Nhớ nước Nga
New member
Câu chuyện của Thaovietnam kể thật là hay. Thời đó và có lẽ cả thời nay, có lẽ những người Nga sẵn lòng giúp đỡ chúng ta như vậy vẫn còn nhiều, và là những việc rất bình thường, như một con người thì đương nhiên phải làm như thế với đồng loại. Tuy nhiên việc đó ở nước ta có lẽ hiếm đến mức phải đáng được tuyên dương cổ vũ, vì rất nhiều người ở nước ta đã trở nên thờ ơ vô cảm, thậm chí là độc ác, và còn bao nhiêu trò kiêu ngạo rởm đời khác nữa của bọn trọc phú, sự tinh tướng của lũ thanh niên đua đòi, thói đóng kịch giả vờ của phần lớn mọi người. Họ quên mât một điều rằng chỉ cần một hành động quan tâm đơn giản như vậy, và nếu mỗi người đều cố gắng học lại cách sống như vậy, có thể làm người khác cảm thấy ấm áp và cố sống sao cho tử tế hơn.
4. NHỮNG NGÀY TẾt TÂY.
Khoảng gần đến ngày Noel, thì ở quảng trường trung tâm của thành phố chúng tôi có xe tải chở tuyết đến, dồn thành từng khối to như cái nhà và ép lại thành băng. Các nhà điêu khắc bắt tay vào việc tạc tượng. Nguyên một cây thông lớn, cao chừng 12m cũng được mang tới. Lại còn xe tải chở các cành thông nhỏ mới chặt trong rừng để bán cho dân chúng mua về cũng đậu và bán hàng ở đây. Có năm Tết còn có xe tải bán hàng lưu động – các mặt hàng thời trang khan hiếm thỉnh thoảng mới có ở vùng này – như quần áo giày mũ khăn lông của Moskva sản xuất, hoặc các nước Đông Aâu, đẹp và đắt hơn hàng của địa phương tự sản xuâát. Còn các magazin trong những ngày này thì chăng các bông tuyết bằng xốp và quả bóng màu lâáp lánh, không khí đã rất lễ hội. Hàng hóa có vẻ nhiều hơn, chủ yếu là các vật dùng để trang trí, thức ăn và nhất là rượu Vodka, Champagne.
Vậy là đến ngày Noel (tuy nhiên vùng tôi không gọi là Noel – vì không có ai theo Thiên Chúa giáo, và không có nhà thờ – mà gọi là đón năm mới) thì tại trung tâm thành phố đã hiên ra khung cảnh lễ Tết với một cây thông to cao ngất với đèn trang trí rực sáng, cùng các lâu đài cổ tích, cầu trượt bằng băng. Một bù nhìn Tuyết cao 5m với mũi đỏ chót, tay cầm chổi đứng cạnh ông già Tuyết mặc áo đỏ cao 8 m, cùng một đàn bẩy chú lùn và nàng Bạch Tuyết, tất cả đều bằng băng. Những buổi tối cho đến trước Tết Tây, trẻ em kéo ra đây chơi rất đông, còn người lớn – nhất là đàn ông Nga – thì đã say mèm trong xưởng hoặc ở nhà của họ.
Trong các xưởng của nhà máy chúng tôi, mỗi xưởng cũng có một cây thông nhỏ đặt tại vị trí rộng thoáng nhất trong xưởng, với bóng màu treo lủng lẳng và rắc xốp làm giả tuyết. Việc trang trí này do các chị em Nga phòng hành chính của xưởng làm, chỉ việc lấy các vật trang trí của xưởng từ năm ngoái ra dùng lại. Cũng những ngày này nhà máy xẻ thịt lợn tươi – do nhà máy tự có xưởng chăn nuôi – và bán phân phối cho từng xưởng với giá rẻ. (Tất nhiên thịt ngoài cửa hàng cũng có bán ê hề nhưng là đồ đông lạnh nên không ngon). Thịt được chia đều từng phần và tổ chức gắp thăm, mọi người đều hoan hỉ. Lúc này cũng là lúc công nhân Nga thường xuyên năn nỉ vay tiền công nhân Việt để mua rượu uống, hẹn kỳ lương sẽ trả. Vậy là cứ từng tốp công nhân Nga cứ dấm dúi đằng sau các máy công cụ, rót rất công bằng mỗi lần 100 gam rượu uống với cá xông khói hay mỡ muối, ai góp nhiều thì uống nhiều, ai góp ít tiền thì sau vài lượt 100 gam đã hết phần, đành tự rút lui. Cứ như vậy, uống một lát lại ra làm, chốc lại vào làm một tua, đến chiều vợ đến lấy thịt mang về, còn họ lại ở lại gạ nhau góp tiền uống nữa có khi đến khuya. Công nhân Việt Nam thì cũng về ký túc xá, làm nem cuốn chả và đánh chén đón Tết Tây tơi bòi, sau đó là đánh bạc.
