Ông Già Khốttabít

  • Thread starter Thread starter TLV
  • Ngày gửi Ngày gửi
[color=darkblue:d7c12b1694]Chương 16

[size=15:d7c12b1694]Về những gì đã xảy ra với Giênia Bôgôrát ở phương Đông xa xôi [/size]

Trong phòng xem của rạp chiếu bóng “Sao Thổ”, Giênia ngồi ở hàng ghế đầu vừa mới ngoảnh lại để cố nhìn kỹ cậu bé có râu trong lúc buổi chiếu vẫn chưa bắt đầu, nó bỗng thấy mắt tối sầm, bên tai vang lên tiếng rít váng óc và thay vì sàn nhà lót vải linôlêum, nó cảm thấy dưới chân mình là lớp đất mềm phủ đầy cỏ cao.

Lúc mắt Giênia đã hơi quen với bóng tối, nó vô cùng sửng sốt khi phát hiện ra rằng nó không ở trong rạp chiếu bóng mà lại ở trong một khu rừng rậm rạp khác thường nào đó. Khu rừng ngào ngạt hương thơm của những thứ hoa chưa từng biết. Từ những cây to hết sức mà Giênia cũng chưa hề biết, buông thõng xuống các dây leo. Đúng, đúng, đó chính là thứ dây leo chứ không phải là thứ gì khác! Ở đây rất nóng và ngột ngạt, còn nóng hơn cả cái phòng xem vừa biến mất.

Chìa tay về phía trước, Giênia thận trọng bước mấy bước và suýt nữa giẫm phải một con rắn. Con rắn phun phì phì như cái bơm hỏng, đôi mắt xanh nhỏ xíu long lên, rồi biến mất trong bụi rậm.

- Trời ơi, mình rơi vào đâu thế này? - Giênia lẩm bẩm, không dám bước đi nữa - Đúng là một khu rừng rậm nào đó. Cứ như trong mơ ấy.. Thôi phải rồi, mình đang mơ thấy tất cả những thứ này! - Nó mừng rỡ - Đúng là mình đang thấy mọi thứ trong mơ, mình đang ngủ và mình thấy...

Ai trong số các bạn đọc của chúng ta mà chẳng từng thấy những giấc mơ, trong đó bạn hiểu rõ rằng tất cả những gì xảy ra với bạn là chẳng phải thật.

Thật là thích khi thấy giấc mơ như thế này: những hiểm nguy chẳng có nghĩa lý gì đối với bạn, bạn lập nên những chiến công lừng lẫy nhất một cách dễ dàng và bao giờ cũng thành công ở mức cao nhất. Cái chính là bạn biết rằng sẽ đến lúc bạn thức dậy trên giường của mình, vẫn sống và bình yên vô sự.

K-17.jpg


Nhưng lúc Giênia thử lách qua một bụi rậm đầy gai, nó lại bị gai cào đau ra trò. Và bởi vì bị đau thì chẳng thích thú gì, thậm chí nếu bạn biết rằng tất cả những gì xảy ra với bạn chỉ là trong mơ, nên Giênia quyết định đánh một giấc cho đến sáng...

Giênia thức dậy lúc cao tít trên đầu nó ở khoảng trống giữa các vòm cây, bầu trời xanh nhạt ngập ánh nắng đã tỏa sáng chói lòa.

Giênia mừng rỡ giấc mơ tuyệt đẹp vẫn tiếp diễn!

Khi ra đến bìa rừng, cái nó thấy đầu tiên là những con voi. Có 4 con voi cả thảy, mỗi con đều quắp ở vòi một cây gỗ rất lớn.

Một người cởi trần, nước da ngăm ngăm, gày gò, đầu đội khăn xếp, ngồi trên con voi đi đầu.

Những làn khói nhẹ bốc lên từ một ngôi làng nhỏ ở phía xa.

Bây giờ, Giênia đã biết rõ mình đang mơ thấy gì. Nó đang mơ thấy nước Ấn Độ.

Riêng điều này thôi đã rất tuyệt rồi. Nhưng cái tuyệt nhất vẫn còn ở phía trước.

- Cậu là ai vậy? - Người quản tượng hỏi Giênia với giọng lạnh lùng. - Người Anh? Người Bồ Đào Nha? Người Mỹ?

- Ông nói gì thế! - Giênia trả lời ông bằng thứ tiếng Anh rất tồi - Tôi là người Nga… Ruxi. - Để cho chắc, nó trỏ vào ngực mình – Hinđi, Ruxi - pờ hai, pờ hai…(1)

Một chuyện gì đã xảy ra với người quản tượng lúc ấy!

Mặt rạng rỡ với nụ cười tươi nhất, ông gật đâu mạnh đến nỗi chiếc khăn xếp phải tài tình lắm mới không văng xuống đất. Sau đó ông ra lệnh cho con voi của mình quỳ 2 chân trước, kéo Giênia lên ngồi với mình, rồi cả đàn voi trịnh trọng ngất ngưởng đi tiếp về làng.

Dọc đường, họ gặp mấy chú bé. Người quản tượng nói lớn với chúng một câu gì đó. Các chú bé há hốc mồm và trố mắt thích thú vì được thấy một bạn thiếu niên Liên Xô bằng xương bằng thịt. Sau đó chúng reo hò ầm ĩ, vừa chạy vừa nhảy múa rồi lao về làng. Lúc Épghêni Bôgôrát, học sinh lớp 7B trường trung học số 124 ở Mátxcơva, về đến nơi thì toàn thể dân làng từ trẻ đến già đã đổ ra con đường lớn duy nhất của làng.
Cuộc đón tiếp mới nồng nhiệt làm sao!

K-18.jpg


Giênia được trân trọng đỡ xuống voi, được hoan hỉ dẫn vào nhà và việc trước tiên là được ăn uống thỏa thích. Điều đó thật đúng lúc. Thì ra trong giấc mơ, Giênia cũng muốn được ăn. Lạ thật, nó đã có một giấc mơ giống như thật biết chừng nào! Sau đó, dân làng đến gần Giênia và siết chặt tay nó. Rồi mọi người hát một bài hát Ấn Độ rất chậm rãi. Giênia cũng ê a hát theo, làm mọi người thích thú hết sức. Giênia hát tiếp bài “Bài ca thanh niên dân chủ”, có mấy chàng trai và cô gái trong làng cùng hát hòa theo, còn những người khác cũng lẩm nhẩm hát theo họ. Mọi ngươi yêu cầu một anh trai làng hát. Anh này bắt đầu cất tiếng. Giênia đã đoán ra ngay đó là bài “Cachiusa” (2). Nó liền say sưa hát hòa theo, còn mọi người thì vỗ tay đánh nhịp. Sau đó, tất cả lại siết chặt tay Giênia và cùng hô lớn: "Hinđi - Ruxi - pờ hai, pờ hai”.

Lúc mọi tình cảm đã lắng xuống đôi chút, cả làng liền bắt chuyện với Giênia. Bởi vì cả Giênia lẫn dân làng đều nói tiếng Anh không thạo nên phải mất nhiều thời gian dân làng mới hỏi được Giênia có muốn họ nhanh chóng đưa nó đến Đại sứ quán Liên Xô ở Đêli hay không. Nhưng Giênia chẳng lấy gì làm vội cho lắm. Và quả thật vội vã mà làm gì khi nó đang mơ một giấc mơ lý thú và dễ chịu như thế.

Giênia chưa kịp ngoảnh đi ngoảnh lại thì các đại diện làng bên đã đến và họ dẫn cậu khách quý Liên Xô về làng mình.

Ở làng này cũng như ở ba làng khác mà Giênia đã kịp đến trong cái ngày đáng ghi nhớ ấy, tất cả mọi người đu đón tiếp nó nồng nhiệt như ở làng đầu tiên.

Giênia ngủ lại ở làng thứ ba. Vừa mới tảng sáng, các đại biểu của làng thứ tư đã đến đón Giênia. Chính tại đây, Giênia đã phải rên rỉ một chút như chúng ta đã biết.

Các bạn hãy thử không rên rỉ xem khi hàng trăm cánh tay thân ái bế tung bạn lên cùng với những tiếng hô “Hinđi- Ruxi - pờ hai, pờ hai!” và lúc tình cảm dâng lên cao độ, người ta đã tung bạn suýt nữa thì lên đến tận mây.

May thay, một lúc sau có chiếc xe tải nhỏ đi cùng đường xình xịch chạy đến. Giênia phải đi nhờ chiếc xe này tới ga xe lửa gần nhất.

Những người dân làng tươi cười xúm quanh, siết chặt tay Giênia và ôm hôn nó. Hai cô bé cầm một vòng hoa lớn chạy đến và quàng vòng hoa vào cổ vị khách trẻ tuổi đang rất ngượng nghịu. Ba chú bé do một thầy giáo dẫn đầu đã mang tặng Giênia một buồng chuối thật lớn. Thay mặt toàn thể dân làng, thầy giáo chúc Giênia lên đường bình an. Các bạn thiếu nhi Ấn Độ nhờ Giênia chuyển lời chào tới các bạn thiếu nhi Mátxcơva và ngoài ra còn xin Giênia chữ ký, cứ như nó là một nhân vật nổi tiếng nào đó. Dĩ nhiên, Giênia không thể nào từ chối các bạn nhỏ Ấn Độ về chuyện chữ ký.

Giênia ôm buồng chuối bằng cả hai tay và cúi chào tứ phía. Sau đó, được người đỡ phía sau, Giênia đã nhấc chân để bước lên bậc, vào cabin xe tải, nhưng nó bỗng... biến mất. Biến chẳng còn một chút tăm hơi!

Riêng điều đó đã đáng kinh ngạc lắm rồi. Nhưng có điều còn đáng kinh ngạc hơn là chẳng một ai trong số những người đi tiển tỏ vẻ ngạc nhiên về điều đó. Họ không ngạc nhiên bởi vì họ đã quên sạch mọi chuyện về Giênia. Còn tại sao họ quên Giênia nhanh như thế thì bây giờ, các bạn đọc thân mến, chúng tôi và các bạn hình như chẳng lấy gì làm ngạc nhiên cho lắm. [/color]

---

[size=11:d7c12b1694](1) Tiếng Ấn Độ: tiếng hô biểu hiện tình hữu nghị giữa nhân dân Ấ Độ và nhân dân Liên Xô – N.D.

(2) Một bài hát nổi tiếng của Liên Xô - N.D.[/size]
 
[color=darkblue:255b0dd041]Chương 17

[size=15:255b0dd041]Tờ ra lá la, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa! [/size]

Không có gì nguy hiểm hơn là ngủ trên tấm thảm bay mà không có những phương tiện phòng bị cần thiết.

Hai nhà du hành của chúng ta đã được ấm người nhờ hai chiếc áo bông ấm áp mà ông Khốttabít đã lấy ngay từ trong không trung. Họ bị mệt lử vì những thử thách trải qua trong ngày và được cái yên tĩnh tuyệt đối ở xung quanh họ ru ngủ nên cả hai đã thiếp đi lúc nào không biết.

Vônca nằm co, ngủ không hề mộng mị gì cả. Còn ông Khốttabít thì ngủ ngồi trong một tư thế bất tiện, áp ngực xuống đầu gối và ông đã mơ thấy một giấc mơ khủng khiếp.

Ông già mơ thấy dường như bọn đầy tớ của Xalômông con trai của Đavít, dưới sự chỉ huy của tể tướng Axáp con trai của Barakhia, lại định nhốt ông vào một cái bình bằng đá và dường như chúng đã tống được nửa người ông vào bình rồi, còn ông thì đang chống cự lại bằng cách tì cả hai khuỷu tay vào thành miệng bình. Và dường như bọn đầy tớ của Xalômông cũng muốn nhốt vị cứu tinh và người bạn trẻ tuổi tuyệt vời của ông là Vônca con trai của Aliôsa vào một cái bình như thế. Lúc bấy giờ, cả hai ông cháu sẽ chẳng bao giờ cứu được nhau, còn cậu Giênia tội nghiệp sẽ buộc phải kéo lê cái số kiếp nô lệ khổ ải cho tới khi nhắm mắt xuôi tay, bởi vì chẳng bao giờ có người đến cứu cậu ta được nữa. Cái chính là lúc đó, ông Khốttabít lại bị giữ chặt cả hai tay nên ông không thể sử dụng sự hùng mạnh của mình để cứu cả ông lẫn Vônca. Nhận thấy rằng chỉ vài khoảnh khắc nữa thôi thì sẽ muộn mất, ông Khốttabít đã ráng hết sức dùng vai huých qua một bên và nhờ vậy ông đã vọt hẳn ra khỏi bình. Nhưng ngay lúc đó vẫn chưa hoàn toàn tỉnh giấc mơ, ông Khốttabít đã trượt ra ngoài tấm thảm, rơi xuống khoảng không vô tận, đen ngòm và lạnh lẽo.

Cũng may là tiếng thét của ông già đã làm Vônca thức dậy và nó đã kịp chộp lấy tay trái của ông. Bây giờ đến lượt ông Khốttabít bay đằng sau tấm thảm nhờ bám vào tay Vônca. Nhưng chỗ bám này rất chi là mong manh: ông già nặng hơn Vônca rất nhiều và chắc chắn cả hai sẽ rơi từ độ cao ghê gớm xuống mặt đất tối đen, không trông thấy gì, nếu như ông Khốttabít không tìm được cách dùng tay phải rứt cả nắm râu và niệm cả tràng thần chú thường dùng trong các trường hợp như thế.

Sau đó, Vônca chẳng vất vả gì cũng lôi được ông già lên lại tấm thảm. Niềm sung sướng của nhân vật chính của chúng ta sẽ hoàn toàn trọn vẹn nếu như ông Khốttabít, giữa lúc Vônca đang lôi ông lên tấm thảm, đừng la hét om sòm: “A ha, hỡi cậu Vônca!”, “Ổn rồi, hỡi cậu bạn quý báu nhất đời!”, rồi ông cố hát một câu gì đó và lại cười lên hô hố với vẻ vui mừng cao độ, làm cho Vônca rất hoảng: nếu bỗng nhiên ông già phát điên vì quá sợ thì chết!

Thật ra, lúc đã ở trên tấm thảm rồi, ông Khốttabít thôi không hát nữa. Nhưng bây giờ ông lại chẳng nghĩ ra được cái gì hay hơn là bắt đầu nhảy múa. Nhảy múa giữa đêm, trên tấm thảm, không mấy bảo đảm.

- Tờ ra lá la, hỡi cậu Vônca!... Tờ ra lá la, hỡi cậu con trai của Aliôsa!... - Ông Khốttabít vừa rống lên trong bống tối mù mịt vừa giơ cao đôi chân dài, khẳng khiu của mình và mỗi giây đều có nguy cơ lại ngã ra ngoài tấm thảm.

Thể theo lời van nài của Vônca, cuối cùng ông già thôi nhảy múa, nhưng lại bắt đầu hát. Lúc đầu ông già hát hết sức sai âm điệu bài : “Khi người bạn phương xa hát”, sau đó ông hát bài tình ca Digan cổ “Hãy mở khẽ cửa con hàng giậu” chẳng hiểu ông nghe lỏm được ở đâu, rồi ông nín lặng ngay lập tức, ngồi xổm xuống và rứt mấy sợi râu. Vônca đoán được như vậy nhờ những tiếng “tưng, tưng” nhẹ.

Tóm lại, nếu có lúc các bạn quên một điều gì đó rất quan trọng và các bạn không tài nào nhớ lại được thì chẳng có cách nào tốt hơn là ngã ra ngoài tấm thảm bay, dù chỉ trong một giây thôi. Cái ngã ấy sẽ làm đầu óc minh mẫn ra rất nhiều. Ít ra nó đã giúp ông Khốttabít nhớ ra cách giải những lời phù phép của chính mình.

Bây giờ chẳng cần phải tiếp tục chuyến bay khó khăn và nguy hiểm để giải thoát cậu Giênia bất hạnh ra khỏi cảnh nô lệ nữa.

Và quả thực, những tiếng “tưng, tưng” của các sợi râu bị rứt vẫn chưa kịp tan biến trong không trung đen ngòm thì từ đâu đó trên cao, trong bóng tối, Giênia đã ngã xuống tấm thảm bay, hai tay vẫn còn ôm khư khư một buồng chuối to tướng, nặng tới cả pút (1).
- Gienca! - Vônca sung sướng kêu lên.

Không chịu được trọng tải phụ, tấm thảm bay vừa lao xuống thấp vừa rít lên. Mọi người bỗng cảm thấy không khí xung quanh rất ẩm ướt, lạnh buốt thấu xương và những vì sao lấp lánh trên cao đều biến sạch. Thì ra tấm thảm bay đã lọt vào những đám mây dày đặc.

K-19.jpg


- Ông Khốttabít! - Vônca bèn kêu lên - Phải mau mau vọt lên trên, cao hơn những đám mây!

K-20.jpg


Nhưng ông già không hề trả lời. Qua màn mây mù dày đặc, thấy lờ mờ thân hình co quắp của ông với cái cổ áo vét dựng đứng. Ông già vội vã rứt hết sợi râu này đến sợi râu khác. Vang lên một tiếng rung như tiếng phát ra từ sợi dây kéo căng trên cây đàn balalaica trẻ con tự làm. Với tiếng rên rỉ đầy tuyệt vọng, ông Khốttabít ném một sợi râu đi và rứt một sợi nữa. Lại một tiếng rung như trước vang lên và kèm theo nó là tiếng rên rỉ và tiếng lầu bầu chán chường của ông thần già.

