http://sacmauvanhoa.vdcmedia.com/VanXuoi-C.asp?PostID=5551
Tác giả: Trịnh Quốc Thắng
[size=18:f178586ea7]
Tuyết trắng[/size]
(Để tưởng nhớ người thầy kính mến của tôi Giáo sư – Viện sĩ. Trôphim Nhicôlaiêvic Tsai )
Tôi yêu nước Nga từ thuở ngồi trên ghế nhà trường phổ thông qua những câu chuyện tuyệt vời của Pautốpxki. Tôi yêu những cánh rừng Nga vàng rực nắng mùa thu, yêu những bông tuyết trắng bay bời bời như trong chuyện cổ tích. Tôi yêu những đêm trắng ở thành Lêningrát và bài hát Chiều Mátxcơva… và cũng đã bao nhiêu lần, tôi mơ về nước Nga xa xôi ấy. Tôi đã xây dựng cho mình một nước Nga riêng, một nước Nga trong tưởng tượng: ngọt ngào và bình dị. Tôi yêu những người Nga đôn hậu, thông minh và dũng cảm qua các bộ phim Khi đàn sếu bay qua, Thép đã tôi thế đấy… và chính họ là những người bạn, những người anh hùng đã cổ vũ cho những lớp người thuộc thế hệ chúng tôi dũng cảm vượt qua mọi gian khổ trong sản xuất và chiến đấu.
Tôi đã lớn lên trong nghèo khó và gian khổ, khi mà cuộc sống không còn hoàn toàn là những ngọt ngào, khi mà tuổi thanh xuân tươi đẹp phải cầm súng để bảo vệ Tổ quốc, khi mà tôi đã biết khóc những giọt nước mắt không phải vì hạnh phúc. Trong bom đạn của kẻ thù, tôi vẫn mơ về nước Nga, vẫn mơ đến một ngày nào đó tôi sẽ đến nước Nga, đi trong những cánh rừng Taiga vi vút gió, dòng suối róc rách chảy và làn khói vương vấn bên kia đồi. Nhưng chiến tranh thật là tàn khốc, trong một trận chiến đấu với kẻ thù, tôi đã bị thương. Từ chiến trường tôi được chuyển về miền Bắc để điều dưỡng. Sức khoẻ của tôi đã dần dần hồi phục, nhưng không còn đủ sức để tiếp tục chiến đấu được nữa. Tôi được Nhà nước cho đi học đại học và tôi đã thi đỗ vào Trường Đại học Xây dựng. Sau khi tốt nghiệp tôi được giữ lại làm cán bộ giảng dạy. Trường Đại học Xây dựng là một trường có quan hệ với nhiều trường đại học, của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Trường Đại học Xây dựng Mátxcơva. Số phận may mắn đã đến với tôi, sau nhiều năm giảng dạy, tôi đã được nhà trường cho đi làm nghiên cứu sinh ở nước Nga. Và thế là tôi đã đến nước Nga, được sống ở Mátxcơva những năm tháng tươi đẹp nhất của cuộc đời. Khi đó tôi không còn trẻ nữa, nhưng tình yêu nước Nga trong tôi vẫn còn nguyên vẹn. Tôi được sống, làm việc và gặp gỡ với những người Nga tốt bụng, những người mà trước kia tôi chỉ gặp trên phim ảnh và trong tiểu thuyết. Những ngày nghỉ hè, tôi có dịp lang thang khắp nước Nga. Tôi đã đến Krưm, đi dưới những hàng cây tiêu huyền cổ thụ ở công viên Livađia nơi có câu chuyện tình nổi tiếng trong truyện Tuyết của Pautốpxki. Tôi đã đi lang thang bên dòng sông Nêva vào những đêm trắng ở thành Lêningrát. Tôi đã đến Xôchi, bãi biển tràn đầy ánh nắng mặt trời và hát vang bài ca Chiều hải cảng. Tôi đã lên núi Cápcadơ để tưởng nhớ những vần thơ của Lécmôngtốp. Và Mátxcơva với Viện bảo tàng Puskin, viện bảo tàng tranh có bức Mùa thu vàng của Lêvitan.
http://www.agniart.ru/imgoods/H/012617/rylov-086.jpg
Белая ночь. Ночная заря. Рылов Аркадий Александрович. 1915
Đêm trắng.
Bây giờ dẫu đã 10 năm xa cách nhưng tôi vẫn luôn nhớ về nước Nga, Tổ quốc thứ hai của tôi. ở đấy gia đình tôi đã sống những ngày tháng thật là tươi đẹp. ở đấy tôi có những người bạn Nga, có gia đình giáo sư kính mến. Tôi nhớ như in từng ga xe điện ngầm tôi đã qua, nhớ căn phòng 317 ở toà nhà 11 tầng dành cho nghiên cứu sinh nước ngoài trong trường đại học.