5. NHỮNG NGÀY THƯỜNG.
Về chuyện đánh bạc, có lẽ đó là thú giải trí nghèo nàn nhưng hăng say nhất của nhiều nam công nhân Việt ở ký túc xá sau giờ làm việc. Do ít hòa nhập được với xã hội Nga (chỉ một thiểu số có tiếng Nga khá bởi yêu được gái Nga là có thể hòa nhập - thậm chí sống hẳn tại nhà bố mẹ vợ Nga), phần lớn còn lại do trình độ văn hóa thấp, lại sẵn có môi trường sống quần tụ với nhau, nên các ngày nghỉ là tổ chức đánh bạc. Bản thân tôi và các bạn phòng tôi không thích và không từng đánh bạc bao giờ, nhưng biết rất rõ, vì đôi lúc các phòng khác có thâm niên tổ chúc đánh bạc và bị đội trưởng nắm rõ, nên chuyển qua các phòng ít bị nghi ngờ khác để đánh bạc. Vậy là phòng tôi đôi khi lén lút cho họ vào chơi và phục vụ nưóc uống, thuốc lá và thu tiền phục vụ (gọi là cân hồ). Họ đánh bạc bằng hình thức bát úp xóc đĩa, số tiền trong cuộc chơi từ vài trăm cho đến hàng ngàn rup khi lên cơn khát nước. Thu tiền cân hồ mỗi đêm có thể một vài trăm rup, nhưng các đêm đó là rất mệt, thằng ngủ thằng thức cứ nghe thì thầm rì rào như họp hội kín, và phòng thì mịt mờ khói thuốc lá. Sáng hôm sau khi tàn cuộc, kẻ thì cười, người thì mặt mũi thiểu não, nhưng tất cả đều bơ phờ xám ngoét vì thiếu ngủ. Chúng tôi vẫn đi làm được nhưng bọn đánh bạc có ngưòi phải bị progul (nghỉ việc không lý do). Sau vài lần như thế, phòng chúng tôi không phục vụ đánh bạc kiểu đó nữa vì rất mệt và tôi thấy thực sự đó không còn là một thú chơi nữa mà là sát phạt, rất vớ vẩn và đã xảy ra nhiều chuyện phức tạp. Các chuyên gia đánh bạc lại kéo đi tổ chức sới ở các phòng khác. Đã có xảy ra tranh cãi sát phạt ở các sới khác và có đâm chém đổ máu thực sự, tuy chưa có án mạng nhưng sau đó các đại ca giang hồ đã phải về nước trước thời hạn. Đến khi chuẩn bị lên đường, lại nhã nhặn sang các phòng xin lỗi, mọi người góp cho ngưòi thì ít tiền, người thì cái bàn là... gọi là có cái để không mang tiếng về nước tay trắng.
Chúng tôi thường ăn một bữa tại nhà ăn theo kiểu Nga, bữa ăn thường là pervui gồm xúp, satlad, món thứ hai gồm thịt và khoai tây nghiền và bánh mì, 1 cốc polnui smetana, cuối cùng là trà hoặc nước hoa quả. Một bữa ăn như thế hết chừng trên 1 rup. Ăn sáng thì ít hơn vì chỉ 1 cốc smetana và trứng cùng xalad chỉ hết 50 kopek. Bữa tối chúng tôi góp tiền chung nhau và thay phiên nấu ăn theo kiểu Việt tại ký túc xá. Gạo rất rẻ, chừng 40 kopek 1 kg. Cá đông lạnh, thịt heo, gà đông lạnh và kolbasa là các thứ thường bán ở đây, được chế biến theo kiểu Việt Nam. Về sau chúng tôi còn tìm cách làm món bánh phở bằng cách trộn bột mì và trứng rồi cán mỏng và cắt thành bánh. Thỉnh thoảng có chị em Việt đồng hương HN ở thành phố bên đến chơi thì để mặc chị em làm, đến giờ chỉ việc dậy ăn thật là sướng - phụ nữ thì luôn đảm đang. Bình thường thì phân công đã rõ ràng, thằng đi chợ, thằng nấu ăn thằng rửa bát cứ việc mình đến phiên mà làm.
Công nhân từ nhiều vùng của Việt nam sang đây tập trung lại sống với nhau, tính nết đa dạng phong phú và có nhiều cái cũng buồn cười. Có người ở quê nên có những tên nghe rất lạ tai như Thúng Mủng Lúa Rựa Cuốc Măng Miến Cục Hòn vv..sau nghe quen rồi cũng bình thường, họ rất bộc trực và tốt. Có người lại rất điệu đàng, ra đường phải xức nuớc hoa, nói năng lịch sự một cách rất kịch (cho giống như Tây!!), có người lại thô lỗ ào ào, có thằng trịnh trọng nề nếp như một ông chủ tịch xã con. lại còn có thằng khi mới sang chưa biết là hâm, một thời gian sau độ hâm mới tăng lên trông thấy, đến khi gần về thì chuyển sang điên nặng. Khi phòng tôi đang thời kỳ học tiếng, chưa biết hết mọi người trong ký túc, một hôm có một thằng rất trắng trẻo cao lớn trịnh trọng sang, đường hoàng giới thiệu tên M (sorry đã đổi tên), trước đây đã từng là Bí thư Đoàn phường tại VN, muốn làm quen với các bạn. Chúng tôi hơi ngạc nhiên vì thấy trịnh trọng quá, nhưng vẫn nghe chuyện. Nói chuyện lung tung lẩm cẩm một hồi thì đề nghị hát tặng các bạn vài bài. Thế là nó ngồi một mình say sưa hát 5 bài liền, còn chúng tôi phải chui vào phòng ngủ hoặc chui xuống gầm bàn cười lăn lộn bò lê bò càng mà không dám cười thành tiếng, và nó thì không để ý gì. (Đến hồi gần về nước, nó bị phát bệnh nặng, thể hoang tưởng vĩ nhân và luôn lo sợ người khác bỏ thuốc độc ám sát mình. Lúc đầu chưa nặng quá nó vẫn đi làm, nhưng Tây và ta đều biết. Có một hôm ăn trưa, một thằng Tây giả vờ quăng một nhúm muối vào đĩa xúp của nó, thế là nó quáng quàng quăng đĩa xúp và bỏ chạy, hôm đó nghỉ làm hôm sau không dám đến nhà máy và lên cơn nói lảm nhảm suốt đêm. Vài tháng sau đưọc đưa đi chữa bệnh và đưa thẳng về nước trước thời hạn.
