, nhưng tôi cho rằng đó là Bưu điện thành phố, vì tòa nhà ấy lớn lắm. Chúng tôi chạy vào trong nhà. Trong đó có một người đàn ông đứng tuổi, chắc khoảng 60 tuổi rồi, ông ta mặc đồng phục nhân viên bưu điện. Cùng đi với tôi là trung sĩ Strenchenko, anh ta hồi trước học ở trường Đại học Ngôn ngữ nước ngoài ở Kiev. Anh ta nói tiếng Đức rất trôi chảy, và là phiên dịch của chúng tôi. Tôi thì nghe hiểu, nhưng nói thì kém. Mặc dù cũng có học tiếng Đức đấy. Anh ta hỏi: “Đây là cái gì thế nhỉ?” – người ta trả lời là bưu điện thành phố. Trong khi họ nói chuyện thì tôi nghe thấy những tiếng súng trong nhà ở góc xa. Cái gì đấy nhỉ? “Đó là supô- supô, thưa ngài sĩ quan, supô”. Hóa ra là có một sĩ quan người Đức cùng với gia đình đang ở một góc trong nhà bưu điện. Đó là một sĩ quan cảnh sát, hay là gần như NKVD ởLiên Xô, không phải là sĩ quan quân đội. Chúng tôi xách súng tới đó, mở cửa ra, xông vào thì thấy viên sĩ quan ngồi trên ghế, tay buông thõng, máu chảy từ thái dương. Còn trên giường là một người phụ nữ và hai đứa trẻ, anh ta đã bắn họ rồi ngồi vào ghế và tự bắn vào đầu, lúc đó thì chúng tôi vừa đến. Khẩu súng lục còn ở ngay bên cạnh.
Chúng tôi đi tiếp, ghé vào metro. Hóa ra là có cửa vào đấy, nhưng sau đó là nước. Ga metro đầy nước. Trước đó chúng tôi có nghe nói là metro đã bị nổ. Từ đường tàu điện ngầm có các kênh đi khắp thành phố, nhiều kênh lắm. Khi nổ metro thì nước tràn ra khắp những chỗ kênh đi trên đường tàu điện ngầm. Mà cũng không nhất thiết là người Đức cho nổ metro, cũng có thể là quân ta. Nhưng tôi đã đi xa quá rồi. Cần phải kết thúc với Nhà Quốc hội.
- A.D. Các bác đi xem xét văn phòng…
- Phải rồi. Chúng tôi đi xem ở Bộ Tổng Tham mưu của Hitler. Chúng tôi tìm ra theo bản đồ - đến gần đó và thấy một tòa nhà lớn màu xám hai tầng, các cửa sổ rất lớn. Một phần diện tích (khoảng nửa khu phố) là một vườn hoa, hay là một cái sân gì đó, chúng tôi đi tới đó. Gặp hàng rào, người ta không cho chúng tôi vào. Thế là thế nào nhỉ, quân ta, mà lại không cho quân mình vào. Lúc đó có một sĩ quan đi tới. Tôi nói: “Chúng tôi cần xem có bao nhiêu phát đạn bắn trúng đích – chúng tôi làm báo cáo tổng hợp các kết quả chiến đấu của chúng tôi”. Anh ta hỏi: “Thế các anh là ai?” –“Là chiến sĩ pháo binh siêu nặng, đơn vị chúng tôi đã bắn vào Bộ Tổng Tham mưu của Hitler. Bây giờ chúng tôi có nhiệm vụ xem xem kết quả chiến đấu ra sao”. Vào đúng lúc ấy thì thật không may cho chúng tôi là Nguyên soái Giukov cùng các sĩ quan tùy tùng đang ở đó xem xét Bộ Tổng Tham mưu của Hitler. Thế là các cậu trực gác không cho chúng tôi vào. Vậy là chúng tôi đi vòng vòng xung quanh, đếm: chúng tôi thấy các vết gẫy ở tường, mái bị sập, ở trong sân có những phễu đất. Ở trong sân thì có những mái vòm. Hóa ra đó là cái boong-ke của Hitler. Lúc đó chúng tôi đã biết là Hitler đã tự tử chết rồi, nhưng hắn có phải tự tử ở đó không nhỉ? Chúng tôi ghi chép tất cả rồi về lại chỗ đóng quân thì thấy người ta đi đâu đó vào tầng hầm. Họ đi vào đó, chứ không thấy đi ra. Cái gì thế nhỉ, không lẽ họ đi vào metro à? Không, không phải metro, không giống. Chúng tôi đi cùng với họ, hóa ra là có một lối vào bên kia phố, còn đó là lối ra. Tầng hầm của tòa nhà ấy là một kho rượu. Ở đó rất nhiều loại rượu, стоят штабели, дух такой винный mùi rượu đầy. Trời đất ạ! Chúng tôi thấy các đồng đội của chúng tôi đang uống. Thế thì chúng tôi cũng phải thử một chút chứ. CHúng tôi có đèn pin chiến lợi phẩm, bật lên: có một chiến sĩ đang ngồi xã xượi bên một cái hòm. Chẳng rõ cậu ta có vũ khí hay không, mà rượu thì tràn ra một lớp dày, phải đến vài trăm chai rượu bị vỡ. Chúng tôi dẫm lên chai – bị trượt. Lúc đó có ai đó tới gần штабели , và d-r-r-r, bắn một tràng vào mấy cái hòm rượu – thế là rượu chảy ra…tất cả đều cười. Tôi nói “cho chúng tôi thử với”. Chúng tôi lấy một chai, chả biết rượu gì, vì nhãn toàn là tiếng Đức. Anh chàng trung sĩ bèn cầm lấy chai, đọc, hóa ra đó là sâm-panh. Cái chai đó to lắm. Thế là anh ta đập cái cổ chai vào súng. Chúng tôi chẳng có thời gian, mà cũng chẳng có cái gì để mở chai cả mà. Anh ta nói, anh uống thử đi, đây là rượu sâm-panh, tuyệt lắm. Những người khác thì nói là rượu mạnh, nhưng cái này thì lại chua. Chúng tôi uống thử rồi đi tiếp, qua khỏi khu phố ấy.
Người phỏng vấn: Archôm Drabkin
Biên tập: Igor Solodov