NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ NỔI TIẾNG CỦA NƯỚC NGA

nthach11

New member
[size=18:90f15c4222][color=red:90f15c4222]Bà Hoàng nước Nga Olga[/color][/size]
Baptizm_of_Olga_Kirillov.jpg

[color=green:90f15c4222]Lễ rửa tội của nữ Hoàng Olga[/color]

[color=darkblue:90f15c4222]Trị vì nước Nga từ năm 954 đến 969
Bà Hoàng Olga trở thành nhiếp chính cho con trai Svyatoslav vào năm 954, bằng vụ mưu sát chồng - Hoàng thân Igor I của Kiev, những cuộc chiến triền miên và đẫm máu của ông ta đã đẩy nước Nga thời kỳ đó lâm vào tình trạng vô cùng kiệt quệ. Do vậy bà đã trực tiếp chấp pháp đối với ông ta và lên trị vì gần hai mươi năm sau, bà lập tức thực hiện bổ sung ngân khố và cải cách rất nhiều trên toàn bộ lãnh địa. Sau khi đã cải đạo sang Cơ Đốc giáo, bà Hoàng Olga sang thăm viếng đất nước Constantinople và vào năm 957 bà đã làm lễ rửa tội tại nơi này. Bà quay lại Nga với một lòng tin vào Chúa Giê-su mãnh liệt và bà đã cố gắng dẫn dắt muôn dân của bà theo vào đức Chính Thống. Đồng thời, bà cũng cử các công sứ đến Rome để thỉnh các tu sĩ trường dòng về giảng đạo cho dân chúng. Nhưng những nhà quí tộc không tin vào Cơ Đốc giáo dưới sự lãnh đạo của con trai bà – Hoàng tử Svyatoslav, họ đã cùng đứng lên chống lại Chúa Giê-su và cuối cùng các nỗ lực của bà bị thất bại. Svyatoslav cũng đã đích thân theo đạo Hồi, ban ngoại giao của Byzantium đã cảnh báo rằng đó sẽ là một mối đe dọa. Nhưng toàn bộ thế lực đã nằm trong tay, Olga đã tạo ra một phe phái đối kháng gồm toàn những người đang hướng nước Nga theo Cơ Đốc giáo.
Olga băng hà năm 969, người con trai ngoại đạo Hoàng tử Svyatoslav đã an táng bà theo đúng nghi thức của nhà thờ Cơ Đốc. Bà được cả hai đạo Thiên Chúa và Chính Thống phong Thánh của giáo hội. Ngày hội của bà vào ngày 11 tháng 7 hàng năm.
[/color]
http://famous.russian-women.net
 
[size=18:b8c6c3971c][color=red:b8c6c3971c]Sofia Alexeevna[/color][/size]
1657-1704
TC.2.3.5AlexeevaMd.GIF


14_Sofia_Alexeevna.jpg

[color=darkblue:b8c6c3971c]Trị vì nước Nga từ 1682 – 1689[/color]

[color=darkblue:b8c6c3971c]Sofia Alexeevna
Sinh ngày: 27/9/1657 tại Moscow
Băng hà ngày: 14/7/1704 tại tu viện Novodevich ở Moscow
Phụ thân: Alexei I Mihailovich Nga Hoàng (Sinh năm 1629)
Phụ mẫu: Maria Iljinichna Miloslavskaja (Sinh năm1626)
Sau khi Sa Hoàng Fedor Alexeevitch băng hà, tuy mới có 10 tuổi Peter Alexeevitch (sau này là Peter – Đại Đế) đã trở thành Hoàng đế nước Nga.
Nhưng có một người lại không muốn sự lựa chọn này, đó là Sofia. Bà đã bố trí một quân nhân là Streltsi đứng ra chống lại Peter, họ đã lẻn vào điện Kremlin giết chết cậu của Peter cùng viên quân cận thần Matveev của Vương mẫu ông ta và tuyên bố Ivan là nhiếp chính cho Nga Hoàng. Trên sự thật trong thời gian đó Peter và Ivan chỉ nắm những việc nghi lễ và các công việc chung chung, còn người thực sự nắm quyền hành là bà chị của họ; Sofia Alexeevna.
Bà tỏ ra là người cực kỳ mạnh mẽ, có giáo dục và là một người đàn bà khôn ngoan. Bà đã từng mơ ước trở thành một nữ Hoàng nước Nga. Tuy nhiên bà không bao giờ đạt được tước vị đó, nhưng trên các bức chân dung của bà thường được vẽ thêm một chiếc vương miện trên đầu. Trong thời gian bà nắm quyền hành, một số cải tổ trong quân đội được thực hiện, một số tập quán của Âu châu được mang về ứng dụng cho người Nga trong thời kỳ này, một số người đã bắt đầu ăn diện theo mẫu thời trang của Âu châu.
Bà rất tích cực hoạt trong lĩnh vực các chính sách đối nội và đối ngoại. Nước Nga đã ký kết hiệp ước "Hòa bình vĩnh viễn" với Balan năm 1686 và hiệp ước Nerchinskii với Trung Hoa năm 1689
Năm 1687, ngành giáo dục đầu tiên đã được thành lập tại Nga: Học viện Slavic, viện nghiên cứu Latin và Hylạp.
Khi đó còn có hai cuộc viẽn chinh đến Crimea. Năm 1687, Sofia đã tuyên bố chiến tranh để chống lại Crimean Hanstvo. Nhưng cuộc chiến này bị đình trệ trước quân đội Nga đánh chiếm được Crimea. Xong, bà quyết định khởi binh lần thứ hai để tiến đánh Crimea một lần nữa, nhưng lần này cũng không đạt được kết quả.
Dân chúng đã không còn tín nhiệm và khâm phục vào Sofia nữa. Năm 1689, Sofia bị một nhóm người ủng hộ Peter – Đại Đế lật đổ và lưu đày bà đến Novodevichii Monastery. Năm 1698 bà đã bắt buộc phải cải trang dưới cái tên Susanna
http://famous.russian-women.net
[/color]
 
[size=24:46a4e8785b][color=darkred:46a4e8785b]Catherine I[/color][/size]

Empress_Catherine_%21_-c.1724.jpg


[color=darkblue:46a4e8785b]Bà Sinh ngày: 15/4/1684
Tạ thế ngày: 17/5/1727 tại Sankt-Peterburg
An táng: St.Peter & St.Paul Cathedral, Sankt-Peterburg
Phụ thân: Samuil Skawronski
Bà là vợ thứ hai của Peter I Đại Đế.

Catherine I tên thật là MARTA SKAVRONSKAYA, Nữ Hoàng Nga (1725-1727). Thuộc nguồn gốc nông dân, bà sinh tại Jakobstadt (Bây giờ là Jekabpils, Latvia) nhưng bị mồ côi từ khi còn nhỏ và được một mục sư nuôi nấng tại Marienburg (bây giờ là Malbork, Balan).
Khi người Nga chiếm được Marienburg năm 1702, bà bị một người chỉ huy quân đội Nga bắt làm tù binh, sau đó ông này bán bà lại cho nhà quí tộc Aleksandr Menshikov, một viên quan cận thần của Peter I Đại Đế. Chẳng bao lâu sau bà đã trở thành tình nhân của Peter I Đại Đế và là một người có thế lực rất lớn bên cạnh Hoàng Đế.
Peter I Đại Đế đã ly dị người vợ đầu của mình vào năm 1699, Ông tổ chức cưới Catherine năm 1712. Sau khi con trai của Ông là Alexis chết, Peter đã ra một chiếu chỉ "ukaz" tuyên bố chọn người kế vị cho ông ta, đến khi Ông băng hà vào năm 1725 nhưng vẫn chưa làm được điều đó. Catherine tuy nhiên đã là Vương phi năm 1724, sau cái chết của Peter I, bà đã không cho công bố người kế vị, quyền kế vị là cho con trai của Alexis (sau này là Peter III) đã bị phớt lờ đi. Đanh dá và can đảm Catherine đã ủng hộ các quan cận thần của Peter chống lại cơn thịnh nộ của ông ta, dưới sự trị vì, bà đã thiết lập và tập trung toàn bộ quyền lực vào hội đồng cơ mật tối cao.
[/color]
[color=darkblue:46a4e8785b]http://famous.russian-women.net[/color]
 
[size=18:1d0f0cf3a3][color=darkred:1d0f0cf3a3]Romanov, Anna I Ivanovna, Nữ Hoàng Nga [/color][/size]


466px-Annaioannovnarussia1693-2.jpg


[color=darkblue:1d0f0cf3a3]Anna Ioannovna
(1693-1740)
Sinh ngày 7/2/1693 tại Moscow
Tạ thế ngày 28/10/1740 tại Cung điện Mùa Đông, Sankt-Peterburg
Phụ thân: Nga Hoàng Ivan V Alexeevich,
Phụ mẫu: Praskovia Fedorovna Saltykova
Chồng: Friedrich Wilhelm Công tước xứ Kurland
Kết thân ngày 11/11/1710 tại Sankt-Peterburg
Anna Ioannovna (Anna I), là con gái của Nga Hoàng Ivan V và là cháu gái của Peter Đại Đế, cai trị nước Nga từ năm 1730 đến năm 1740. Bà là một người độc đoán nhất trong số các người kế vị của Peter. Uy thế trên ngai vàng của bà được sự ủng hộ mạnh mẽ của tầng lớp quí tộc Nga. Khi bà vừa mới 37 tuổi, đã là một góa phụ của một công tước người Đức và không có con cái. Các thành viên của Hội đồng Cơ mật đã lựa chọn Anna làm Nữ Hoàng vượt qua cả Elizabeth, một công chúa trẻ tuổi của Peter Đại Đế người mà cũng là một đối thủ để thừa kế ngai vàng. Bà chấp nhận không kết hôn một lần nữa. Sau khi lên trị vì, Anna đã giành được sự trợ giúp quần thần tầng lớp quí tộc những người mà trước đây luôn chống đối.
Theo chiếu chỉ của Nữ Hoàng Anna, quyền lực của chính quyền từ Hội đồng Cơ mật chuyển sang cho các bộ trưởng mà bà đã mang về từ Kurland, cái gọi là " phe đảng Đức" được thống trị bởi Baron Ostermann, một nhà quản lý xuất xắc, Munnich một chủ thầu của Ladoga Canal và Ernst Johann Biron một người được Anna sủng ái. "Phe đảng Đức" này bị người Nga cực kỳ căm gét, nhất là Biron, người mà đã dùng địa vị của mình để tăng cường thêm vị thế cá nhân. Họ đứng lên chống lại sự thống trị của nội các chính phủ, nhưng kết cục họ cũng bị trừng phạt bằng tra tấn, giết chết và bị lưu đày
Nữ hoàng Anna thời kỳ này đã thúc đẩy quân đội Nga hùng mạnh hơn và thành lập nhiều lớp huấn luyện quân sự. Bà đã can thiệp vào cuộc chiến của Balan và liên kết với Austria để chống lại quân Thổ (1736-39). Bà cũng ủng hộ mạnh mẽ sự quan tâm đến Balê mới trỗi dậy của người Nga. Cuộc biểu diễn Balê trước công chúng đầu tiên của nước Nga được tổ chức vào năm 1735 và được trình diễn cho Nữ Hoàng Anna bởi Jean-Baptiste Lande, một nghệ sĩ khiêu vũ của học viện quân đội. Nhận thấy người Nga rất yêu thích và có năng lực về khiêu vũ, 3 năm sau Jean-Baptiste Lande đã sáng lập " trường đào tạo khiêu vũ tâu Hoàng đế" với học viên là 12 bé con. Không lâu sau, trình diễn Balê được trở thành một môn nghệ thuật sang trọng. Opera cũng được đưa vào nước Nga trong thời gian Nữ Hoàng Anna trị vì, khi đó một người soạn nhạc Ý tên là Francesco Araja đã được mời đến St. Petersburg để chỉ huy một đoàn opera mới.
[/color]
http://famous.russian-women.net
 
[size=18:600554a90f][color=darkred:600554a90f]Anna Leopoldovna[/color][/size]