6. NHỮNG NGÀY ĐI THU HOẠCH NÔNG TRANG.
Mỗi năm 2 lần, vào mùa hè và mùa đông, nhà máy tổ chức cho công nhân đi cắt cỏ và cắt khoai tây bắp cải giúp nông trang. Đi thay phiên nhau toàn nhà máy, mỗi xưởng cử một nhóm Nga và Việt đi một tốp, còn lại ở xưởng làm bình thường, tốp kia về xưởng thì tốp khác đi thay. Mỗi lần đi như vậy là nửa tháng hoặc hơn (và toàn bộ vụ thu hoạch kéo dài đến gần tháng rưỡi). Tôi rất thích được đi như vậy vì như đi dã ngoại, làm mà như chơi, hòa minh trong thiên nhiên Nga. (Nhưng có một số đứa lại không thích thế, vì đi như thế chỉ tính lương công nhật, trong khi chúng nó làm trong xưởng ăn theo sản phẩm được nhiều tiền hơn - nhưng có lẽ bây giờ chúng nó cũng đã tiếc, vì giờ đây nhớ lại như vậy, dù có tiền nhiều cũng không có lại những ngày giữa thiên nhiên bao la như thế đưọc nữa).
Những ngày đi cắt cỏ khô thường chia làm nhiều đợt liên tiếp nhau cho đến hết mùa hè, bắt đầu vào tháng 6, khi nắng hè đã chói chang và lá bạch dương đã không còn xanh non mơn mởn như cuối mùa xuân nữa, mà chuyển sang màu xanh tươi mát rượi đang độ đẹp viên mãn nhất trong muà hè. Lúc này các công nhân nam to khỏe người Nga đã xuống từ trước. làm lều trại vải bạt và đóng đô hẳn ở đó suốt 4 tháng hè, người đỏ au rám nắng, cả ngày cởi trần trùng trục mặc cho ruồi đồng cỏ to như những con ve sầu vo ve hút máu, và lái máy cắt cỏ, máy đóng gói cỏ và xe tải. Sau một ngày làm việc như thế, tối chui vào lều, họ chơi domino với nhau, đánh đàn ghita và uống rượu. Công nhân Việt chúng tôi cùng với các công nhân nữ người Nga, và các cô văn phòng hành chính Nga xinh đẹp, cứ sáng sáng tập trung trước cổng nhà máy lúc 6h sáng hè vẫn còn mát mẻ, đón xe nhà máy xuống cánh đồng cách xa gần 50km, chiều tối xe lại chở về, mai lại đi tiếp.
Xe chạy xuống đến nơi đã là 8h. Cả một không gian bao la với đồi và đồng cỏ điệp trùng, rừng bạch dương thoai thoải mọc trên các triền đồi, và cỏ lau bạt ngàn. máy cắt cỏ đã vun thành từng đống nhỏ. Nhiệm vụ chúng tôi là vun thành từng đống cỏ tươi lớn, chờ máy đóng gói đến và xúc vào máy cho đóng ra thành những bó cỏ vuông vắn, chuyển lên xe tải để chở về nông trang phơi khô làm thức ăn gia súc. Chúng tôi chia thành từng nhóm nhỏ với các cô gái xinh đẹp người Nga, mỗi tốp chừng 6 người, lúc đầu các nhóm còn tập trung làm gần nhau. sau đó cứ mải theo các luống cắt leo dần lên đỉnh đồi, vài tiếng sau ngoảnh lại nhìn thì đã thấy thung lũng xa tít phía dưới, còn ở trên này là bạt ngàn rừng bạch dương xanh mát mảnh dẻ đang rì rào trên đầu, yên tĩnh như ngàn đời nay vẫn thế, như nơi đây chưa từng có dấu con người. Xe đóng gói còn lâu mới tới. Thế là chúng tôi quẳng lại cào cỏ đấy, cùng các cô gái Nga đi hái quả phúc bồn tử và ăn cho đến đỏ lòe cả miệng, rồi nằm trên cỏ dưới tán bạch dương mà hỏi chuyện và trêu chọc tán tỉnh nhau, lắm khi quên cả tiếng dưới kia gọi í ới xuống ăn trưa mà nghe trên này xa quá chỉ văng vẳng như tiếng vọng lại xa vời mà thôi. Hoa đồng nội ở đây cũng mọc nhiều vô kể.