K-21.jpg


- Này, Vônca, Vônca ơi! - Giữa lúc đó Giênia lại quấy rầy cậu bạn của mình - Chúng ta đang bay trên cái gì thế?... Hình như trên tấm thảm bay, hình như…

- Đây chính là một tấm thảm bay... Ông Khốttabít, ông còn kề cà gì ở đằng ấy thế?

- Bây giờ làm quái gì còn thảm bay nữa! - Giênia nói - Ối!...

Tấm thảm lượn ngoặt hết sức đột ngột.

Đây chẳng phải lúc tranh cãi với Giênia.

- Ông Khốttabít, ông làm gì ở đằng ấy? - Vônca giật tay áo véttông ướt sũng của ông già.

- Ôi, khổ thay cho ta! - Tiếng nức nở của ông Khốttabít chỉ mơ hồ vọng đến qua màn mây mù dày đặc và qua tiếng rít mỗi lúc một to của tấm thảm đang lao xuống - Ôi, khổ thay cho tất cả chúng ta!... Ta bị ướt từ đầu đến chân rồi!

- Cả hai chúng cháu cũng ướt như chuột rồi! - Vônca bực tức nói lớn với ông già - Người đâu mà ích kỷ thế không biết!

- Bộ râu! Than ôi, bộ râu của ta ướt nhẹp mất rồi!

- Xin ông nói rõ tại sao ông lại khổ ạ? – Giênia hỏi.

- Bộ râu của ta ướt nhẹp mất rồi! - Ông Khốttabít nhắc lạ với vẻ buồn rầu vô hạn - Ta bây giờ bất lực như một đứa trẻ con. Muốn phù phép cần phải có râu khô, râu thật khô kia!...

- Bây giờ chúng ta sẽ ngã uỵch xuống đất, - Vônca nói với giọng lạnh lùng - Và chúng ta sẽ tan xác!

- Khoan đã, khoan đã nào! - Giênia vừa thở hổn hển vừa nói - Cái chính là không được mất bình tĩnh! Trên khinh khí cầu, trong những trường hợp như thế này, người ta thường làm gì? Người ta thường ném bớt những cái túi cát... Ôi, vĩnh biệt những quả chuối Ấn Độ của ta!

Vừa nói, Giênia vừa quẳng buồng chuối nặng xuống khoảng không vô tận mịt mù.
Tấm thảm ngừng lao xuống, lại bắt đầu lao lên, lọt vào luồng không khí và bay chếch sang phía bên phải đường bay cũ.

Bây giờ Giênia, vẫn nóng lòng muốn biết mọi chuyện, liền thì thầm hỏi Vônca:

- Vônca, Vônca ơi, đó là ông già nào thế?

- Sau này mình sẽ kể hết mọi chuyện, - Vônca thì thầm đáp lại - Lúc chúng ta đã hạ xuống đất... Hiểu chưa?...

Giênia chỉ hiểu rằng lúc này, vì một lý do quan trọng nào đó, cần phải gác chuyện hỏi han lại.

Ông Khốttabít lại lấy thêm từ đâu không biết một chiếc áo khoác nữa, lần này cho Giênia, rồi cả ba ông cháu thiếp đi lúc nào không hay. [/color]

---

[size=11:255b0dd041](1) Đơn vị đo trọng lượng cũ của Nga, bằng 16,38 kilôgam – N.D.[/size]
 
[color=darkblue:f52e6c47f3]Chương 18

[size=15:f52e6c47f3]Xin hãy làm quen [/size]

Vônca thức dậy vì một tiếng thánh thót tựa như tiếng phát ra từ chuỗi pha lê treo ở cây đèn chùm. Đang ngái ngủ, nó tưởng đó là do ông Khốttabít rứt các sợi râu có phép lạ của mình, nhưng không phải: ông già đang ngủ ngon lành và thở nhè nhẹ. Thì ra những sợi râu của ông Khốttabít và những tua viền của tấm thảm bay bị phủ băng đã phát ra tiếng lanh canh thánh thót khi ngọn gió ban mai trong lành thổi qua.

Mặt trời chói lòa đã mọc ở phía Đông. Trời dần dần ấm lên. Lớp băng mỏng phủ trên những sợi râu của ông Khốttabít, trên những tua viền của tấm thảm và trên khắp bề mặt tấm thảm, trừ chỗ mấy người nằm, đã bắt đầu tan ra.

Ông Khốttabít xoay mình nằm nghiệng, ngáp một cái ngon lành và thở khò khè nhè nhẹ, dường như trong mũi của ông có một cái tu huýt nào đó.

Giênia cũng thức dậy vì ẩm ướt và vì nóng. Ghé sát vào cái tai lạnh cóng của Vônca, nó thì thầm:

- Ông già nào vậy hả cậu?

- Cậu hãy thú nhận đi, - Vônca vừa thì thầm đáp lại, vừa sợ sệt liếc nhìn ông Khốttabít - Có phải cậu muốn bàn ra tán vào với các bạn về bộ râu của mình phải không?

- Thế thì đã sao?

- Ông già không thích chuyện đó.

- Không thích chuyện gì?

- Ông ấy không thích các cậu bàn tán linh tinh về mình.

- Eo ôi!

- Cậu đã biết thế nào là “Eo ôi” rồi đấy! Hấp một cái, thế là sang tận một sa mạc nào đó. Ông già làm việc ấy dễ như trở bàn tay.

Giênia vẫn tỏ vẻ không tin.

Vônca lại sợ sệt liếc nhìn ông Khốttabít rồi ghé sát hơn vào tai Giênia:

- Cậu có tin rằng óc mình vẫn hoàn toàn tỉnh táo không?

- Hỏi gì mà kỳ vậy!

- Thì cậu cứ trả lời có đúng là đầu óc mình vẫn hoàn toàn tỉnh táo không?

- Đúng!

- Thế đấy, cậu muốn tin hay không thì tùy, nhưng ông già này là một ông thần, một ông thần chính cống trong “Nghìn lẻ một đêm”!

- Thôi đi cậu!

- Chính ông ấy đã làm hại mình trong cuộc thi... Ông ấy nhắc bài, còn mình thì phải lập lại như một con vẹt ấy.

- Chính ông ấy?

- Nhưng không được hở cho ông ấy biết là mình thi trượt đấy nhé. Ông ấy đã thề là sẽ làm tình làm tội các giáo viên nếu họ đánh trượt mình. Thế là mình phải nói loanh quanh suốt để cứu cô Vácvara thoát khỏi pháp thuật của ông ta. Nếu có chuyện gì là mình lại đánh lạc hướng liền. Rõ chưa?

- Không rõ lắm.

- Dù sao đi nữa thì cậu cũng phải giữ mồm giữ miệng.

- Mình sẽ giữ mồm giữ miệng! - Giênia thì thầm vơi vẻ trầm ngâm - Thế có nghĩa là ông già này đã quẳng mình sang tận Ấn Độ?

- Chính ông ấy đấy. Và cũng chính ông ấy đã đưa cậu ra khỏi Ấn Độ. Nếu cậu muốn biết thì mình xin nói cho cậu biết rằng ông ấy đã quẳng cậu sang đấy để người ta bán cậu làm nô lệ.

Giênia cười sằng sặc:

- Bán mình làm nô lệ? Ha ha ha!

- Khẽ chứ, cậu làm ông ta thức dậy bây giờ!

Nhưng lời cảnh cáo của Vônca đã muộn.

Ông Khốttabít mở mắt, ngáp dài ngon lành:

- Chào cậu Vônca! Còn cậu thiếu niên này, ta đoán không phải ai khác ngoài cậu Giênia bạn của cậu?

- Vâng, xin hãy làm quen! - Vônca nói với giọng như sự việc diễn ra không phải ở cao tít trên không trung, mà ở một nơi nào đó, trong phòng đại lễ của trường nó, và nó giới thiệu với ông Khốttabít người bạn vừa tìm lại được.

- Rất hân hạnh! - Giênia trịnh trọng nói.

Còn ông Khốttabít thì im lặng một lát, nhìn chằm chằm vào mặt Giênia, dường như cân nhắc xem cậu thiếu niên này có đáng được nhận những lời lẽ tốt lành hay không. Và có lẽ sau khi thấy rõ rằng Vônca đã không lầm trong việc chọn bạn, ông Khốttabít liền nở nụ cười tươi nhất trong tất cả các nụ cười của mình:

- Ta sung sướng vô cùng khi được làm quen với cậu. Những người bạn của ông chủ trẻ tuổi của ta cũng là những người bạn tốt nhất của ta.

- Ông chủ? - Giênia ngạc nhiên.

- Ông chủ và vị cứu tinh!

- Vị cứu tinh? - Giênia không kìm nổi, cười phá lên.

- Cậu cười thật vô duyên! - Vônca nghiêm nghị nói với Giênia - Ở đây chẳng có gì đáng cười cả!

Sau đó, nó kể lại vắn tắt cho Giênia nghe tất cả những gì mà bạn đọc chăm chú của tôi đã từng biết.[/color]
 
[color=darkblue:60bf7c7b48]Chương 19

[size=15:60bf7c7b48]Hỡi vị chúa tể hùng mạnh, hãy xá tội cho chúng tôi! [/size]

Trong ngày hôm ấy, hai lần tấm thảm bay lọt vào tầng mây dày đặc và lần nào cũng vậy, bộ râu đã gần khô hẳn của ông Khốttabít lại ướt nhẹp đến độ ngay cả cái phép lạ đơn giản nhất cũng đừng có mà nghĩ đến. Dù chỉ là cái phép lạ kiếm chút thức ăn cũng chẳng làm nổi. Trong khi đó, cả ba ông cháu đã đói mềm rồi.

Ngay cả câu chuyện của Giênia kể lại về những gì nó đã trải qua trong mấy ngày đêm gần đây cũng không thể làm cho các nhà phi hành của chúng ta quên nghĩ đến chuyện ăn.

Và điều chủ yếu là chuyến bay vẫn chẳng biết lúc nào mới kết thúc.

Đói, buồn và rất bất tiện. Tấm thảm dường như đứng yên một chỗ, một phần vì nó bay rất chậm, một phần vì thảo nguyên trải rộng ở bên dưới rất đơn điệu. Thỉnh thoảng ở bên dưới mới thấy từ từ trôi qua những thành phố, những dòng sông xanh, rồi lại trải dài thảo nguyên, những cánh đồng đã phủ thảm lúa mì chín vàng, những cách đồng, những cách đồng... Từ điểm này, Giênia đã rút ra một kết luận đúng đắn: ba ông cháu đang bay qua các vùng phía Nam đất nước Xôviết. Sau đó, đằng trước và bên phải bỗng xuất hiện một vùng nước xanh mênh mông chạy dài suốt cả đường chân trời, còn bên trái là đường răng cưa của những dãy núi rất xa.

- Hắc Hải! - Cả Vônca lẫn Giênia cùng đồng thanh reo lên.

- Ôi, khổ thay cho chúng ta! - Ông Khốttabít kêu lên - Chúng ta sẽ bị cuốn thẳng ra biển!
Nhưng may thay, luồng không khí trái tính trái nết đã quay ngoắt tấm thảm hơi chếch về phía bên trái, cuốn nó với một tốc độ lớn vào những đám mây dày đặc, và cùng với những đám mây, nó lao vút dọc bờ biển Cápcadơ.

Qua khoảng trống giữa các đám mây, Giênia đã kịp nhận thấy thoáng hiện ra ở phía thành phố Tuápxê với các tàu thủy đậu ở vũng tàu và ở bến tàu nhô ra biển rất xa.
Sau đó, tất cả lại bị che khuất sau màn mây mù dày đặc. Quần áo và giày của các nhà du hành của chúng ta lại ướt sũng - chẳng biết lần thứ mấy rồi! Còn tấm thảm thì nặng thêm tới mức nó vừa đột ngột lao xuống thấp, vừa rít lên. Chỉ trong vài phút, những đám mây đã lùi lại ra phía sau. Chẳng mấy chốc bên dưới tấm thảm đã hiện ra thành phố nghỉ mát nổi tiếng Xôchi đang rực rỡ trong ánh hoàng hôn.

Mỗi lúc một hạ xuống thấp, tấm thảm lao nhanh trên đường ôtô rộng và đẹp chạy từ Xôchi đến Maxexta. Các nhân vật chính của chúng ta đang đờ người chờ đón cái kết thúc bi thảm đã hết sức gần. Từ trên tấm thảm, họ tưởng như con đường ôtô (hai bên đường có nhiều tòa lâu đài được dùng làm nhà an dưỡng) đang lao vun vút về phía tấm thảm bay.

Chiếc cầu đẹp bắt trên cái thung lũng rất sâu và hẹp hiện ra và biến ngay tức khắc.
Những ngọn cây lướt qua gần sát bên dưới tấm thảm. Tưởng chừng như chỉ cần thò tay xuống là có thể chạm ngay những ngọn cây đó.

Thoáng hiện ra ngay dưới tấm thảm bay một tòa nhà an dưỡng đồ sộ. Từ tòa nhà, hai đường rầy treo màu lam nhạt chạy thẳng xuống biển theo cái bờ dốc đứng.

Bay thêm vài khoảnh khắc nữa, tấm thảm liền lao hết tốc lực xuống bể bơi của nhà an dưỡng mang tên Oócgiônikítde, làm nước bắn lên tung tóe.

Bốn bề vắng lặng. Đang là giờ ăn tối, nên tất cả những người nghỉ ở đây đều đến nhà ăn.

Các nhà du hành hẩm hiu vừa leo lên bờ bể bơi, vừa thở hồng hộc và phun phì phì.

- Cứ ngỡ là còn tệ hại hơn chứ. - Vônca tò mò nhìn quanh và nói.

- Chao ôi, nếu lao vào một tòa nhà nào đó hoặc lao vào núi đá thì tan xác ! - Giênia nói.
Một cái hay nữa là ở gần đó không hề có bóng người. Các nhà du hành của chúng ta ngồi tạm xuống những chiếc ghế bạt có rất nhiều ở đây, vắt quần áo cho ráo nước, vừa vắt vừa rên hừ hừ và co ro vì lạnh, sau đó đi ra khỏi hàng rào giăng lưới dây thép của bể bơi.

- Ta chỉ cần hong khô bộ râu là mọi việc sẽ được thu xếp một cách ổn thỏa nhất. - Ông Khốttabít nói với vẻ lo lắng và thử sờ tay vào bộ râu - Hừ, vẫn còn ướt nguyên!...
- Chúng ta đi tìm nhà bếp, - Giênia nói - Có thể người ta sẽ cho ông ngồi hong bên bếp lò... Chà, bây giờ mà có một miếng bánh mì chừng 400 gam và mỗi người có chừng 200 gam xúc xích nhỉ!...

- Hoặc có khoai tây nóng trộn bơ cũng được! - Vônca nói theo.

- Các cậu làm ta đau khổ vô cùng, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta! - Ông Khốttabít thốt lên với vẻ hết sức buồn rầu - Do lỗi của ta mà các cậu...

- Không phải lỗi của ông đâu, không phải lỗi của ông đâu! - Vônca ngắt lời ông già với giọng làm cho ông an tâm - Ta đi tìm nhà bếp đi thôi.

Ba ông cháu đi qua sân quần vợt vắng tanh, xuống phía dưới theo một con đường nhỏ trải nhựa, rồi đi qua một cửa vòm cao và trước mắt họ hiện rõ những tòa nhà trắng tinh tráng lệ thuộc nhà an dưỡng mang tên Oócgiônikítde của công nhân mỏ. Một bể phun nước hình tròn, rộng như một sân khiêu vũ, đang phun rào rào những tia nước tuyệt đẹp lên độ cao của một tòa nhà 3 tầng. Các cửa sổ của tòa nhà chính rực rỡ ánh đèn.

- Chúng ta chết đến nơi rồi! - Ông Khốttabít khẽ kêu lên - Chúng ta đã rơi vào lãnh địa của một vị chúa tể giàu có và hùng mạnh nhất... Đội vệ binh sẽ hiện ra ngay bây giờ và sẽ chặt đầu hết toàn bộ chúng ta... Ta và chỉ có ta thôi là có lỗi trong toàn bộ chuyện này. Ôi, khổ thay và nhục nhã thay cho những sợi tóc bạc của ta!...

Giênia cười lớn. Vônca phải thụi vào hông bạn để cậu ta im đi, khỏi làm cho ông già nổi giận.

- Đội vệ binh nào kia ạ? Những cái đầu nào kia ạ?

Vônca cãi lại ông Khốttabít - Đây là một nhà an dưỡng bình thường... Nói đúng hơn là không hẳn bình thường mà rất tốt. Mặc dù ở đây, tại Xôchi này, hình như tất cả nhà an dưỡng đều như thế…

- Hỡi cậu Vônca, ngay từ khi các ông cao tổ của cậu chưa ra đời, ta đã rất rành về các tòa lâu đài!... Ta mà lại không biết đội vệ binh sẽ chạy đến đây ngay bây giờ và... Ôi, khổ thay cho chúng ta, đội vệ binh đang chạy đến đó!...

Quả thật lúc này 2 cậu bé nghe thấy một người nào đó đang chạy nhanh theo cái cầu thang rộng bằng đá, vừa chạy vừa nhảy qua một lúc mấy bậc. Cùng lúc đó, một người nào đó nhoài người qua lan can của tòa nhà chính và nói lớn:

- Giapha! Ăn tối xong, chúng ta sẽ đi lùng!... Đêm hôm khuya khoắt, chúng chẳng biến đi đâu mà sợ!... Giapha!...