Anna_Leopoldovna.jpg


[color=darkblue:600554a90f]Anna Leopoldovna
Sinh ngày: 7/12 (18/7 theo lịch mới) năm 1718 tại Rostock, Mecklenburg (Đức)
Mất ngày: 7/3 (18/3) năm 1746 tại Kholmogory, Nga
Anna Leopoldovna làm nhiếp chính của nước Nga (11/1740 đến 11/1741) cho con trai là Hoàng đế Ivan VI.
Là cháu gái của Nữ hoàng Anna (trị vì 1730-40), Anna Leopoldovna kết hôn với cháu trai của Hoàng đế Charles VI năm 1739 và sinh ra một người con trai là Ivan (2/8 [13/8], 1740), người đã được chỉ định kế vị ngai vàng của nước Nga năm 1740, không lâu sau khi Nữ hoàng Anna băng hà. Một vài tuần sau, Ernst Johann Biron bị bắt giữ bởi sự điều khiển của một số thành viên trong bè lũ Đức ở Nga do Burkhard Munnich và Andrey Osterman cầm đầu. Munnich và Osterman đưa Anna Leopoldovna lên làm nhiếp chính và họ nắm quyền chi phối các chức sắc trong nội các của bà. Nhưng họ đã bị những người Nga rất căm gét, khi đó họ đã làm cho nội các ngày càng xuy yếu đi do thường gây bất hòa lẫn nhau, Anna bị Elizabeth, con gái của Peter I Đại Đế lật đổ vào ngày 25/11 (6/12) năm 1741.
Elizabeth tống giam Anna và cả gia đình bà vào ngục năm 1742 và vào năm 1744 họ bị lưu đày đến Kholmogory, Anna đã từ trần tại đây
[/color]

http://famous.russian-women.net
 
[size=18:21ff1b29db][color=darkred:21ff1b29db]Elizabeth Petrovna (1709-62), Nữ hoàng Nga[/color][/size]

Elizabeth_empress.jpg




[color=darkblue:21ff1b29db]Yelizaveta Petrovna hay là Elizabeth (tiếng Nga: Елизаве́та (Елисаве́т) Петро́вна) (29/12/1709 – 5/1/1762 theo lịch mới: 18/12/1709 – 25/12/1761 theo lịch cũ), là Nữ hoàng của nước Nga từ năm 1741 đến năm 1762. Người đã đưa nước Nga tham gia vào cuộc chiến với nước Áo (1740 – 1748) và 7 năm chinh chiến (1756 – 1763). Các chính sách của bà đã cho phép các nhà quí tộc tăng thêm địa vị tại các chính quyền địa phương, trong khi đó rút ngắn các nhiệm kỳ phục vụ cho quốc gia. Bà đã yêu cầu Lomonosov thành lập trường đại học tổng hợp Moscow và chỉ thỉ cho Shuvalov thành lập học viện Mỹ thuật tại St. Petersburg. Bà đã bỏ ra rất nhiều tiềm lực vào các dự án có xu hướng nghệ thuật Barôc hùng vĩ của kiến trúc sư rất được sủng ái của bà là Bartolomeo Rastrelli, đặc biệt nhất là Peterhof Tsarskoye Selo. Cung điện Mùa Đông và Thánh đường Smolny là những công trình chính yếu trong thời gian bà trị vì tại St Petersburg. Nói chung, bà là một vị Quốc Vương được yêu quí nhất của nước Nga bởi do Bà đã không cho phép bất kỳ một người Đức nào được phép nắm giữ bất kỳ một quyền hành gì trong Vương triều của Bà, thêm nữa không có một người nào bị sử hành quyết trong thời gian Bà trị vì.
Cuộc sống của Elizabeth Petrovna trước trở thành Nữ Hoàng.
Elizabeth là con gái thứ hai của Peter Đại Đế và Martha Skavronskaya sinh ngày 18/12/1709 tại Kolomenskoye, gần thành phố Moscow. Khi đó Peter Đại Đế và Martha Skavronskaya chưa tổ chức hôn lễ. Khi còn bé, Bà tỏ ra là một đứa trẻ rất thông minh lanh lợi và có tài, nhưng thật đáng tiếc cho đường học vấn của bà đã bị dở dang và rời rạc. Phụ Vương của bà thì không có nhiều thời gian rảnh rỗi để quan tâm chăm sóc tới học hành của con cái, còn phụ Mẫu lại hoàn toàn không biết gì để quản lý đến sự học tập của bà. Bà có một nữ gia sư người Pháp, tuy nhiên sau đó được tuyển lựa thêm một số gia sư người Ý, Đức và Thụy Điển, do vậy bà có thể thông thạo các ngôn ngữ này. Bà được mọi người rất mến chuộng về tính hoạt bát và vẻ đẹp kiêu hãnh từ khi còn rất trẻ.
Peter Đại Đế có ý định đính ước Elizabeth cho Hoàng đế Pháp trẻ tuổi Louis XV, nhưng dòng họ Bourbons đã nổi loạn để chống lại cuộc thông gia này. Một cuộc hôn nhân khác cũng bị đổ vỡ do cái chết bất ngờ của phụ mẫu của bà (5/1727)
Đến khi bà đã đến tuổi cập kê, bà làm một người tình của Alexis Shubin, một trung sĩ trong trung đoàn cận vệ Semyonovsky và sau khi Alexis Shubin bị trục xuất đến Siberia theo chiếu chỉ của Nữ Hoàng Anne, một chàng trai trẻ người Cô Dắc tên là Alexis Razumovski là người tình kế tiếp để an ủi bà, người này là một chàng trai đáng tin cậy và trung thành, sau đó cũng chính ông trở thành vị hôn phu của bà
Cuộc lật đổ cung đình năm 1741
Giữa đêm ngày 25/11/1741 (theo lịch cũ), 6/12/1741 (theo lịch mới), bà cùng với một vài người bạn thân, vị bác sĩ riêng của bà là Armand Lestocq, viên thị thần Mikhail Illarionovich Vorontsov, người chồng tương lai Aleksey Razumovsky và hai vị quí tộc cùng dòng họ là Alexander và Peter Shuvalov tiến thẳng vào doanh trại của trung đoàn cận vệ Preobrazhensky, bằng một diễn thuyết gây thật xúc động bà đã thuyết phục sự ủng hộ của họ và yêu cầu cùng cộng tác sau đó bà đã lãnh đạo mọi người tiến vào cung điện Mùa Đông, ở đây vị nữ Vương nhiếp chính đang yên giấc ngủ trong sự canh gác rất cẩn mật. Trên đường tiến vào trong cung điện bà đã ra lệnh cho bắt giữ toàn bộ các vị quan cận thần đầu triều, tiếp theo Elizabeth bắt giữ nữ nhiếp chính Anna và con của bà ta ngay tại trên giường ngủ và cho triệu tập các nhân sĩ, thường dân và giáo sĩ đến thiết triều. Cuộc lật đổ được tổ chức rất nhanh chóng và yên lặng, nhưng vào tám giờ sáng ngày hôm sau còn có rất nhiều người quan tâm đến sự kiện này.
Ở cái tuổi 33, cái tuổi vốn không còn năng động và là một người đàn bà còn nhiều đam mê cùng với sự hiểu biết còn nông cạn và không có nhiều kinh nghiệm trong sự vụ, bà bỗng nhiên trở thành người đứng đầu của một đế chế hùng mạnh nhưng đang trong một giai đoạn khủng hoảng. Nhưng thật may thay cho bản thân bà và cho cả nước Nga, Elizabeth Petrovna tuy còn nhiều điều còn kiếm khuyết nhưng bà còn được thừa hưởng lại một số các bậc anh tài từ thời cha trị vì để lại, họ đã trợ giúp bà rất đắc lực trong thời gian bà chấp chính. Cùng với cánh nhìn nhận luôn sắc sảo và tài xử trí rất khôn khéo của bà một lần nữa bà đã làm sống lại thời kỳ trị vì của Peter Đại Đế.

Sau khi bãi bỏ hệ thống nội các đặc ân trong chính phủ trong thời gian trị vì của hai vị nữ Hoàng Anna, bà đã cho thành lập lại một hội đồng chính phủ như dưới thời trị vì của Peter Đại Đế, với các vị lãnh đạo cao nhất của các bộ trong quốc gia, không sử dụng người Đức ở các thành phần trong chính phủ. Mối quan tâm đầu tiên của vị nữ Hoàng là dàn xếp sự tranh chấp với Thụy Điển. Ngày 23/1/1743, trực tiếp thương lượng giữa hai bên tại Åbo (Turku), ngày 7/81743 tại Treaty thuộc Åbo), sau đó Thụy Điển đã phải nhượng lại cho nước Nga tất cả phần lãnh thổ phía nam Phần Lan và phía đông của dòng sông Kymmene, do đó đã xác định rõ đường biên giới giữa hai quốc gia. Bao gồm cả các pháo đài Villmanstrand và Fredricshamn.
Kết quả thắng lợi này chủ yếu là do sự tài tình và khôn khéo trong ngoại giao của vị phó quan chưởng ấn mới nhậm chức là Aleksey Petrovich Bestuzhev-Ryumin, ông này tuy rằng không được chính bản thân Elizabeth ưa chuộng, nhưng với sự suy xét khôn ngoan cho nên ngay sau khi lên ngôi bà đã bổ nhiệm ông ta nhận cương vị lãnh đạo bộ ngoại giao.
Một sự kiện vĩ đại nhất trong những năm cuối cùng của nữ Hoàng Elizabeth là "cuộc chiến tranh 7 năm". Elizabeth rất quan tâm đến hiệp ước Westminster ( 16/7/1756, Anh quốc và Phổ đã phê chuẩn một hiệp ước Westminster cho phép liên kết các lực lượng quân đội của họ để chống lại với các lực lượng nước ngoài) hoàn toàn có tính chất phá vỡ hiệp định giữa Anh và Nga trước đây. Cùng với nhiều mối lo ngại có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của nước Nga, do vậy ngày 17/5/1757 quân đội Nga với 85.000 binh lính hùng mạnh nhất tiến đánh thành phố Königsberg (Kaliningrad tiếng Nga !Калинингра́д tiếng Đức Königsberg địa danh này trước đây thuộc nước Phổ ).
Thời kỳ lâm trọng bệnh nặng nề nhất của nữ Hoàng bắt đầu là cơn ngất lặng tại Tsarskoe Selo vào ngày 19/9/1757 cùng với sự gục ngã của Bestuzhev, những âm mưu bè phái của những thế lực nước ngoài tại St Petersburg, đã cản trở tiến triển của cuộc chiến và sự thua trận liểng xiểng tại mặt trận Kunersdorf.

