Tuy nhiên, khi các sắc lệnh chính thức đầu tiên về những trại đặc biệt được công bố vào mùa xuân năm 1919, một số ưu tiên chút ít đã xuất hiện (Theo sử gia Richard Pipes, Lenin không muốn tên mình gắn với những khu trại đầu tiên này, đó là lý do các sắc lệnh này được ban hành không phải bởi Xôviết Tối cao Sovnarkom do ông đang làm chủ tịch, mà bởi Ủy ban Điều hành Trung ương Liên Xô - Pipes, tr. 834). Các sắc lệnh, trong đó có một danh sách dài đến đáng ngạc nhiên những quy định và khuyến nghị, đề xuất mỗi thủ phủ vùng lãnh thổ cần lập một trại chứa không dưới 300 người, “nằm ở ngoại vi thành phố, hoặc trong các công trình vùng phụ cận như tu viện, nông trại, điền trang v.v.”. Trại này duy trì chế độ làm việc 8 giờ mỗi ngày, làm thêm giờ hoặc làm ca đêm chỉ được cho phép khi “phù hợp với luật lao động”. Không cho phép người nhà gửi thực phẩm. Cho phép gặp người thân trực tiếp trong gia đình, nhưng chỉ vào chủ nhật hoặc trong các dịp lễ. Tù tìm cách trốn trại sẽ bị tăng án lên gấp mười. Trốn trại lần thứ hai sẽ bị kết án tử hình – một hình phạt đặc biệt nặng nếu so với luật lệ lỏng lẻo thời Sa hoàng xử tội trốn tù, điều mà những người Bolshevik vốn biết quá rõ. Quan trọng hơn là các sắc lệnh cũng nêu rõ rằng lao động của tù nhân không phải nhằm giáo dục bản thân họ, mà là để bù đắp cho chi phí duy trì trại. Tù tàn tật được chuyển đi nơi khác. Các trại tự bù đắp duy trì kinh phí. Những người sáng lập ra các trại này lạc quan cho rằng họ sẽ tự trang trải được (Dekrety, tập V, tr. 69-70 và 174-181).
Do tình hình tài chính của đất nước trồi sụt thất thường, những người điều hành trại lập tức thấy hấp dẫn bởi ý tưởng tự trang trải kinh phí hoặc ít nhất là sử dụng sức lao động của tù nhân vào sản xuất thực tế. Tháng Chín năm 1919, một báo cáo mật được chuyển lên Dzerzhinsky than phiền rằng điều kiện vệ sinh tại một trại trung chuyển là “dưới mức phê bình”, chủ yếu là do người ta đã bắt quá nhiều người bệnh phải đi làm việc: “Dưới điều kiện ẩm ướt mùa thu bọn họ không thể bố trí làm chung với mọi người mà không gieo rắc mầm bệnh dịch và đủ thứ bệnh khác”. Ngoài ra, tác giả còn đề nghị rằng những ai không đủ khả năng làm việc nên được gửi đi chỗ khác, nhờ thế sẽ giúp trại hoạt động hiệu quả hơn – một phương thức mà sau này sẽ được áp dụng nhiều lần bởi lãnh đạo của Gulag. Vậy là, những người chịu trách nhiệm về trại rất quan tâm vấn đề bệnh tật và cái đói, chủ yếu vì các tù bị bệnh và đói thì không còn hữu ích nữa. Phẩm cách và nhân tính của họ, chưa kể đến tính mạng họ, không còn khiến những người chịu trách nhiệm quan tâm chút nào nữa (RGASPI, 76/3/65).
Do tình hình tài chính của đất nước trồi sụt thất thường, những người điều hành trại lập tức thấy hấp dẫn bởi ý tưởng tự trang trải kinh phí hoặc ít nhất là sử dụng sức lao động của tù nhân vào sản xuất thực tế. Tháng Chín năm 1919, một báo cáo mật được chuyển lên Dzerzhinsky than phiền rằng điều kiện vệ sinh tại một trại trung chuyển là “dưới mức phê bình”, chủ yếu là do người ta đã bắt quá nhiều người bệnh phải đi làm việc: “Dưới điều kiện ẩm ướt mùa thu bọn họ không thể bố trí làm chung với mọi người mà không gieo rắc mầm bệnh dịch và đủ thứ bệnh khác”. Ngoài ra, tác giả còn đề nghị rằng những ai không đủ khả năng làm việc nên được gửi đi chỗ khác, nhờ thế sẽ giúp trại hoạt động hiệu quả hơn – một phương thức mà sau này sẽ được áp dụng nhiều lần bởi lãnh đạo của Gulag. Vậy là, những người chịu trách nhiệm về trại rất quan tâm vấn đề bệnh tật và cái đói, chủ yếu vì các tù bị bệnh và đói thì không còn hữu ích nữa. Phẩm cách và nhân tính của họ, chưa kể đến tính mạng họ, không còn khiến những người chịu trách nhiệm quan tâm chút nào nữa (RGASPI, 76/3/65).