- Các cậu đã nghe thấy chưa? - Ông Khốttabít kêu lên, nắm lấy tay Vônca và Giênia rồi lôi tuột 2 đứa vào con đường bên cạnh, sau đó vào một bụi cây - Các cậu đã nghe thấy chưa? Đó là tiếng nói của lão đội trưởng đội vệ binh... Họ sẽ đi lùng chúng ta sau bữa tối và họ sẽ tóm được chúng ta thôi... Thế mà bộ râu của ta vẫn ướt nhẹp như miếng bọt biển và ta bất lực như một đứa bé con!..

K-22.jpg


Đúng lúc ấy, ông già nhìn thấy 2 chiếc khăn mặt hiện ra trăng trắng trên lưng chiếc ghế dài đặt trong vườn hoa.

- Trời ơi! - Ông sung sướng reo lên và lao về phía 2 chiếc khăn mặt – Đây, cái này sẽ giúp ta lau khô bộ râu của ta. Và bấy giờ, chúng ta sẽ không còn sợ một đội vệ binh nào nữa!..

Thoạt tiên, ông cầm một chiếc khăn mặt lên, sau đó ông cầm chiếc thứ hai và thốt lên tiếng rên rỉ sầu não:

- Trời ơi, chúng cũng ướt nhẹp... Mà đội vệ binh thì đã tới gần lắm rồi!..

Tuy vậy, ông Khốttabít vẫn dùng khăn mặt hối hả lau bộ râu.

Một người Adécbaigian cao lớn, mặc chiếc áo khoác sang trọng màu đỏ thẫm đã bắt gặp ông Khốttabít đang làm việc đó. Từ sau bụi hoa hồng, ông ta hiện ra lặng lẽ và bất ngờ như từ dưới đất chui lên.

- A ha, chúng (2) đây rồi! - Ông ta nói với giọng khá điềm tĩnh - Ông già thân mến, ông hãy nói cho cháu biết đây có phải là chiếc khăn mặt của ông không ạ?

- Hãy xá tội cho chúng tôi, hỡi vị chúa tể hùng mạnh! Xin hãy chặt đầu một mình tôi thôi, còn các cậu thiếu niên này không hề có tội với ngài... Ngài hãy buông tha các cậu ấy! Các cậu ấy được sống trên đời vẫn còn quá ít...

- Ông Khốttabít, ông đứng dậy đi và đừng nói những lời tức cười như thế nữa! - Vônca bối rối ngắt lời ông già - Làm gì có vị chúa tể nào ở đây? Đây chỉ là một người nghỉ an dưỡng hết sức bình thường nhất.

- Ta sẽ không đứng dậy chừng nào vị xuntan tuyệt vời và lỗi lạc này chưa hứa bảo toàn tính mạng cho các cậu, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta!

Người Adécbaigian nhún đôi vai lực lưỡng:

- Ông già thân mến, sao ông lại nói thế? Cháu đâu phải một vị xuntan! Cháu chỉ là một người Xôviết bình thường thôi ông ạ. – Ông ta vươn vai :

- Cháu là đội trưởng thợ khoan Giapha Ali Muhamêđốp. Ông có biết thành phố Bacu không ạ?

Ông Khốttabít lắc đầu.

- Thế ông có biết Biba Âybát không ạ?

Ông Muhamêđốp hỏi tiếp.

Ông Khốttabít lại lắc đầu.

- Ông có đọc báo không? Ồ sao ông vẫn cứ quỳ thế? Thật là xấu hổ! Ôi, xấu hổ và khó coi làm sao, ông già thân mến ạ!

Ông Muhamêđốp xốc nách ông già dậy.

Vônca kéo ông Muhamêđốp qua một bên và nói thì thầm đầy vẻ bí mật.

- Xin nói riêng với đồng chí một chút: đồng chí đừng quá chú ý đến ông già này. Ông ấy không được bình thường cho lắm... Ba ông cháu vẫn còn ướt thế này...

- Ái chà chà, - Ông đội trưởng thợ khoan vui vẻ - Té ra ba ông cháu bị mắc mưa trên núi ư? Tôi cũng bị ướt như chuột lột. Chà, ông già có thể bị cảm lạnh mất thôi! Ông già thân mến!

Ông Muhamêđốp chộp lấy tay ông Khốttabít khi ông già lại toan quỳ mọp xuống - Cháu trông ông rất quen. Có phải ông ở Gangi không ạ? Ông giống bố cháu quá! Nhưng bố cháu trông già hơn ông. Ông cháu đã 83 tuổi rồi...

Ông Khốttabít nóng nảy đáp lại:

- Hỡi vị chúa tể hùng mạnh, xin ngài biết cho là tôi đã 3.732 tuổi rồi!

Rất may là ông Muhamêđốp không hề ngạc nhiên chút nào khi nghe lời tuyên bố của ông Khốttabít. Ông chỉ gật đầu tỏ vẻ hiểu biết với Vônca đang đứng sau lưng ông già Khốttabít và nháy mắt lia lịa với ông.

Áp bàn tay phải vào chỗ trái tim, ông đội trưởng thợ khoan kính cẩn trả lời ông Khốttabít:

- Dĩ nhiên, ông già thân mến, dĩ nhiên rồi. Nhưng trông ông vẫn còn trẻ lắm. Bây giờ chúng ta đi sưởi ấm, ăn uống, nghỉ ngơi, nếu không thì ông sẽ bị cảm đấy… Mong sao ông đừng bị… Chà, ông mới giống bố cháu làm sao!

- Tôi không dám làm trái lệnh ngài, hỡi vị chúa tể hùng cường nhất!

Ông Khốttabít đáp lại với vẻ lấy lòng, chốc chốc lại đưa tay sờ bộ râu của mình. Than ôi, bộ râu vẫn còn ướt đẫm.

Ông Khốttabít lòng dạ bồn chồn lo lắng. Dựa vào toàn bộ kinh nghiệm của mình, ông cho rằng không đời nào có chuyện ông chủ lâu đài lại có thể bỗng dưng mời vào bàn ăn một ông già chưa từng quen biết cùng với hai cậu thiếu niên ăn mặc chẳng lấy gì làm chỉnh tề. Như thế có nghĩa là ở đây có một âm mưu nào đó. Có thể lão Giapha Ali con trai của Muhamét (2) này cố tình dụ 3 ông cháu vào trong lâu đài của mình để làm trò cười thỏa thích, rồi sau đó mới ra lệnh chặt đầu họ hoặc ném họ vào chuồng nhốt thú dữ cho chúng xé xác. Phải đề phòng cẩn thận mới được!

Ông Khốttabít suy nghĩ như vậy khi cùng với 2 cậu bạn trẻ tuổi leo lên cái cầu thang rộng rãi đẫn đến nhà ngủ thứ nhất.

Ở cầu thang và ở hành lang không hề có một bóng người, điều đó lại càng làm cho ông Khốttabít tin chắc rằng những nghi ngờ của mình là đúng.

Ông Muhamêđốp dẫn 3 ông cháu vào phòng của mình, bắt ông Khốttabít phải cởi bộ quần áo ướt ra và mặc bộ quần áo ngủ của ông ta vào, đề nghị cả 3 cứ tự nhiên như ở nhà và đi ra. Trước khi ra, ông còn nói:

- Tôi đi ra ngoài có chút việc. Tôi sẽ trở lại ngay bây giờ.

“Rõ quá!”, ông Khốttabít nghĩ thầm, “Chúng ta biết tỏng tòng tong mi sẽ làm gì, hỡi lão chúa tể thâm độc và giả nhân giả nghĩa kia! Mi có một trái tim đá hoàn toàn xa lạ với tình thương. Ai lại nỡ chặt đầu 2 cậu thiếu niên dễ thương thế kia!...”.

Trong lúc đó, 2 cậu thiếu niên dễ thương ngó quanh căn phòng đầy đủ tiện nghi.

- A ha! - Vônca mừng rỡ - Ông thấy chưa?

Nó nhấc lên rồi lại đặt xuống chiếc bàn con, cái quạt máy bình thường, nhưng lần đầu tiên trong đời ông Khốttabít mới trông thấy.

- Đây là cái quạt máy! - Vônca giải thích - Bây giờ cháu sẽ giúp ông làm khô bộ râu.

Quả thực hai phút sau, bộ râu của ông Khốttabít đã lấy lại trọn vẹn phép màu nhiệm.

- Bây giờ chúng ta sẽ thử xem! - Ông già láu lỉnh nói với giọng dường như ông không hề có ý định gì cả.

Ông rứt 2 sợi râu. Tiếng “tưng” phát ra chưa kịp tan đi trong khoảng không thì những người bạn của chúng ta bỗng nhiên ở cách nhà an dưỡng mang tên Oócgiônikítde 5 kilômét, nơi những hòn cuội chưa nguội hết hơi nóng ban ngày.

Cách họ hai bước, những làn sóng xanh thẫm ấm áp vỗ nhẹ vào bờ.

- Rồi sẽ còn nhiều điều thú vị hơn thế nữa! - Ông Khốttabít hể hả lẩm bẩm và trước khi hai cậu bé kịp thốt lên một tiếng, ông đã rứt thêm 3 sợi râu nữa.

Cùng lúc đó, trước mặt các nhà du hành của chúng ta hiện ra một chiếc khay đựng món thịt cừu rán đang bốc hơi và một chiếc khay nữa nhỏ hơn đựng trái cây và bánh mì dẹt. Sau đó, ông Khốttabít búng ngón tay đánh “toách” một cái, thế là bên cái khay lớn hiện ra hai cái bình bằng đồng lạ mắt đựng nước sécbét.

- Tuyệt thật! - Giênia reo lên - Thế còn quần áo của chúng cháu?

- Than ôi, ta bị lú lẫn trước tuổi mất rồi! - Ông Khốttabít trách mình rồi rứt thêm một sợi râu nữa, thế là cả quần áo lẫn giày dép các nhà du hành của chúng ta đều khô ngay lập tức.

Hơn thế nữa, quần áo của hai người bạn trẻ tuổi của chúng ta bây giờ trông như vừa được là ủi cần thận, còn giày thì chẳng những bóng lộn mà thậm chí còn tỏa ra mùi xi đánh giày đắt tiền nhất.

- Bây giờ cứ mặc cho lão chúa tể thâm độc Giapha Ali con trai của Muhamét ấy dẫn bao nhiêu tên vệ binh vào lâu đài bắt chúng ta cũng được! – Ông già hể hả nói và rót nước sécbét mát lạnh, thơm ngát vào tách của mình - Các con chim nhỏ đã bay vù ngay trước lưỡi dao!

- Ông ấy nào phải chúa tể! - Vônca bực bội - Đó chỉ là một người bình thường tốt bụng. Và ông ấy không hề đi gọi vệ binh vệ biếc gì cả, mà đi lấy thức ăn cho chúng ta. Ông phải biết như thế!

- Cậu đừng có dạy khôn ta, hỡi cậu Vônca!

Ông Khốttabít hậm hực đáp lại và cảm thấy hết sức buồn vì hai cậu bạn đường trẻ tuổi của ông không hề nghĩ đến chuyện cảm ơn ông đã cứu thoát chúng khỏi cái chốn nguy hiểm chết người kia - Ta mà lại không biết các lão chúa tể mặt mũi ra sao và chúng xử sự như thế nào ư? Cậu nên biết rằng không có kẻ nào thâm độc hơn bọn xuntan đâu nhé!

K-23.jpg


- Thế nhưng ông ấy chẳng phải xuntan, mà là đội trưởng, ông hiểu không? Đội trưởng thợ khoan!

- Chúng ta đừng tranh cãi nữa, hỡi cậu Vônca!

Ông già cau có trả lời

- Chưa tới lúc chúng ta chuyển sang ăn uống sao?

- Thế còn bộ quần áo ngủ?

Giênia kêu lên với vẻ hí hửng chẳng mấy thiện chí sau khi nó hiểu rằng không thể nào cãi lại nổi ông già về chuyện này - Ông vẫn mặc bộ quần áo ngủ của nhà an dưỡng!

- Trời ơi! - Ông Khốttabít kêu lên rầu rĩ - Ta chưa bao giờ làm nhục mình bằng cái trò ăn cắp cả.

Đúng lúc ấy, nếu những người nghỉ ở nhà an dưỡng mang tên Oócgiônikítde không có ở cái nhà ăn rộng rãi để ăn bữa tối thì họ có thể trông thấy một bộ quần áo ngủ có sọc hết sức bình thường bỗng từ phía Maxexta lao vụt đến ở khoảng độ cao của một tòa nhà 3 tầng, bay qua ban công ngỏ cửa, lọt vào phòng của ông Muhamêđốp. Bộ quần áo ngủ ấy tự vắt cẩn thận lên đúng lưng chiếc ghế dựa mà vừa mới rồi người đội trưởng thợ khoan đáng mến đã lấy ở chỗ đó để đưa cho ông Khốttabít thay, lúc người ông đang run cầm cập.

Còn ông Muhamêđốp thì chưa đi đến nhà ăn đã quên biến ông già và hai cậu bé mà ông ta vừa để lại trong phòng mình.

- Tìm thấy rồi! - Ông nói với người bạn cùng phòng - Tôi đã tìm thấy 2 chiếc khăn mặt. Chúng ta đã để quên chúng ở ghế dài lúc ngồi nghỉ ở đấy.

Sau đó, ông ngồi thoải mái vào bàn ăn và bắt đầu đánh chén bữa tối... [/color]

---

[size=11:60bf7c7b48](1) Người Adécbaigian nói “chúng” là chỉ hai cái khăn mặt, nhưng ông Khốttabít lại hiểu “chúng” là ba ông cháu – N.D.

(2) Muhamêđốp có nghĩa là con trai của Muhamét – N.D.[/size]
 
[color=darkblue:bc7871741b]Chương 20

[size=15:bc7871741b]Vônca Côxtuncop - Cháu của Đức Ala[/size]

Ông Muhamêdốp vẫn chưa đụng đến món ăn tráng miệng thì những đám mây mà các nhà du hành của chúng ta đã bỏ rơi ở đó giữa Tuápxê và Xôchi cuối cùng đã bay tới thành phố nghỉ mát và trút xuống đầu ba nhà du hành một cơn giông ở nhiệt đới rất dữ dội, rất ầm ĩ và rất nhiều nước.

Trong chốc lát, các đường phố, công viên và các bãi tắm đều vắng tanh.

Chẳng mấy chốc, cơn giông đã kéo đến nơi mà theo gợi ý của ông Khốttabít, đoàn phi hành ít ỏi của tấm thảm bay bị đắm tại bể bơi của nhà an dưỡng sẽ ngủ qua đêm ở ngoài trời, trên bờ Hắc Hải ầm ầm sóng vỗ.

Cũng may là các nhà du hành đã kịp thời nhận thấy cơn giông đang tới gần. Dĩ nhiên, họ không hề muốn lại bị ướt như chuột lột. Nhưng trước tiên, phải cố giữ cho bộ râu của ông già được khô ráo.

Đương nhiên, cách đơn giản hơn cả là bay xa hơn về một nơi nào đó ở phương Nam, nhưng trong cái đêm miền Nam tối đen như mực này, có thể dễ dàng tan xác vì bay đâm sấn vào núi đá.

Ba nhà du hành tạm thời nương náu vào một bụi cây và bắt đầu nghĩ xem nên biến đi đâu...

- Cháu nghĩ ra rồi? - Giênia khoái chí đứng phắt dậy. - Đúng thế, cháu nghĩ ra rồi!... Cần phải bôi lên râu một thứ mỡ gì dó.

Lúc bấy giờ thì sẽ ra sao? - ông già nhún vai.

Bấy giờ, bộ râu của ông sẽ không bị ướt nữa, cho dù ông có đứng ngay thác nước. Thế đấy!

Giênia nói dúng! - Vônca tán thành, cu cậu hơi bực mình vì nó không nghĩ ra được cái sáng kiến rất hay và có cơ sở khoa học như thế. - ông Khốttabít, ông ra tay đi nào!
ông Khốttabít liền bứt mấy sợi râu, ngắt một trong mấy sợi đó ra làm hai phần, thế là những sợi râu còn lại của ông già liền được phủ một lớp mỏng dầu dừa thượng hảo hạng.
Sau đó, ông ngắt một sợi râu khác làm hai phần, thế là các nhân vật chính của chúng ta đã ở trong một cái hang hoàn toàn tiện lợi, bên trong lát đá hoa, vừa mái hiện ra trên bờ biển dốc ngọc. Và trong khi cơn giông tháng sáu ấm áp, vui vẻ trút ào ào xuống vùng ven bờ Cápcadơ của Hắc Hải, ba nhà du hành ung dung ngồi trên các tấm thảm đẹp đẽ, đánh chén bữa ăn tối thịnh soạn, sau dó làm một giấc ngon lành cho đến tận sáng, không hề có mộng mị.

Tiếng sóng vỗ nhè nhẹ, êm ái, trong trẻo như pha lê đã đánh thức họ dậy.
Trời đã sáng từ lâu.

Vươn vai và ngáp dài khoan khoái, ba ông cháu đi xuống bãi biển ngập tràn những tia nắng nghiêng nghiêng và vẫn hoàn toàn vắng tanh. Còn cái hang mà họ dã nương náu qua đêm đã biến mất tăm ngay lập tức, dường như nó tuyệt nhiên chưa bao giờ có vậy.
Giữa lúc hai cậu bé đang thích thú vẫy vùng trong những ngọn sóng ban mai mát mẻ thì từ phía Ađle, trên trời cao, nghe có tiếng động cơ ù ù xa xa.