Biết bao câu chuyện đáng nhớ, nhưng bây giờ ngồi viết lại một kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất về nước Nga, tôi nhớ lại cái đêm tuyết trắng ấy. Đã lâu lắm nước Nga mới lại có một trận rét như vậy, nhiệt độ –30oC. Chúng tôi đã tích trữ lương thực để không phải ra khỏi nhà trong một tuần. Căn phòng ấm áp thơm mùi thịt nướng. Qua hai lớp kính dầy, những bông tuyết không còn bay bay như những bông hoa trắng, mà tuyết ném xuống ào ào như mưa. Đường vào khu trường tôi ở từ bến xe buýt phải đi bộ đến hơn 1km phủ đầy tuyết đã đóng thành băng trơn nhẵn, rất ít người đi lại. Thật khổ cho những ai phải đi bộ trong cái lạnh thấu xương thế này. Đã 10 giờ đêm, kênh truyền hình đang diễn vở ba lê Hồ thiên nga nổi tiếng. Được nhấm nháp một ly vốtca với cá khô vùng sông Vônga, một chú vịt hun khói, một món ăn đậm chất quê Nga thật là thú vị.
Có tiếng gõ cửa, không biết ông bạn nào đến chơi vào đêm rét mướt này. Tôi mở cửa, một người tôi không quen biết, một gương mặt Nga như mọi người tôi đã gặp, áo măng tô, mũ lông, ủng da, không có gì đặc biệt, anh ta nói một hồi dài, một thứ tiếng Nga nhanh như gió đầy diễn cảm. Đại loại anh ta hỏi rằng tôi có phải họ tên như vậy không, đang làm nghiên cứu sinh với giáo sư Trôphim Nhicôlaiêvích Tsai phải không? Tôi trả lời đúng và hoàn toàn không hiểu anh ta hỏi vậy để làm gì? Anh ta rút từ chiếc cặp da to của anh ra quyển luận án viết tay của tôi, trao cho tôi và nói, đại ý anh ta làm việc ở một Viện nghiên cứu mà tôi cũng không kịp nhớ, phụ trách bàn ghế phông màn cho các cuộc hội họp. Tuần vừa rồi khi dọn dẹp phòng họp sau một hội nghị lớn, anh có nhặt được quyển luận án này, chắc là giáo sư đã bỏ quên trên ghế ngồi. Anh ta cũng đang học tại chức bên trường điện, nên anh ta hiểu rõ quyển này quan trọng như thế nào đối với tôi. Rất may trên tờ bìa tôi ghi rõ tên và địa chỉ nơi ở Trường Đại học Xây dựng Mátxcơva, viết tắt là MIXI, là một trường nổi tiếng nhiều người biết. Nhưng trường lại quá xa trung tâm, trên đường Iarôxlap, từ bến Mêtrô gần nhất Vêđenkha phải đi 7 bến xe buýt mới tới nơi. Vì vậy mãi đến hôm nay, sau khi đi học ban đêm về anh mới đến để trả lại cho tôi được.
Tôi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Tôi mời anh vào phòng để cám ơn anh ta và muốn tặng anh ta một thứ gì đó: Chiếc đồng hồ điện tử, chiếc áo kimônô cho vợ anh ta chẳng hạn. Khi biết được ý định của tôi, anh từ chối và nói đó là nhiệm vụ của anh ta, không cần cảm ơn, rằng anh ta rất vội. Tôi nói để tôi đưa tiền cho anh đi taxi nhưng anh ta nói taxi giờ này đắt lắm, Mêtrô thì vẫn mở cửa đến 1 giờ đêm. Rồi anh ta đi ngay sau một cái bắt tay thật chặt, một lời chúc ngủ ngon… Phải đến vài phút sau khi đã ở trong căn phòng ấm áp với chai rượu còn đầy trên bàn, tôi cứ tự trách mình sao không kéo bằng được anh ta vào phòng rồi hãy nói lời cám ơn, sao không để anh uống một ly vốtca rồi hãy hỏi điện thoại và địa chỉ, để một dịp khác đến thăm và cảm ơn. Nhưng câu chuyện diễn ra nhanh quá. Anh ta vụt đến, vụt đi như làn gió, khiến tôi không đủ bình tĩnh để làm các việc như sau này tôi nghĩ.
