Nhớ về nước Nga trên 20 năm trước

Câu chuyện của Thaovietnam kể thật là hay. Thời đó và có lẽ cả thời nay, có lẽ những người Nga sẵn lòng giúp đỡ chúng ta như vậy vẫn còn nhiều, và là những việc rất bình thường, như một con người thì đương nhiên phải làm như thế với đồng loại. Tuy nhiên việc đó ở nước ta có lẽ hiếm đến mức phải đáng được tuyên dương cổ vũ, vì rất nhiều người ở nước ta đã trở nên thờ ơ vô cảm, thậm chí là độc ác, và còn bao nhiêu trò kiêu ngạo rởm đời khác nữa của bọn trọc phú, sự tinh tướng của lũ thanh niên đua đòi, thói đóng kịch giả vờ của phần lớn mọi người. Họ quên mât một điều rằng chỉ cần một hành động quan tâm đơn giản như vậy, và nếu mỗi người đều cố gắng học lại cách sống như vậy, có thể làm người khác cảm thấy ấm áp và cố sống sao cho tử tế hơn.

4. NHỮNG NGÀY TẾt TÂY.

Khoảng gần đến ngày Noel, thì ở quảng trường trung tâm của thành phố chúng tôi có xe tải chở tuyết đến, dồn thành từng khối to như cái nhà và ép lại thành băng. Các nhà điêu khắc bắt tay vào việc tạc tượng. Nguyên một cây thông lớn, cao chừng 12m cũng được mang tới. Lại còn xe tải chở các cành thông nhỏ mới chặt trong rừng để bán cho dân chúng mua về cũng đậu và bán hàng ở đây. Có năm Tết còn có xe tải bán hàng lưu động – các mặt hàng thời trang khan hiếm thỉnh thoảng mới có ở vùng này – như quần áo giày mũ khăn lông của Moskva sản xuất, hoặc các nước Đông Aâu, đẹp và đắt hơn hàng của địa phương tự sản xuâát. Còn các magazin trong những ngày này thì chăng các bông tuyết bằng xốp và quả bóng màu lâáp lánh, không khí đã rất lễ hội. Hàng hóa có vẻ nhiều hơn, chủ yếu là các vật dùng để trang trí, thức ăn và nhất là rượu Vodka, Champagne.

Vậy là đến ngày Noel (tuy nhiên vùng tôi không gọi là Noel – vì không có ai theo Thiên Chúa giáo, và không có nhà thờ – mà gọi là đón năm mới) thì tại trung tâm thành phố đã hiên ra khung cảnh lễ Tết với một cây thông to cao ngất với đèn trang trí rực sáng, cùng các lâu đài cổ tích, cầu trượt bằng băng. Một bù nhìn Tuyết cao 5m với mũi đỏ chót, tay cầm chổi đứng cạnh ông già Tuyết mặc áo đỏ cao 8 m, cùng một đàn bẩy chú lùn và nàng Bạch Tuyết, tất cả đều bằng băng. Những buổi tối cho đến trước Tết Tây, trẻ em kéo ra đây chơi rất đông, còn người lớn – nhất là đàn ông Nga – thì đã say mèm trong xưởng hoặc ở nhà của họ.

Trong các xưởng của nhà máy chúng tôi, mỗi xưởng cũng có một cây thông nhỏ đặt tại vị trí rộng thoáng nhất trong xưởng, với bóng màu treo lủng lẳng và rắc xốp làm giả tuyết. Việc trang trí này do các chị em Nga phòng hành chính của xưởng làm, chỉ việc lấy các vật trang trí của xưởng từ năm ngoái ra dùng lại. Cũng những ngày này nhà máy xẻ thịt lợn tươi – do nhà máy tự có xưởng chăn nuôi – và bán phân phối cho từng xưởng với giá rẻ. (Tất nhiên thịt ngoài cửa hàng cũng có bán ê hề nhưng là đồ đông lạnh nên không ngon). Thịt được chia đều từng phần và tổ chức gắp thăm, mọi người đều hoan hỉ. Lúc này cũng là lúc công nhân Nga thường xuyên năn nỉ vay tiền công nhân Việt để mua rượu uống, hẹn kỳ lương sẽ trả. Vậy là cứ từng tốp công nhân Nga cứ dấm dúi đằng sau các máy công cụ, rót rất công bằng mỗi lần 100 gam rượu uống với cá xông khói hay mỡ muối, ai góp nhiều thì uống nhiều, ai góp ít tiền thì sau vài lượt 100 gam đã hết phần, đành tự rút lui. Cứ như vậy, uống một lát lại ra làm, chốc lại vào làm một tua, đến chiều vợ đến lấy thịt mang về, còn họ lại ở lại gạ nhau góp tiền uống nữa có khi đến khuya. Công nhân Việt Nam thì cũng về ký túc xá, làm nem cuốn chả và đánh chén đón Tết Tây tơi bòi, sau đó là đánh bạc.

5. NHỮNG NGÀY THƯỜNG.

Về chuyện đánh bạc, có lẽ đó là thú giải trí nghèo nàn nhưng hăng say nhất của nhiều nam công nhân Việt ở ký túc xá sau giờ làm việc. Do ít hòa nhập được với xã hội Nga (chỉ một thiểu số có tiếng Nga khá bởi yêu được gái Nga là có thể hòa nhập - thậm chí sống hẳn tại nhà bố mẹ vợ Nga), phần lớn còn lại do trình độ văn hóa thấp, lại sẵn có môi trường sống quần tụ với nhau, nên các ngày nghỉ là tổ chức đánh bạc. Bản thân tôi và các bạn phòng tôi không thích và không từng đánh bạc bao giờ, nhưng biết rất rõ, vì đôi lúc các phòng khác có thâm niên tổ chúc đánh bạc và bị đội trưởng nắm rõ, nên chuyển qua các phòng ít bị nghi ngờ khác để đánh bạc. Vậy là phòng tôi đôi khi lén lút cho họ vào chơi và phục vụ nưóc uống, thuốc lá và thu tiền phục vụ (gọi là cân hồ). Họ đánh bạc bằng hình thức bát úp xóc đĩa, số tiền trong cuộc chơi từ vài trăm cho đến hàng ngàn rup khi lên cơn khát nước. Thu tiền cân hồ mỗi đêm có thể một vài trăm rup, nhưng các đêm đó là rất mệt, thằng ngủ thằng thức cứ nghe thì thầm rì rào như họp hội kín, và phòng thì mịt mờ khói thuốc lá. Sáng hôm sau khi tàn cuộc, kẻ thì cười, người thì mặt mũi thiểu não, nhưng tất cả đều bơ phờ xám ngoét vì thiếu ngủ. Chúng tôi vẫn đi làm được nhưng bọn đánh bạc có ngưòi phải bị progul (nghỉ việc không lý do). Sau vài lần như thế, phòng chúng tôi không phục vụ đánh bạc kiểu đó nữa vì rất mệt và tôi thấy thực sự đó không còn là một thú chơi nữa mà là sát phạt, rất vớ vẩn và đã xảy ra nhiều chuyện phức tạp. Các chuyên gia đánh bạc lại kéo đi tổ chức sới ở các phòng khác. Đã có xảy ra tranh cãi sát phạt ở các sới khác và có đâm chém đổ máu thực sự, tuy chưa có án mạng nhưng sau đó các đại ca giang hồ đã phải về nước trước thời hạn. Đến khi chuẩn bị lên đường, lại nhã nhặn sang các phòng xin lỗi, mọi người góp cho ngưòi thì ít tiền, người thì cái bàn là... gọi là có cái để không mang tiếng về nước tay trắng.