Chiến dich năm 1761 hầu như thất bại như chiến dịch năm 1760. Frederick đã phòng thủ rất dũng mãnh và thống chế Rumyantsev đã chiếm được pháo đài của Phổ tại Kolberg ngay trong ngày giáng sinh năm 1761d đó là một chiến thắng duy nhất của quân đội Nga hoàng. Frederick dù sao cũng đã gần kiệt sức, ngày 6/1/1762 ông viết một thông điệp đến Finkenstein, " tôi muốn được bảo toàn cho cháu trai của tôi bằng con đường thương lượng, còn mọi mảnh đất trên các vùng lãnh thổ của ta, chúng tôi có thể ngăn chặn và bảo vệ chúng trước sự tham lam của kẻ thù"…
Nữ Hoàng Nga băng hà ngày 5/1/1762
[/color]
 
[size=18:d2271402f3][color=darkred:d2271402f3]Catherine Vĩ Đại (1729-96)[/color][/size]

Catherine_the_Great.jpg



[color=darkblue:d2271402f3]Bà là nữ Hoàng trị vì nước Nga (1762-96), đó là danh vị thứ hai của bà, người mà đã tiếp tục tiến trình Âu hóa nước Nga được khởi nguồn bởi Peter Đại Đế và đã có công đưa nước Nga trở thành một cường quốc tại Âu châu. Tên thật của bà là Sophie Fredericke Auguste von Anhalt-Zerbst, bà sinh ngày 2/5/1729 tại Stettin (nay là Szczecin thuộc Balan) là con gái của thứ Hoàng tử Đức. Năm 1745, bà thành hôn với đại công tước Peter của xứ Holstein, người được thừa kế ngai vàng nước Nga. Cuộc hôn nhân có vẻ như không được vui vẻ, nhưng có tham vọng và thông minh, Catherine đã sớm xoay xở để xây dựng lên một giới ủng hộ mình tại Saint Petersburg. Năm 1754 bà sinh hạ được một người con trai, sau này là Hoàng đế Paul. Chồng của bà kế vị ngai vàng và lấy danh hiệu là Peter III vào năm 1762. Ông bị dân chúng không tin cậy, dao động và khinh miệt, chẳng bao lâu ông ta trở nên xa lánh với một vài nhóm có thế lực trong giới thượng lưu Nga. Ngày 9/7/1762, do có sự xắp đặt, đội ngự vệ đã tổ chức lật đổ ông ta và đưa Catherine lên thay thế ngai vàng.
Catherine và Thời đại khai sáng Catherine đã kết thân với thời đại khai sáng của Pháp, đó là một thời đại có ảnh hưởng trọng đại tới tư tưởng của triều nội nước Nga thời bấy giờ. Bà đã giao thiệp rộng rãi với các nhà văn Pháp như Voltaire và Denis Diderot, trợ cấp tài chính cho họ cũng như cho một số nhà văn Pháp khác, bà cũng đã đón tiếp nhà văn Denis Diderot tại buổi chầu của mình vào năm 1773. Nhưng những hoạt động này nhằm mục đích tạo dựng nên một ý tưởng đổi mới có triển vọng tại Đông Âu, do đó bà rất quan tâm và hy vọng ứng dụng các tư tưởng của thời đại khai sáng để cải cách và sửa đổi triều chính của Đế chế Nga. Mặc dù sự chú tâm của bà để cải tổ các tính hợp pháp thời đó rất mãnh liệt, nhưng cho đến năm 1767 các ý định đó cũng không thành công. Trong các thành tựu to lớn mà bà đã đạt được bao gồm cả sự thành lập các trường nữ sinh đầu tiên của nước Nga và một trường cao đẳng y khoa để cung cấp các nguồn chăm sức sức khỏe cho dân chúng. Trong nhưng năm đầu trị vì của bà, Catherine đã thu nhận được sự trợ giúp rất đắc lực của tầng lớp những người có địa vị xã hội cao của Nga và còn có thêm một nhóm những nhà quí tộc cũng đứng ra ủnh hộ bà mạnh mẽ. Bà phê chuẩn cho những người có địa vị xã hội cao được giải phóng khỏi sự ép buộc phải phục vụ quân đội theo như chiếu chỉ đã ban hành của hoàng đế Peter III trước đây, bà cũng đã ban cho họ nhiều đặc ân khác nữa, bà cũng ban thưởng cho những người ủng hộ bà những tước vị, chức vụ, điển sản và những nông nô để làm việc trên các vùng đất đai của họ. Do đó, mặc dù đã có những chống đối của giai cấp nông nô, bà vẫn cho phát triển rộng lớn một sự thay đổi từ gia cấp nông dân của quốc gia sang giai cấp nông nô của các địa chủ, để sử dụng sức lao động triệt để của giai cấp nông nô và tăng cao tối đa mức độ quyền lực của những người có địa vị cao trong xã hội để kiểm soát đối với các nông nô của họ
Chủ nghĩa nông dân bảo thủ đã náo động lên đến cực điểm trong một cuộc nổi dậy rầm rộ (1773-75), được lãnh đạo bởi một người Côdắc tên là Yemelyan Pugachov, sự sôi sục đó đã vượt qua lưu vực sông Volga và vùng Ural trước khi bị đè bẹp bởi lực lượng quân đội. Cuộc nổi dậy đó đã làm cho chính phủ phải tăng cường thêm chính sách đối nội. Quân đội Côdắc bị giải tán, những người Côdắc khác được ban cho những đặc ân để cố gắng biến họ thành những người trợ giúp trung thành cho chính phủ.
Năm 1775, một cuộc cải cách trọng đại của các chính quyền cấp tỉnh đã được thực hiện trong một sự cố gắng kiểm soát tốt nhất của chính phủ. Cuộc cải cách thuộc các chính quyền thành phố cũng được ban hành. Cuộc cách mạng Pháp đã làm cho Catherine tăng thêm sự phản đối những ý tưởng theo chủ nghĩa tự do. Một vài người của giai cấp nông nô đã lên tiếng chỉ trích bà như: Nikolay I. Novikov và Aleksandr N. Radishchev, nhưng sau đó họ đã bị tống giam, Catherine dường như đã có kế hoạch gia nhập vào liên minh Âu châu để chống lại nước Pháp khi bà băng hà ngày 17/11/1796 tại St. Petersburg. Dưới thời trị vì của nữ Hoàng Catherine, lãnh thổ của nước Nga đã được mở rộng thêm bờ cõi, đó là thành quả của hai cuộc chiến chống lại đế quốc Ottoman (1768-74 và 1787-91) và sự thôn tính Crimea (1783), nước Nga cũng đã giành được kiểm soát bờ bắc Biển Đen, người Nga cũng kiểm soát trên khắp các nước Balan và Latvi, các cuộc thôn tính tột đỉnh nhất ba vùng đất rộng lớn của lãnh thổ Balan trong ba lần là vào những năm 1772, 1793, 1795.
Nét tiêu biểu đã sắm vai quan trọng trong thời trị vì của Catherine là những người tình hoặc sủng thần của bà. Mười người đàn ông đã liên quan đến cuộc đời bà nửa chính thức, nửa không chính thức. Ít nhất cũng là hai người Grigory Orlov và Grigory Potemkin, họ đã có công đóng góp rất quan trọng trong các chính sách đối nội và đối ngoại của Nga hoàng. Tuy nhiên Catherine vẫn là một người đóng vai trò quan trọng không thể hoài nghi cho công cuộc phát triển nước Nga trở thành một quốc gia hiện đại.
[/color]

http://famous.russian-women.net
 
[size=18:871d1a5dcd][color=darkred:871d1a5dcd]Dasha Sevastopolskaya[/color][/size]
mv_Nic24028.jpg

[color=darkblue:871d1a5dcd]N.I. Pirogov một bác sĩ huyền thoại trong quân đội đã gọi nữ ý tá đầu tiên Dasha Sevastopolskaya là linh hồn và vận mệnh của Sevastopol.
Dasha Sevastopolskaya (Darja Lavrentjevna Mikhailova) là một nhân vật huyền thoại trong cuộc chiến tranh Crime và trong hàng phòng thủ đầu tiên của thành phố Sevastopol. 150 năm sau cuộc chiến, tên của chị vẫn được ca tụng như một người anh hùng giữa những người Đô đốc, sĩ quan và thủy thủ của Hàng phòng thủ đầu tiên. Mọi người thường gọi tên chị là "Sevastopolskaya" còn danh hiệu Dasha được nhớ đến đằng sau cái tên đó.

Dasha là một người nữ y tá tình nguyện đầu tiên của nước Nga, chị đã phục vụ những người lính thương binh ngay sau trận đánh và trên đường hành quân ra trận. Trong thời gian chiến tranh và là một cô gái mới 17 tuổi, chị đã tỏ ra là môt tấm gương dũng cảm đối với các vị chỉ huy. Pirogov là một bác sỹ phẫu thuật nổi tiếng khi đến Sevastopol để hoạt động về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, lần đầu tiên ông đã được nghe danh tính của Dasha từ công tước Menshikov, một chỉ huy cao cấp của quân đội Nga.
Những thành tích của một thiếu nữ mồ côi thuộc tầng lớp ngèo hèn này đã trở thành sự chú ý của Nga Hoàng Nikolay I, ông đã được nghe nói về Dasha do hai Hoàng tử Michael và Nikolay kể lại, họ trong thời gian này cũng đang có mặt tại Crime. Do vậy Nga Hoàng đã quyết định trao tặng cho nữ y tá Dasha huân chương vàng và trên dải rubăng của tấm huy chương Vladimir có dòng chữ đề tặng " cho sự hiến dâng tận tụy" và thưởng cho chị 500 đồng rúp bạc. Nga Hoàng cũng hứa thưởng sẽ cho Dasha 1000 đồng rúp bạc nữa để trợ giúp khi nào chị tổ chức thành hôn. Đó là một sự kiện ngoại lệ, bởi vì với số tiền thưởng đó thường chỉ thưởng cho những người đã được trao tặng 3 huân chương bạc. Nga Hoàng có ý định ngợi ca hơn nữa các thành tích của Dasha. Phần thưởng này được trao tặng là phần thưởng duy nhất cho Dasha Sevastopolskaya so với những người cùng thời kỳ với chị. Bởi chị chỉ là một đại diện cho tầng lớp cấp thấp xen giữa những vị anh hùng danh giá của thành Sevastopol, chị được trao tặng không phải là một huân chương bạc mà cao hơn đó là một tấm huân chương vàng.
Các tư liệu lưu trữ đề cập rằng; năm 1855 Dasha đã kết hôn với Private Maksim (Maxim) Khvorostov và đã được nhận 1000 đồng rúp như đã hứa của Nga Hoàng trước đây. Dasha đã sống đến cuối đời tại Sevastopol và làm việc tại bênh viện của thành phố. Khi Dasha về hưu, những người thương binh đã đứng ra quyên góp để mua một bức tượng vị cứu tinh để trao tặng cho Dasha. Bà mất tại Sevastopol vào năm 1911.
Danh tính của Darja Mikhailova một Dasha Sevastopolskaya huyền thoại đã được đưa lên vị trí danh giá trong lịch sử của đất nước giữa những tên tuổi đáng tự hào khác của nước Nga.
Chúng ta cũng có thể xem hình ảnh của Dasha Sevastopolskaya trong bộ phim truyện đầu tiên của Nga " Hàng phòng thủ Sevastopol" do Khadzhonkov sản xuất.
[/color]
http://famous.russian-women.net
 
[size=18:b1158e84db][color=darkred:b1158e84db]Anna Pavlova – Nữ nghệ sĩ Balê vĩ đại của nước Nga[/color][/size]