Câu chuyện như thế này: Sau bao lần sửa chữa, bản luận án viết tay của tôi đã hoàn tất. Hồi ấy máy phôtôcopy rất hiếm, nên tôi chỉ có một bản chính để đưa cho giáo sư đọc lại trước khi đi đánh máy. Giáo sư hẹn tôi một tuần sau sẽ trả lại. Mặc dù đã gần 70 tuổi nhưng ông làm việc rất nghiêm túc và chính xác, chưa bao giờ lỡ hẹn. Nhưng lần này, khi tôi gọi điện cho ông đến lấy luận án để đánh máy thì ông ngập ngừng rồi ông giải thích rằng tuần vừa rồi ông rất bận, rằng ngày nghỉ ông lại phải đi thăm đứa cháu… Ông hẹn tôi một vài ngày nữa sẽ gọi điện lại. Một lần hẹn không chắc chắn nhưng tôi không nghi ngờ gì ông. Mãi đến khi người thanh niên Nga đến trả lại tôi quyển luận án, tôi mới hiểu ông đang ở trong một tình thế khó xử. Có lẽ gần 12 giờ đêm tôi mới gọi điện cho ông, báo tin rằng tôi đã nhận lại được quyển luận án. Ông hẹn sáng mai mang đến cho ông.
Tôi đã đi trong cái lạnh –30oC của mùa đông Nga cả thành phố chìm trong mênh mông tuyết trắng, lạnh đến thấu xương mà gió vẫn không ngừng rít lên qua những hàng bạch dương tê cóng. Ban ngày mà trời vẫn xám, 10 giờ rồi mà đèn đường vẫn còn bật sáng. Tôi thầm cảm phục người bạn Nga không quen biết đã trả lại tôi quyển luận án, mà nếu như mất nó không biết số phận tôi sẽ ra sao.
Khi kể lại câu chuyện hết sức cảm động trên cho giáo sư nghe trong căn phòng ấm áp của ông, ông không có gì ngạc nhiên. Ông nói một cách bình thản:
- Nếu không phải anh ta thì sẽ có một người khác làm việc đó, một cô gái phục vụ nước hay một bà già dọn phòng chẳng hạn. Ai cũng sẽ xử sự như vậy vì họ là người Nga.
Ông xin lỗi đã làm tôi phải lo lắng và chờ đợi. Ông hứa chỉ đọc luận án của tôi ở nhà và hẹn tôi thứ 7 đến lấy. Được sự giúp đỡ của ông và nhiều giáo sư khác tôi đã hoàn thành và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ.
Tôi trở về nước, tiếp tục công việc dạy học của mình. Thời gian trôi đi nhanh quá và cuộc sống biết bao đổi thay. Con cái tôi dọn dẹp nhà. Chúng bỏ tất cả các cuốn sách Nga lại cho vào một chiếc thùng giấy, rồi cho lên gác xép. Tôi đi công tác về thấy căn phòng như rộng ra, nhưng một cái gì đó thật trống trải. Khi các con tôi khoe với tôi sáng kiến dọn dẹp và bố trí lại phòng ở, tôi không nói gì, một nỗi buồn dâng lên tràn ngập lòng mình. Tôi nhớ nước Nga xa xôi với biết bao câu chuyện vĩ đại và cảm động. Tôi nhớ giáo sư của tôi, một ông già tốt bụng và đáng kính, nhớ cả vợ của ông, một bà già Nga hiền hậu và đẹp, vẻ đẹp trìu mến dịu dàng, đẹp như tính cách người Nga mà tôi không tả được. Tôi nhớ cả những người tôi không biết tên và không còn nhớ mặt, nhớ chàng trai vượt qua bão tuyết và giá lạnh đem trả tôi quyển luận án để tôi thành đạt như ngày hôm nay, cùng biết bao nhiêu người Nga tuyệt vời khác đã giúp đỡ tôi. Nước Nga như chú gấu Misa đang ngủ trong mùa đông tuyết trắng. Rồi mùa xuân sẽ đến, băng giá sẽ tan, ánh mặt trời sẽ tràn đầy những cánh đồng mênh mông lúa mỳ và hoa chiupan đỏ thắm như trái tim chàng trai đang yêu. Nước Nga của Lômônôxốp, của Puskin, của Lênin vĩ đại, của những người dân Nga thông minh, đôn hậu và tốt bụng sẽ vượt qua cái giá lạnh của mùa đông phủ đầy tuyết trắng. Dù thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn vô cùng yêu quý nước Nga, vẫn mơ về nước Nga như một giấc mơ trong trẻo và tươi đẹp nhất.
(Báo Văn Nghệ)