Chúng tôi thường ăn một bữa tại nhà ăn theo kiểu Nga, bữa ăn thường là pervui gồm xúp, satlad, món thứ hai gồm thịt và khoai tây nghiền và bánh mì, 1 cốc polnui smetana, cuối cùng là trà hoặc nước hoa quả. Một bữa ăn như thế hết chừng trên 1 rup. Ăn sáng thì ít hơn vì chỉ 1 cốc smetana và trứng cùng xalad chỉ hết 50 kopek. Bữa tối chúng tôi góp tiền chung nhau và thay phiên nấu ăn theo kiểu Việt tại ký túc xá. Gạo rất rẻ, chừng 40 kopek 1 kg. Cá đông lạnh, thịt heo, gà đông lạnh và kolbasa là các thứ thường bán ở đây, được chế biến theo kiểu Việt Nam. Về sau chúng tôi còn tìm cách làm món bánh phở bằng cách trộn bột mì và trứng rồi cán mỏng và cắt thành bánh. Thỉnh thoảng có chị em Việt đồng hương HN ở thành phố bên đến chơi thì để mặc chị em làm, đến giờ chỉ việc dậy ăn thật là sướng - phụ nữ thì luôn đảm đang. Bình thường thì phân công đã rõ ràng, thằng đi chợ, thằng nấu ăn thằng rửa bát cứ việc mình đến phiên mà làm.

Công nhân từ nhiều vùng của Việt nam sang đây tập trung lại sống với nhau, tính nết đa dạng phong phú và có nhiều cái cũng buồn cười. Có người ở quê nên có những tên nghe rất lạ tai như Thúng Mủng Lúa Rựa Cuốc Măng Miến Cục Hòn vv..sau nghe quen rồi cũng bình thường, họ rất bộc trực và tốt. Có người lại rất điệu đàng, ra đường phải xức nuớc hoa, nói năng lịch sự một cách rất kịch (cho giống như Tây!!), có người lại thô lỗ ào ào, có thằng trịnh trọng nề nếp như một ông chủ tịch xã con. lại còn có thằng khi mới sang chưa biết là hâm, một thời gian sau độ hâm mới tăng lên trông thấy, đến khi gần về thì chuyển sang điên nặng. Khi phòng tôi đang thời kỳ học tiếng, chưa biết hết mọi người trong ký túc, một hôm có một thằng rất trắng trẻo cao lớn trịnh trọng sang, đường hoàng giới thiệu tên M (sorry đã đổi tên), trước đây đã từng là Bí thư Đoàn phường tại VN, muốn làm quen với các bạn. Chúng tôi hơi ngạc nhiên vì thấy trịnh trọng quá, nhưng vẫn nghe chuyện. Nói chuyện lung tung lẩm cẩm một hồi thì đề nghị hát tặng các bạn vài bài. Thế là nó ngồi một mình say sưa hát 5 bài liền, còn chúng tôi phải chui vào phòng ngủ hoặc chui xuống gầm bàn cười lăn lộn bò lê bò càng mà không dám cười thành tiếng, và nó thì không để ý gì. (Đến hồi gần về nước, nó bị phát bệnh nặng, thể hoang tưởng vĩ nhân và luôn lo sợ người khác bỏ thuốc độc ám sát mình. Lúc đầu chưa nặng quá nó vẫn đi làm, nhưng Tây và ta đều biết. Có một hôm ăn trưa, một thằng Tây giả vờ quăng một nhúm muối vào đĩa xúp của nó, thế là nó quáng quàng quăng đĩa xúp và bỏ chạy, hôm đó nghỉ làm hôm sau không dám đến nhà máy và lên cơn nói lảm nhảm suốt đêm. Vài tháng sau đưọc đưa đi chữa bệnh và đưa thẳng về nước trước thời hạn.

6. NHỮNG NGÀY ĐI THU HOẠCH NÔNG TRANG.

Mỗi năm 2 lần, vào mùa hè và mùa đông, nhà máy tổ chức cho công nhân đi cắt cỏ và cắt khoai tây bắp cải giúp nông trang. Đi thay phiên nhau toàn nhà máy, mỗi xưởng cử một nhóm Nga và Việt đi một tốp, còn lại ở xưởng làm bình thường, tốp kia về xưởng thì tốp khác đi thay. Mỗi lần đi như vậy là nửa tháng hoặc hơn (và toàn bộ vụ thu hoạch kéo dài đến gần tháng rưỡi). Tôi rất thích được đi như vậy vì như đi dã ngoại, làm mà như chơi, hòa minh trong thiên nhiên Nga. (Nhưng có một số đứa lại không thích thế, vì đi như thế chỉ tính lương công nhật, trong khi chúng nó làm trong xưởng ăn theo sản phẩm được nhiều tiền hơn - nhưng có lẽ bây giờ chúng nó cũng đã tiếc, vì giờ đây nhớ lại như vậy, dù có tiền nhiều cũng không có lại những ngày giữa thiên nhiên bao la như thế đưọc nữa).