Một chiếc máy bay hành khách loại lòn đang bay trên biển, đôi cánh bạc lấp lánh.

Chà-ứ! - Giênia kéo dài giọng vái vẻ mơ mộng. - Giá mà được ngồi trên chiếc máy bay ấy mà về Mátxcơva nhỉ!

- Còn phải nói? - Vônca đồng ý với Giênia. - Còn rất tốt nữa là đằng khác, nếu như...
Lúc bấy giờ, ông Khốttabít chẳng nói chẳng rằng, móc trong túi ra một sợi gì đó rất nhỏ màu trắng, trông giống như một sợi bạc hết súc mỏng manh, rồi ngắt sợi đó ra làm mấy phần, thế là cả ba ông cháu bỗng ở ngay bên trong máy bay, chễm chệ trên ba chiếc ghế rộng rãi có thể lật gấp được rất tiện lợi.

Điều đáng ngạc nhiên nhất là không một hành khách nào để ý đến ba ông cháu, cứ như ba ông cháu đã bay cùng với họ ngay từ đầu, từ sân bay Ađle.

- Ông Khốttabít, - Giênia thì thầm hỏi, - ông vừa ngắt sợi gì trông giống như sợi bạc thế ạ?

Đó là một sợi râu bình thường của ta. - ông Khốttabít đáp với vẻ lúng túng thật khó hiểu.
- Ông móc sợi đó ở trong túi ra kia mà!

Ta đã rứt sợi râu đó từ trước và giấu nó vào túi để... phòng xa... Giêma, cậu hãy tha lỗi cho ta, nhưng ta vẫn không tin rằng bộ râu được bôi dầu của ta có thể không bị ướt.
Ông không tin vào khoa học ư ! - Giêma ngạc nhiên.

- Ta cũng khá am hiểu về các môn khoa học đấy chứ. - ông già phật ý. - Nhưng ta không biết môn khoa học nào dạy rằng có thể dùng mỡ để bảo vệ cho bộ râu có phép lạ khỏi bị hỏng. - Để lái câu chuyện sang hướng khác, ông khen chiếc máy bay: - Cỗ xe trên không này thật là tiện lợi và bay nhanh! Vậy mà lúc đầu ta cứ ngỡ rằng chúng ta đang ở trong bụng con chim sắt khổng lồ quả là chưa từng thấy, và ta đã rất ngạc nhiên về chuyện đó.

Cuộc nói chuyện tạm ngưng vì ông già hơi bị say máy bay. Nói cho đúng hơn, ông bị mệt. Suốt dọc đường, ông thiu thỉu trong ghế của mình và chỉ mở mắt khi máy bay đã tới gần sát Mátxcơva.

“Biển Mátxcơva” (I) trải rộng bên dưới máy bay.

Vônca ngồi cạnh ông Khốttabít liền thì thầm vào tai ông với vẻ kiêu hãnh:

Cậu cháu đã làm ra cái biển này đấy?

- Làm ra biển?? - ông Khốttabít sủng sốt một cách khó chịu.

Vâng, làm ra biển. ' - ông cậu của cậu?

- Vâng, cậu của cháu.

- Cậu muốn nói rằng cậu là cháu của Đức Ala?

(Theo quan niệm của ông Khốttabít, chỉ có Ala (thượng đế) mới làm ra biển. - N.D).

Ông già tỏ vẻ rất buồn rầu:

- Cậu cháu là thợ lái máy đào. Cậu cháu điều khiển máy đào kiểu bước. Tên cậu ấy là Prôtaxốp Vaxili Pêtrôvích.

Nếu ông muốn biết, cháu xin nói rằng bây giờ cậu chát đang đào “Biển Cuibưsép” (2).

- Chà, cái cậu này? - ông Khốttabít nổi xung. - Ta rất tin cậu, hỡi cậu Vônca may mắn nhất đời! Ta rất kính trọng cậu!. Vậy mà bỗng nhiên cậu lại nỡ đối xử với ta tệ đến như vậy... Cậu lại nói với ta một điều sai sự thật!...

- Va xia (3) prôtaxốp là cậu của ư - Một người mập lùn có khuôn mặt lớn, dãi dầu sóng gió, ngồi đằng sau họ, tỏ vẻ mừng rỡ. - Có đúng thế không

- Cậu ấy là em họ mẹ cháu.

Thế mà em cứ lặng thinh hoài! -Người vừa hỏi nói với vẻ thán phục. - Có được một ông cậu như thế mà lại lặng thinh? Đó chính là một người vàng đấy? Tôi vừa từ “Biển Cuibuép” về đây... Tôi với cậu của em làm cùng một khu vực Chính tôi với cậu của em, nếu em muốn biết...

Vônca hất đầu về phía ông già Khốttabít đang cau có:

Ấy thế mà- ông ấy không tin cậu cháu đã làm ra “Biển Mátxcơva” đấy.

- Chà, thế thì không tốt đâu, ông ơi! - Người khách liền trách ông Khốttabít. - Sao ông lại có thể nghi ngờ một con người tuyệt vời như thế? Vaxili Prôtaxốp đã đào biển này và đang đào một biển khác. Nếu cần có một biển thứ ba nữa, ông ấy sẽ đào luôn biển thứ ba!... Sao, ông không đọc báo ư? Đây ông xem, đúng chỗ này này, luôn tiện nói thêm rằng đây là báo của chúng ta đấy nhé! - ông rút trong chiếc cặp đã sờn một tờ báo và chỉ vào tấm ảnh. - ông thấy chưa?

- A, cậu Vaxia! - Vônca mừng rỡ.

- Ông cho cháu tờ báo này, ông nhé? Cháu sẽ mang tờ báo này về cho mẹ cháu xem.

- Em cứ cầm lấy, đây là tờ báo của em. - ông khách nói với vẻ hào phóng, rồi quay sang hỏi ông Khốttabít lúc ấy đã nguôi giận:

- Ông vẫn còn nghi ngờ ư.Vậy thì ông hãy đọc đầu đề báo này: “Những người vinh quang làm ra biển cả”.

Đây chính là bài báo viết về cậu của em này, về Vaxia Prôtaxốp.

Bài báo cũng viết cả về ông nữa chứ? - Giênia hỏi.

- Ở đây chủ yếu là viết về Prôtaxốp. Còn tôi thì... Thôi, ông cứ đọc đi ông ơi!
Ông Khốttabít làm ra vẻ như đang đọc. Nhưng thực ra, ông không dám thú nhận với ông khách nọ là ông mù chữ...

Chính vì thế, trên đường từ sân bay về nhà, ông Kháttal ít đã hỏi hai cậu bạn trẻ tuổi của mình rằng các cậu có thể dạy ông đọc được không, bởi vì ông ngượng chín người lúc ông khách nọ bảo ông dọc hàng chữ “Những người vinh quang làm ra biển cả”.

Cả ba đã thỏa thuận với nhau rằng hai cậu bé sẽ dạy ông Khốttabít đọc báo ngay khi có dịp thuận lợi. Ông già muốn trước hết là học đọc chính các tờ báo.

- Để mà còn biết cái biển nào đang được làm ra ở đâu... - ông già giải thích, ngượng ngùng hướng cặp mắt đen hiền lành của mình đi chỗ khác.[/color]

---

[size=11:bc7871741b](1 ) Tên gọi một hồ chứa nước khổng lồ được đào năm 1 937, rộng 327 kilômét vuông, dùng để cung cấp nước cho thành phố Mátxoơva và kinh đào Mátxcơva - N.D.

(2) Một hồ chứa nước khổng lồ khác ở tỉnh Cuibưsép - N.D.

(3) Tên gọi tắt và thân mật của Vaxili - N.D.. [/size]
 
[color=darkblue:45f5bbb48c]Chương 21

[size=15:45f5bbb48c]Ai là người giàu nhất?[/size]

- Chúng ta dạo chơi đi, hởi tinh thể của tâm hồn ta? - Hôm sau, ông Khốttabít nói.

- Nhưng với điều kiện là ông không được lồng lên như một con ngựa ở nông thôn ra
thành phố mỗi khi gặp ôtôbuýtl - Vônca tuyên bố dứt khoát. - Tuy nhiên, có lẽ cháu đã xúc phạm tới các con ngựa ở nông thôn một cách oan uổng, bởi vì từ lâu rồi, chúng không còn sợ ôtô nữa. Vả lại, đã tới lúc ông phải quen rằng đó chẳng phải là những lão Giếcgit nào đó mà là những động cơ đốt trong bình thường do Liên Xô chế tạo.

- Ta xin nghe lời, hởi cậu Vônca con trai của Aliôsa. - Ông già hiền lành đáp.

Vậy thi ông hãy nhắc lại theo cháu: Từ nay…. ta sẽ không sợ...

- Từ nay ta sẽ không sợ... - Ông Khốttabít vui lòng nhắc lại.

... ôtôbuýt, trôlâybuýt, tàu điện, ôtô vận tải, máy bay lên thẳng...

- ôtôbuýt, trôlâybuýt, tàu điện, ôtô vận tải, máy bay lên thẳng...

k-24.jpg


- Xe hơi, đèn pha, máy đào, máy chữ... xe hơi, đèn pha, máy đào, máy chữ...

- Máy hát, loa phóng thanh, máy hút bụi... máy hát, loa phóng thanh, máy hút bụi...

- Công tắc điện, bếp dầu lửa, ti vi, quạt máy và đồ chơi bằng cao su “Uiđi Uidi”...

- Thôi, coi như thế là đủ rồi? - Vônca nói.

- Thôi, coi như thế là đủ rồi. - Ông Khốttabít máy móc nhắc lại theo Vônca và cả hai phá lên cười.

Để rèn luyện thần kinh của ông già, Vônca đã dẫn ông đi bộ hai mươi lần qua các ngã tư có nhiều xe cộ qua lại nhất trong thành phố, rồi đi tàu điện qua nhiều bến và cuối cùng, khi mệt lả nhưng thỏa mãn, hai ông cháu leo lên ôtôbuýt.

Họ ngồi trên xe, ngườì lắc lư khoan khoái trên đệm ghế bằng da. Vônca mải mê đọc báo Sự thật thiếu niên tiền phong, còn ông già thì đang nghĩ về một chuyện gì đó, chốc chốc lại thích thú đưa mắt nhìn người bạn đường trẻ tuổi của mình. Sau đó, ông nở một nụ cười mãn nguyện: chắc là ông đã nghĩ ra một điều lý thú gì đấy.

Ôtôbuýt đưa hai ông cháu về gần đến tận nhà. Chẳng mấy chốc, họ đã ở trong phòng của Vônca.

- Cậu có biết không, hởi cậu học sinh đáng kính nhất trong tất cả các học sinh trung học! - ông Khốttabít bắt đầu nói ngay khi họ vừa khóa trái cửa lại. - Theo ta, bây giờ cậu phải đối xử lạnh lùng và dè dặt hơn với bọn trẻ trong sân nhà cậu. Cậu có tin không, tim ta đã tan nát thành từng mảnh khi ta nghe bọn chúng đón cậu bằng những tiếng kêu: “ê, Vônca?”, “Chào Vônca?” và những tiếng tương tự rõ ràng là chẳng kính đáng với cậu. Xin cậu hãy tha lỗi cho lời lẽ thô thiển của ta, hởi cậu thiếu niên may mắn nhất đời, nhưng ta thấy cậu hoàn toàn không nên để cho bọn chúng sàm sỡ với cậu như vậy. Làm sao bọn chúng có thể bằng vai phải lứa với cậu, một ngưới giàu nhất trong tất cả các người giàu, ấy là chưa nói đến vô số những ưu điểm khác của cậu.

Lại còn thế nữa - Vônca ngạc nhiên cãi lại ông Khốttabít.

- Các bạn ấy bằng vai phải lứa với cháu quá đi chứ, thậm chí còn có một bạn học lớp tám kia... Và cả bọn chúng cháu đều hoàn toàn giàu như nhau...

Không, cậu nhầm rồi, hởi cái quạt lông của tâm hồn ta!

- Lúc ấy, ông Khốttabít đắc thắng kêu lên và dẫn Vônca ra cửa sổ. - Cậu hãy nhìn xem và hãy tin rằng lời ta nói là đúng!

Trước mắt Vônca hiện ra một cảnh tượng vô cùng kỳ lạ.

Cách đây vài phút thôi, ở cửa trái của cái sân rộng lớn còn có một sân bóng chuyền, một đống cát vàng to tướng để cho bọn nhóc tha hồ chơi, một cái đu quay và một cái bập bênh cho những người thích cảm giác mạnh, một cái xà dợn và một bộ vòng treo cho những người ham mê thể dục, một bồn hoa dài và hai bồn hoa tròn với các bông hoa đủ màu trông rất vui mắt cho tất cả mọi ngườí ở trong khu nhà này.

Bây giờ, thay vào tất cả những cái đó, đã mọc lên ba tòa lâu đài đồ sộ theo kiểu châu Âu ngày xưa, làm bảng đá hoa lấp lánh. Những hàng cột sang trọng làm cho ba tòa lâu đài ấy càng thêm đẹp. Trên các mái bằng xanh rì những vườn cây râm mát, còn ở các bồn hoa thì có những bông hoa đỏ, vàng, xanh lơ chưa từng thấy. Những giọt nước phun lên từ các vòi phun tuyệt đẹp lấp lánh trong nắng như nhưng viên đá quý ở lối vào mỗi tòa lâu đài dều có hai người khổng lồ đứng gác, tay cầm kiếm cong to tiếng. Vừa trông thấy Vônca, hai người khổng lồ như theo lệnh đã phủ phục và cất tiếng rền vang như sấm chào Vônca. Cùng lúc đó, từ trong mồm hai người khổng lồ phụt ra những ngọn lửa lớn, làm cho Vônca bất giác phải rùng mình.

- Ông chủ trẻ tuổi của ta đừng có sợ những gã đó.' - ông Khốttabít trấn an Vônca. - Đây chỉ là những gã ifrít hiền lành mà ta đã sai đứng ở lối vào để làm tăng thêm vinh dự cho cậu.

Hai người khổng lồ lại phủ phục và vừa phun lửa vừa ngoan ngoãn cất tiếng rền vang như sấm:

- Hãy sai khiến chúng tôi đi, hỡi ông chủ hùng mạnh của chúng tôi?

Xin các ông hãy đứng dậy cho! Tôi yêu cầu các ông đứng dậy ngay lập tức! - Vônca ngượng ngùng. - Thời buổi này mà còn quỳ thì thật chẳng ra làm sao cả. Cứ như là thời phong kiến vậy? Các ông hãy dừng dậy đi và từ nay đừng có quỳ gối quy luỵ như thế nữa. Thật là xấu hổ!...

Thật là xấu hổ?... Lời nói danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong đấy?

Hai lão ifrít băn khoăn đưa mắt nhìn nhau, rồi đứng dậy và lặng lẽ uỡn thẳng người trong tư thế chào cứng đơ như trước.

Lại còn thế nữa? - Vônca nói, cu cậu vẫn còn ngượng. - Ông Khốttabít, chúng ta đi xem các lâu đài của ông đi.

Đây không phải là các lâu đài của ta. Đây chính là các lâu đài của cậu! - Ông già kính cẩn bác lại và đi theo Vônca.

Tòa lâu đài thứ nhất làm toàn bằng đá quý màu hồng.

Tám cánh cửa nặng nề có chạm trổ của tòa lâu đài này làm bằng gỗ đàn hương, đuốc tô điểm bằng những chiếc đinh bạc và gắn đầy nhưng ngôi sao bạc, những viên hồng ngọc đỏ rực.

Tòa lâu đài thứ hai làm bằng đá hoa màu lam nhạt. Ở đây có mười cánh cửa làm bằng gỗ lim đen bóng cực kỳ hiếm có. Các cánh cửa này được tô điểm bằng những chiếc đinh vàng và gắn đầy những viên kim cương, xaphia, ngọc bích và các loại dá quý nào đó nữa.

Ở giữa tòa lâu đài này sáng loáng một cái bể rộng, mặt nước phẳng lặng như gương, bên trong bơi lượn nhũng con cá vàng lớn.

Cái này thay cho cái bể nuôi cá bé tí của cậu. - Ông Khottabít rụt rè giải thích. - Ta cảm thấy rằng chỉ có dùng cái bể nuôi cá như ở đây, cậu mới không làm hạ phẩm giá cao quý của mình.

“Vâ â-âng. - Vônca nghĩ thầm. - Cứ thử bắt một con cá vàng ấy xem, sẽ rụng tay liền!”.

- Còn bây giờ, - Ông Khốttabít nói: - Hãy cho ta được hân hạnh mời cậu để mắt đến tòa lâu đài thứ ba.