Cũng có khi không xuống ăn trưa, vì ai cũng mang theo thức ăn khô là kolbasa, hành tây và bánh mì, cà chua và nước trong túi dết cả rồi, nên ăn luôn tại chỗ không xuống, nếu xuống chỉ là vì cần lấy thêm nước. Thế là có khi chúng tôi ở trên đỉnh đồi, hết đồi này trèo qua đồi khác, hoặc trong một thung lũng nào đó, đến chiều mới xuống để ra về. Chúng tôi cũng cởi trần làm việc và quấn áo vào ngang lưng, cũng bị ruồi đồng cỏ đốt sưng người, nhưng sau nửa tháng như vậy phải về lại xưởng, hầu như ai cũng tiếc rẻ, và người thằng nào cũng đỏ hồng lên như tôm luộc, thật là thoải mái mạnh khỏe. Lại chờ đến tháng sau đi tiếp lượt nữa, có khi một vụ hè phải đi vài ba lần.
Cứ như thế qua hết mùa hè vui vẻ. Muà thu lá vàng úa thì không đi nông trang nào nữa mà làm tại xưởng. Nhưng chẳng mấy chốc đã lại đến cuối tháng 9. Thế là đã sắp sang đông. Lúc này bầu trời đã ngả một màu xám chì u ám và lạnh, đã phải mặc áo kurtka và áo len rồi, nhưng vẫn chưa có tuyết. Những ngày này chúng tôi lại đi thu hoạch khoai tây và bắp cải. Thu hoạch những thứ này chỉ phải đi một lần duy nhất trong nửa tháng liên tục mà thôi, vì phải làm gấp trước khi tuyết rơi xuống. Lúc này trên cánh đồng khoai tây, đất đã hơi rắn lại vì lạnh. Cánh đồng rộng mênh mông và cũng cong vồng lên theo triền đồi. Chúng tôi đi dưới đất, theo xe gặt liên hợp, bên cạnh là một xe tải đi song song chạy chậm. Xe liên hợp xúc gàu xuống luống khoai, cả đất và khoai theo băng chuyên lên máng đang rung bần bật trên xe, vậy là đất rụng sang một máng khác và rơi trở lại đất, còn khoai tây rụng ra khỏi đất và sang máng khác rồi phun thẳng sang xe tải bên cạnh. Việc dưới đất của chúng tôi là nhặt mót những củ khoai còn sót mà máy liên hợp chưa xúc hết và tập trung lại thành từng đống nhỏ, chờ xe tải khác chạy qua và vét nốt. Cứ nhẩn nha nhặt như thế, có khi xe gặt liên hợp đã chạy trước mất hút bên kia cánh đồng không còn nghe thấy tiếng xe nữa, thế là chúng tôi cả Tây lẫn ta ngồi lại, đốt một đống lửa ngồi co ro vây quanh sưởi ấm, nhặt khoai tây ném vào lửa, nướng lên và ăn nóng. Cũng có khi gần đến giờ ăn trưa, lấy đồ nguội ra ăn luôn quanh đống lửa, mặc cho xung quanh gió lạnh thổi vù vù và nền trời thì xám xịt nặng nề. Lúc ấy thể nào cũng có rượu Vodka của Tây mang theo, và công nhân Việt Nam cũng thế. Tất cả xúm lại ăn uống trò chuyện, nhưng phần ai của người ấy rất rõ ràng, kể cả rượu. Có khi Tây uống hết trước, lại qua chúng tôi gạ chia sẻ cho vài trăm gram Vodka. Cảm giác cắt cỏ mùa hè là cảm giác của sự lãng mạn, tươi trẻ bừng bừng, sôi nổi, nhưng cảm giác đi thu hoạch khoai tây mùa đông cũng đặc biệt không kém. Đó là cảm giác của sự vắng lạnh hoang vu thê lương khi một nhóm nhỏ ngồi quanh đống lửa trên cánh đồng ảm đạm mênh mông, cảm giác cô đơn ngàn năm khi chỉ có một đống lửa nhỏ giữa trời đất bao la một màu xám nặng nề. Đó là do tôi cảm nhận thế, không biết những người khác có thấy giống như thế không. Có thể do tôi quá nhạy cảm. Nó cũng giống như cảm giác khi ta một mình đứng trước biển.
Cũng có khi chúng tôi không đi dưới đất theo xe, mà đứng hẳn trên xe. Đứng theo hai bên sườn xe gặt đập, mỗi bên có 4 người, ở giữa là băng chuyền. Chỉ việc nhanh mắt nhanh tay nhặt những củ khoai tây nếu nó chưa kịp rụng ra khỏi đất, và ném nó sang băng chuyền khoai tây để phun vào xe tải. Cũng không vất vả, vừa làm vừa trò chuyện với Tây rôm rả, nếu có củ khoai nào không kịp nhặt, lại lẫn sang băng chuyền đất thì lại rơi xuống đất, và tốp dưới đất sẽ nhặt được.
Cứ như thế, đến chiều về thành phố, cả Tây lẫn ta đều xách theo một túi khoai tây to tham ô mang về. Chỉ là tiện thể cho vui, không đáng bao tiền vì ngoài cửa hàng có vài chục xu một kg. Đi bắp cải thì lại xách về bắp cải. Chỉ có đi cắt cỏ thì không mang cỏ về, mà chén phúc bồn tử ngay tại chỗ. Những ngày đi nông trang như thế cũng là những ngày sung sướng với thiên nhiên trong đời công nhân của tôi.