Những ngày đi cắt cỏ khô thường chia làm nhiều đợt liên tiếp nhau cho đến hết mùa hè, bắt đầu vào tháng 6, khi nắng hè đã chói chang và lá bạch dương đã không còn xanh non mơn mởn như cuối mùa xuân nữa, mà chuyển sang màu xanh tươi mát rượi đang độ đẹp viên mãn nhất trong muà hè. Lúc này các công nhân nam to khỏe người Nga đã xuống từ trước. làm lều trại vải bạt và đóng đô hẳn ở đó suốt 4 tháng hè, người đỏ au rám nắng, cả ngày cởi trần trùng trục mặc cho ruồi đồng cỏ to như những con ve sầu vo ve hút máu, và lái máy cắt cỏ, máy đóng gói cỏ và xe tải. Sau một ngày làm việc như thế, tối chui vào lều, họ chơi domino với nhau, đánh đàn ghita và uống rượu. Công nhân Việt chúng tôi cùng với các công nhân nữ người Nga, và các cô văn phòng hành chính Nga xinh đẹp, cứ sáng sáng tập trung trước cổng nhà máy lúc 6h sáng hè vẫn còn mát mẻ, đón xe nhà máy xuống cánh đồng cách xa gần 50km, chiều tối xe lại chở về, mai lại đi tiếp.

Xe chạy xuống đến nơi đã là 8h. Cả một không gian bao la với đồi và đồng cỏ điệp trùng, rừng bạch dương thoai thoải mọc trên các triền đồi, và cỏ lau bạt ngàn. máy cắt cỏ đã vun thành từng đống nhỏ. Nhiệm vụ chúng tôi là vun thành từng đống cỏ tươi lớn, chờ máy đóng gói đến và xúc vào máy cho đóng ra thành những bó cỏ vuông vắn, chuyển lên xe tải để chở về nông trang phơi khô làm thức ăn gia súc. Chúng tôi chia thành từng nhóm nhỏ với các cô gái xinh đẹp người Nga, mỗi tốp chừng 6 người, lúc đầu các nhóm còn tập trung làm gần nhau. sau đó cứ mải theo các luống cắt leo dần lên đỉnh đồi, vài tiếng sau ngoảnh lại nhìn thì đã thấy thung lũng xa tít phía dưới, còn ở trên này là bạt ngàn rừng bạch dương xanh mát mảnh dẻ đang rì rào trên đầu, yên tĩnh như ngàn đời nay vẫn thế, như nơi đây chưa từng có dấu con người. Xe đóng gói còn lâu mới tới. Thế là chúng tôi quẳng lại cào cỏ đấy, cùng các cô gái Nga đi hái quả phúc bồn tử và ăn cho đến đỏ lòe cả miệng, rồi nằm trên cỏ dưới tán bạch dương mà hỏi chuyện và trêu chọc tán tỉnh nhau, lắm khi quên cả tiếng dưới kia gọi í ới xuống ăn trưa mà nghe trên này xa quá chỉ văng vẳng như tiếng vọng lại xa vời mà thôi. Hoa đồng nội ở đây cũng mọc nhiều vô kể.

Cũng có khi không xuống ăn trưa, vì ai cũng mang theo thức ăn khô là kolbasa, hành tây và bánh mì, cà chua và nước trong túi dết cả rồi, nên ăn luôn tại chỗ không xuống, nếu xuống chỉ là vì cần lấy thêm nước. Thế là có khi chúng tôi ở trên đỉnh đồi, hết đồi này trèo qua đồi khác, hoặc trong một thung lũng nào đó, đến chiều mới xuống để ra về. Chúng tôi cũng cởi trần làm việc và quấn áo vào ngang lưng, cũng bị ruồi đồng cỏ đốt sưng người, nhưng sau nửa tháng như vậy phải về lại xưởng, hầu như ai cũng tiếc rẻ, và người thằng nào cũng đỏ hồng lên như tôm luộc, thật là thoải mái mạnh khỏe. Lại chờ đến tháng sau đi tiếp lượt nữa, có khi một vụ hè phải đi vài ba lần.

Cứ như thế qua hết mùa hè vui vẻ. Muà thu lá vàng úa thì không đi nông trang nào nữa mà làm tại xưởng. Nhưng chẳng mấy chốc đã lại đến cuối tháng 9. Thế là đã sắp sang đông. Lúc này bầu trời đã ngả một màu xám chì u ám và lạnh, đã phải mặc áo kurtka và áo len rồi, nhưng vẫn chưa có tuyết. Những ngày này chúng tôi lại đi thu hoạch khoai tây và bắp cải. Thu hoạch những thứ này chỉ phải đi một lần duy nhất trong nửa tháng liên tục mà thôi, vì phải làm gấp trước khi tuyết rơi xuống. Lúc này trên cánh đồng khoai tây, đất đã hơi rắn lại vì lạnh. Cánh đồng rộng mênh mông và cũng cong vồng lên theo triền đồi. Chúng tôi đi dưới đất, theo xe gặt liên hợp, bên cạnh là một xe tải đi song song chạy chậm. Xe liên hợp xúc gàu xuống luống khoai, cả đất và khoai theo băng chuyên lên máng đang rung bần bật trên xe, vậy là đất rụng sang một máng khác và rơi trở lại đất, còn khoai tây rụng ra khỏi đất và sang máng khác rồi phun thẳng sang xe tải bên cạnh. Việc dưới đất của chúng tôi là nhặt mót những củ khoai còn sót mà máy liên hợp chưa xúc hết và tập trung lại thành từng đống nhỏ, chờ xe tải khác chạy qua và vét nốt. Cứ nhẩn nha nhặt như thế, có khi xe gặt liên hợp đã chạy trước mất hút bên kia cánh đồng không còn nghe thấy tiếng xe nữa, thế là chúng tôi cả Tây lẫn ta ngồi lại, đốt một đống lửa ngồi co ro vây quanh sưởi ấm, nhặt khoai tây ném vào lửa, nướng lên và ăn nóng. Cũng có khi gần đến giờ ăn trưa, lấy đồ nguội ra ăn luôn quanh đống lửa, mặc cho xung quanh gió lạnh thổi vù vù và nền trời thì xám xịt nặng nề. Lúc ấy thể nào cũng có rượu Vodka của Tây mang theo, và công nhân Việt Nam cũng thế. Tất cả xúm lại ăn uống trò chuyện, nhưng phần ai của người ấy rất rõ ràng, kể cả rượu. Có khi Tây uống hết trước, lại qua chúng tôi gạ chia sẻ cho vài trăm gram Vodka. Cảm giác cắt cỏ mùa hè là cảm giác của sự lãng mạn, tươi trẻ bừng bừng, sôi nổi, nhưng cảm giác đi thu hoạch khoai tây mùa đông cũng đặc biệt không kém. Đó là cảm giác của sự vắng lạnh hoang vu thê lương khi một nhóm nhỏ ngồi quanh đống lửa trên cánh đồng ảm đạm mênh mông, cảm giác cô đơn ngàn năm khi chỉ có một đống lửa nhỏ giữa trời đất bao la một màu xám nặng nề. Đó là do tôi cảm nhận thế, không biết những người khác có thấy giống như thế không. Có thể do tôi quá nhạy cảm. Nó cũng giống như cảm giác khi ta một mình đứng trước biển.