Hai người đi vào tòa lâu đài thứ ba. Tòa lâu đài này tráng lệ tới mức Vônca phải sửng sốt kêu lên:

ồ, đây giống ga tàu điện ngầm như đúc. Hệt như ga “Cômxômônxcaia” ấy Cậu vẫn chưa thấy hết tất cả đâu, hởi cậu Vônca may mắn? - ông Khốttabít mặt tươi như hoa.

k-25.jpg


Ông dẫn Vônca ra đường. Hai người khổng lồ lập tức cầm kiếm ở tư thế chào, nhưng ông Khốttabít không hề để ý đến họ. ông chỉ cho cậu bé thấy những tấm bảng bằng vàng bóng loáng gắn ở bên trên lối vào các tòa lâu đài. Trên mỗi tấm bảng đều khắc cùng những hàng chữ làm cho Vônca lập tức cảm thấy người phát sốt phát rét lên:

Các tòa lâu đài này thuộc về cậu đội viên thiếu niên tiền phong trẻ tuổi oai nghiêm là Vônca con trai của Aziôsa, một cậu thiếu niên đáng quý nhất và đáng yêu nhất trong tất cả các cậu thiếu niên ở thành phố này, người đẹp trai thất trong tất cả những người đẹp trai, người thông minh nhất trong tất cả những người thông minh, người có vô số những ưu điểm và những mặt toàn thiện, toàn mỹ, người am hiểu độc nhất vô nhị môn địa lý và các môn khoa học khác, người lặn giỏi nhất trong tất cả các tay lặn, người bơi cừ nhất trong tất cả các tay bơi, người đánh bóng chuyền hay nhất trong tất cả các tay đánh bóng chuyền, người vô địch bách chiến bách thắng môn bia và môn bóng bàn.

Cầu chúc cho cậu Vônca và các vị thân sinh có phúc của cậu được rạng danh đời đời!”
Phổng cả mũi vì hãnh diện và sung sướng, ông Khốttabít nói:

Nếu được cậu cho phép, ta muốn cậu sau khi đến ở trong ba tòa lâu đài này cùng với các vi thân sinh của cậu, cậu sẽ dành cho ta một góc nhỏ để cho chỗ ở mới không làm ta xa cách cậu, và ta có điều kiện bày tỏ với cậu lòng kính trọng sâu sắc và lòng trung thành của mình trong bất cứ lúc nào.

- Thế này, ông nhé - Vônca đáp sau một lúc im lặng: - Thứ nhất những hàng chữ này thiếu tinh thần tự phê... Nhưng điều đó rốt cuộc cũng chẳng quan trọng. Điều đó chẳng quan trọng bởi vì những tấm bảng thế nào cũng phải thay đổi.

- Ta hiểu ý cậu và ta không thể không buộc tội ta suy nghĩ thiếu chín chắn. - Ông già bối rối. - Dĩ nhiên, những hàng chữ ấy phải nạm bằng đá quý. Cậu hoàn toàn xứng đáng như vậy.

Ong hiểu sai ý cháu rồi, ông Khốttabít ơi! Cháu muốn trên tấm bảng phải viết rõ rằng các tòa lâu đài này là tài sản của RONO (I). ông biết không, ở nước chúng cháu, các lâu đài đều thuộc về RONO hoặc thuộc về các câu lạc bộ, các nhà an dưỡng.

- Các lâu đài này sẽ thuộc về RONO nào vậy?

Ông già ngạc nhiên kêu lên.

Vônca hiểu sai tiếng kêu của ông Khốttabít:

RONO nào cũng được. - Nó hồn nhiên trả lời. - Nhưng tốt hơn hết là thuộc về RONO Prêxnia Đỏ. Tại quận ấy, cháu đã ra đời, lớn lên, học đọc và viết.

Ta không biết ông RONO ấy là ai, - ông Khốttabít nói với giọng cay đắng, - và hoàn toàn cho rằng ông ta là một người đáng kính trọng (2). Nhưng phải chăng ông RONO ấy đã cứu ta thoát khỏi cảnh cầm tù hàng nghìn năm trong một cái bình? Không, không phải ông RONO làm việc đó, mà chính là cậu, một cậu thiếu niên tuyệt vời nhất đời, và các tòa lâu đài này phải thuộc về chính cậu hoặc không thuộc về ai cả.

Nhưng ông hãy hiểu cho là...

Ta không muốn hiểu! Hoặc thuộc về cậu, hoặc không thuộc về một ai cả?

Vônca chưa bao giờ thấy ông Khốttabít giận dữ đến như thế. Mặt ông đỏ bừng, mắt ông phát ra những tia chớp. Rõ ràng là ông già đang tự kiềm chế một cách khó khăn dể không trút sự phẫn nộ của mình xuống đầu cậu bé.

Thế có nghĩa là cậu không đồng ý, hởi tinh thể của tâm hồn ta?

- Dĩ nhiên là không. Các lâu đài này sao lại thuộc về cháu được ạ? Cháu đâu có phải là một câu lạc bộ, một cơ quan nào đó hay một vườn trẻ?

Than ôi! - Lúc ấy, ông Khốttabít buồn bã thốt lên và phẩy tay. - Chúng ta sẽ thử một cách khác!... ' Đúng lúc đó, các tòa lâu đài mờ dần, bắt dầu lung lay rồi tan ra trong khoảng không như đám sương mù bị gió xua tan. Những người khổng lồ gầm vang, lao vút lên cao và biến mất.[/color]

---

[size=11:45f5bbb48c](1) Tên viết tắt của Phòng Giáo dục nhân dân quận - N.D.

(2) ông Khốttabtt tưởng lầm RONO là tên một người nào đó - N.D.[/size]
 
[color=darkblue:aa5b3a798d]Chương 22

[size=15:aa5b3a798d]Một con lạc đà đi......[/size]

Nhưng bây giờ trong sân lại đầy voi, lạc đà và lừa, con nào con nấy đều chở nặng. Các đoàn súc vật vận chuyển vẫn tiếp tục ùn ùn kéo vào cái cổng mở rộng. Tiếng la của những người chăn dắt da đen, mặc buốcnút (I) trắng tinh, hòa lẫn với tiếng voi rống, lạc đà kêu, lừa hí, vài tiếng rầm rập của hàng trăm mống guốc, với tiếng leng keng vái tai của những chiếc chuông con và lục lạc.

k-26.jpg


Một người nhỏ nhắn, nước da rám nắng đen nhẻm, mặc quần áo lụa sang trọng, từ trên lưng voi trèo xuống, bước ra giữa sân, dùng chiếc gậy nhỏ bằng ngà voi đập xuống lớp nhựa đường ba lần, thế là từ mặt sân bỗng phọt lên một vòi nước rất mạnh. Ngay lập tức, những người chăn dắt xách thùng bằng da liền hối hả xếp thành một hàng dài, và chẳng mấy chốc trong sân đã đầy những tiếng xoàn xoạt, phì phì của các con vật tranh nhau uống nước một cách thèm thuồng.

- Tất cả những thứ này đều là của cậu, hỡi cậu Vônca? - ông Khốttabít nói lớn, cố át tiếng ồn ào ngoài cửa sổ. - Xin cậu hãy vui lòng nhận chút quà mọn này của ta.

- Tất cả là thế nào ạ? ' Vônca hỏi, cu cậu bị tiếng ồn ào làm đinh tai.

- Tất cả là tất cả chứ còn thế nào nữa! Cả voi, cả lạc đà, cả lừa cả toàn bộ vàng bạc châu báu chất tiên lung, các con vật đó cả nhũng gã đứng cạnh các thứ hàng vận chuyển và các con vật nọ. Tất cả những thứ này đều là của cậu!

k-27.jpg


Tình hình mỗi lúc một rắc rối thêm. Vừa rồi, Vônca suýt nữa trở thành ông chủ của ba tòa lâu dài tráng lệ mà nó hoàn toàn chẳng cần đến. Còn bây giờ, nó lại trở thành ông chủ của vô số vàng bạc châu báu, ông chủ cả một đàn voi và có thể nó là ông chủ nô lệ nữa!

Ý nghĩ đầu tiên của Vônca là van nài ông Khốttabít đưa đi ngay những món quà vô tích sự của ông trong lúc chưa có ai nhận thấy những món quà đó.

Nhưng Vônca lập tức nhớ lại chuyện ba tòa lâu đài. Nếu như lúc ấy nó khéo nói một chút thì có thể giữ lại các tòa lâu đài ấy để làm đẹp cho thành phố.

Nói tóm lại, cần phải tranh thủ thời gian để suy nghĩ và vạch ra kế hoạch hành động.

- Ông biết sao không, ông Khốttabít? - Vônca cố nói cho thật tự nhiên. - Trong lúc những người kia chăm sóc đàn súc vật vận chuyển, ông cháu ta có thể cưỡi lạc đà đi chơi được không ạ?

- Rất sung sướng và vui lòng! - ông già cả tin đáp.

Một phút sau, “con tàu của sa mạc” (2) có hai bướu đã di ra đường, nó lắc lư oai vệ và nghênh ngang đưa mắt nhìn quanh. Chễm chệ trên lưng nó là cu cậu Vônca hồi hộp và ông Khốttabít cảm thấy mình như đang ở trong nhà và uể oải phe phẩy cái mũ.

- Lạc đà! Lạc đà! - Bọn nhóc sung sướng reo hò. Chúng vọt ra đường cùng một lúc và đông tới mức dường như việc chờ đợi những con lạc đà xuất hiện vào giờ đó đã trở thành một việc quen thuộc đối với chúng.

Bọn nhóc đứng vây quanh gần sát con vật thuần tính cao lênh khênh so với chúng như chiếc trôlâybuýt hai tầng so với chiếc xe đẩy bán nước giải khát có ga vậy. Một cậu nhóc nào đó vừa nhảy lò cò vừa thích thú hát vang:

Những người cửi trên lưng lạc đà!...
Nhửng người cưỡi trên lưng lạc đà!...


Con lạc đà đi đến ngã tư đúng vào lúc có đèn đỏ. Chưa hề được tập cho quen với luật lệ giao thông trên đường phố, nó thản nhiên bước qua vạch trắng đậm trên mặt đường, mặc dù ngay tróc cái vạch đó có viết hai chữ to tướng:

“DỪNG LẠI”.

Nhưng Vônca đã uổng công khi nói cố kìm con vật lầm lì lại ở bên này vạch trắng: “con tàu của sa mạc” thản nhiên cất bước, tiếp tục đi thẳng về phía người cảnh sát đã rút trong xà cột ra cuốn biên lai thu tiền phạt.

k-28.jpg


Bỗng có tiếng còi inh ỏi, tiếng phanh kít và một chiếc xe hơi màu xanh da trời dừng lại ngay trước mũi con lạc đà vẫn thản nhiên thở phì phi. ông tài xế nhảy ra khỏi xe và quát mắng cả con lạc đa, mà có hai người cưỡi trên lưng nó.

Quả thực, chỉ một giây nữa thôi là đã xảy ra một tai nạn không sao cứu vãn nổi.

- Xin mời lại gần via hè - Người cảnh sát đưa tay lên chào và nói một cách lịch sự.
Vônca cảm thấy rằng nó đã rơi vào một tình trạng rất khó chịu. Từ trên lưng lạc đà, nó cúi người xuống và bắt dầu xin lỗi một cách vụng về:

- Thưa đồng chí cảnh sát, từ nay tôi sẽ không vi phạm như thế nữa? xin đồng chí hãy thứ lỗi cho chúng tôi... Đã đến lúc chúng tôi phải cho lạc đà ăn rồi... Đây mới là lần đầu tiên...

Không thể tha thứ được đâu. - Người cảnh sát lạnh lùng đáp.

- Trong những trường hợp như thế này, mọi người đều nói rằng đây mới là lần đầu tiên...
Một đám đông lập tức tụ họp lại và bắt đầu bàn tán:

- Đồng chí cảnh sát hoàn toàn đúng!

Ở đây ai là ngươi cừ nhất? Người cừ nhất ở đây là bác tài xế. Bác ấy không hề luống cuống.

- Lần đầu tiên tôi thấy ở ngay giữa Mátxcơva mà bỗng nhiên lại có người cưỡi lạc đà hai bướu đi nghễu nghệ đấy

- Chao ôi, chỉ chút xíu nữa là xảy ra tai nạn?

- Chẳng lẽ một đứa bé không được cưỡi lạc đà sao?

- Không một ai được phép vi phạm luật lệ giao thông trên đường phố cả...

- Thật không tài nào hiểu nổi người ta moi đâu ra lạc đà ở giữa Mátxcova này?...

Vônca vẫn tiếp tục cố làm mủi lòng người cảnh sát nghiêm khắc mà chẳng ăn thua. Bỗng nó thấy ông Khốttabít giật tay áo mình. Cho tới lúc đó, ông vẫn giữ im lặng một cách kiêu kỳ.

Hởi ông chủ trẻ tuổi của ta... - ông nói. - Hỡi ông chủ trẻ tuổi của ta, ta rất đau lòng khi thấy cậu phải hạ mình để giúp ta thoát khỏi những sự khó chịu. Tất cả những kẻ này đều không đáng hôn gót chân của cậu. Cậu hãy cho chúng hiểu rằng cậu khác chúng một trời một vực!

Vônca chỉ đáp lại bằng cách bực bội xua tay, nhưng bỗng nó cảm thấy cái chuyện xảy ra lúc thi môn địa lý đang lặp lại với nó: nó lại không làm chủ được tiếng nói của mình.
Nó muốn nói:

“Thưa đồng chí cảnh sát, tôi rất mong đồng chí thứ lỗi cho tôi Tôi xin hứa vái đồng chí rằng cho tới lúc chết, tôi sẽ không bao giờ vi phạm luật lệ giao thông trên đường phố . Nhưngg thay vào lời van nài nhún nhường đó, nó lại bỗng nhiên gào váng cả phố:

- Hởi tên lính canh đê tiện kia, sao mi dám cản đường ta trong cái giờ phút dạo chơi quý báu của ta?! Quỳ xuống?

Quỳ xuống ngay trước mặt ta, nếu không ta sẽ giáng cho mi một tai họa gì đó khủng khiếp! Ta thề trước bộ râu của ta!... Tức là trước bộ râu của ông ấy!

Vônca hất đầu về phía ông Khốttabít đắc chí nhe răng cười và vuốt râu với vẻ oai vệ.
Còn về phần người cảnh sát và đám đông vây quanh thì vì quá bất ngờ, mọi người thậm chí không hẳn chỉ bối rối, mà chủ yếu là còn sủng sốt trước những câu nói láo xược đó.

- Ta là một thiếu niên lỗi lạc nhất ở thành phố này? - Vônca tiếp tục gào trong khi nó khốn khổ vì cái cảm giác bất lực của mình. - Bọn mi chẳng đáng hôn gót chân của ta... Ta là người đẹp trai!... Ta là người thông minh...

- Thôi được, - người cảnh sát cau có đáp, - về đồn, người ta sẽ tìm hiểu xem cậu là người thông minh như thế nào...

Và tại sao lại có “dùi lợn” (3) ở đây...

Than ôi, ta nói bậy bạ gì thế này! Tội càn quấy rõ rành rành?... Vônca hoảng sợ, trong khi đó từ mồm nó vẫn tuôn ra những lời ghê gớm:

- Mi không được phép xuyên tạc lời ta nói? Không phải là đùi lợn mà là thiếu niên! ôi, khổ thay, khổ thay cho mi, kẻ đã dám làm xáo động tâm trạng thoải mái của ta! Hãy ngừng ngay những lời nói hỗn láo của mi khi vẫn còn chưa muộn!...

Trong lúc ấy, có một chuyện gì đó đánh lạc sự chú ý của ông Khốttabít. ông ta vẫn thì thầm vào tai Vônca những câu nói kiêu ngạo nhảm nhí của mình, và Vônca lấy lại được tự chủ trong chốc lát, liền từ trên lưng lạc đà cúi thấp người xuống, vừa buồn bã nhìn thẳng vào mắt những ngươi đứng nghe xung quanh, vừa lắp bắp van vỉ:

- Các đồng chí?... Các ông các bà!... Các bạn?... Xin bỏ qua những lời tôi nói vừa rồi... Chẳng lẽ tôi lại dám nói như thế ư Đó là tại ông ta, cái ông già này, bắt tôi phải nói như vậy Nhưng đến đây, ông Khốttabít lại nắm lấy quyền làm chủ tiếng nói của Vônca, nên Vônca lại gào lên, không kịp thở lấy hơi:

- Bọn bay hãy liệu hồn và chớ có làm ta nổi giận, bởi vì ta nổi giận thi rất đáng sợ. Chà, rất chi là đáng sợ đấy!...

Vônca hiểu rõ rằng những lời nỏ nói chẳng đe dọa được ai, mà chỉ tổ làm cho mọi người tức giận, thậm chí còn làm cho một số người phì cười, nhưng nó không thể làm gì được.
Trong khi đó, những người nghe Vônca nói không còn cảm thấy phẫn nộ và ngạc nhiên nữa, mà lại bắt đầu cảm thấy lo lắng cho Vônca. Rõ ràng là không một học sinh Xôviết có đầu óc bình thường nào lại dám thốt ra nhũng lời lẽ ngu ngốc và hỗn xược như thế.
Bỗng trong đám đông có tiếng phụ nữ hốt hoảng kêu lên:

- Các ông các bà ơi! Thằng bé này bị sốt nặng rồi!... Mồm nó đang bốc khói kia kìa!

- Lại còn nói nhăng nói cuội gì thế nữa! - Vônca quát lên để đáp lại và nó kinh hoàng khi cảm thấy rằng cùng với những lời nói, từ mồm nó tuôn ra nhũng luồng khói lớn đen xì...
Một người nào đó sợ hãi kêu lên, một ngươi khác chạy vào hiệu thuốc để gọi xe cấp cứu. Lợi dụng ìinh trạng nhốn nháo, Vônca liền thì thầm với ông Khốttabít:

Gátxan ápdurắcman con trai của Khốttáp? Tôi ra lệnh cho ông phải ngay lập tức đưa con lạc đà cùng với chúng ta đi xa khỏi chỗ này... Tốt hơn hết là ra ngoại thành. Nếu không thì chúng ta sẽ khốn to... ông nghe rõ chưa? Ngay - lập - tức!