(Ở khu dân cư trong thành phố vùng này, thường ở ven rìa thành phố, nhà người Nga nào cũng có một gara xe ô tô và một hầm khoai tây bên cạnh đó, làm ngầm dưới đất và có ống thông hơi phía trên. Họ tích trữ khoai tây trong đó hàng tấn để ăn dần quanh năm cho cả nhà).
4. NHỮNG NGÀY TẾt TÂY.
Khoảng gần đến ngày Noel, thì ở quảng trường trung tâm của thành phố chúng tôi có xe tải chở tuyết đến, dồn thành từng khối to như cái nhà và ép lại thành băng. Các nhà điêu khắc bắt tay vào việc tạc tượng. Nguyên một cây thông lớn, cao chừng 12m cũng được mang tới. Lại còn xe tải chở các cành thông nhỏ mới chặt trong rừng để bán cho dân chúng mua về cũng đậu và bán hàng ở đây. Có năm Tết còn có xe tải bán hàng lưu động – các mặt hàng thời trang khan hiếm thỉnh thoảng mới có ở vùng này – như quần áo giày mũ khăn lông của Moskva sản xuất, hoặc các nước Đông Aâu, đẹp và đắt hơn hàng của địa phương tự sản xuâát. Còn các magazin trong những ngày này thì chăng các bông tuyết bằng xốp và quả bóng màu lâáp lánh, không khí đã rất lễ hội. Hàng hóa có vẻ nhiều hơn, chủ yếu là các vật dùng để trang trí, thức ăn và nhất là rượu Vodka, Champagne.
Vậy là đến ngày Noel (tuy nhiên vùng tôi không gọi là Noel – vì không có ai theo Thiên Chúa giáo, và không có nhà thờ – mà gọi là đón năm mới) thì tại trung tâm thành phố đã hiên ra khung cảnh lễ Tết với một cây thông to cao ngất với đèn trang trí rực sáng, cùng các lâu đài cổ tích, cầu trượt bằng băng. Một bù nhìn Tuyết cao 5m với mũi đỏ chót, tay cầm chổi đứng cạnh ông già Tuyết mặc áo đỏ cao 8 m, cùng một đàn bẩy chú lùn và nàng Bạch Tuyết, tất cả đều bằng băng. Những buổi tối cho đến trước Tết Tây, trẻ em kéo ra đây chơi rất đông, còn người lớn – nhất là đàn ông Nga – thì đã say mèm trong xưởng hoặc ở nhà của họ.
Trong các xưởng của nhà máy chúng tôi, mỗi xưởng cũng có một cây thông nhỏ đặt tại vị trí rộng thoáng nhất trong xưởng, với bóng màu treo lủng lẳng và rắc xốp làm giả tuyết. Việc trang trí này do các chị em Nga phòng hành chính của xưởng làm, chỉ việc lấy các vật trang trí của xưởng từ năm ngoái ra dùng lại. Cũng những ngày này nhà máy xẻ thịt lợn tươi – do nhà máy tự có xưởng chăn nuôi – và bán phân phối cho từng xưởng với giá rẻ. (Tất nhiên thịt ngoài cửa hàng cũng có bán ê hề nhưng là đồ đông lạnh nên không ngon). Thịt được chia đều từng phần và tổ chức gắp thăm, mọi người đều hoan hỉ. Lúc này cũng là lúc công nhân Nga thường xuyên năn nỉ vay tiền công nhân Việt để mua rượu uống, hẹn kỳ lương sẽ trả. Vậy là cứ từng tốp công nhân Nga cứ dấm dúi đằng sau các máy công cụ, rót rất công bằng mỗi lần 100 gam rượu uống với cá xông khói hay mỡ muối, ai góp nhiều thì uống nhiều, ai góp ít tiền thì sau vài lượt 100 gam đã hết phần, đành tự rút lui. Cứ như vậy, uống một lát lại ra làm, chốc lại vào làm một tua, đến chiều vợ đến lấy thịt mang về, còn họ lại ở lại gạ nhau góp tiền uống nữa có khi đến khuya. Công nhân Việt Nam thì cũng về ký túc xá, làm nem cuốn chả và đánh chén đón Tết Tây tơi bòi, sau đó là đánh bạc.