Cũng có khi chúng tôi không đi dưới đất theo xe, mà đứng hẳn trên xe. Đứng theo hai bên sườn xe gặt đập, mỗi bên có 4 người, ở giữa là băng chuyền. Chỉ việc nhanh mắt nhanh tay nhặt những củ khoai tây nếu nó chưa kịp rụng ra khỏi đất, và ném nó sang băng chuyền khoai tây để phun vào xe tải. Cũng không vất vả, vừa làm vừa trò chuyện với Tây rôm rả, nếu có củ khoai nào không kịp nhặt, lại lẫn sang băng chuyền đất thì lại rơi xuống đất, và tốp dưới đất sẽ nhặt được.

Cứ như thế, đến chiều về thành phố, cả Tây lẫn ta đều xách theo một túi khoai tây to tham ô mang về. Chỉ là tiện thể cho vui, không đáng bao tiền vì ngoài cửa hàng có vài chục xu một kg. Đi bắp cải thì lại xách về bắp cải. Chỉ có đi cắt cỏ thì không mang cỏ về, mà chén phúc bồn tử ngay tại chỗ. Những ngày đi nông trang như thế cũng là những ngày sung sướng với thiên nhiên trong đời công nhân của tôi.

(Ở khu dân cư trong thành phố vùng này, thường ở ven rìa thành phố, nhà người Nga nào cũng có một gara xe ô tô và một hầm khoai tây bên cạnh đó, làm ngầm dưới đất và có ống thông hơi phía trên. Họ tích trữ khoai tây trong đó hàng tấn để ăn dần quanh năm cho cả nhà).
 
Bạn nho nuoc nga thân mến.
Những ngày đi nông trang làm việc, tôi thấy bạn viết còn có gì đó thiêu thiếu, hay bạn ngại viết - nếu có thể tôi xin bổ sung nhé.(một ý nhỏ thôi)

Khi những chiếc xe ô tô buýt cũ có nhãn hiệu "chiến thắng" ì ạch chở cán bộ công nhân viên đến khu vực làm cỏ - nho nuoc nga xuống xe cùng mọi người. anh đưa điếu thuốc lá lên miệng, chưa kịp châm điếu thuốc - thì thôi rồi, trước mặt anh ta hiện ra rất nhiều tiên nữ! Cứ như trong chuyện cổ tích của chúng ta, các cô gái mớ ba-mớ bảy sặc sỡ các màu. Nhưng ở nông trang Nga các cô gái tiết kiệm lắm - tất cả đều mặc bikini - lông chân, lông tay vàng óng...
Xin hỏi nho nuoc nga có phải thế không ạ hay là tôi hư cấu?
 
Chào bác Hongducanh.
Đúng là sau khi nghe bác nói, em thấy là mình kể còn thiếu thật. Vậy là bác cũng từng đã đi nông trang, thào nào em kể ra còn sót gì là bị bác bắt vở ngay. Bác thật là tài, cứ như đã từng ở vùng của em vậy. Thực sự là các cô gái Nga xinh đẹp, dù là công nhân hay văn phòng bàn giấy, khi ra đến đồng cỏ thì tất cả họ đều nhanh chóng cởi đồ, và chỉ còn mặc có 2 mảnh bikini nhỏ xíu mà thôi, phơi bày da thịt tươi trẻ đầy sức sống với những nụ cười tươi xinh như thiên thần, và lúc đó họ thực sự là những đóa hoa của đồng cỏ và làm tươi mát rạo rực cả cánh đồng cỏ - trong khi đàn ông chỉ có thể cởi trần vói quần dài hoặc mặc quần sooc mà thôi. Em rất thích những khi họ lắc đầu một cách duyên dáng và nói "Nhe eeee.aa.." khi họ từ chối một cách dễ thương điều gì đó, hoặc khi họ mở to đôi mắt tròn xanh biếc nhìn mình và nói "Da tu sto?" khi ngạc nhiên.
Cảm ơn bác nhé. Kính chúc bác mạnh khỏe.
 
Cháu chào các bác, các chú, các anh chị NNN ạ! Hôm nay cháu đăng nhập vào NNN, với hy vọng ...tìm đọc và kiểm chứng những câu chuyện của bố mẹ cháu, những người cũng đã từng du học Liên Xô ngày xưa, gặp nhau, yêu nhau...để rồi có cháu và em cháu. Ở nhà cháu được bạn bè của bố mẹ đặt tên là Len(Leningrat), Tên người việt gọi thành phố này như vậy, cháu sẽ tham gia viết về những câu chuyện ấy tại đây được chứ ạ?
 
Đọc những dòng hồi tưởng của các bác thấy trong lòng cứ nao nao. Tôi không được ở nước Nga lâu (chỉ 11 tháng thôi) nên những ký ức về nước Nga không được nhiều và đẹp như của các bác nhưng nước Nga tôi gặp qua sách vở và các câu chuyện kể thì vẫn lung linh, tươi sáng. Ở nhà tôi vẫn có riêng một ngăn tủ để các cuốn truyện Nga mà thỉnh thoảng tôi vẫn lôi ra đọc lại, không hề thấy chán.