Anna_Pavlova.jpg



[color=darkblue:b1158e84db]" Hãy bỏ các động tác nhào lộn và chuyển sang các động tác khác, Anna…hãy cố gắng đặt các bước đi vào các cơ thanh tú của em một cách thoải mái…tôi mong muốn em không bao giờ cố gắng bắt chước các bước nhảy của các bạn có thân hình khỏe hơn em. Em cẩn phải nhận thức rõ rắng, vẻ thanh nhã tuyệt vời và mỏng mai của thân hình em đó là một tài sản vô giá của em đó. Em hãy luôn tạo cho mình nhưng bước nhảy thật tuyệt vời và hiếm thấy chứ không nên cố gắng tạo ra một cung cách chỉ là những trò nhào lộn"
Huấn luyện viên Pavel Gerdt của cô bé Anna Pavlova đã răn bảo cô như vậy đó. Và cô bé đã làm theo theo lời chỉ bảo vô cùng quí giá đó để rồi sau này trở thành một huyền thoại không thể phủ nhận và cũng là một trong những nữ diễn viên Bale vĩ đại nhất của thế kỷ thứ hai mươi, chị cũng là một đại sứ Balê có sức ảnh hưởng to lớn của nước Nga.
Phong cách biểu diễn có sự thể hiện mê ly, có diễn cảm và gây xúc động của Pavlova đã làm rung lên chấn động hầu hết các khán thính giả trên toàn thế giới, mặc dù không phô trương, không có các kỹ xảo đặc biệt, trên thực tế Pavlova không có nhiều các kỹ xảo; các bước chân nổi tiếng của chị thậm trí còn khá mềm yếu. Nhưng chị có một niềm say mê dữ dội, một sự tận tâm tuyệt đối vào nghệ thuật và có một tài năng để chuyền đạt tất cả tình cảm vào từng động tác trong từng bước nhảy của chị.
Trong một khoảng thời gian trên thế giới, thời trang nổi lên và lấn át đi sự lãng mạn trong cuộc sống thường ngày, trong khi đó nghệ thuật Balê cũng vì thế bị mỏng dần đi, các cô gái Nga thanh nhã gần như không có, Pavlova như hiện thân để làm sống lại vẻ thanh tao, nét đặc trưng nhã tú của nữ nghệ sĩ Balê lãng mạn và kết hợp các vẻ đẹp đó với kiểu dáng chuyền cảm của chị. Lúc đó chị không là một đồng diễn viên múa, mà như một người bộ hành, chị đã bôn ba khắp đó đây: 350.000 dặm trong vòng 15 năm – đó là một quãng đường khá dài so với thời kỳ trước khi loài người sử dụng máy bay để du hành. Trong chuyến đi này chị đã giới thiệu nghệ thuật Balê đến các vùng xa xôi trên thế giới và truyền sự đam mê nghệ thuật Balê cho dân chúng hàng ngàn dặm trên quê hương nước Nga của chị. Ngài Frederick Ashton, một biên đạo múa danh tiếng và là một giám đốc chỉ đạo Balê Hoàng gia Anh, ông trở thành một diễn viên múa do ông bị tác động sâu sắc bởi cảm xúc trong các buổi biểu diễn của Pavlova mà ông được xem khi còn là một cậu bé tại Lima, Peru
Anna Pavlova sinh ngày 31/1/1881 tại ngoại ô thành phố St. Petersburg. Mẹ chị đã mang cô bé Anna cùng đi xem buổi biểu diễn vở "Người đẹp ngủ trong rừng" tại nhà hát Maryinsky (nhà hát của Balê Kirov) và sau đó cô bé Anna đã kiên quyết rằng rồi đây cô sẽ có thể trở thành Nữ hoàng thần Rạng Đông sinh đẹp Aurora. Nhưng chị vẫn còn phải đợi vài năm trước khi trường Hoàng gia Balê Maryinsky chấp nhận, thậm trí khi đó các bước chân của chị còn rất mềm yếu, cách ăn mặc vẫn còn tội nghiệp, thân hình khẳng khiu và cố để sắp đặt chị đi vào sự nghiệp của môn nghệ thuật Balê xem ra còn rất mơ hồ. Pavlova thậm trí cách ăn nói còn rất nhút nhát, khó gần gũi, là một người luôn thu mình và do đó không có nhiều bạn bè. Chị tốt nghiệp trường Maryinsky không bao lâu sau khi nhiều những nữ diễn viên Balê bậc thầy của Italia tràn ngập nước Nga như Legnani, Zucchi và những người khác đã có nhiều những bí quyết chuyên môn và thông thạo trong biểu diễn, họ đã làm giảm đi lòng khát khao sự lãng mạn trữ tình trong công chúng và họ đã tạo nên một phong cách biểu diễn cơ bắp của Italia. Pavlova không thể có sức mạnh cho phong cách này, vẻ thanh nhã của chị, các bàn chân có thể uốn cong ở mức độ cao và rất mỏng manh đã trở nên một phong cách riêng biệt. Chị đã khéo léo di chuyển các phần chân và đặt các bước nhảy lên mũi giầy để duy trì sức lực và lấy thăng bằng các tư thế lượn trong điệu vũ làm cho khán giả trong khán trường dường như nín thở. Chị đã nắm bắt được các lợi thế mà mình có: chân tay thẳng tắp, một thân hình mềm dẻo, một người đàn bà thanh nhã, sức diễn cảm bao la và chị hoạt động vô cùng tích cực, chị học tập và nghiên cứu cùng với Gerdt, Christian Johannsen, Nicholas Legat, Catarina Beretta và Petipa. Cuối cùng chị đã thành công
Pavlova đã xuất sắc nhất trong đoàn nghệ thuật tại nhà hát Maryinsky, nhất là tại La Bayadere, Giselle, Le Corsaire và Don Quixote, nhưng điệu nhảy Balê của nhà biên đạo múa Mikhail Fokine do chị biểu diễn vẫn trở thành bất hủ.
Năm 1907 Pavlova trở thành một ngôi sao tại Maryinsky, nhưng đó mới chỉ là bước đầu, chị cần phải là một nghệ sĩ độc lập, quyền tự quyết đã đeo đuổi cho cá nhân chị, cho các điệu nhảy mới và cho các công việc khác, cũng như chị cần có những tia sáng để tự mình soi rọi trên bước đường sự nghiệp biểu diễn độc tấu mà chị sẽ thực hiện trong 15 năm, nó đã đưa chị đi đến khắp nới trên thế giới. Chị đã biểu diễn với nghệ sĩ Balê Nga - Diaghilev nhưng chỉ trong thời gian ngắn.

Cuộc sống của chị hầu như ở trên tàu hỏa và các khách sạn. qua nhiều thăng trầm và nhiều cống hiến cho nghệ thuật Balê trên thế giới trong nhiều giai đoạn. Năm 1931 chị mắc phải chứng bệnh viêm màng phổi. Bác sĩ có thể cứu sống chị bằng một ca phẫu thuật, nhưng có thể sẽ làm các xương sườn bị tổn thương và phía bên trái của chị sẽ tàn phế. Pavlova đã chọn cái chết hơn là từ bỏ sự nghiệp biểu diễn. Trong khi đang hấp hối, chị mở to đôi mắt, nâng cao cánh tay và thốt ra những lời nói cuối cùng của cuộc đời chị "Hãy sửa soạn cho tôi bộ trang phục con thiên nga"
Một vài ngày sau, trong buổi biểu diễn tại nhà hát nơi mà Anna Pavlova đã trình diễn vở - Cái chết con Thiên nga, ánh sáng mờ đi, một tấm màn hồng và trong khi ban nhạc đang dạo khúc Saint-Saens quen thuộc, một tia sáng mạnh đã lướt vòng xung quanh sàn sân khấu vắng lặng như đang tìm kiếm trong khoảng trống hình bóng của Pavlova dường như xắp đến nơi đây.
[/color]
http://famous.russian-women.net
 
M-m, bài về Anna Pavlova thì khá thú vị, nhưng hình như hơi có vấn đề về thuật ngữ bác nthach1 ạ. Với lại em cho là thiếu sót khi không nhắc đến arabesque (арабеск) nổi tiếng của Pavlova - tư thế này đã được họa sĩ nổi tiếng V.Serov sử dụng để làm áp phích cho "Những mùa Nga" ở Paris.

Bài về Elizaveta Petrovna và Ekaterina II thì trên trang chủ cũng đã có bài

Đôi nét về nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna - (29/12/05)

Nữ hoàng nước Nga Êkatêrina II - (28/12/05)

Phải để hôm nào rảnh rỗi hơn, biên tập lại và bỏ bớt những gì trùng lắp. Với lại em cũng muốn bổ sung thêm cho phong phú. Cám ơn bác nthach1 nhé!
 
Nina nói:
M-m, bài về Anna Pavlova thì khá thú vị, nhưng hình như hơi có vấn đề về thuật ngữ bác nthach1 ạ. Với lại em cho là thiếu sót khi không nhắc đến arabesque (арабеск) nổi tiếng của Pavlova - tư thế này đã được họa sĩ nổi tiếng V.Serov sử dụng để làm áp phích cho "Những mùa Nga" ở Paris.

Bài về Elizaveta Petrovna và Ekaterina II thì trên trang chủ cũng đã có bài

Đôi nét về nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna - (29/12/05)

Nữ hoàng nước Nga Êkatêrina II - (28/12/05)

Phải để hôm nào rảnh rỗi hơn, biên tập lại và bỏ bớt những gì trùng lắp. Với lại em cũng muốn bổ sung thêm cho phong phú. Cám ơn bác nthach1 nhé!
I Hi!!!
Xuất thân từ một anh "Khô khan như dân kỹ thuật", vậy mà tôi cứ xông bừa sang dịch các bài về súng ống, bắn nhau ùng oàng, rồi sau đó là chuyển sang các bài về vua chúa "xưa như trái đât", chán rồi lại chuyển về anh nghệ thuật mềm như bún "chẳng biết một tẹo nào" cho nên cũng có vấn đề về thuật ngữ là không thể tránh được. Cảm ơn Nina đã góp ý nha!!!. còn đối với Topic này tôi đang có ý định bê sạch của họ về (còn nhiều bài nữa) nên nếu còn lỗi thì mong Nina sửa giúp nha!.
Còn các Topic về các chủ đề khác tôi chưa hoàn thành thì sau này tôi sẽ tiếp tục làm mong mọi người góp ý cũng như Nina thì thật cámd ơn.
 
Cái ảnh đó là đúng rồi đấy bác nthach1 ạ

50017195.JPG


arabesqueqy3.jpg

Arabesque executed by Natalya Bessmertnova, with Nikolay Fadeychev, of the Bolshoi Ballet; Swan Lake
 
[size=18:658e18aa0c][color=darkred:658e18aa0c]Galina Ulanova, Nữ nghệ sĩ Balê vĩ đại của nước Nga[/color][/size]

13.jpg


[color=darkblue:658e18aa0c]Ulanova (Галина Сергеевна Уланова) đã viết một cuốn sách nói về, "Nguyên nhân thành công của một nữ diên viên Balê" và cuốn sách này đã được S. Rosenberg dịch từ tiếng Nga vào năm 1950. Đoạn mở đầu của cuốn sách viết " Tôi đã thật sự không mong muốn trở thành một diễn viên Balê. Trên thực tế, lần đầu tôi đến thăm nhà hát nó đã kích thích trí tượng tượng của tôi, nhưng điều đó đã không làm tôi xúc động bằng sự thôi thúc mãnh liệt cho sự nghiệp biểu diễn và nó đã thúc đẩy tôi biết bao để tôi đến với ánh đèn sân khấu"
Buổi biểu diễn đầu tiên chị được xem, dĩ nhiên đó là một vở Balê. Cha của Ulanova, ông Serge Ulanov đã cùng Ulanova đến xem vở kịch múa "Người đẹp ngủ trong rừng" ở nhà hát Maryinsky thành phố St. Petersburg. Sự xuất hiện đầu tiên của nàng tiên Tử đinh hương trên sân khấu, chị đã kêu toáng lên " Mẹ đấy, mẹ của con đấy", vâng đúng vậy mẹ của Ulanova bà Maria Romanova, là một diễn viên Balê và cũng là một giảng viên Balê tại trường Hoàng gia. St. Petersburg
Sau cuộc cách mạng năm 1917 đã gây rất nhiều khó khăn cho mọi người. Cha mẹ của Ulanova, ngoài những buổi biểu diễn tại nhà hát Maryinsky, họ còn phải đi làm thêm ba sô diễn mỗi ngày cho một hãng phim. Ulanova rất hụt hẫng và chua chát khi chị bắt buộc phải trở thành một sinh viên biên đạo múa Balê giữa những người xa lạ tại trường Petrograd. Cha mẹ của chị thì lại cảm thấy hài lòng và cảm thấy con đường sự nghiệp của chị đang đi là rất cần thiết vì công việc của họ rất bận rộn với những diễn tập, biểu diễn và làm công tác giảng dạy, do đó họ ít có thể sắp xếp được nhiều thời gian để chăm xóc cô con con gái bé nhỏ của họ. Tại trường, người giáo viên đầu tiên của Ulanova cũng chính là mẹ của chị, nhưng Galina Ulanova thì lại hầu như chẳng ham muốn gì về môn múa này cả. Chị đã tức giận tô bằng cách tô vẽ thêm đôi giầy ống bằng nỉ rất khó coi và vẽ một chiếc váy ngắn xoăn tít vào bức ảnh của mẹ cùng với một nụ cười trên gương mặt bà để "trả thù"…
Trong tiết học đầu tiên tại trường chị đã nài nỉ mẹ cho chị về nhà, nhưng bà dỗ ngọt nếu như chị ở lại trường cho đến khi sang năm mới thì khi đó bà sẽ đưa chị về. Năm mới đến, nhưng khi đó Galina Ulanova đã quen biết được rất nhiều bạn bè và chị quyết định ở lại trường không về nhà nữa. Chị cũng tiến bộ rất nhanh trong lớp học chỉ một thời gian ngắn. Chị được mời tham gia biểu diễn tại nhạc viện Opera. Lần trình diễn đầu tiên này đã cho chị rất nhiều kinh nghiệm biểu diễn trên sân khấu, nó cũng đem lại cho chị một tư duy hân hoan. Vai múa kế tiếp được chị trình diễn trong vở Tuyết Trinh của Rimsky-Korsakov. Trong buổi diễn tốt nghiệp của chị được chực tiếp Chopinana làm chủ khảo. Lần trình diễn đầu tiên trước công chúng, chị đã thủ vai Nữ Hoàng Florine trong biến tấu Con chim Xanh. Khi chị tròn mười tám tuổi, bốn tháng sau buổi trình diễn trước công chúng đầu tiên ấy, Ulanova đã múa vai chính Odette-Odile trong vở Hồ Thiên nga. Ulanova đã nói trước buổi biểu triễn: " Tôi nhận múa vai diễn này nhưng tôi vẫn chưa thật hiểu sâu sắc về nhân vật mà tôi sẽ thủ vai"
Sau khi chị luyện tập tại trường dưới sự hướng dẫn của mẹ, chị được trực tiếp Aggripina Vaganova tiếp tục đào tạo. Vaganova là người đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển trở thành một nghệ sĩ Balê nổi tiếng của chị,
Cuối cùng Ulanova cũng đã có một cuộc sống xã hội với những lớp người trí thức trong suốt thời gian của chị. Sau các buổi trình diễn, họ thường tập trung tại nhà một người nào đó để bàn luận về tất cả các vấn đề nghệ thuật. Chị rất có ấn tượng rất sâu sắc với học thuyết của Konstantin Sergeyevich Stanislavsky và chị đã áp dụng các ý tưởng của ông vào nghệ thuật múa của mình. Ulanova khẳng định rằng, chị đã trình bày vở Hồ Thiên nga một trăm lần trước khi bước chân vào lĩnh vực múa Balê. Ulanova rất say mê thi ca và kịch nghệ trong các vũ điệu của mình, nhưng chị cũng là một người làm việc rất tích cực. Chị nói "Một diễn viên múa cần phải là một người làm việc ở mức độ cần cù cao. Cần rèn luyện tính ăn, uống hàng ngày và nhất định không bao giờ dừng lại, thậm trí ngay cả trong thời gian những ngày nghỉ hè". Chị cũng thường biểu diễn tại nhà hát Bolshoi ở Moscow và vào năm 1944 chị rời khỏi nhà hát Kirov và trở thành nữ diễn viên Balê chính của nhà hát Balê Bolshoi. Ngoài ra chị còn các múa các vai trong những kịch mục kinh điển như: Nguồn nước của Bakhchisaray (1933), mất ảo giác (1935), Romeo và Juliet (1940), vai Tao-Hoa trong vở múa biên dịch Hoa anh túc Đỏ - Red Poppy (1949) và vai múa Katrina trong vở Hoa Đá (1954).
Năm 1954, chị có buổi diễn lần đầu tiên tại miền tây Vienna. chị đã biểu diễn ở Rome năm 1949 và Florence và Venice năm 1951. Nước Nga trong thời gian đó có một "Iron Curtain" ("Bức màn sắt" – một từ ngữ ám chỉ sự phong tỏa thông tin của các nước xã hội chủ nghĩa) do vậy một số ít nghệ sĩ đã rời đến phương Tây. Cùng với nhà hát Balê Bolshoi, chị biểu diễn tại London (1956) và New York (1959). Có nhiều người may mắn được xem chị biểu diễn tại Mỹ. Nhưng những người không có được sự may mắn đó để xem trực tiếp chị biểu diễn trên sân khấu thì có thể xem phim của chị trong nhà hát nghệ thuật ở các nước phương Tây như: các trích đoạn của Hồ Thiên Nga, Nguồn nước của Bakhchisaray (1953), Romeo và Juliet (1957)…