5. NHỮNG NGÀY THƯỜNG.
Về chuyện đánh bạc, có lẽ đó là thú giải trí nghèo nàn nhưng hăng say nhất của nhiều nam công nhân Việt ở ký túc xá sau giờ làm việc. Do ít hòa nhập được với xã hội Nga (chỉ một thiểu số có tiếng Nga khá bởi yêu được gái Nga là có thể hòa nhập - thậm chí sống hẳn tại nhà bố mẹ vợ Nga), phần lớn còn lại do trình độ văn hóa thấp, lại sẵn có môi trường sống quần tụ với nhau, nên các ngày nghỉ là tổ chức đánh bạc. Bản thân tôi và các bạn phòng tôi không thích và không từng đánh bạc bao giờ, nhưng biết rất rõ, vì đôi lúc các phòng khác có thâm niên tổ chúc đánh bạc và bị đội trưởng nắm rõ, nên chuyển qua các phòng ít bị nghi ngờ khác để đánh bạc. Vậy là phòng tôi đôi khi lén lút cho họ vào chơi và phục vụ nưóc uống, thuốc lá và thu tiền phục vụ (gọi là cân hồ). Họ đánh bạc bằng hình thức bát úp xóc đĩa, số tiền trong cuộc chơi từ vài trăm cho đến hàng ngàn rup khi lên cơn khát nước. Thu tiền cân hồ mỗi đêm có thể một vài trăm rup, nhưng các đêm đó là rất mệt, thằng ngủ thằng thức cứ nghe thì thầm rì rào như họp hội kín, và phòng thì mịt mờ khói thuốc lá. Sáng hôm sau khi tàn cuộc, kẻ thì cười, người thì mặt mũi thiểu não, nhưng tất cả đều bơ phờ xám ngoét vì thiếu ngủ. Chúng tôi vẫn đi làm được nhưng bọn đánh bạc có ngưòi phải bị progul (nghỉ việc không lý do). Sau vài lần như thế, phòng chúng tôi không phục vụ đánh bạc kiểu đó nữa vì rất mệt và tôi thấy thực sự đó không còn là một thú chơi nữa mà là sát phạt, rất vớ vẩn và đã xảy ra nhiều chuyện phức tạp. Các chuyên gia đánh bạc lại kéo đi tổ chức sới ở các phòng khác. Đã có xảy ra tranh cãi sát phạt ở các sới khác và có đâm chém đổ máu thực sự, tuy chưa có án mạng nhưng sau đó các đại ca giang hồ đã phải về nước trước thời hạn. Đến khi chuẩn bị lên đường, lại nhã nhặn sang các phòng xin lỗi, mọi người góp cho ngưòi thì ít tiền, người thì cái bàn là... gọi là có cái để không mang tiếng về nước tay trắng.
Chúng tôi thường ăn một bữa tại nhà ăn theo kiểu Nga, bữa ăn thường là pervui gồm xúp, satlad, món thứ hai gồm thịt và khoai tây nghiền và bánh mì, 1 cốc polnui smetana, cuối cùng là trà hoặc nước hoa quả. Một bữa ăn như thế hết chừng trên 1 rup. Ăn sáng thì ít hơn vì chỉ 1 cốc smetana và trứng cùng xalad chỉ hết 50 kopek. Bữa tối chúng tôi góp tiền chung nhau và thay phiên nấu ăn theo kiểu Việt tại ký túc xá. Gạo rất rẻ, chừng 40 kopek 1 kg. Cá đông lạnh, thịt heo, gà đông lạnh và kolbasa là các thứ thường bán ở đây, được chế biến theo kiểu Việt Nam. Về sau chúng tôi còn tìm cách làm món bánh phở bằng cách trộn bột mì và trứng rồi cán mỏng và cắt thành bánh. Thỉnh thoảng có chị em Việt đồng hương HN ở thành phố bên đến chơi thì để mặc chị em làm, đến giờ chỉ việc dậy ăn thật là sướng - phụ nữ thì luôn đảm đang. Bình thường thì phân công đã rõ ràng, thằng đi chợ, thằng nấu ăn thằng rửa bát cứ việc mình đến phiên mà làm.
Công nhân từ nhiều vùng của Việt nam sang đây tập trung lại sống với nhau, tính nết đa dạng phong phú và có nhiều cái cũng buồn cười. Có người ở quê nên có những tên nghe rất lạ tai như Thúng Mủng Lúa Rựa Cuốc Măng Miến Cục Hòn vv..sau nghe quen rồi cũng bình thường, họ rất bộc trực và tốt. Có người lại rất điệu đàng, ra đường phải xức nuớc hoa, nói năng lịch sự một cách rất kịch (cho giống như Tây!!), có người lại thô lỗ ào ào, có thằng trịnh trọng nề nếp như một ông chủ tịch xã con. lại còn có thằng khi mới sang chưa biết là hâm, một thời gian sau độ hâm mới tăng lên trông thấy, đến khi gần về thì chuyển sang điên nặng. Khi phòng tôi đang thời kỳ học tiếng, chưa biết hết mọi người trong ký túc, một hôm có một thằng rất trắng trẻo cao lớn trịnh trọng sang, đường hoàng giới thiệu tên M (sorry đã đổi tên), trước đây đã từng là Bí thư Đoàn phường tại VN, muốn làm quen với các bạn. Chúng tôi hơi ngạc nhiên vì thấy trịnh trọng quá, nhưng vẫn nghe chuyện. Nói chuyện lung tung lẩm cẩm một hồi thì đề nghị hát tặng các bạn vài bài. Thế là nó ngồi một mình say sưa hát 5 bài liền, còn chúng tôi phải chui vào phòng ngủ hoặc chui xuống gầm bàn cười lăn lộn bò lê bò càng mà không dám cười thành tiếng, và nó thì không để ý gì. (Đến hồi gần về nước, nó bị phát bệnh nặng, thể hoang tưởng vĩ nhân và luôn lo sợ người khác bỏ thuốc độc ám sát mình. Lúc đầu chưa nặng quá nó vẫn đi làm, nhưng Tây và ta đều biết. Có một hôm ăn trưa, một thằng Tây giả vờ quăng một nhúm muối vào đĩa xúp của nó, thế là nó quáng quàng quăng đĩa xúp và bỏ chạy, hôm đó nghỉ làm hôm sau không dám đến nhà máy và lên cơn nói lảm nhảm suốt đêm. Vài tháng sau đưọc đưa đi chữa bệnh và đưa thẳng về nước trước thời hạn.