Có thể nói tôi biết đến tiếng Nga (và sau đó là nước Nga) từ rất sớm, qua những quyển sách vỡ lòng mẹ mua về khi tôi còn học cấp I. Tôi đã chú ý ngay đến nó khi mẹ mới mua về vì màu sắc tươi sáng và có thật nhiều hình vẽ. Tôi đã bắt mẹ phải dạy tôi đọc từng chữ cái và tập ghép vần (mình cứ tưởng tiếng Nga cũng giống như tiếng Việt vậy). Mẹ thì với vốn tiếng Nga bập bõm được dạy hồi đại học đã không thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng nhiều của tôi. Vì thế, khi lên cấp II, tôi đã xin được vào lớp tiếng Nga, trong khi các bạn khác chỉ muốn học tiếng Anh, hoặc tiếng Pháp. Ở trường, tôi học tiếng Nga thật nhẹ nhàng và thoải mái. Có năng khiếu học ngoại ngữ nhưng lại không chăm chỉ nên năm nào tôi cũng được cử đi thi học sinh giỏi tiếng Nga mà chẳng bao giờ được giải cao cả (chỉ nhì hoặc ba thôi).

Lên Đại học, tôi cũng chọn học tiếng Nga và được sang Nga học chuyển tiếp vào năm thứ III. Nước Nga lúc tôi sang (1989) đã không còn thật sự yên bình. Chúng tôi đã được cảnh báo là không được ra ngoài đường vào buổi tối, không nên đi một mình mà phải đi theo nhóm cho an toàn. Thời đó, các quầy hàng đã bắt đầu trống rỗng (không phải hàng hóa để đánh quả đâu, mà là thực phẩm và nhu yếu phẩm ấy). Người Nga ở Орёл nơi tôi ở (cách Москва 300km) đã nhìn người Việt với con mắt dò xét. Câu hỏi đầu tiên họ thường đặt ra là "Đi làm hay Đi học?". Khi biết chúng tôi sang để đi học thì thái độ của họ thay đổi ngay, chân thành, vui vẻ và trìu mến. Nhiều người còn bắt tay chúng tôi vì Việt Nam đã đánh thắng Mỹ. Lúc đó, chúng tôi rất cảm động và tràn đầy hãnh diện.

Tuy nhiên, chúng tôi ít được thấy tình cảm nồng ấm người Nga dành cho người Việt như các bác đã cảm nhận vào thời gian trước đó. Nhưng với tôi, những thái độ đó chỉ là nhất thời, chỉ có tình yêu tôi (và cả các bác nữa) dành cho nước Nga là mãi mãi. Có phải thế không các bác?

(Viết xong thấy văn vẻ của mình lủng củng quá, các bác đọc đừng cười nhé).
 
malchich nói:
Cháu chào các bác, các chú, các anh chị NNN ạ! Hôm nay cháu đăng nhập vào NNN, với hy vọng ...tìm đọc và kiểm chứng những câu chuyện của bố mẹ cháu, những người cũng đã từng du học Liên Xô ngày xưa, gặp nhau, yêu nhau...để rồi có cháu và em cháu. Ở nhà cháu được bạn bè của bố mẹ đặt tên là Len(Leningrat), Tên người việt gọi thành phố này như vậy, cháu sẽ tham gia viết về những câu chuyện ấy tại đây được chứ ạ?
Ồ, hoan nghênh 1 cậu bé rất lễ phép :lol: , rất hiếu nghĩa, và rất nhiệt tình đến với ngôi nhà NNN. Chúng tôi sẵn lòng chờ nghe các câu chuyện của cậu đây. Chỉ xin cậu chú ý đến tên topic nên sau khi post bài tại đây, cậu nhớ chú thích "Ghi theo lời kể của ba mẹ em", nhé :D
 
Dạo này, Nho Nuoc Nga chắc bận rôn với công việc nên đã lâu không thấy bạn gửi bài vào topic này. :roll:. Bây giờ thời tiết đang chuyển dần về cuối Thu, lác đác đâu đó những bông tuyết đầu mùa đã rơi, nước Nga lại chuẩn bị vào một mùa Đông mới.
Tôi không biết khi các bạn ở Nga có tham gia đi câu cá mùa Đông không? Với tôi, đi câu cá mùa Đông ở Nga thật tuyệt vời, điều đó luôn là những kỷ niệm đẹp và êm đềm mỗi khi nhớ lại.

Thường vào buổi sáng chủ nhật, chúng tôi có một nhóm bốn người cùng nhau tổ chức đi câu cá. Anh bạn Iuri luôn tỏ ra hào hứng là người sáng lập ra hội này. Đằng sau chiếc xe Lada màu xanh cốm của anh ta chứa đầy đủ những dụng cụ để đi câu, Natasha - bạn của anh ấy là người phụ nữ đảm đang, chị đã chuẩn bị từ tối hôm truớc đồ ăn và uống. Dasha thì được mọi người ưu tiên không phải mang gì vì cô ta bị tai nạn giao thông - hiện hai chân không đi như những người bình thường được. Còn tôi, bao giờ cũng có nhiệm vụ mang 4 chai rượu loại 500ml vodka và konhăc.

Chiếc Lada đưa chúng tôi ra khỏi trung tâm thành phố tiến lên phía Bắc giáp với Murman. Cách Leningrad khỏang 30km, Trước mặt chúng tôi là một khỏang trống rộng bao la, nhưng cũng được giới hạn bởi rừng thông xung quanh hồ. Tuyết phủ trắng xóa cả mặt hồ. Khi chiếc xe dừng bánh, ai vào việc nấy. riêng tôi có trách nhiệm dìu Dasha ngồi chắc chắn trên chiếc xe đẩy. Để đưa Dasha đến vị trí ngồi câu không phải là một việc dễ vì tuyết rất dày mà bánh xe nhỏ nên việc đẩy chiếc xe là hoàn toàn không thể. Iuri và tôi dùng xẻng xúc tuyết hất sang hai bên cứ như đào giao thông hào vậy, khoảng chừng 15 m, theo hướng dẫn của Iuri chúng tôi tiếp tục xúc tuyết hất ra xung quanh tạo được một vòng tròn có đường kính khoảng 3m. tôi xếp những tấm nhựa vào với nhau ước chừng to bằng cái giường đôi ở Việt Nam. Iuri nhanh chóng dựng tấm bạt theo khung nhà . Thế là chúng tôi có một ngôi nhà xinh xắn trên băng.

Chúng tôi mặc những đồ rất ấm, riêng đôi giày da cao cổ(tức là cao trên cả đầu gối 30cm). tôi và Iuri thay nhau dùng máy khoan băng, tôi quay vài vòng đã thấy mệt. Iuri bảo phải khoan nhiều lỗ, tạo thành một vòng tròn có đường kính khoảng 40cm. khi cục băng được tạo ra, dùng chiếc gạy đẩy nó xuống hồ, nghĩa là cục băng đó nằm dưới cả tảng băng khổng lồ. tôi tò mò thò tay xuống mặt nước hồ xem lạnh như thế nào mà bị đóng băng. Thật ngạc nhiên là nước trong hồ không hề lạnh như chúng ta nghĩ.