Xin tuân lệnh! - ông già cũng thì thầm đáp lại.

Đúng lúc đó, con lạc đà cùng hai người cưỡi trên lưng nó lao vút lên trời và biến mất, làm cho mọi người xung quanh vô cùng sửng sốt.

Một phút sau, con lạc đà nhẹ nhàng hạ xuống một vùng ngoại ô thành phố và nó bị hai vị hành khách bỏ rơi vĩnh viễn ở đấy.

Có lẽ cho đến nay con lạc dà ấy vẫn còn gặm cỏ đâu đó ở ngoại thành. Nếu các bạn tình cờ bắt gặp nó thì rất dễ thận ra: nó có một cái dây cương gắn đầy kim cương và ngọc bích.[/color]

---

[size=11:aa5b3a798d](1) áo khoác có mũ trùm bằng vải len mả người Trập thường mặc - N.D.
(2 ) Người ta vẫn thường ví lạc đà là “con tàu của sa mạc - N. D.
(3) Trong tiếng Nga, '(đùi lợn” là “ôcôrốc”, lúc phát âm nghe gần giống với tiếng ôtơrốc, (thiếu niên) mà Vônca nói ở trên - N.D. [/size]
 
[color=darkblue:4d9113174b]Chương 23

[size=15:4d9113174b]Câu chuyện bí mật tại Chi nhánh ngân hàng nhà nước[/size]

Lúc hai ông cháu trở về nhà, mặc dù đã trải qua mọi chuyện khó chịu trong ngày, Vônca vẫn cảm thấy phấn khởi.

Cuối cùng, nó đã nghĩ ra cách giải quyết số tài sản nhiều vô kể trút như mưa xuống đầu nó

Trước hết, Vônca hỏi ông Khốttabít xem ông có thể biến thành vô hình - trước mắt người ngoài - tất cả những người chăn dắt cùng với đàn voi, lạc đà, lừa và toàn bộ các thứ hàng vận chuyển được không.

Cậu chỉ cần ra lệnh là mọi việc sẽ được thực hiện trong chớp mắt. - Ông Khốttabít sẵn lòng đáp.

Tốt lắm - Vônca nói. - Vậy thì xin ông hãy biến tất cả người chăn dắt, súc vật, hàng vận chuyển thành vô hình, sau đó chúng ta đi ngủ. Sáng mai, chúng ta sẽ phải dậy cùng lúc với mặt trời mọc.

- Xin tuân lệnh Thế rồi những người tụ tập trong sân để xem đoàn Súc Vật vận chuyển ồn ào và kỳ lạ bỗng thấy cái sân hoàn toàn trống không và mọi người tản về nhà sau khi quên ngay lập tức đoàn súc vật vận chuyển nọ.

Vônca ăn tối qua loa, cởi nhanh quần áo và khoan khoái nằm dài trên chiếc giường mát mẻ.

Còn ông Khốttabít thì quyết định nghiêm chỉnh tuân thủ tập quán lâu đời của các ông thần là biến thành vô hình và nằm ngay ở ngưỡng cửa để bảo vệ sự yên tĩnh cho vị cứu tinh trẻ tuổi của mình. Vônca đã toan bắt đầu cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh với ông già Khốttabít thì cửa ra vào bỗng mở toang và bà nội, như thường lệ, đi vào chúc cậu cháu của mình ngủ ngon, liền vấp phải ông Khốttabít vô hình, ngã uỵch xuống sàn nhà.

- Con hiểu không, có một cái gì đó nằm ở cửa này!

Bà giải thích với bố Vônca khi ông nghe tiếng động mạnh bèn chạy vào.

- Cái gì đó nằm ở đâu hả mẹ? - Bố Vônca hỏi. - Và cái gì đó trông nó ra sao ạ?

- Aliôsenca , cái đó hoàn toàn không thể trông thấy được.

- Mẹ ơi, thế là mẹ vấp phải chỗ trống không, có phải không ạ? - Bố Vônca mỉm cười hóm hỉnh, ông hài lòng khi thấy mẹ không hề bị đau khi ngã.

- Thì ra mẹ vấp vào chỗ trống không, con trai của mẹ ạ. - Bà bối rối đáp và đến ngập ngừng, bà ngượng ngùng phì cười.

Bố và bà nội chúc Vônea ngủ ngon rồi đi ra.

Còn ông Khốttabít thì đã thận trọng chuyển vào nằm dưới giường Vônca. Ở đây, chẳng còn phải lo có ai giẫm vào người mình nữa. Vả lại, nằm như thế càng gần Vônca hơn.

Cả hai nhân vật chính của chúng ta nằm im một lúc.

Vônca vẫn chưa biết nên bắt đầu cuộc nói chuyện tế nhị sắp tới như thế nào đây.

Chúc cậu ngủ ngon! - Từ dưới gầm giường, ông Khốttabít nói với giọng đầy thiện ý.
Vônca hiểu rằng đã đến. lúc phải bắt đầu.

- Ông Khốttabít ơi, - nó thò dầu từ trên giường xuống và nói, cháu cần phải nói chuyện với ông một chút.

- Có phải về chuyện những món quà của ta hôm nay không? - Ông Khốttabít hỏi với vẻ lo lắng và thở dài đánh sượt khi Vônca gật đầu xác nhận.

- Ông Khốttabít thân mến, cháu muốn biết cháu có được quyền sử dụng những món quà của ông theo ý cháu không ạ?

- Dĩ nhiên là được.

Cho dù cháu sử dụng những món quà ấy như thế nào, ông cũng không giận cháu chứ.

- Không đời nào, hời cậu Vônca? Lẽ nào ta dám giận người đã giúp ta nhiều điều như thế!
Ông Khốttabít, nếu ông cảm thấy không có gì trở ngại thì ông hãy thề đi.

- Ta xin thề! - ông Khốttabít

Khốttabít nói với giọng khàn khàn ở dưới giường sau khi ông đã hiểu rằng chẳng phải vô cớ mà Vônca lại nói tới chuyện này.

- À thế thì hay lắm? - Vônca mừng rỡ. - Thế có nghĩa là ông sẽ không giận nếu cháu hoàn toàn chẳng cần đến những món quà ấy, mặc dù cháu rất biết ơn ông.

- Ôi khổ thay cho ta? - ông Khốttabít rên rỉ đáp lại. - Cậu lại từ chối những món quà của ta rồi?... Nhưng đây có phải là những tòa lâu đài đâu! Hởi cậu Vônca, cậu thấy đấy ta chẳng tặng cho cậu những lâu đài nữa. Cậu cứ nói phứt đi cho rồi: cậu coi khinh những món quà mà kẻ đầy tớ trung thành của cậu mang tặng.

- Ông Khốttabít, ông hãy tự suy xét xem, vì chình ông là một ông già rất thông minh: cháu cần đến vô số châu báu ấy làm gì nào?

- Để trở thành người giàu nhất trong tất cả những người giàu có là cái cậu có thể làm! - Ông Khốttabít giải thích với giọng đay nghiến. - Hay cậu lại bảo rằng cậu không muốn trở thành người giàu nhất nước mình? Cậu dám bảo thế lắm, hởi cậu thiếu niên khó tính nhất và khó hiểu nhất trong tất cả các cậu thiếu niên mà ta đã từng gặp! Có tiền là có quyền lực, có tiền là có vinh quang, có tiền là có bạn bè, muốn bao nhiêu cũng được? Tiền là như vậy đó. Ai cần đến cái thứ bạn bè mua bằng tiền, cái thứ vinh quang mua bằng tiền hả ông. Ông chỉ làm cho cháu buồn cười thôi ông Khốttabít ơi? Vinh quang nào lại có thể mua được bằng tiền, chứ không phải bằng lao động lương thiện vì lợi ích của Tổ quốc mình?
Cậu quên mất rằng tiền đem lại quyền lực bảo đảm nhất và chắc chắn nhất đối với mọi người, hởi người trẻ tuổi hay tranh cãi cù nhầy?

- Chuyện đó chỉ có ở nước Mỹ thôi, chứ không thể có ở nước chúng cháu.

- Chắc cậu lại sắp sửa bảo rằng ở nước các cậu, mọi người đều không muốn làm giàu, ha ha ha! - Ông Khốttabít tưởng rằng ông đã nói lên một ý rất cay độc.

- Không, không phải đâu? - Vônca kiên nhẫn đáp.

- Ơ nước chúng cháu, người nào làm lợi nhiều cho Tổ quốc thì kiếm được nhiều tiền hơn so với người làm lợi ít cho Tổ quốc. Dĩ nhiên, mỗi người đều muốn kiếm được nhiều tiền hơn, nhưng phải kiếm tiền bằng lao động lương thiện kia.

- Cứ cho là thế đi? - Ông Khốttabít nói. - Ta hoàn toàn không có ý định đẩy người bạn yêu quý của mình vào con đường kiếm tiền bất chính. Nếu cậu không cần những thứ châu báu này thì cậu hãy đổi chúng thành tiền và dùng số tiền ấy cho vay lấy lãi. Cậu phải đồng ý với ta rằng cho những người cần tiền vay lấy lãi là một việc làm rất đáng trọng.

- Ông điên mất rồi! - Vônca phẫn nộ. - Ông quả là không hiểu những điều ông nói? Một người Xôviết bỗng nhiên lại biến thành một kẻ cho vay nặng lãi! Vả lại, bây giờ ai còn thèm đến với một tên hút máu như thế, thậm chí nếu tên đó bỗng nhiên xuất hiện ở đâu đấy? Nếu một người ở nước chúng cháu cần tiền thì có thể vay ở quỹ tương trợ hoặc vay bạn bè. Còn kẻ cho vay nặng lãi thì đó chính là một tên hút máu, một tên ăn bám, một tên bóc lột đê tiện, như thế đấy!
Mà ở nước chúng cháu thì không có và sẽ không bao giờ có những kẻ bóc lột. Đủ lắm rồi! Vào thời tư bản, bọn bóc lột đã hút no máu nhân dân nước chúng cháu.

- Vậy thì, - ông Khốttabít đã hơi chán nản song vẫn chưa chịu thua, - cậu hãy mua thật nhiều hàng hóa và mở các cửa hàng của mình trong khắp thành phố. Cậu sẽ trở thành một thương gia nổi tiếng và mọi người sẽ kính trọng cậu.

- Chẳng lẽ ông không hiểu rằng nhà buôn tư nhân cũng là một hạng bóc lột ở nước chúng cháu, việc buôn bán do nhà nước và hợp tác xã đảm nhiệm. Còn kiếm tiền bằng cách buôn bán trong cửa hàng của mình thì...

- Hừm! - ông Khốttabít làm ra vẻ đồng ý với Vônca. - Cứ tạm cho rằng cậu nói đúng đi. Vậy sản xuất ra các thứ hàng hóa khác nhau thì ta hy vọng đó là một việc làm lương thiện chứ

- Dĩ nhiên rồi! ông thấy chưa, - Vônca mừng rỡ, - ông bắt đầu hiểu ý cháu rồi đấy!
Rất sung sướng? - Ông Khốttabít nhếch mép cười chua chát. - Ta nhớ có lần cậu nói với ta rằng ông bố rất đáng kính của cậu đang làm đội trưởng ở một nhà máy. Có đúng thế không?

- Đúng ạ?

- Ông bố cậu là người to nhất trong nhà máy ấy?

- Không, không phải là to nhất đâu. Bố cháu chỉ là đội trưởng thôi, trên bố cháu còn có phân xưởng trưởng này, giám đốc này.

- Thế này nhé, - Ông Khốttabít đắc thắng kết thúc ý nghĩ của mình, - với vô số của cải mà ta tặng cậu, cậu có thể mua cho ông bố tuyệt vời của cậu cái nhà máy mà ông đang làm việc và còn có thể mua nhiều nhà máy khác nữa.

- Nhà máy ấy cũng thuộc về bố cháu.

- Nhưng hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa, chính cậu vừa mới nói...

- Nếu ông muốn biết thì cháu xin nói rằng bố cháu làm chủ cả cái nhà máy bố cháu đang làm việc, cả toàn bộ những nhà máy và xí nghiệp khác, cả toàn bộ những hầm mỏ, xí nghiệp mỏ, đường sắt, ruộng đất, sông ngòi, núi non, cửa hàng, trường phổ thông, trường đại học, câu lạc bộ, cung điện, nhà hát, công viên và rạp chiếu bóng trong cả nước.
Toàn bộ những thứ đó cũng thuộc về cháu, cũng thuộc về Gienca Bôgôrát, cũng thuộc về bố mẹ cậu ấy, cũng...

- Cậu muốn nói rằng ông bố của cậu có những hội viên cùng công ty phải không?

- Đúng đấy, những hội viên cùng công ty? Hơn hai trănm triệu hội viên cùng công ty hoàn toàn bình đẳng với nhau Số dân nước chúng cháu có bao nhiêu thì số hội viên cùng công ty có bấy nhiêu!

- Đất nước của cậu thật kỳ lạ và khó hiểu đối với đầu óc ta. - Ông Khôttabít lầm bầm ở dưới gầm giường và im bặt.

Tảng sáng hôm sau, tiếng chuông điện thoại đã dựng dậy khỏi giường ông chủ nhiệm chi nhánh Ngân hàng Nhà nước ở quận. Người ta gọi ông cấp tốc tới văn phòng.

Lo lắng vì cú điện thoại sớm như vậy, ông chủ nhiệm phóng ngay tới phòng làm việc và thấy ở sân tòa nhà được dùng làm trụ sở của chi nhánh ngân hàng rất nhiều voi, lạc đà và lừa chở các kiện hàng nặng.

- Có một công dân muốn đóng góp... - Người thường trực bối rối báo cáo vái ông chủ nhiệm.

- Đóng góp? - ông chủ nhiệm ngạc nhiên. - Vào lúc sáng tinh mơ như thế này?... Đóng góp gì vậy?

Để đáp lại, ngươi thường trực lặng lẽ chìa cho ông chủ nhiệm một tờ giấy xé trong cuốn vở học trò, trên đó viết đầy chữ với nét chữ trẻ con rắn rỏi.

Ông chủ nhiệm đọc tờ giấy và yêu cầu người thường trực cấu vào tay ông. Người thường trực bối rối thực hiện yêu cầu ấy. Ông chủ nhiệm nhăn mặt vì đau, sau đó lại nh ìn tờ giấy và nói:

- Khó tin. Thật là khó tin?

Một công dân muốn giấu tên đã hiến cho Ngân hàng Nhà nước tùy ý sử dụng vào bất cứ nhu cầu nào hai trăm bốn mươi sáu kiện vàng, bạc và đá quý với tổng giá trị là ba tỷ bốn trăm sáu mươi bảy triệu một trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm lẻ ba rúp mười tám cô ếch.
Số tiền trên có thể thêm vài chục rúp nữa, nhưng Vônca đã giữ lại ba đồng tiền vàng để bịt răng vàng cho bà nội...

Nhưng điều đáng kinh ngạc nhất đã xảy ra một phút sau đó. Thoạt tiên các con vật chở châu báu, sau đó những người chăn dắt con vật, rồi đến số châu báu được chở trên lưng các con vật ấy bỗng lắc lư, trở nên trong suốt như không khí và tan ra như hơi nước trong khoảng không. Một làn gió mát ban mai đã cuốn khỏi tay ông chủ nhiệm đang sửng sốt tờ giấy hiến của, thổi nó lên cao trên tòa nhà và mang đi về một hướng nào không rõ. Nhưng chẳng mấy chốc tờ giấy ấy đã bay qua cửa sổ mở, vào căn phòng Vônca Côxtacốp đang ngủ tít thò lò, gắn vào cuốn vở mà nó vừa được xé ra và lại hoàn toàn không có một chữ nào trên đó.

Nhưng như vậy vẫn chưa phải là hết. Hoàn toàn không thể hiểu nổi tại sao chuyện đó lại xảy ra, nhưng cả các nhân viên chi nhánh Ngân hàng Nhà nước ở quận, cả các người hàng xóm cùng nhà Vônca, thậm chí cả Vônca nữa đều không một lần nào sau đó nhớ đến đoàn súc vật vận chuyển kỳ lạ nọ. Dường như có ai đó đã xóa sạch chúng khỏi trí nhớ của họ. [/color]
 
tykva nói:
Cuốn sách mình có mới toanh, của NXB Văn học 2006, ghi dịch giả là Minh Đăng Khánh.
Hôm chủ nhật em có mua cho thằng bé con đúng quyển này, bác ạ.

Em vừa sưu tầm lại được sau khi mua đi mất lại một số lần cuốn này, bản của NXB Cầu Vồng in tại Liên Xô năm 1990 thì:

Người dịch: Minh Đăng Khánh
Người biên tập: Lê Anh Hiền
Hoạ sỹ: Ma-du-rin G.

Đây là sự hợp tác xuất bản của NXB Cầu Vồng và NXB Kim Đồng năm 1990. Giá bán tại Liên Xô lúc đó là 2r50k.
 
Các người bàn gì về ta đó, hỡi những thành viên của cái diễn đàn đáng yêu này?

Ta đang rất buồn, các người ạ. Giá cổ phiếu lên xuống thất thường quá, ngoài sự phán đoán của ta. Theo các người, sắp tới ta có nên bán ít lạc đà, ngọc quý và vàng bạc đầu tư tiếp không?