Ulanova rời khỏi sàn diễn sân khấu năm 1962 nhưng chị vẫn tiếp tục làm việc tại nhà hát Balê Bolshoi như một giảng viên Balê. Joseph Stalin đã trao tặng cho chị giải thưởng Stalin vào các năm 1941, 1946, 1947 và 1951. Ngệ sĩ Nhân dân năm (1951) và huân chương Lenin (1974).
Một nữ nghệ sĩ Balê nổi tiếng của Nga là bà Maya Plisetskaya đã viết về người đồng nghiệp Ulanova của mình :" Chị là một thiên thần và chị biểu diễn cũng như một thiên thần"
[/color]
http://famous.russian-women.net
 
[size=18:4910afc8bb][color=darkred:4910afc8bb]Ekaterina Maximova – Nữ nghệ sĩ Balê của nước Nga[/color][/size]
Ekaterina_Maximova.jpg


stone-flower-dancer.jpg


[color=darkblue:4910afc8bb]Ekaterina Maximova là một trong những nữ diễn viên Balê nổi tiếng và được yêu chuộng nhất của nước Nga trong thế kỷ thứ 20
Chị sinh ngày 1/2/1929 tại Moscow và được đào tạo tại học viện Balê Moscow, là một sinh viên có năng khiếu rất khác thường, chị lập tức được tuyển thẳng vào nhà hát Bolshoi ngay trong lễ tốt nghiệp vào năm 1958 và đã hoàn thành xuất sắc vai múa Masha trong vở múa "Con chim bổ hạt" của Vainonen.
Trong sự nghiệp ban đầu của chị tại nhà hát Bolshoi chỉ với một vài vai múa nhỏ, ví dụ như: một nông dân trong vở Giselle, Colombine trong vở Kỵ sĩ bằng đồng, vai múa kép Cái chuông khiêu vũ trong vở Balê "Nguồn nước" của Bakhchisarai, vở diễn này chị tham dự cũng là để dành cho sự chia tay sân khấu của Galina Ulanova,
Nhưng dù sao sự thành công to lớn đầu tiên đã đến với chị vào năm 1959 với vai múa Katerina trong vở Bông hoa Đá. Điều này đã đưa chị lần đầu tiên đến gặp được biên đạo múa Yuri Grigorovich và với sự cộng tác sau 20 năm, chị đã trình diễn một số lượng lớn các vai múa chính trong các tác phẩm của ông, đặc biệt nhất là vai múa Masha trong vở Chim bổ hạt được trình diễn trước khán giả phương tây tại Phrygia. Những vở Balê này cùng với vở Giselle là những trụ cột chính trong các chuyến lưu diễn cùng với nhà hát Bolshoi trong những năm của thập kỷ 1960 và 1970. Các vai múa chính chị đã từng trình diễn trong thời gian này tại nhà hát Bolshoi là Kitri trong Don Quixote và Cinderella trong Zakharov. Chị cũng đã thành công vai múa Maria trong Nguồn nước của Bakhchisarai. Năm 1973 chị cũng đã thực hiện vai múa Juliet theo phóng tác của Lavrovsky.
Trong thời kỳ này, Maximova luôn đóng một vai trò chủ đạo trong sự phát triển nghệ thuật múa Balê hiện đại của Xô Viết, chị cũng là một trong các nghệ sĩ Xô Viết thời kỳ đó có được các chuyến công diễn thành công vang dội tại các sân khấu nước ngoài.
Maximova luôn là một nghệ sĩ được các biên đạo múa có nhu cầu tuyển chọn nhiều nhất để trình diễn các vở múa Balê tại Nga. Chị đã trình diễn rất thành công nhân vật Nathalie của Pierre Lacotte và cả các vai; Juliet trong vở “Romeo và Juliet”, Eve trong vở “Sự tạo hóa của trái đất” được Natalia Kasatkina và chồng chị là Vladimir Vasilyov đồng sáng tác và dàn dựng.
Cùng với Vasiliev chị đã đi lưu diễn độc lập ngoài nhà hát Bolshoi từ đầu những năm 1980 và đã múa rất nhiều những vai diễn mới do chính chồng chị biên đạo. Chị đã có được một thành công vang dội cùng với vũ đoàn Balê Kremlin vào năm 1990 tại Moscow trong nhân vật Cô bé lọ lem trong vở Balê cùng tên cũng do chính chồng chị biên đạo.

Sau khi rời sàn diễn, chị là giảng viên, huấn luyện các nữ diễn viên Balê của nhà hát Bolshoi. Ngoài ra, từ năm 1982 chị cũng là giảng viên lớp năng khiếu múa của trường đại học GITIS Moscow.
Tài năng của Maximova được khắp nơi trên thế giới sùng bái, chị có thể làm quyến rũ khán giả qua các vai múa vui vẻ và hài hước với một nụ cười say đắm của chị.
[/color]
http://famous.russian-women.net
 
[size=18:a59e7c9e64][color=darkred:a59e7c9e64]Nina Ananiashvili - Nữ nghệ sĩ Balê nổi tiếng của nước Nga[/color][/size]
Nina_Ananiashvili.jpg

ninaananiashvili5zl.jpg


[color=darkblue:a59e7c9e64]Nina Ananiashvili sinh ngày 28/3/1963 tại Tbilisi, Georgia, do vì là một đứa trẻ ốm yếu nên cha mẹ đã thuyết phục chị chọn môn trượt băng để tăng cường thể lực. Đến khi lên 6 tuổi, chị đã là một vận động viên môn trượt băng nghệ thuật và đến năm 10 tuổi chị đã đoạt chức vô địch môn trượt băng nghệ thuật dành cho lứa tuổi thiếu nhi của Georgia.
Cùng năm đó, chị được đi đào tạo múa Balê tại Tbilisi. Được các huấn luyện viên động viên, chị đã sớm rời bỏ môn trượt băng để tham gia vào môn nghệ thuật Balê. Tại trường nghệ thuật Balê quốc gia Georgia, giáo viên của chị là Tamara Vikhodtseva, chị cũng được Vakhtang Chabukiani một nghệ sĩ bậc thầy nổi tiếng về Balê kèm kặp riêng. Sự phát triển nghệ thuật vượt bậc của chị một phần cũng nhờ có sự lưu tâm của các chuyên gia vũ đạo. Họ đã thuyết phục cha mẹ chị cho chị tiếp tục được đào tạo vũ đạo ở Moscow

Do đó, năm 13 tuổi chị đã gia nhập học viện nghệ thuật Balê Moscow, một trường đào tạo của nhà hát Balê Bolshoi. Người thày đầu tiên của chị ở đây là Natalia Viktorovna Zolotova. Một vinh dự đầu tiên trước khi tốt nghiệp đã đến khi Ananiashvili đoạt được tấm huy chương vàng tại cuộc thi quốc tế có uy tín tại Varna năm 1980 và cùng với Liepa và các bạn, chị đã đoạt giải quán quân tại cuộc thi Balê quốc tế tai Moscow năm 1981. Chị được tuyển thẳng vào nhà hát Balê Bolshoi ngay trong lễ tốt nghiệp năm 1981, Raisa Struchkova và Marina Semyonova là những người cố vấn dày dạn kinh nghiệm của chị trong môi trường mới này.
Chị đã biểu diễn vai chính đầu tiên là vai múa Odette-Odile trong vở Hồ Thiên nga trong chuyến lưu diễn cùng với nhà hát Bolshoi tại Đức năm 1982. Chị đã nhanh chóng được giao đảm trách các vai nữ diễn viên múa chính trong các tác phẩm kinh điển như Giselle, Người đẹp ngủ trong rừng, Don Quixote, La Bayadere, Raymonda và Romeo & Juliet.
Năm 1985 chị dã đoạt được huy chương vàng trong cuộc thi Balê quốc tế Moscow và năm 1986, chị cùng với Liepa cả hai đoạt giải quán quân trong cuộc thi quốc tế tại Jackson, Mississippi.
Thành công với khán giả và những nhà phê bình nghệ thuật trong các chuyến lưu diễn của nhà hát Bolshoi tại Anh năm 1986 và tại Mỹ năm 1987, Ananiashvili và Liepa đã trở thành những nghệ sĩ Balê Xô Viết đầu tiên làm khách mời của nhà hát Balê the New York City năm 1988,
Ananiashvili từ khi đó đã trở thành một siêu sao Balê quốc tế đích thực và chị cũng là một nữ diễn viên Balê múa chính của nhà hát Bolshoi, ngoài ra hiện nay chị còn là một diễn viên múa chủ yếu của nhà hát Balê Hoa Kỳ. Chị còn xuất hiện trong các nhà hát trên thế giới như: Nhà hát Balê Hoàng gia Đan Mạch, nhà hát Balê Kirov, nhà hát Balê Hoàng gia Anh, nhà hát Covent Garden, nhà hát Balê Hoàng gia Thụy Điển, nhà hát Balê de Monte Carlo, nhà hát Balê quốc gia Na Uy, Phần Lan, Balan, nhà hát Balê Birmingham, nhà hát Balê Boston, nhà hát Balê Munich, nhà hát Balê Houston và nhà hát Balê Tokyo. Ngoài ra chị còn đi lưu diễn cùng với đoàn diễn riêng của mình là “Nina Ananiashvili và những Ngôi sao quốc tế”. Người cộng sự thường xuyên nhất của chị tại nhà hát Bolshoi và trong các chuyến lưu diễn là nghệ sĩ Aleksei Fadeyechev.
Ananiashvili, đã được trao giả thưởng quốc gia Georgia và giả thưởng quốc gia Nga, đó là niềm vui cho những thành tựu nổi bật của Ananiashvili và nó đã tiếp sức cho chị tiếp tục phát triến trên con đường nghệ thuật của mình. Tháng 6 năm 1997, Ananiashvili lại thành công khi cùng múa đôi với Guillaume Graffin trong vở múa “ Người quả phụ vui vẻ”…
Với nhà hát Bolshoi và đoàn nghệ thuật lưu động của mình, Nina đã cố gắng tìm kiếm và khảo sát thêm các phong cách và nghệ thuật vũ đạo mới mẻ hơn. Chị đã “phát hiện” ra Alexei Ratmansky và mời anh cùng cộng tác để sáng tác và dàn dựng các vở diễn Balê cho đoàn nghệ thuật của mình.
Mùa hè năm 2000, trong chuyến lưu diễn cùng với đoàn nghệ thuật trên nước Mỹ, chị đã biểu diễn cùng với Uvarov và Filin trong vở Balê “Romeo và Juliet” của Lavrovsky và cùng với Uvarov trong vở Balê “Don Quixote” được dàn dựng lại của Fadeyechev.
[/color]