Chúng tôi lắp cần câu, tra mồi vào lưỡi câu. Thoạt nhìn thật là khủng khiếp, mồi câu chính là những con giòi (bọ), nó to bằng đầu đũa. Câu ở Nga không phải rắc thính như ở ta, thả lưỡi câu xuống - tôi châm lửa hút thuốc lá, vừa rít vài hơi bông thấy chiếc phao ngọ nguậy, tôi định giật thì Iuri dùng tay cản tôi lại. Iuri giải thích: loại cá này thường đi theo đàn, vừa rồi không phải là cá cắn câu mà một con nào đó đi kiếm ăn vô tình chạm vào dây mà thôi... Tôi đã hiểu, vì ở Viêt Nam tôi cũng chưa bao giờ đi câu cá. Iuri đưa lên một con cá khoảng hai lạng, anh ta lại vứt xuống hồ-tôi ngạc nhiên hỏi, anh ta bảo rằng cá còn nhỏ không nên bắt chúng. Phao của tôi nháy lia lịa bỗng mất hút, theo phản xạ tôi giật mạnh, cần câu tôi ríu lại như muốn lôi cả tôi xuống hố. Iuri vồ lấy cần câu của tôi, anh từ từ nhả cước từ trong chiếc máy của cần câu, vẻ mặt bình thản như một tay câu cá lão luyện. Con này to đây-Iuri khẳng định. Tám con mắt đổ dồn vào sợi cước căng cứng đang dịch chuyển quanh hố. Anh chàng đã lên cơn thèm hút thuốc lá, tôi châm cho một điếu... Iuri giữ nhịp liên tục khoảng 15 phút, anh lấy tay quay máy thu cước vào, cuối cùng con cá cũng mệt nhoài và chấp nhận lên bờ thưởng thức không khí trong lành.

(còn nữa)
 
7. NHỮNG NGÀY ĐI TUẦN TRA MUA HÀNG.

Phải nói ngay rằng việc tuần tra mua hàng không phải là sở trường của tôi. Trong 6 năm trời, tôi chỉ gửi được vài “quả đỏ” 10 kg, và một thùng hàng nhỏ khi về nước. Vì tôi rất ngại khi phải đối mặt với sự tò mò kỳ thị của người Nga khi xem chúng tôi mua hàng với số lượng lớn (mà thực ra chỉ chừng 10 cái bàn là hoặc 5 nồi áp suất mỗi lần mua - vẫn chưa bằng các thằng khác làm nguyên một xe tải hàng, vét sạch cửa hàng) và giở tung ra trong bưu điện soi xét). Đó thực chất chỉ là sĩ diện mà thôi. Có thể ai đó cho rằng đó là suy nghĩ sai lầm (nhà ở Việt Nam thì nghèo rớt mồng tơi mà còn còn sĩ diện), nhưng chúng tôi không muốn tỏ ra là công dân hạng 2 trong mắt người Nga, lôi thôi lếch thếch với quần áo pantô loại chăn dạ rẻ tiền mặc trên người, và vai vác một đống bàn là đi trên phố. Nhưng thực sự là, dù cố gắng không làm những điều bất bình thường trong mắt người Nga, dù cố tỏ ra văn minh như họ, thì trong mắt phần lớn người Nga trẻ tuổi (với người già có thể khác, họ hiểu nên thông cảm) - chúng tôi vẫn chỉ là công dân hạng 2.

Những thằng khác, thì có sở thích đi tuần tra. Cứ đi làm về là không theo xe nhà máy mà ra xe bus thành phố, đi lang thang đến các nơi xa xôi quanh đó hàng chục km để tìm hàng, nhất là mùa hè và Chủ Nhật thì có khi đi vài ngày, kết hợp đi thăm chị em công nhân Việt các vùng lân cận. Và cứ mỗi khi tìm thấy magazin nơi nào đó có hàng gì, thì chì hôm sau, như kiến thấy mỡ - hàng đàn công nhân Việt lũ lượt kéo tới vét bằng sạch.

8. (NHỮNG SUY NGHĨ CHỢT ĐẾN).

Cũng có lúc tôi nghĩ rằng, nếu hồi đó chúng tôi sang vùng này không phải làm công nhân mà là sinh viên - và vì thế mà sẽ ít số lượng người Việt hơn, và do vậy có một nền tảng học vấn nhất định, thì có lẽ người Nga đối xử với chúng tôi sẽ khác. Họ sẽ quý mến hơn, như thời lứa tuổi bố mẹ chúng tôi sang, trong thập niên 60 và 70, khi mà toàn bộ Liên Xô chỉ có sinh viên Việt đi du học.

Giờ đây khi đã qua trên 20 năm, đã co một số hiểu biết nhất định để vượt qua sự sĩ diện, yêu ghét bốc đồng cảm tính, tôi mới nghĩ những dòng này. Người Nga cũng thuộc phần châu Âu, nhưng là Đông Âu, khác với dân Tây Âu về căn bản trong tính cách. Vùng Tây Âu, do nhiều yếu tố về địa lý và lịch sử, đã hình thành nền văn minh Hy la từ hàng ngàn năm trước, lại có nhiều biến động mang tính cách mạng như thời kỳ Phục Hưng, chủ nghĩa tư bản ra đời ở Anh Quốc cùng với các phát minh lớn về điện và máy hơi nước, thời kỳ Cách mạng Pháp 1789. Vì vậy lối sống quý tộc Tây Âu, và nền văn minh Tây Âu, triết học Tây Âu đã có cơ hội hình thành từ rất sớm. Khởi nguồn triết học châu Âu bắt nguồn từ Hy lạp, sang đến thời cận đại là Anh, Pháp và Đức, nhất là Đức (nước Đức trước thuộc công quốc Veima, gồm nhiều nhà triết học như Kant, Spinoza, Schopenhouer, Nieztse, Hegel, Karl Mars,..Vì vậy mà ta thấy người Đức có tiếng là sống và làm việc lý trí và qui củ). Có triết học, tức là đã có sự băn khoăn, ưu tư lo âu về thân phận mình và lẽ sống, là đã nghĩ về “cá nhân”, về “cái Tôi”. Khi có băn khoăn về mình, tức là đã vượt ra khỏi sự nông cạn hời hợt, tiến một bước về phía sâu sắc trong sự nhận thức. Vì thế xét chung, người Tây Âu có lối sống tinh tế lịch lãm, lãnh đạm lạnh lùng và thực dụng. Trong khi Tây Âu đã vào thời phong kiên cực thịnh vào thế kỷ 16, chuẩn bị chuyển sang thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa vào thế kỷ 17, thì tại vùng Bắc Âu, đế quốc Thụy Điển lạnh giá của người Viking vẫn còn tương đối biệt lập với phần Tây Âu, và nước Nga bao la rộng lớn vẫn còn thuộc thời kỳ phong kiến lạc hậu, với chế độ nông nô dưới triều đại Romanov (dòng họ Sa hoàng Nga), và đã từng bị ảnh hưởng không nhỏ của đế quốc Mông Cổ (Gengis Khan đã đô hộ các công quốc thuộc Nga vào thế kỷ 12 và 13).