@Admin đáng kính: xin đừng xoá bài xừ-pam của ta, cầu chúc cho các cụ thân sinh ra Admin đáng kính sống lâu trăm tuổi!
 
Em cũng nhớ là bản "Ông già Khốt ta bít" em đọc từ thời ... tám hoánh không hề có chữ "Cu Tý" như trong bản của bác Tân
 
hungmgmi nói:
Tiếp đê bác TLV ơi.
Xin lỗi mọi người, mình lại nú nẫn giống RBD, cứ tưởng đã kết thúc cuốn này rồi. Ai dè còn nhiều thế.

-----------

[color=darkblue:bf75990a26]Chương 24

[size=15:bf75990a26]Ông già Khốttabít và Xiđôrêli[/size]



Trông ông già thật đáng thương. Suốt ngày, ông giấu mình trong bể nuôi cá, viện cớ hình như bệnh thấp khớp của ông lại tái phát. Dĩ nhiên đó là một lời giải thích phi lý, bởi vì đã bị bệnh thấp khớp mà còn chui xuống nước thì thật là ngớ ngẩn.
Ông Khốttabít nằm ở dưới đáy bể nuôi cá, chậm chạp ve vẩy những cái vây của mình và uể oải hớp nước. Lúc Vônca hay Giênia đến gần bể, ông già liền quay ngoắt đuôi về phía hai cậu bé một cách bất lịch sự và bơi lại thành bể đằng sau. Của đáng tội, những lúc Vônca không có mặt trong phòng, ông Khốttabít đều chui ra khỏi nước cho giãn xương giãn cốt đôi chút.
Nhưng vừa nghe thấy tiếng chân Vônca, ông liền lao tõm xuống nước, làm ra vẻ như ông không hề nghĩ đến chuyện rời khỏi đấy. Có lẽ ông đang ôm một nỗi đắng cay nào đó, nên Vônca chốc chốc lại khẩn khoản van nài ông lên khỏi mặt nước và đừng giận dỗi nữa. Quay đuôi về phía cậu bé, ông già vẫn nghe thấy tất. Nhưng chỉ cần cậu bạn trẻ tuổi của ông mở cuốn sách giáo khoa địa lý ra để chuẩn bị thi lại là ông đã nhô nửa người lên khỏi bể và đắng cay trách móc Vônca vô tình. Ông nghĩ bụng: sao Vônca lại có thể làm đủ chuyện vớ vẩn khi một ông thần già đến thế đang khốn khổ vì bệnh thấp khớp.

image27.png


Nhưng Vônca vừa gấp cuốn sách giáo khoa, ông già lại quay ngoắt đuôi về phía nó. Cứ như thế cho đến tận tới 8 giờ, ông Khốttabít bỗng quẫy mạnh vây và nhảy xuống sàn nhà. Sau khi vắt sạch nước khỏi râu cằm và ria mép rồi nhanh chóng hong khô chúng bên chiếc quạt bàn kêu vù vù vui vẻ, ông lạnh lùng nói với Vônca đang mừng rỡ:
- Cậu làm ta rất giận vì việc cậu đã từ chối những món quà mọn của ta. May phúc cho cậu và may phúc cả cho ta nữa là ta đã hứa không giận cậu. Nhưng ta không giận cậu một chút nào chẳng phải chỉ vì ta đã hứa, mà còn vì ta hiểu ai là kẻ có lỗi thực sự về những nỗi phiền muộn mà cậu gây ra cho ta trong khi chính cậu lại không hề muốn như vậy. Những người dạy dỗ cậu, đó chính là cội nguồn của tai họa! Mụ Vácvara chứ không phải cậu - một cậu thiếu niên trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm - phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước ta về mọi nỗi cay đắng trong những ngày gần đây. Và ta sẽ trừng trị mụ Vácvara con gái của Xtêpan không xứng đáng ấy ngay bây giờ...
Ông Khốttabít rứt ngay một lúc 4 sợi râu: ông chuẩn bị làm cái gì đó thật khác thường.
- Ấy chết, ấy chết, ông Khốttabít yêu quý, ông Khốttabít thân mến! - Vônca nói ấp úng và níu lấy tay ông thần đã phát khùng. - Cô Vácvara không hề có lỗi trong chuyện này!... Lời nói danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong đấy?... Tất cả mọi chuyện đều do cháu...
- Không, mụ ta có lỗi, mụ ta có lỗi, mụ ta có lỗi! - Ông Khốttabít vừa nói lè nhè, vừa cố gỡ tay ra.
- Cô ấy không có lỗi, cô ấy không có lỗi, lời nói danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong, cô ấy không có lỗi!... - Vônca hoảng sợ cãi lại trong khi nó vội vã nghĩ xem có cách nào làm cho ông thần đã nổi xung này quên cô Vácvara đi. - Ông biết sao không?... Ông biết sao không?... - Cuối cùng, Vônca nghĩ ra - Ông cháu ta đi xem xiếc, ông nhé? Ôi, ông Khốttabít yêu quý, ông cháu ta đi xem xiếc đi! Cháu và Giênia không tài nào lấy được vé, còn ông thì làm việc đó dễ như trở bàn tay... Chỉ ông mới có thể giúp bọn cháu vào được rạp xiếc thôi... Ông là người có sức mạnh toàn năng, ông là người có sức mạnh toàn năng đáng kinh ngạc kia mà!...
Ông già rất tò mò, rất thích nịnh và cái chính là rất chóng nguôi giận, một điều khác hẳn với các ông thần khác.
- Cậu vừa dùng tiếng gì buồn cười, nghe như tiếng chim sẻ kêu thế? - Cặp mắt ông Khốttabít tò mò sáng lên. - Đó có phải là cái chợ bán vẹt và các giống chim lạ khác không? Cậu nên biết rằng ta vốn dửng dưng với loài chim. Từ lâu, ta đã xem vẹt chán cả mắt rồi.
- Ông nói gì thế. Xiếc còn lý thú hơn gấp nghìn lần ấy? Cháu xin nói là gấp nghìn lần, gấp triệu lần, gấp triệu triệu lần!...
Ông Khốttabít lập tức quên cô Vácvara. Cặp mắt ông sáng lên ánh say mê.
- Rất sung sướng và vui lòng, hỡi cậu Vônca. Cậu biết sao không? Chúng ta sẽ đi đến đấy bằng lạc đà, thậm chí tốt hơn hết là bằng voi. Cậu hãy tưởng tượng xem mọi người sẽ ghen tị với cậu như thế nào.
- Ấy chết, không đâu! Ông không cần phải bận tâm như thế - Vônca phản đối với vẻ vội vã đáng ngờ. - Tốt hơn cả là ông cháu ta sẽ đi trôlâybuýt, nếu như ông không sợ.
- Đi trôlâybuýt thì có gì đáng sợ - Ông già phật ý. - Đã 4 ngày nay, ta nhìn những cỗ xe bằng sắt ấy mà chẳng hề sợ tí nào.
Nửa giờ sau, Vônca, Giênia và ông Khốttabít đã có mặt ở Công viên Văn hóa và Nghỉ ngơi, bên lối vào rạp xiếc Sapitô.
Ông già chạy vào chỗ bán vé để xem cái vé vào rạp xiếc hình thù ra sao, thế là chẳng mấy chốc trong tay ba ông cháu bỗng xuất hiện những cái vé cứng, màu hồng nhạt có thể cho phép họ vào các chỗ ngồi còn trống.
Ba ông cháu đi vào rạp xiếc sáng trưng nhờ rất nhiều bóng đèn điện rực rỡ.
Ở một lô ngay sát vũ đài còn vừa đúng ba cái ghế trống, nhưng ông Khốttabít nhất mực không chịu ngồi chỗ đó. Ông nói:
- Ta không thể đồng ý để cho bất kỳ kẻ nào trong cái rạp này ngồi cao hơn ta và hai cậu bạn rất đáng kính của ta. Ngồi như vậy là hạ thấp phẩm giá của chúng ta.
Biết rằng tranh cãi với ông già cũng chẳng được tích sự gì, hai cậu bé đành phải bấm bụng ngồi chót vót ở hàng cuối cùng của khu ghế hạng nhì.
Chẳng mấy chốc, các nhân viên phục vụ vũ đài mặc bộ đồng phục màu huyết dụ có thêu kim tuyến đã chạy ra và xếp hàng hải bên lối vào vũ đài.
Người điều khiển chương trình cất giọng oang oang tuyên bố buổi biểu diễn bắt đầu, thế là một chị cưỡi ngựa phi ra vũ đài khắp người chị viền đầy những đốm sáng lấp lánh như ông già Nôen.
- Thế nào, ông có thích không ạ? - Vônca hỏi ông Khốttabít.
- Xem cũng thú đấy và khá vui mắt - Ông già dè dặt đáp.
Tiếp sau chị cưỡi ngựa là các diễn viên nhào lộn, sau các diễn viên nhào lộn là các anh hề, sau các anh hề là các chú chó con được tập luyện đã khiến ông Khốttabít tán dương một cách thận trọng, sau các chú chó là các diễn viên tung hứng và các diễn viên nhảy. Các diễn viên nhảy đã kết thúc phần một của buổi biểu diễn.
Thật là bực mình khi phải rời khỏi rạp xiếc nửa chừng, nhưng cuốn sách giáo khoa địa lý mới lật được mấy trang đầu tiên đang đợi Vônca ở nhà.
Vônca thở dài đánh sượt và thì thầm vào tai Giênia:
- Này, bây giờ mình phải về, còn cậu cố giữ ông già lại dù chỉ hai tiếng đồng hồ thôi. Xem xiếc xong, cậu hãy đi dạo với ông ấy, hay là...
Nhưng Giênia đã thì thầm nói giọng mũi rành rọt từng tiếng với vẻ đầy ý nghĩa:
- Cả ba chúng ta phải rời khỏi đây ngay, cả ba chúng ta... VÊ ÍCHXÌ đang ở đây, VÊ ÍCHXÌ đang ở đây!
Nói rồi, Giênia hất đầu hơi lộ liễu về phía lối đi bên cạnh.
Vônca ngoảnh lại và lạnh toát cả người: cô Vácvara Xtêpanốpna cùng với cháu gái 5 tuổi Irisa đang bước xuống các bậc dốc ngược ở lối đi bên cạnh để vào phòng giải lao.
Không ai bảo ai, hai cậu liền đứng phắt dậy và đứng ngay trước mặt ông già vẫn chẳng nghi ngờ gì để che không cho ông trông thấy cô giáo chủ nhiệm của mình.
- Ông biết không, ông Khốttabít, - Vônca khó khăn lắm mới thốt lên được, - Ông cháu ta đi về đi, ông nhé!... Hôm nay ở đây hoàn toàn chẳng có gì hay cả...
- À, đúng đấy. - Giênia lo cho cô Vácvara đến phát run như lên cơn sốt, nên hùa theo. - Ông cháu ta đi về đi... Chúng ta đi dạo trong công viên...
- Bậy nào, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta! - Ông Khốttabít hồn nhiên đáp. - Chưa bao giờ ta cảm thấy thích thú như khi ở trong cái nhà bạt quả là kỳ diệu này. Thôi, các cậu cứ về trước đi, còn ta sẽ quay về với các cậu ngay sau khi cuộc biểu diễn hết sức hấp dẫn này kết thúc.
Chỉ còn thiếu nước ấy nữa thôi: bỏ mặc cô Vácvara mặt đối mặt với ông thần căm ghét cô!
Dù thế nào đi chăng nữa, cũng phải thu hút sự chú ý của ông Khốttabít cho tới lúc bắt đầu phần hai của buổi biểu diễn. Lúc bấy giờ thì không thể rứt ông ra khỏi những gì đang diễn ra trên vũ đài. Nói tóm lại, phải hết sức gấp rút nghĩ ra một cách gì đó, nhưng Vônca vì quá lo cho cô Vácvara nên hoàn toàn quẫn trí. Thậm chí hai hàm răng nó còn đánh vào nhau côm cốp.
- Bây giờ thế này nhé, ông Khốttabít, - Cuối cùng không phải Vônca, mà là Giênia nghĩ ra, - Ông hãy chọn một trong hai thứ: hoặc là học, hoặc là không học!
Cả Vônca lẫn ông Khốttabít đều ngớ người nhìn Giênia.
- Cháu nói theo nghĩa như thế này, - Giênia giải thích cho cả hai ngươi, - Nếu chúng cháu đã thỏa thuận dạy cho ông biết chữ thì phải sử dụng từng phút rảnh rỗi để học. Cháu nói có đúng không, hả ông Khốttabít?
- Đức tính cần cù của cậu đáng được khen ngợi hết sức, hỡi cậu Giênia! - Ông Khốttabít cảm động đáp.
- Ông đang cầm trên tay bản chương trình buổi biểu diễn xiếc đấy, vậy ông cháu ta bắt đầu học ngay các chữ cái theo bảng chương trình ấy. Học tới lúc hết giờ giải lao thì thôi...
- Rất sung sướng và vui lòng, hỡi cậu Giênia!
Giênia mở bản chương trình ra và chỉ ngón tay vào chữ “A” bắt gặp đầu tiên.
- Đây là chữ “A”, ông hiểu chưa ạ?