6. NHỮNG NGÀY ĐI THU HOẠCH NÔNG TRANG.
Mỗi năm 2 lần, vào mùa hè và mùa đông, nhà máy tổ chức cho công nhân đi cắt cỏ và cắt khoai tây bắp cải giúp nông trang. Đi thay phiên nhau toàn nhà máy, mỗi xưởng cử một nhóm Nga và Việt đi một tốp, còn lại ở xưởng làm bình thường, tốp kia về xưởng thì tốp khác đi thay. Mỗi lần đi như vậy là nửa tháng hoặc hơn (và toàn bộ vụ thu hoạch kéo dài đến gần tháng rưỡi). Tôi rất thích được đi như vậy vì như đi dã ngoại, làm mà như chơi, hòa minh trong thiên nhiên Nga. (Nhưng có một số đứa lại không thích thế, vì đi như thế chỉ tính lương công nhật, trong khi chúng nó làm trong xưởng ăn theo sản phẩm được nhiều tiền hơn - nhưng có lẽ bây giờ chúng nó cũng đã tiếc, vì giờ đây nhớ lại như vậy, dù có tiền nhiều cũng không có lại những ngày giữa thiên nhiên bao la như thế đưọc nữa).
Những ngày đi cắt cỏ khô thường chia làm nhiều đợt liên tiếp nhau cho đến hết mùa hè, bắt đầu vào tháng 6, khi nắng hè đã chói chang và lá bạch dương đã không còn xanh non mơn mởn như cuối mùa xuân nữa, mà chuyển sang màu xanh tươi mát rượi đang độ đẹp viên mãn nhất trong muà hè. Lúc này các công nhân nam to khỏe người Nga đã xuống từ trước. làm lều trại vải bạt và đóng đô hẳn ở đó suốt 4 tháng hè, người đỏ au rám nắng, cả ngày cởi trần trùng trục mặc cho ruồi đồng cỏ to như những con ve sầu vo ve hút máu, và lái máy cắt cỏ, máy đóng gói cỏ và xe tải. Sau một ngày làm việc như thế, tối chui vào lều, họ chơi domino với nhau, đánh đàn ghita và uống rượu. Công nhân Việt chúng tôi cùng với các công nhân nữ người Nga, và các cô văn phòng hành chính Nga xinh đẹp, cứ sáng sáng tập trung trước cổng nhà máy lúc 6h sáng hè vẫn còn mát mẻ, đón xe nhà máy xuống cánh đồng cách xa gần 50km, chiều tối xe lại chở về, mai lại đi tiếp.
Xe chạy xuống đến nơi đã là 8h. Cả một không gian bao la với đồi và đồng cỏ điệp trùng, rừng bạch dương thoai thoải mọc trên các triền đồi, và cỏ lau bạt ngàn. máy cắt cỏ đã vun thành từng đống nhỏ. Nhiệm vụ chúng tôi là vun thành từng đống cỏ tươi lớn, chờ máy đóng gói đến và xúc vào máy cho đóng ra thành những bó cỏ vuông vắn, chuyển lên xe tải để chở về nông trang phơi khô làm thức ăn gia súc. Chúng tôi chia thành từng nhóm nhỏ với các cô gái xinh đẹp người Nga, mỗi tốp chừng 6 người, lúc đầu các nhóm còn tập trung làm gần nhau. sau đó cứ mải theo các luống cắt leo dần lên đỉnh đồi, vài tiếng sau ngoảnh lại nhìn thì đã thấy thung lũng xa tít phía dưới, còn ở trên này là bạt ngàn rừng bạch dương xanh mát mảnh dẻ đang rì rào trên đầu, yên tĩnh như ngàn đời nay vẫn thế, như nơi đây chưa từng có dấu con người. Xe đóng gói còn lâu mới tới. Thế là chúng tôi quẳng lại cào cỏ đấy, cùng các cô gái Nga đi hái quả phúc bồn tử và ăn cho đến đỏ lòe cả miệng, rồi nằm trên cỏ dưới tán bạch dương mà hỏi chuyện và trêu chọc tán tỉnh nhau, lắm khi quên cả tiếng dưới kia gọi í ới xuống ăn trưa mà nghe trên này xa quá chỉ văng vẳng như tiếng vọng lại xa vời mà thôi. Hoa đồng nội ở đây cũng mọc nhiều vô kể.
Cũng có khi không xuống ăn trưa, vì ai cũng mang theo thức ăn khô là kolbasa, hành tây và bánh mì, cà chua và nước trong túi dết cả rồi, nên ăn luôn tại chỗ không xuống, nếu xuống chỉ là vì cần lấy thêm nước. Thế là có khi chúng tôi ở trên đỉnh đồi, hết đồi này trèo qua đồi khác, hoặc trong một thung lũng nào đó, đến chiều mới xuống để ra về. Chúng tôi cũng cởi trần làm việc và quấn áo vào ngang lưng, cũng bị ruồi đồng cỏ đốt sưng người, nhưng sau nửa tháng như vậy phải về lại xưởng, hầu như ai cũng tiếc rẻ, và người thằng nào cũng đỏ hồng lên như tôm luộc, thật là thoải mái mạnh khỏe. Lại chờ đến tháng sau đi tiếp lượt nữa, có khi một vụ hè phải đi vài ba lần.