http://famous.russian-women.net
 
[size=18:743bfa8098][color=darkred:743bfa8098]Anna Akhmatova – Nữ thi sĩ của nước Nga [/color][/size]

akhmatova.jpg

[color=green:743bfa8098]

Ghi chép của Jill T. Dybka

[color=darkblue:743bfa8098]Một sự thay đổi giữa cuộc đời
Vào cuối thế kỷ thứ 19, những người chuyên quyền ủng hộ chế độ Sa Hoàng của nước Nga gần như đang bị vây hãm. Những đảng phái đối lập được thành lập mạnh mẽ để phản đối các chính thể hiện hành. Một trong các đảng đó là "Đảng xã hội dân chủ" do Vladimir Lenin lúc này làm lãnh tụ của một phân nhánh trong đảng và được gọi là "Bolshevik" hoặc "majority" tuy nhiên trên thực tế các đảng viên của họ chỉ chiếm số lượng thiếu số. Các đảng phái thường mâu thuẫn với nhau trong một vài quan điểm về triết học, nhưng dựa trên cơ sở nền tảng của Đảng xã hội dân chủ, những người Bolshevik đã hết lòng hiến dâng cuộc đời mình cho chủ nghĩa xã hội với mục tiêu làm một cuộc cách mạng và lật đổ chế độ Sa Hoàng. Những người Bolshevik cuối cùng cũng giành được thắng lợi trong những cống hiến và nỗ nực của mình. Một trong các điểm nổi bật trên những sự kiện trong cuộc cách mạng này đó là Nữ thi sĩ của nước Nga - Anna Akhmatova được sinh ra năm 1889. Chị như một cô bé làm nhân chứng cho sự trị vì của vị Hoàng đế Nicholas II một ông vua cuối cùng của nước Nga. Trong cuộc đời mình, chị cũng đã được chứng kiến cuộc cách mạng Bolshevik, sự thanh trừng kinh hoàng của chủ nghĩa Stalin và các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nước Nga trong hai thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, nhưng chị vẫn sống sót để tồn tại và là một minh chứng cho chân lý và và lòng chính trực. Đến ngày nay chị cùng với Boris Pasternak, Osip Mandelshtam và Marina Tsvetaeva được coi là bốn nhà thơ trữ tình hiện đại nhất của nước Nga.

Akhmatova khi sinh ra được đặt tên là Anna Andreevna Gorenko "А́нна Андре́евна Горе́нко". Chị lớn lên trong một gia đình thượng lưu tại đô thị Tsarskoye Selo gần thành phố St. Petersburg. Ngay từ khi còn nhỏ, chị đã rất yêu thích và quan tâm đến thơ ca, mặc dù về môn nghệ thuật này không được ưa chuộng trong thời bấy giờ. Cho đến khi người cha nhận ra niềm đam mê thơ phú của chị, ông đã nói với chị rằng: Hãy đừng trở thành một "thi sĩ suy đồi" để làm xấu hổ cho thanh danh của gia đình. Ông đã bắt buộc chị phải lấy một bút danh, do vậy chị đã phải lấy họ của bà cố ngoại, một người Tartar, người mà chị đã được thừa hưởng từ bà đôi gò má cao và nét mặt rất gây ấn tượng. Chị bắt đầu ký tên với bút danh"Anna Andreevna Akhmatova." Vào năm 1905 khi mà cuộc cách mạng đã nổ ra. Hàng ngàn cuộc diễu hành và biểu tình trước lâu đài của Nga Hoàng và có qúa nhiều người trong số họ bị lính cận vệ của Hoàng gia bắn chết trong "Ngày chủ nhật đẫm máu" (Кровавое воскресенье), Từ khi đó, sự sụp đổ của chế độ chuyên quyền đã gần kề, Nicholas II đã cho thi hành sửa đổi các chính sách nhắm cố gắng chặn đứng sự náo loạn và các cuộc đình công liên miên, nhưng triều đại của ông ta đã đến hồi suy tàn.



Ảnh gốc
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/5d/Bloody_sunday.jpg/798px-Bloody_sunday.jpg
Những người biểu tình đang diễu hành đến cung điện Mùa đông


Ảnh gốc
http://www.sgu.ru/rus_hist/img/x1-z2-039-krocvavoe-voskr.jpg
Nhiều người trong số họ bị lính cận vệ của Hoàng gia bắn chết trong "Ngày chủ nhật đẫm máu"

Năm 1910 Akhmatova tố chức hôn lễ với Nikolai Gumilev. Ông là một nhân vật lãng mạn, một nhà thơ và là một người thích phưu lưu mạo hiểm rất say mê vùng đất Bắc Phi. Gumilev cũng đã tìm ra một xu hướng văn chương tại Nga được gọi là "Acmeist," nó có tính chất đối lập với chủ nghĩa văn chương trìu tượng đương đại. Những người theo xu hướng Acmeist làm nổi bật lên sự rõ ràng và tính thẳng thắn trong văn chương và nó cũng tương phản lại với những người thuộc phái trìu tượng. Những người theo chủ nghĩa Acmeist cũng khẳng định rằng; nghệ thuật thi ca sẽ bị làm vẩn đục đi bởi những sự mộng tưởng và tính mơ hồ của những người theo chủ nghĩa trìu tượng và chủ nghĩa thần bí. Không lâu sau khi tổ chức hôn lễ, Gumilev đã lên đường hành trình đi đến Abyssinia, để lại người vợ mới cưới ở quê nhà. Trong thời gian Gumilev ở xa cách, Akhmatova đã viết rất nhiều bài thơ và đã được xuất bản trong tập thơ " Chiều tà" đầu tiên của chị vào năm 1912.

p_mem10.jpg


Anna Akhmatova và chồng Nikolai Gumilev (1886-1921) cùng con trai - Lev. ảnh chụp tại Tsar Selo (gần Sankt-Peterburg), 1916 (trong WWI).

Tập thơ đầu tiên của Akhmatova sau khi ra mắt được rất nhiều người ưa chuộng. Chị trở thành một nhân vật rất được ngưỡng mộ trong giới trí thức. Tác phẩm của chị thường được đọc trong một tiệm ăn ở một hầm rượu của St. Petersburg có cái tên rất ngộ là " Tiệm rượu con chó hoang" " Stray Dog Café". Chị trở nên được nhiều người biết đến như một phần trong lĩnh vực văn chương và mãi mãi gắn liền tên tuổi với thành phố St. Petersburg. Trong những bài thơ trữ tình đầu tiên của mình, chị đã đã tập trung nhiều vào chủ đề tình yêu với một phong cách thơ ca ngay thẳng và trong sáng. Akhmatova cũng là một thi sĩ bậc thầy của tư tưởng văn chương Acmeist. Cùng năm này Akhmatova chị trở thành một nữ thi sĩ rất thành công. Con trai của chị, cậu bé Lev cũng được sinh ra vào thời gian này, cậu bé được bà nội mang về nuôi nấng, bà cũng là người đã ghét cay gét đắng Akhmatova, Akhmatova cũng đã lên tiếng phản đối quyết định này, nhưng chồng chị lại đứng về phía gia đình của mình nên chị cũng đành phải yên lặng. Akhmatova buộc phải đến thăm con trai vào các ngày nghỉ và vào những ngày hè. Sau này Akhmatova đã viết rằng " chức năng làm mẹ thật ngời sáng bao la, tôi không xứng đáng với nó".

Hai năm sau, tập thơ thứ hai "Vườn Hồng" của Akhmatova được xuất bản. Nó được các độc giả khắp nơi đón đọc và được nhiều người vô cùng yêu thích. Một trò chơi trong nhà trậm trí còn được phát minh dựa trên tập thơ đó. Trong cuộc chơi, một người ngâm một câu thơ, người thứ hai cần phải ngâm câu kế tiếp… cho đến người cuối cùng thì tập thơ phải được đọc hết. Mặc dù Akhmatova rất thành công trong sự nghiệp, nhưng cuộc sống riêng tư thì lại không được như mong đợi. Chị kết hôn với Gumilev – Nỗi lo lắng từ buổi đầu đã đến, họ không còn chung thủy với nhau được nữa, Gumilev thì rất đố kỵ với những thành công của Akhmatova. Năm đó là một thời gian cực kỳ hỗn độn về mặt chính trị. Chiến tranh thế giới bỗng nhiên bao trùm lên châu Âu, trong tháng tám, quân Đức công khai tuyên chiến với nước Nga. Thêm nữa St.Petersburg, thành phố thân yêu của Akhmatova bị đổi tên là Petrograd. Akhmatova quyết định viết tập thơ tiếp theo của chị nói về đề tài chiến tranh, thế rồi tập thơ " White Flock" đã được xuất bản vào năm 1917. Nước Nga bị thất bại nặng nề trong thế chiến thứ nhất, điều này đã làm tăng thêm sự sụp đổ của đế chế Romanov
Akhmatova đã xuất bản tập thơ thứ tư của mình vào năm 1917, cùng năm với cuộc cách mạng Bolshevik nổ ra và nó đã làm thay đổi vĩnh viễn nước Nga. Đầu năm 1917 "Cuộc cách mạnh tháng ba" bùng nổ buộc Nga Hoàng phải thoái vị và chính phủ lâm thời được thành lập. Trong lúc này thế chiến thứ nhất đang trong gia đoạn dữ dội. Quân đội Nga không còn đủ lương thực hoặc vũ khí và sự tiếp tế khác. Dân chúng không muốn nước Nga tiếp tục dấn sâu vào cuộc chiến nữa, chính phủ lâm thời thì còn đang trong giai đoạn tái thiết. Tiếp sau Cuộc cách mạnh tháng ba, Lenin đã nắm bắt cơ hội để thu hồi quyền lực cho những người Bolshevik. Hầu như tất cả quyền lực trong chính phủ lâm thời được chuyển về cho chính quyền Xô Viết, một hội đồng của nhân dân bao gồm người lao động và các quân nhân. Lenin đã dẫn dắt những người Bolshevik trở thành những người Xô Viết có sự ảnh hưởng và quyền lực lớn. Vấn đề này để chuẩn bị cho cuộc cách mạng Bolshevik năm 1917. Sau cuộc cách mạng này, một cuộc nội chiến đã liên tục và dai dẳng tại nước Nga cho đến cuối năm 1921 mới kết thúc. Khi cuộc nội chiến kết thúc, những người Bolshevik (người Cộng sản) đã kiểm soát và nắm giữ được toàn bộ chính phủ và các lực lượng vũ trang của nước Nga. Ba năm sau khi cuộc nội chiến kết thúc, Lenin đã từ trần.