Chính vì vậy, xét mẫu số chung, người Nga về bản chất là ăn to nói lớn và phóng khoáng sởi lởi, tốt tính bao dung, không tính toán thiệt hơn. Đó là chất sống của người mugic (nông dân Nga), do sống tại vùng địa lý nửa Á nửa Âu hơn là thuần châu Âu, nồng nhiệt và đôi khi hơi bốc đồng. Lối sống của người mugic và sự chống chọi với giá lạnh trong sự nghèo nàn vật chất, cùng với thảo nguyên Nga bát ngát, đã tạo cho họ lối sống ngày nay như vậy, cái mà chúng ta gọi là “tính cách Nga”, rất “Nga”. Đó không còn là danh từ, mà trở nên tính từ, nói về cái phẩm chất đặc biệt chỉ người Nga mới có và không lẫn vào đâu được với các dân tộc khác. Nếu có thể nhận xét ngắn gọn về tính cách vài dân tộc, tôi có thể nói: Người Nga nồng nhiệt và giàu chất tình cảm hơn trí tuệ - Người Đức nhiều trí tuệ, ý chí nhưng nguyên tắc và lạnh lùng - Người Anh thực dụng và lạnh lùng - Người Pháp và Italy lịch lãm và ham thích sự tinh tế - Người Mỹ phóng khoáng ngang tàng và hiệu quả. Người Việt thì khôn lỏi và giỏi tinh ranh trong sự vặt vãnh nhưng không thể làm điều gì lớn. Đại khái như vậy. Đó là suy nghĩ của riêng tôi.

Người Nga là một dân tộc lớn và sản sinh nhiều vĩ nhân cho nhân loại. Nhưng tất cả chỉ bắt đầu từ sau khi họ tiếp xúc với văn minh Tây Âu, có lẽ từ Piere Đại đế, và vì vậy mà hòa nhập được phần nào vào gốc gác Slavơ có nguồn gốc châu Âu của họ. Có thể kể đến nhiều lãnh vực mà nước Nga đã góp phần những con người ưu tú: trong âm nhạc có Traikovski, Prokofiev, Sochtstakovich..., trong văn học có Lev Tolstoi, Puskin, Dostoievski, Gogol, Ivan Bunin.., trong khoa học gồm Mendeleev, Lev Landao, trong nghiên cứu tâm lý học có Vugoski, Bakhtin. Đó thực sự là những con người mà toàn thế giới phải ngả mũ kính chào. Nuớc Nga cống hiến nhiều vĩ nhân về các ngành nghệ thuật, khoa học và nghiên cứu, nghệ thuật quân sự,.. nhưng ít cống hiến về triết học (không có nhà triết học mang tầm cỡ thế giới). Đó thực sự là một dân tộc lớn và có nhiều nội lực, kể cả khi họ chưa làm như vậy trong các thế kỷ phong kiến lạc hậu của họ trước thế kỷ 17. Tại sao như vậy? Vì họ có thể lực tốt, có ý chí trong gian khổ, họ có niềm tin vào Chính thống giáo, họ dám nghĩ lớn và làm lớn, họ có minh quân là Piere Đại đế. Nếu một Puskin có thể là hay với người Nga vì mang đậm chất thi ca trữ tình Nga và chất nhân văn, và vì vậy rất “Nga” không lẫn vào đâu được - mà chất nhân văn Nga lại là một gíá trị mang tầm phổ quát toàn nhân loại - vì thế có giá trị với toàn thế giới, nhưng còn Dostoievski là một quái nhân kiệt xuất trong văn học không chỉ của Nga, mà phương Tây cũng phải kinh sợ vì tài năng văn chương triết luận, với những trang phân tích tâm lý con người phổ quát, vô cùng sâu sắc phức tạp.

Mọi dân tộc được coi là lớn khi họ cống hiến những giá trị lớn - điều đó làm phong phú thêm kho tàng, giúp cuộc sống tốt hơn và quan trọng đẩy sâu nhận thức cho nhân loại. Để có được điều đó, phải bắt nguồn từ đức tin lớn, cộng với sự phấn đấu gần như cuồng tín trong giai đoạn đầu. Đức tin lớn là điểm khởi đầu cho tôn giáo và sau đó là hệ thống triết học. Nếu người Ai cập cổ đại không có niềm tin về sự vĩnh hằng sau khi chết và phấn đấu cuồng tín cho điều đó, thì đã không có các Kim Tự Tháp với mong muốn lưu giữ thân thể các Pharaon để đầu thai vào kiếp sau. Nếu người Hy Lạp không có niềm tin vào các đấng thần linh của họ sống trên đỉnh núi Olimpia, thì đã không có thần thoại và văn minh Hy lạp để bị đế quốc La Mã đi chinh phục, nhưng lại bị chinh phục ngược lại bởi văn hóa Hy Lạp và hình thành văn minh phương Tây ngày nay. Nếu người Do Thái không có niềm tin vào tôn giáo độc thần của Moise (mà vẫn đa thần giáo như trước) thì không có Cựu Ước và vì vậy không có Thiên Chúa Giáo. Nếu người Nga không có niềm tin vào Chính Thống Giáo và dốc sức cho điều đó, thì ngày nay đã không có các giáo đường hoành tráng mang phong cách gọi là “rất Nga”, không có những con người mugic nghèo khổ nhưng có đức tin để tạo lập nên văn hóa Nga mang tính sử thi anh hùng ca. Nếu người Nhật không tin mình là con của Nữ thần Mặt trời, được nâng thành Thần Đạo, thì đã không có giai cấp Samurai sống chết vì Thiên hoàng, và vì vậy không có động lực để ngày nay có một nuớc Nhật biết vươn lên một cách quân tữ, hoặc là không chịu thua ai, hoặc là mổ bụng chết trong danh dự. Nếu người Anh không có những con người âm thầm nghiên cứu phát minh thì đã không có cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, và đã không sinh ra chủ nghĩa tư bản - một giá trị mới hợp lý và thay đổi cách sống của nhân loại. Nếu người Mỹ không phấn đấu giành giật cho những giá trị về tự do, nay đã không có nước Mỹ cống hiến nhiều giá trị về khoa học kỹ thuật đỉnh cao.