Cứ như thế qua hết mùa hè vui vẻ. Muà thu lá vàng úa thì không đi nông trang nào nữa mà làm tại xưởng. Nhưng chẳng mấy chốc đã lại đến cuối tháng 9. Thế là đã sắp sang đông. Lúc này bầu trời đã ngả một màu xám chì u ám và lạnh, đã phải mặc áo kurtka và áo len rồi, nhưng vẫn chưa có tuyết. Những ngày này chúng tôi lại đi thu hoạch khoai tây và bắp cải. Thu hoạch những thứ này chỉ phải đi một lần duy nhất trong nửa tháng liên tục mà thôi, vì phải làm gấp trước khi tuyết rơi xuống. Lúc này trên cánh đồng khoai tây, đất đã hơi rắn lại vì lạnh. Cánh đồng rộng mênh mông và cũng cong vồng lên theo triền đồi. Chúng tôi đi dưới đất, theo xe gặt liên hợp, bên cạnh là một xe tải đi song song chạy chậm. Xe liên hợp xúc gàu xuống luống khoai, cả đất và khoai theo băng chuyên lên máng đang rung bần bật trên xe, vậy là đất rụng sang một máng khác và rơi trở lại đất, còn khoai tây rụng ra khỏi đất và sang máng khác rồi phun thẳng sang xe tải bên cạnh. Việc dưới đất của chúng tôi là nhặt mót những củ khoai còn sót mà máy liên hợp chưa xúc hết và tập trung lại thành từng đống nhỏ, chờ xe tải khác chạy qua và vét nốt. Cứ nhẩn nha nhặt như thế, có khi xe gặt liên hợp đã chạy trước mất hút bên kia cánh đồng không còn nghe thấy tiếng xe nữa, thế là chúng tôi cả Tây lẫn ta ngồi lại, đốt một đống lửa ngồi co ro vây quanh sưởi ấm, nhặt khoai tây ném vào lửa, nướng lên và ăn nóng. Cũng có khi gần đến giờ ăn trưa, lấy đồ nguội ra ăn luôn quanh đống lửa, mặc cho xung quanh gió lạnh thổi vù vù và nền trời thì xám xịt nặng nề. Lúc ấy thể nào cũng có rượu Vodka của Tây mang theo, và công nhân Việt Nam cũng thế. Tất cả xúm lại ăn uống trò chuyện, nhưng phần ai của người ấy rất rõ ràng, kể cả rượu. Có khi Tây uống hết trước, lại qua chúng tôi gạ chia sẻ cho vài trăm gram Vodka. Cảm giác cắt cỏ mùa hè là cảm giác của sự lãng mạn, tươi trẻ bừng bừng, sôi nổi, nhưng cảm giác đi thu hoạch khoai tây mùa đông cũng đặc biệt không kém. Đó là cảm giác của sự vắng lạnh hoang vu thê lương khi một nhóm nhỏ ngồi quanh đống lửa trên cánh đồng ảm đạm mênh mông, cảm giác cô đơn ngàn năm khi chỉ có một đống lửa nhỏ giữa trời đất bao la một màu xám nặng nề. Đó là do tôi cảm nhận thế, không biết những người khác có thấy giống như thế không. Có thể do tôi quá nhạy cảm. Nó cũng giống như cảm giác khi ta một mình đứng trước biển.
Cũng có khi chúng tôi không đi dưới đất theo xe, mà đứng hẳn trên xe. Đứng theo hai bên sườn xe gặt đập, mỗi bên có 4 người, ở giữa là băng chuyền. Chỉ việc nhanh mắt nhanh tay nhặt những củ khoai tây nếu nó chưa kịp rụng ra khỏi đất, và ném nó sang băng chuyền khoai tây để phun vào xe tải. Cũng không vất vả, vừa làm vừa trò chuyện với Tây rôm rả, nếu có củ khoai nào không kịp nhặt, lại lẫn sang băng chuyền đất thì lại rơi xuống đất, và tốp dưới đất sẽ nhặt được.
Cứ như thế, đến chiều về thành phố, cả Tây lẫn ta đều xách theo một túi khoai tây to tham ô mang về. Chỉ là tiện thể cho vui, không đáng bao tiền vì ngoài cửa hàng có vài chục xu một kg. Đi bắp cải thì lại xách về bắp cải. Chỉ có đi cắt cỏ thì không mang cỏ về, mà chén phúc bồn tử ngay tại chỗ. Những ngày đi nông trang như thế cũng là những ngày sung sướng với thiên nhiên trong đời công nhân của tôi.
(Ở khu dân cư trong thành phố vùng này, thường ở ven rìa thành phố, nhà người Nga nào cũng có một gara xe ô tô và một hầm khoai tây bên cạnh đó, làm ngầm dưới đất và có ống thông hơi phía trên. Họ tích trữ khoai tây trong đó hàng tấn để ăn dần quanh năm cho cả nhà).