Red-soldiers.jpg

Hồng quân trong cuộc nội chiến tại nước Nga

Tập thơ thứ năm " Cây mã đề" của Akhmatova được xuất bản sau khi cuộc nội chiến kết thúc năm 1921. Cũng thời gian này chị đã ly dị với Gumilev, nhưng hai nhà thơ vẫn coi nhau như những người bạn thân. Sau khi chia tay với người chồng cũ, Akhmatova đã kết hôn với Vol'demar Shileiko, ông này cũng là người có sự đố kỵ với danh tiếng của Akhmatova, Cũng giống như rất nhiều người trong gia đoạn này, họ có không đủ đồ ăn, không đủ nhiên liệu để sưởi ấm trong mùa đông giá lạnh. Chủ đề này của giai đoạn cũng được chị lột tả trong tập thơ thứ năm của mình.
Sau khi Lenin đã nắm giữ được quyền hành trong chính phủ, ông bắt đầu sử dụng nhiều sách lược để thanh trừng các phần tử phản cách mạng. Bộ phận Cheka "чрезвычайная комиссия" hoặc tổ chức cảnh sát mật có quyền bắt giữ và hành quyết bất kỳ ai nghi ngờ mà không cần xét xử. Năm 1921, chồng cũ của Akhmatova là Nikolai Gumilev bị bắt và bị hành quyết vì tội danh có các hành động chống phá và tham gia vào một âm mưu lật đổ chính phủ.

Một bài thơ ngắn của chị viết về cái chết của người chồng cũ Gumilev:

Anh đã không còn nữa trong cuộc đời này.
Anh không đứng lên được nữa trong tuyết trắng.
Hai mươi tám lưỡi lê đâm suốt tim anh.
Năm viên đạn đồng găm sâu lồng ngực.
Nỗi giá băng đã xuyên thủng sơ mi trắng.
Hãy cho tôi vá chiếc áo của người yêu.
Mảnh đất nước Nga thân thương quá thân thương.
Đã thấm mất đi bao nhiêu giọt máu đào

Nthach1 tạm dịch từ tiếng Anh

Joseph Stalin lên nắm giữ quyền hành vào năm 1924, sau khi Lenin từ trần. Ông cho tiếp tục cuộc thanh trừng các phần tử phản cách mạng như người tiền nhiệm của ông đã đề xướng. Đến năm 1930 cuộc thanh trừng lên đến đỉnh điểm, nó đã thanh lọc hàng triệu nạn nhân, các phiên tòa công khai được thành lập, khi đó các phạm nhân buộc phải đọc bản thú tội đã được chuẩn bị trước phiên tòa, có rất nhiều bạn bè và đồng nghiệp văn thơ của Akhmatova bị bắt và bị hành quyết. Năm 1933 con trai của chị - Lev bị bắt giữ và năm 1935 bị bắt lại lần nữa

Ảnh gốc
http://max.mmlc.northwestern.edu/~mdenner/Demo/images/akhmatova/akhmatova1924.jpg


Akhmatova năm 1924

Một trong những chương trình nghị sự của những người Bolshevik là loại trừ tất cả các di vết còn sót lại trước cuộc cách mạng văn hóa. Văn hóa kiểu tiểu tư sản giống như nghệ thuật thơ ca trữ tình lãng mạn sẽ không còn đất để thi hứng trong xã hội Cộng sản mới. Chính quyền chính thức thành lập chủ nghĩa xã hội theo học thuyết duy thực để chỉ đạo đường lối cho tất cả các môn nghệ thuật. Các nhà văn được yêu cầu viết lên những lý tưởng của chủ nghĩa xã hội. Khi đó thể loại thi ca của Akhmatova bị ngăn cấm sáng tác một cách không chính thức từ năm 1925 đến tận năm 1940. Trong thời gian này Akhmatova đã tự mình dành thời gian cho phê bình văn học và làm dịch giả văn chương. Cuối những năm 30 chị tập trung sáng tác những bản trường ca, lễ cầu siêu dành cho các nạn nhân bị giết dưới thời của Stalin. Năm 1940, một bộ sưu tập các bài thơ trước đây được tổng hợp vào tập thơ thứ sáu của chị được xuất bản. Nhưng chỉ một vài tháng sau đó tập thơ này bị thu hồi.

Ảnh gốc
http://max.mmlc.northwestern.edu/~mdenner/Demo/images/akhmatova/annaspasternakom1940s.jpg

Akhmatova và Pasternak trong những năm 1940

Năm 1941, quân Đức công khai chiến tranh trên nước Nga. Akhmatova đã kêu gọi trên trên làn sóng Radio để thôi thúc phụ nữ thành phố Leningrad hãy kiên cường chiến đấu trong thời gian quân Đức bao vây Leningrad (tên cũ St. Petersburg/Petrograd). Tuy nhiên các tác phẩm thơ của Akhmatova vẫn bị ngăn cấm cho xuất bản, chị đã phải trực tiếp lên tiếng buộc chính quyền phải trả lời về vấn đề này bởi rằng chị là một biểu tượng cho nét văn hóa của nước Nga cũng như là một phần khó có thể tách rời của thành phố Leningrad…Trong thời gian chiến tranh, chị đã cùng một số nhà văn cũng như các nghệ sĩ và các nhạc sĩ khác sơ tán về Tashkent. Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, Akhmatova rất được quan tâm trên các thông tin đại chúng. Năm 1946, một sắc lệch của chính phủ ban hành tuyên bố cấm xuất bản các tác phẩm của Akhmatova, Andrey Zhadanov, một quan chức cao cấp của ủy ban trung ương đảng đã trục xuất Akhmatova ra khỏi hội nhà văn quốc gia, ông ta gọi chị là một người "nửa ni cô nửa gái làng chơi" và tuyên bố, "Những đóng góp xác thực nào mà Akhmatova có thể đem lại cho lớp trẻ của chúng ta? Chẳng có cái gì cả, nhưng nó lại điều gây ra biết bao tai hại". trong khi Akhmatova bị trục xuất, cũng đồng nghĩa rằng các chế độ tem phiếu thực phẩm… của chị cũng bị cắt bỏ hoàn toàn. Do vậy nữ thi sĩ của chúng ta không còn được trợ giúp cho cuộc sống thường ngày, nơi nương náu của chị hầu như cũng phải nương tựa vào bè bạn.
Lev Gumilev, con trai của Akhmatova lại bị bắt giữ một lần nữa vào năm 1949, anh không được trả tự do cho đến tận năm 1956. Trong thời gian đó, để cố gắng giải thoát cho con trai, Akhmatova đã viết một số bài thơ ca tụng chính quyền và công đức của Stalin, nhưng những bài thơ này không được xuất bản. Sau này, theo yêu cầu của chính Akhmatova, những bài thơ đó không được phép xuất bản trong tuyển tập thơ của chị.
Năm 1953 Joseph Stalin từ trần và Nikita Krushchev lên lãnh đạo. năm 1956 Nikita Krushchev đã đọc một bài diễn văn khét tiếng trước các lãnh đạo tối cao của đảng. Ông ta lên tiêng chỉ trích và gọi Stalin là một bạo chúa… Cùng năm đó Lev Gumilev, con trai của Akhmatova được trả tự do.
Các tác phẩm thơ của Akhmatova đã xuất bản trở lại vào năm 1958 và năm 1961 nhưng với sự kiểm duyệt rất gắt gao. Những nhà thơ trẻ như Joseph Brodsky đã góp công tổng hợp lại các tác phẩm bị cấm lưu hành mà chị đã sáng tác vào thời kỳ trước cách mạng. Brodsky sau này đã gọi Akhmatova là "Nàng thơ thần ai oán"

ugrobaannybrodskiinapravo.jpg

Trong đám tang của Akhmatova. Brodsky đứng phía bên phải

Ngày 5/3/1966, Akhmatova ra đi mãi mãi một cách bình thản. đó cũng là ngày kỷ niệm lần thứ 12 ngày mất của Stalin. Akhmatova là một trong những nhà thơ trữ tình vĩ đại nhất của nước Nga và có thể là một nữ thi sĩ vĩ đại nhất trong mọi thời đại của nước Nga. Bà có thể so sánh với Antigone do bà đã giữ lại được những nét văn hóa có giá trị trước cuộc cách mạng của nước Nga khi mà chính quyền lại cố gắng thủ tiêu đi.
[/color]
Nthach1 lược dịch tại: http://famous.russian-women.net
 
[size=18:9289a6cdb9][color=darkred:9289a6cdb9]Marina Ivanova Tsvetaeva (1892-1941)
còn được gọi với các tên khác như - Marina Cvetaeva, Marina Tsvetayeva
[/color][/size]

MARINA_TSVETAEVA.jpg




[color=darkblue:9289a6cdb9]Marina Tsvetaeva sinh tại Moscow. Cha của chị, ông Ivan Tsvetayev nguyên là một giáo sư nghiên cứu lịch sử và ông cũng là người khám phá ra bảo tàng Mỹ thuật. Mẹ của Mariya, bà née Meyn là một nghệ sĩ dương cầm có tài. Cả gia đình thường hay phải bôn ba khắp nơi và Tsvetaeva đã phải nhập trường học tại nhiều nơi như Thụy Sĩ, Đức và tại Sorbonne, Paris. Tsvetaeva đã sáng tác những đoạn thơ ngay từ khi còn nhỏ. Lần đầu tiên chị xuất hiện trước công chúng vào năm 18 tuổi với tuyển tập Album thơ "Buổi chiều tà". Tập thơ chị tự xuất bản và để dành cho thần tượng của mình là Bashkiartseff (1858-1884). Đối với các nhà văn của nước Nga, Bashkiartseff được viết lên như một mẫu người lý tưởng cho các nữ nghệ sĩ
Năm 1912 Tsvetaeva kết hôn với Sergei Efron, sau này họ sinh được hai người con gái và một người con trai. Năm 1913 chị đã cho ra mắt một tuyển tập thơ đầu tiên của mình. Tsvetaeva từng giao thiệp với nhà thơ kiêm viết nhạc kịch Opera Sofiia Párnok (1885-1933) mối giao thiệp này đã là nguồn cảm hứng cho chị sáng tác một tập thơ với chủ đề "Người bạn gái". Sự nghiệp của Párnok dừng lại vào cuối năm 1920 khi mà bà đã không còn sáng tác được nữa. Những bài thơ của Tsvetaeva được sáng tác vào giữa những năm 1917 và 1921 được xuất bản vào năm 1957 dưới tiêu đề "The Demesne of the Swans"
Một mối giao thiệp khác của Tsvetaeva là với Konstantin Rodzevich (1895-1988) nguyên là một sĩ quan Hồng quân. "Bài thơ của núi" và "Bài thơ của sự kết thúc" là kết quả của nguồn cảm hứng trong mối liên giao này của chị. Konstantin Rodzevich bị bọn Bạch vệ bắt giữ và anh đã trốn thoát đến Prague và tai đây anh đã tốt nghiệp đại học luật. Anh là một thành viên hoạt động trong tổ chức những người ủng hộ đảng Cộng sản, tham gia vào phong trào kháng chiến Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai và bị giam cầm tại Đức hai năm liền. Năm 1960, anh đem cô bạn tinh nghịch Tsvetaeva đễn Moscow.
Sau cuộc cách mạng năm 1917, Tsvetaeva mắc kẹt lại Moscow 5 năm. Trong thời kỳ khan hiếm lương thực, một người con gái của chị đã bị chết đói tại đây.
Chất thơ của Tsvetaeva rất được yêu thích và truyền tụng trong dân ca và cũng là một nguồn dẫn cảm tác cho các nhà thơ khác, chẳng hạn như Aleksander Blok và Anna Akhmatova. Những câu thơ của Akhmatova đã làm mê hoặc lòng người, nó truyền đạt sự e thẹn, bối rối trong tình yêu, " …Em e lệ rút găng bàn tay trái / rồi ngập ngừng đặt sang phải tay em…" Tsvetaeva đã tuyên bố: "… Tâm hồn thi sĩ của Akhmatova là duy nhất, không ai có thể làm được như chị. Trước Akhmatova không có ai trong chúng ta có thể miêu tả sinh động một tâm hồn thơ ca như chị, và sau Akhmatova cũng chắng có ai có thể làm được điều đó".
Năm 1922 Tsvetaeva di chuyển gia đình đến Berlin ở đây chị gặp lại người chồng mà trước đây anh đã tham gia chiến đấu tại đây, khi đó họ lại cùng nhau chuyển đến Prague. Thời gian này đã đem lại cho chị một số những tác phẩm đồ sộ nhất trong cuộc đời của mình, khi đó chị sáng tác và xuất bản 5 tuyển tập thơ và một số lượng lớn những tập chuyện thơ…Chị đã hòa trộn các cảm hứng từ các dòng kinh Orthodox và văn hóa dân gian với cách diễn đạt mới mẻ để tạo ra các tác phẩm làm rung động lòng người. Chị cũng luôn đi tìm cảm xúc sáng tác từ thế kỷ thứ 18 và thời kỳ lãng mạn của nước Nga rồi từ đó chị tạo ra những ý thơ mang một nét riêng biệt của mình giống một kẻ nổi loạn hoặc một người bị ruồng bỏ: "Chúng ta là những thi sĩ, những người đang mang âm điệu của những kẻ bị chối từ" chị đã sáng tác tập thơ Molodets, nó được hoàn thành vào cuối năm 1922 tại Tiệp Khắc, đây cũng là thành công diệu kỳ kế tiếp của chị. Tsvetaeva và Natalia Goncharova đã cố gắng đưa ra xuất bản tập thơ này tại Pháp nhưng không thành công. Sau này Le Gars, đã dựa trên tác phẩm này của Nga và đã xuất bản tại Paris vào năm 1986.