Nghĩ lại buồn cho nước ta. Dân tộc ta cũng có truyền thuyết về nguồn gốc huy hoàng con Rồng cháu Tiên, thủy tổ Lạc Long Quân Âu Cơ chẳng kém ai. Nhưng ở ta không có ai biến nó thành một niềm tin lớn, thành hệ thống triết học của mình, để có những đền đài nguy nga tráng lệ, để vì đức tin mà sống chết thành một dân tộc lớn. Vẫn chỉ là chùa chiền nhỏ và luỹ tre làng bao bọc, với những niềm ao ước nhỏ, ghanh tị tủn mủn nhỏ nhen làm cho con người ngày càng bé lại và càng cản bước chân của nhau, ít có ai sẵn sàng đặt cược cả cuộc đời cho sự say mê của mình. Không có ai dám vượt biển đi khám phá chinh phục những chân trời xa lạ. Sự tự hào ngàn năm trong dân gian chỉ là Trạng Quỳnh Trạng Lợn, những sự tự hào tinh ranh vặt vãnh nhỏ nhen không mang tính anh hùng ca, không xứng đáng tiêu biểu cho tính con người nhân văn phổ quát của thế giới. Nguyễn Bính thi sỹ có thể tạm coi như một thứ Exenhin của Việt nam - thi sỹ dân gian - nhưng thế giới không ai biết cả, vì ông mang tính nhỏ lẻ địa phương, và sự ưu tư, chất nhân văn ở tầm địa phương. Nguyễn Trãi và Nguyễn Du có thể coi là lớn và vượt ra khỏi giới hạn quốc gia lãnh thổ, vì các ngài có những suy nghĩ sáng tác nhân văn về kiếp người - mà kiếp người ở đâu trên quả đất này thì cũng buồn vui sướng khổ như nhau. Vì vậy mà các ngài là lớn. Nhưng các ngài là lạc lõng trong một dân tộc nhỏ bé và không có nền tảng triêt học tôn giáo vững chắc trước mình, thế giới sẽ chỉ biết nhiều đến các ngài khi mà Việt nam trở nên giàu mạnh văn minh hơn và biết lăng xê các vĩ nhân của mình. Mọi sự nhỏ bé của các dân tộc, và sự nhỏ bé của các cá nhân người, đều do bởi không dám nghĩ khác và làm khác, không dám vượt qua thói quen của chính mình, với lối sống quần tụ bầy đàn cùng những niềm vui nhỏ. Thực ra, một dân tộc lớn cũng luôn chỉ bắt đầu từ những cá nhân lớn. Đó sẽ là những đầu tàu kéo cả cộng đồng đi theo. Cộng đồng số đông thì luôn đông đảo và cuồng tín, nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Đó phải là vấn đề của các cá nhân.

Tôi muốn nói dài dòng như vậy, vì cho rằng phải đánh giá một cách khách quan và từ nguồn gốc vấn đề nào đó để khen và chê, mặc dù chỉ là của tôi, nhưng phải có lập luận rõ ràng. Tôi không có thói quen một chiều khen ngợi hoặc chê bai không lý do chứng minh. Tôi nhớ nước Nga vì tôi đã gửi thời tuổi trẻ ở đó. Tuổi trẻ ở đâu thì đó là kỷ niệm theo suốt đời. Vì vậy tôi nói rằng có 2 quê hương. Thời thơ ấu sống dưới mái nhà cha mẹ là một trải nghiệm quan trọng và quyết định nên phần lớn tính cách. Vì thế mà ta đi đâu góc bể chân trời cũng không thể quên hương vị món ăn quê nhà, cùng những điệu hò vè ca dao, nếu được giáo dục trong môi trường có văn hóa. Còn khi vào tuổi thanh niên, nếu tôi không sang Nga mà lại sang Anh chẳng hạn, thì tôi lại nhớ nước Anh. Còn nhớ và thích, đến yêu là các chuyện khác nhau cho một đối tượng. Có thể tôi ở Anh, nhưng vẫn thích nước Nga theo một nghĩa nào đó. Nhưng đó là giả sử, một yếu tố cần cho việc lập luận.

Thế còn từ “yêu”? Đó là một từ đẹp và đắt giá, trong mọi ngôn ngữ của mọi dân tộc. Người ta có thể yêu một người con gái cụ thể, yêu một lý tưởng, yêu một quê hương mình và yêu đất nước mình hoặc một đất nước khác. Cũng có thể yêu Con Người nói chung, vì đó là yêu cuộc sống, trong đó có cuộc sống của mình. Đó cũng là tình yêu của các Vĩ Nhân - các Cá Nhân lớn. Khi tình yêu vượt ra khỏi ranh giới của những con người cụ thể, và những ranh giới quốc gia cụ thể, thì đó là tình yêu lớn. Vì vậy mà các công việc mà các Cá Nhân Lớn đã làm trở nên phổ quát và có những giá trị chung cho toàn nhân loại, mà dân tộc nào cũng hiểu và tiếp thu được. Vì vậy những lời yêu vì rất quý giá nên cần được tiết kiệm. Một tình yêu đẹp nhất là yêu trong sự im lặng. Lòi nói nhiều ý nghĩa nhất là lời nói của sự kiệm lời và im lặng. Khi ta nghe một bản nhạc hay, gặp một hành động đẹp, sự xúc động lên quá mức đến không thể nói gì, mọi lời nói lúc ấy đều là thừa, đó chính là vẻ đẹp của sự yên lặng. Mọi trạng thái bốc đồng đều nên qua nhanh và cần trở về trạng thái điềm tĩnh yên lặng, tránh phung phí chữ yêu quý giá này, và sẽ là yêu một cách sâu sắc..
 
Back
Top