Năm 1925 gia đình chị định cư tại Paris. Tuyển tập thơ Craft của Tsvetaeva được xuất bản tại Berlin năm 1923. Ở Prague năm 1924 chị đã sáng tác "Bài thơ của đoạn kết", nói đến sự chia tay lưu luyến của một đôi tình nhân và thiên chức làm mẹ của người thiếu nữ. Sau khi đọc xong tác phẩm này, Pasternak đã ca ngợi Tsvetaeva như một nghệ sĩ có một năng lực phi thường. Về chủ đề riêng của chị đã được đề cập trong " Từ miền ven biển", "Sự thử thách của căn phòng" "Chiếc cầu thang gác" ('From the Sea coast,' 'Essay of the Room,' và 'The Staircase,') tất cả được sáng tác trong năm 1926. Tập chuyện thơ "Người bắt chuột" từ năm 1925, Tsvetaeva đã nhân cách hóa một cách khéo léo trong sự tương tác giữa những nhà cách mạng với những chú chuột già. Tập thơ này phớt tả về cuộc nội chiến của Nga và nó không được xuất bản đầy đủ trong thời kỳ Liên Xô đến tận năm 1990.
Vào những năm 1930 những bài thơ do Tsvetaeva sáng tác không được in ấn trên đất nước quê hương của mình. Chị đã phải xuất bản chúng trong các nhà xuất bản di cư như: Volia Rossii, Chisla, Poslednie Novosti, và Sovremennye Zapiski…
Trong thời gian sống taih Pháp, Tsvetaeva chị đã sáng tác được hai phần trong một bộ ba bản bi kịch. Đây cũng là một tuyển tập cuối cùng được xuất bản trong cả cuộc đời của chị,
Khi chồng của Tsvetaeva bắt đầu làm việc cho Cục an ninh Xô Viết NKVD, cộng đồng người Nga tại Paris quay lưng lại với Tsvetaeva. Thơ của chị bị hạn chế lưu hành và xuất bản, chị quay sang sáng tác văn xuôi. Năm 1937 chị cho ra mắt cuốn MOY PUSHKIN "Pushkin của tôi" đây cũng là một trong những tác phẩm hay nhất của Tsvetaeva ở thể loại văn xuôi. Để kiếm thêm thu nhập, chị còn viết cả chuyện ngắn, hồi ký và phê bình báo. Chị đã viết hàng loạt về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Valery Bryusov (1873-1924), Andrey Bely (1880-1934), Maksimilian Voloshin (1877-1932) và Mikhail Kuzmin (1972-1936)
Trong cảnh sống tha hương, Tsvetaeva càng cảm thấy đắng cay và đơn độc. Không có bạn bè và cuộc sống thật bần hàn cơ cực, chị quay về Liên Xô năm 1938 vì ở đây có chồng và con trai chị đang sinh sống. Một năm sau, chồng chị bị hành quyết và con gái của chị phải gửi đến một trại lao động. Tsvetaeva chính thức bị tẩy chay và không được phép xuất bản tất cả các tác phẩm của mình. Sau khi CCCP bị quân Đức xâm lược vào năm 1941. Tsvetaeva đã phải đi di tản đến Elabuga, một thị trấn nhỏ cùng với người con trai của mình. Trong nỗi đầy tuyệt vọng, mười ngày sau vào đúng ngày 31/8/1941 chị đã treo cổ tự vẫn. Chị đã viết một bài thơ vào năm 1922 trong tập thơ 'The Tsar-Maiden': " Tôi không ở một nơi nào. /Tôi đã biến đi trên mảnh đất này. /Chẳng có ai bắt kịp được tôi đâu. /Chẳng có điều gì níu kéo tôi ở lại.". Theo Boris Pasternak, cái chết của Tsvetaeva sẽ không xảy ra nếu như các quan chức văn hóa không cư xử một cách vô cùng nhẫn tâm đối với chị.

Để tham khảo thêm:
Marina Cvetaeva: Her Life and Art by Simon Karlinsky (1966); Nightingale Fever by Ronald Hingley (1982); Vospominaniia by Anastasia Tsvetaeva (1983); Marina Tsvetaeva by Simon Karlinsky (1985); A Captive Lion by Elaine Feinstein (1987); A Life Through Poetry by Jane A. Taubman (1989); Marina Tsvetaeva by Michael Makin (1993); Marina Tsvetaeva by Lily Feiler (1994); The Song of the Mocking Bird by Alexandra Smith (1995); Tsvetaeva's Orphic Journeys to the Worlds of the Word by Olga Peters Hasty (1996); Marina Tsvetaeva, éternelle insurgée by Henri Troyat (2001)
Selected works:
VECHERNII AL'BOM, 1910
VOLSHEBNYI FONAR', 1912
IZ DVUKH KNIG, 1913
VERSTY, VYPUSK I, 1922
RAZLUKA, 1922
STIKHI K BLOKU, 1922
TSAR'-DEVITSA, 1922
KONETS KAZANOVY, 1922
REMESLO, 1923
PSIKHEIA, 1923
MOLODETS, 1924
KRYSOLOV, 1925
POSLE ROSSII, 1928 - After Russia
PROZA, 1953
LEBEDINYI STAN, 1957 - The Demesne of the Swan
IZBRANNOE, 1961
IZBRANNYE PROIZVEDENIIA, 1965
PROSTO SERDTSE, 1967
MOI PUSHKIN, 1969
STIKHHOTVERENIIA, 1969
PROZA, 1969
PIS'MA K ANNE TESKOVOI, 1969
PIS'MA K RAZNYM LITSAM, 1969
Selected Poems, 1971 (trans. by E. Feinstein)
NEIZDANNYE PIS'MA, 1972
NEIZDANNOE, STIKHI, TEATR, PROZA, 1976
METEL'. PRIKLIUCHENIE. ARIADNA. P'ESY, 1978
IZBRANNAIA PROZA 1917-1937, 1979 (2 vols.)
STIKHOTVORENIIA I POEMY, 1979
STIKHOTVERENIIA I POEMY, 1980
A Captive Spirit: Selected Prose, 1980
SOCHINENIIA, 1980 (2 vols.)
STIKHOTVERENIIA I POEMY, 1980-1990 (5 vols.)
Three Russian Woman Poets: Anna Akhmatova, Marina Tsvevaeva, Bella Akhmadulina, 1983
Rainer Maria Rilke, Marina Zwetajewa, Boris Pasternak: Briefwechsel, 1983 - Boris Pasternak, Marina Tsevtaeva, Rainer Maria Rilke: Letters, Summer 1926
STIKHOTVORENIIA, 1986
Selected Poems, 1987
TEATR, 1988
"POKLNIS' MOSKVU, 1989
In the Inmost Hour of the Soul, 1989
SOBRANIE SOCHINENII, 1990 (3 vols.)
PIS'MA K ARIADNE BERG (1934-1939), 1990
V POLEMIKE S VEKOM, 1991
SIVILLA, 1991
GDE OTSTYPAETSIA LIUBOV'., 1991
OB ISKUSSTVE, 1991
AVTOBIOGRAFICHESKAIA PROZA, 1991
POEMY, 1992
Art in the Light of Conscience, 1992
SOBRANIE SOCHINENII, 1994-95 (7 vols.)
PIS'MA K DOCHERI, 1995
PIS'MA K ANATOLIIU SHTEIGERU, 1995

http://famous.russian-women.net[/color]
 
[size=18:333bc5cf47][color=darkred:333bc5cf47]Bella Akhmadulina, Nữ thi sĩ của nước Nga[/color][/size]

Bella_Akhmadulina.jpg

[color=darkblue:333bc5cf47]Bella (Izabella) Akhatovna Akhmadulina ( Белла Ахатовна Ахмадулина) Là một nữ thi sĩ của nước Nga. Chị đã được Joseph Brodsky viện dẫn như là một nhà thơ lớn nhất trong ngôn ngữ tiếng Nga. Bella sinh ngày 10/4/1937 tại Moscow. Dòng dõi tổ tiên của chị được hòa trộn giữa các dòng máu Nga, Tatar, George và Ý. Sự nghiệp văn chương của chị bắt đầu từ khi chị còn là một nữ sinh tham gia làm ký giả cho một tờ báo ở Moscow "Metrostroevets" và trau dồi kiến thức thi ca tại một tổ chức được hướng dẫn bởi nhà thơ Yevgeny Vinokurov. Những bài thơ đầu tiên của chị được xuất bản vào năm 1955 trên tạp chí "Tháng mười" và được các nhà thơ Xô Viết rất bằng lòng.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học chị thi tuyển vào trường đại học văn hóa Gorky và tốt nghiệp tại đây vào năm 1960. Trong thời gian còn là sinh viên chị đã cho ra mắt rất nhiều các bài thơ và bài báo của mình trên nhiều các báo khác nhau. Năm 1962 tuyển tập thơ đầu tiên của chị mang tựa đề "Sợi dây đàn" đã gây một tiếng vang lớn và nó đã đem lại một thành công mỹ mãn. Qua rất nhiều sàng lọc, một số các tuyển tập của chị được ra mắt sau đó như: "Music lessons" (1969), "Poems" (1975), "Candle" (1977), "Dreams on Georgia" (1977), "Coastline" (1991) và nhiều tuyển tập khác nữa. Một số các bài thơ của chị được phổ nhạc trở thành những bài hát được nhiều người mến mộ.
Bella kết hôn lần đầu với Yevgeny Yevtushenko (1954) và lần thứ hai với Yuri Nagibin (1960). Từ năm 1974 chị kết thân với Boris Messerer, một họa sĩ nổi tiếng của Nga. Họ có một ngôi nhà tại Peredelkino và một xưởng vẽ ở Moscow.
Các đề tài sáng tác chính của Akhmadulina thường viết về tình bạn, tình yêu và các lmối tương quan đến loài người. Chị là tác giả của một lượng lớn các bài tiểu luận viết về các bản dịch và các nhà thơ của nước Nga, một số trong các tác phẩm đó chị viết dành cho người bạn thân là Bulat Okudzhava.
Năm 1977, Bella Akhmadulina trở thành một thành viên danh dự của học viện văn học nghệ thuật Mỹ.
Chị được trao các giả thưởng như:
Giải thưởng quốc gia (1989)
"Nosside" (Italy, 1992)
"Independent" (Triumph, 1993)
"Pushkin" (Germany, 1994)
Năm 1984 Bella đã vinh dự nhwnj được huân chương "Friendship of Peoples" (1984)
Bella Akhmadulna đã dịch các bài thơ nước ngoài sang tiếng Nga từ các nước như: France, Italy, Chechnya, Poland, Yugoslavia, Hungary, Bulgaria, Georgia, Armenia và từ rất nhiều các nước khác nữa.
[/color]
bella_2.jpg
 
Back
Top