image28.png


- Ta hiểu rồi, hỡi cậu Giênia!
- Thế đây là chữ gì nào?
- Đây là chữ “A”, hỡi cậu Giênia!
- Đúng! Ông hãy tìm cho cháu chữ “A” trong tất cả các hàng chữ này.
- Đây là chữ “A”, hỡi cậu Giênia!
- Khá lắm! Còn đâu nữa ạ?
- Đây, đây nữa, ở đây nữa, ở đây nữa...
Ông Khốttabít học hết sức mải mê, không hề chú ý đến một chuyện gì khác nữa.
Tới lúc hết giờ giải lao, người xem lại ngồi vào chỗ của mình và đèn lại được bật sáng trưng, ông Khốttabít đã kịp học thuộc tất cả các chữ trong bảng chữ cái và đã biết đánh vần:
- “Nh-ào lộn tr-ên lư-ới nẩy...”
- Ông Khốttabít ơi, ông biết không, - Giênia reo lên với vẻ khâm phục thật sự, - ông có những khả năng hết sức tuyệt vời!
- Còn phải nói!... - Vônca tán thành. - Người anh em ạ, đây là ông thần rất tài ba mà thế gian chưa từng thấy!
Trong khi đó, ông Khốttabít vẫn say sưa đánh vần:
- “Đội các di-ễn vi-ên nh-ào lộn và nh-ảy dư-ới sự chỉ đạo của Philíp Bêlức...”. Các tiết mục này, chúng ta đã xem rồi. “Các bu-ổi bi-ểu di-ễn bu-ổi tối bắt đầu lúc hai mươi giờ. Các bu-ổi bi-ểu di-ễn ban ngày bắt đầu lúc mười hai giờ”. Hỡi các thầy giáo trẻ tuổi của ta, ta đã đọc hết cả bản chương trình, thế có nghĩa là bây giờ ta có thể đọc được cả báo?
- Dĩ nhiên!... Đúng thế! - Hai cậu bé xác nhận.
Vônca còn nói thêm:
- Bây giờ, ông cháu ra thử dọc hàng chữ chào mừng ở tấm băng treo trên bục biểu diễn của dàn nhạc nhé.
Nhưng đúng lúc ấy, một cô gái khoác tạp dề trắng đỏm dáng, tay bưng chiếc khay lớn, bước tới gần.
- Cụ có ăn kem không ạ? - Cô gái hỏi ông già và ông già đến lượt mình đưa mắt hỏi Vônca.
- Ăn đi ông Khốttabít, kem rất ngon. Ông ăn thử xem?
Ông Khốttabít ăn thử, thấy thích. Ông mời hai cậu bé cùng ăn và mua cho mình thêm một chiếc nữa, rồi lại một chiếc nữa và cuối cùng, vẫn còn thèm, ông đã mua của cô bán hàng (lúc đó đang sửng sốt nhìn ông) ngay một lúc toàn bộ số kem mà cô ta có: 43 chiếc tròn trịa bên trên phủ một lớp tuyết mềm mại. Cô gái hẹn sẽ quay lại lấy khay sau và cô đi xuống dưới, chốc chốc lại ngoái cổ nhìn ngườì mua kem kỳ lạ.
- A ha! - Giênia tủm tỉm cười. - Ông già đến vỡ bụng vì ăn kem mất thôi.
Chỉ trong khoảng 5 phút, ông Khốttabít đã chén sạch 43 chiếc kem. Ông ăn kem như ăn dưa chuột, liên tục cắn nhũng miếng lớn và nhai rau ráu một cách ngon lành. Ông nuốt hết miếng cuối cùng đúng vào lúc tất cả các đèn trong rạp xiếc lại bật sáng.
“Tiết mục... hỗn hợp... tuyệt vời!... Diễn viên các rạp xiếc quốc gia Aphanaxi Xiđôrêli!”
Mọi người trong rạp vỗ tay, dàn nhạc chơi khúc nhạc chào, thế rồi một diễn viên đứng tuổi, vóc người tầm thước, mặc áo khoác lụa xanh thêu hình rồng vàng bước ra vũ đài, tươi cười cúi chào tứ phía. Đó chính là Xiđôrêli lừng danh! Trong lúc các phụ tá của ông xếp trên chiếc bàn con bóng nhoáng tất cả những thứ cần thiết để làm trò ảo thuật đầu tiên, ông Xiđôrêli tiếp tục cúi chào và tươi cười. Lúc cười, trong miệng ông lấp lánh một chiếc răng vàng...
- Tuyệt! - Ông Khốttabít thì thầm với giọng ghen tị.
- Cái gì tuyệt hả ông? - Vônca vừa hỏi vừa ráng hết sức vỗ tay.
- Thật là tuyệt khi con người lại mọc răng vàng.
- Ông nghĩ sao? - Vônca mải theo dõi tiết mục đã bắt đầu lơ đãng hỏi.
- Ta tin vào chuyện đó. - Ông Khốttabít đáp. - Răng vàng rất đẹp và sang trọng.
Ông Xiđôrêli kết thúc trò ảo thuật đầu tiên.
- Cậu thấy thế nào? - Vônca hỏi Giênia với giọng như chính nó vừa làm trò ảo thuật ấy.
- Tuyệt! - Giênia khoái chí đáp và Vônca liền sửng sốt la to: mồm Giênia đầy răng vàng.
- Ôi Vônca, mình biết nói với cậu thế nào đây? - Giênia sợ hãi thì thầm. - Cậu đừng hoảng nhé: tất cả các răng của cậu đều biến thành vàng rồi.
- Đây hẳn là công trình của ông Khốttabít! - Vônca buồn bã nói.
Quả thật, sau khi lắng nghe hai cậu bạn nói chuyện với nhau, ông già gật đầu xác nhận và hồn nhiên toét miệng cười, để lộ hai hàng răng vàng to, đều dặn.
- Ngay cả vua Xalômông con trai của Đavít - cầu chúc cả hai vị đều bình an! - cũng chẳng có được những hàm răng vàng sang trọng như thế này! - Ông Khốttabít huênh hoang nói. - Chỉ có điều là các cậu đừng cám ơn ta. Ta cam đoan với các cậu rằng các cậu xứng đáng với món quà nhỏ bé này của ta.
- Phải, chúng cháu không cám ơn ông đâu! - Giênia hầm hầm nói.
Nhưng Vônca sợ ông già lại phát khùng, liền giật tay áo cậu bạn và Giênia đã kịp ngậm miệng.
- Ông Khốttabít, ông có hiểu không, - Vônca bắt đầu nói khéo, - nếu cùng một lúc cả ba ông cháu ta ngồi cạnh nhau mà toàn bộ răng đều biến thành vàng cả thì điều đó sẽ đập mạnh vào mắt mọi người. Mọi người sẽ nhìn chúng ta và chúng ta sẽ ngượng cho mà xem.
- Ta chẳng hề thấy ngượng nghiến gì cả! - ông Khốttabít nói.
- Nhưng dẫu sao thì chúng ta cũng cảm thấy khó chịu. Chúng ta sẽ mất hết cả hứng thú xem xiếc.
- Thế cậu tính sao?
- Chúng cháu yêu cầu ông thế này nhé: chừng nào chúng ta chưa về nhà, trong mồm chúng ta lại nên có những cái răng bằng xương bình thường.
- Ta khâm phục đức tính khiêm tốn của các cậu, hởi các cậu bạn trẻ tuổi của ta! - Ông Khốttabít nói với giọng hơi bực.
Hai cậu bé thở phào nhẹ nhõm khi cảm thấy trong mồm của mình lại có những cái răng tự nhiên như trước.
- Lúc bọn mình về nhà, răng bọn mình lại biến thành vàng thì sao? - Giênia lo lắng thì thầm.
Nhưng Vônca đã đáp khẽ:
- Được rồi, chúng ta sẽ tính sau... Có thể ông già sẽ quên chuyện răng.
Nói rồi, Vônca say sưa xem những trò ảo thuật vô cùng đặc sắc của Aphanaxi Xiđôrêli và cùng với mọi ngươi vỗ tay khi ông này lấy ra từ cái hòm rỗng hoàn toàn lúc đầu là một con chim bồ câu, sau đó là một con gà mái và cuối cùng là một chú chó trắng lông xù ngộ nghĩnh.
Trong cả rạp xiếc, chỉ có một khán giả không hề tỏ vẻ tán thưởng nhà ảo thuật một chút nào. Đó là ông Khốttabít.
Ông cảm thấy rất bực mình khi nhà ảo thuật được vỗ tay về đủ thứ trò vớ vẩn, còn ông từ lúc được giải thoát khỏi cái bình đã làm biết bao phép lạ mà chẳng lần nào được nghe thấy tiếng vỗ tay và ngay cả một lời tán thưởng chân thành cũng không có nốt.
Vì thế, khi nghe tiếng vỗ tay lại vang lên và ông Xiđôrêli bắt đầu cúi chào tứ phía, Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp hầm hừ buồn bã và mặc cho các khán giả phản đối, ông trèo qua đầu họ, xuống vũ đài.

image29.png


Tiếng rì rầm hoan nghênh lan truyền khắp rạp xiếc. Một ông to béo nào đó nói với ngườí đàn bà ngồi bên cạnh:
- Anh đã bảo với em rằng ông già ấy đích thị là một tay hề. Rõ ràng đó là một tay hề rất có kinh nghiệm. Em xem, ông ấy làm điệu bộ mới tức cười làm sao! Đôi khi các tay hề cố tình ngồi lẫn trong chỗ khán giả.
May phúc cho người vừa nói là ông Khốttabít không nghe thấy gì, vì ông còn mải quan sát nhà ảo thuật Xiđôrêli. Đúng lúc ấy, ông này bắt đầu tiết mục đặc sắc nhất của mình với đủ thứ kiểu cách của diễn viên xiếc.
Trước tiên, nhà ảo thuật lừng danh châm lửa mấy băng giấy nhiều màu rất dài và nhét các băng giấy đó vào mồm mình. Sau đó, ông cầm cái tô lớn vẽ nhiều màu sặc sỡ, bên trong đựng một chất gì đó trông giống như mùn cưa rất nhỏ. Ngậm đầy mồm thứ mùn cưa đó, ông Xiđôrêli bắt đầu phe phẩy nhanh trước mặt mình chiếc quạt vàng rất đẹp.
Mùn cưa trong mồm bắt đầu cháy âm ỉ, sau đó xuất hiện một làn khói nhỏ, và cuối cùng, lúc đèn điện trong rạp xiếc đã tắt hết, mọi người nhìn thấy giữa bóng tối, từ mồm nhà ảo thuật lừng danh phụt ra những tia lửa và thậm chí còn có cả một ngọn lửa nhỏ nữa.
Lúc bấy giờ, giữa những tiếng vỗ tay và tiếng hoan hô nồng nhiệt, bỗng vang lên tiếng nói phẫn nộ của ông già Khốttabít:
- Các người bị đánh lừa rồi! - Ông ráng hết sức la thật to. - Đó chẳng phải là phép lạ phép liếc gì cả! Đó chẳng qua chỉ là sự khéo tay bình thường mà thôi!
- Đó chính là một tay hề! - Một ai đó trong đám khán giả reo lên với vẻ khâm phục. - Một tay hề tuyệt vời! Hoan hô tay hề!
Thế là tất cả đám khán giả, trừ Vônca và cậu bạn của nó, đều vui vẻ vỗ tay hoan hô ông Khốttabít.
Ông già không hiểu người ta nói về tay hề nào. Ông kiên nhẫn đợi cho tới lúc tràng pháo tay do sự xuất hiện của ông gây ra chấm dứt và ông tiếp tục nói với giọng châm chọc:
- Phải chăng đó là những phép lạ?! Ha ha ha!...
Ông Khốttabít gạt nhà ảo thuật đang sửng sốt qua một bên và mở đầu, ông liên tiếp phun ra từ mồm mình 15 ngọn lửa lớn muôn màu và khắp rạp xiếc lập tức nồng nặc mùi lưu huỳnh khét lẹt.
Sau khi thích thú nghe tiếng vỗ tay, ông Khốttabít liền búng ngón tay toanh toác thế là thay vào một ông Xiđôrêli lớn có 72 ông Xiđôrêli nhỏ, giống nhà ảo thuật lừng danh như hai giọt nước, nối tiếp nhau chạy trên cái bờ ngăn thấp vòng quanh vũ đài. Chạy được mấy vòng, các ông Xiđôrêli nhỏ lại nhập vào thành một ông Xiđôrêli lớn, cứ như nhiều giọt thủy ngân nhỏ nhập vào thành một giọt thủy ngân lớn vậy.

image30.png


- Đấy vẫn chưa phải là hết đâu! - Ông Khốttabít hăng tiết trước sự tán thưởng của mọi người, bèn gào lên với giọng oang oang như sấm và bắt đầu lôi ra dưới vạt áo véttông cả một đàn ngựa đủ màu sắc.
Những con ngựa sợ hãi hí vang, giậm chân, lắc lư đầu, làm cho cái bờm dày óng ả tung bay. Sau đó, ông Khốttabít dùng tay ra hiệu, đàn ngựa liền biến mất, thế rồi từ dưới vạt áo véttông của ông già, 4 con sư tử Châu Phi to lớn vừa nối đuôi nhau nhảy ra, vừa gầm gừ hăm dọa và sau khi chạy vài vòng quanh vũ đài, các con sư tử cũng biến mất.
Tiếp đó, ông Khốttabít lại biểu diễn trong tiếng vỗ tay không ngớt.
Ông già phẩy tay một cái, thế là mọi thứ trên vũ đài: cả nhà ảo thuật Xiđôrêli và các phụ tá cùng những đạo cụ đủ loại của ông, cả các nhân viên phục vụ vũ đài ăn mặc đẹp đẽ và hùng dũng - tất cả những người và vật đó trong một khoảnh khắc đều bay vút lên, lượn mấy vòng từ biệt trên đầu đám khán giả đang thán phục, rồi lập tức tan biến trong khoảng không.

image31.png


Không biết từ đâu bỗng xuất hiện trên vũ dài một con voi Châu Phi đồ sộ có đôi tai to tướng và cặp mắt nhỏ vui vẻ, ranh mãnh. Trên lưng con voi này có một con voi nhỏ hơn, trên lưng con voi thứ hai là con voi thứ ba còn nhỏ hơn nữa, trên lưng con voi thứ ba là con voi thứ tư...
Con voi cuối cùng, thứ bảy, đứng gần sát mái vòm, trông chẳng lớn hơn chú chó bécgiê. Cả bảy con voi nhất loạt giơ cao vòi rống lên rồi như theo lệnh, chúng đập mạnh đôi tai buông thõng và bay đi, vẫy tai lia lịa chẳng khác gì con chim vẫy cánh.
Ba mươi ba nhạc công với những tiếng hò reo vui vẻ bỗng dồn lại thành một khối tròn lăn từ bục biểu diễn xuống vũ đài. Cái khối tròn ấy lại lăn trên bờ ngăn thấp chạy quanh vũ đài, vừa lăn vừa dần dần thu nhỏ lại cho tới lúc cuối cùng chỉ còn bằng một hạt đậu. Bấy giờ, ông Khốttabít bèn nhặt cái “hạt đậu” ấy lên, nhét vào tai phải của mình và từ trong tai phát ra tiếng nhạc hành khúc đã thu nhỏ lại rất nhiều.
Sau đó, khó khăn lắm mới đứng vững được vì bị kích động, ông già chẳng hiểu sao lại búng toanh toách các ngón ở cả hai tay một cách khác thường, thế là là tất cả khán giả đều lần lượt bị bắn tung khỏi chỗ ngồi của mình và biến mất đâu đó ở tít mái vòm.
Thế rồi cuối cùng trong cái rạp xiếc trống rỗng chỉ còn lại có 3 người: ông Khốttabít mệt mỏi ngồi bệt trên cái bờ ngăn thấp chạy quanh vũ đài, Vônca cùng với cậu bạn vừa từ hàng cuối cùng của khu ghế hạng nhì lăn lông lốc về phía ông già.
- Các cậu thấy thế nào? - Ông Khốttabít uể oải hỏi, khó khăn lắm mới ngóc đầu lên được và nhìn hai cậu bé bằng cặp mắt lờ đờ kỳ lạ. - Liệu lão Xiđôrêli có làm được những tiết mục như vậy cho các cậu xem không hả?
- Ông ấy thì làm sao mà bì với ông được - Vônca vừa đáp vừa bực tức nháy mắt với Giênia khi thấy cậu này vẫn còn chực hỏi ông già về một điều gì đó.
- Ta không thể nào chịu nổi những kẻ lừa bịp! - Ông Khôttabít bỗng nói với vẻ tức giận bất ngờ. - Ba cái trò khéo tay tầm thường mà dám nhận xằng là những phép lạ. Chẳng những thế mà lại còn dám nhận xằng ngay trước mặt ta!...
- Nhưng của đáng tội, ông ấy nào có biết ở đây có một vị thần hùng mạnh và thông minh đến thế đâu? - Giênia bênh vực nhà ảo thuật Xiđôrêli. - Vả lại, ông ấy không hề nói đó là những phép lạ. Ông ấy tuyệt nhiên chẳng nói gì cả.
- Người ta đã viết rành rành ra đấy thôi... Đấy, trong tờ chương trình ấy... Chính cậu dã tận tai nghe ta đọc: “Những phép lạ của kỹ xảo ảo thuật”.
- Đấy chỉ là ảo thuật thôi, ông ơi! Ảo thuật, ông phải hiểu như thế.
- Chà, người ta vỗ tay mới ghê làm sao! - Ông già đắc chí nhớ lại. - Ấy thế mà, hỡi cậu Vônca, ta vẫn chưa lần nào được nghe cậu bày tỏ một sự tán thưởng bình thường chứ đừng nói là vỗ tay nữa... Không, ta đã nghe, nhưng lần ấy cậu chỉ tán thưởng về một phép lạ hết sức, hết sức tẹp nhẹp nào đó mà thậm chí ta chẳng cho đó là một phép lạ... Và tất cả những chuyện ấy đều do mụ Vácvara quái ác mà ra! Chính mụ ấy đã dạy cậu coi thường các tài năng của ta! Đừng có mà phản đối, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta! Chính mụ ấy, chính mụ ấy!... Những tòa lâu đài kỳ diệu biết bao! Đoàn súc vật vận chuyển tuyệt vời biết bao!... Những tên nô lệ khỏe mạnh và trung thành biết bao!... Những con lạc đà trứ danh biết bao!... Ấy thế mà cái mụ quái ác Vácvara Xtê...
Nhưng đúng lúc ấy, may mắn thay cho cô giáo chủ nhiệm của hai nhân vật chính trẻ tuổi của chúng ta, tấm băng dài treo trên bục biểu diễn của đàn nhạc lọt ngay vào tầm nhìn của ông Khốttabít. Cặp mắt của ông trước đó lờ đờ, bây giờ đã lấy lại được vẻ tinh anh, miệng ông nở một nụ cười kín đáo, và với sự thích thú của người vừa mới học đọc, ông bèn đọc thành tiếng: “Các em thân mến! Chúc mừng các em nhân kết thúc năm học và chúc...”.
Chưa đọc hết hàng chữ chào mừng, ông già đã im bặt, nhắm mắt và tưởng như sắp bất tỉnh tới nơi.
- Thế ông có thể đưa tất cả khán giả về lại chỗ cũ không ạ? - Vônca hỏi ông Khốttabít với vẻ sợ hãi. - Ông Khốttabít, ông có nghe cháu nói không đấy? Alô!... Alô!... Ông Khốttabít ơi, ông có thể làm cho mọi thứ trở lại như cũ được không? Việc ấy chắc hẳn là khó lắm?
- Không, chẳng khó đâu... Tức là đối với ta thì dĩ nhiên là chẳng khó. - Ông Khốttabít trả lời rất khẽ.
- Vậy mà không hiểu sao cháu lại cảm thấy rằng ngay cả ông cũng chẳng làm nổi các phép lạ ấy. - Vônca láu lỉnh nói.
- Làm nổi quá đi chứ! Nhưng chẳng hiểu sao ta lại rất mệt.
- Đấy cháu đã bảo mà, ông chẳng đủ sức làm nổi đâu...
Thay cho câu trả lời, ông Khốttabít ì ạch đứng dậy, rứt luôn 13 sợi râu, ngắt vụn những sợi râu ấy ra, rồi thét lên một câu gì đó kỳ lạ, rất dài và bị kiệt sức, ông già ngồi bệt ngay xuống lớp mùn cưa rải trên vũ đài.
Ngay lập túc, từ dưới mái vòm, các khán giả vui mừng vô hạn lao vun vút xuống và ngồi vào đúng chỗ theo vé đã mua. Nhà ảo thuật Xiđôrêli cùng với các phụ tá và những đạo cụ của ông, các nhân viên phục vụ vũ đài, dẫn đầu là người điều khiển chương trình hùng dũng cũng hiện ra trên vũ đài như từ dưới đất chui lên vậy.
Cả 7 con voi châu Phi đều bay trở lại, tai đập phành phạch, hạ xuống vũ đài và lại xếp chồng thành hình tháp. Nhưng lần này, đứng dưới cùng lại là con voi nhỏ nhất, còn ở trên cao sát mái vòm là con voi lớn nhất, con voi có cặp mắt nhỏ, vui vẻ, ranh mãnh. Sau đó, cái hình tháp voi rời ra và 7 con voi nối đuôi nhau chạy vùn vụt quanh vũ đài, vừa chạy vừa thu nhỏ lại rất nhanh cho tới lúc chỉ còn bằng cái đầu kim găm và hoàn toàn mất hút trong lớp mùn cưa.
Dàn nhạc bé bằng hạt đậu từ trong tai phải của ông Khốttabít lăn ra, lớn vụt thành một khối người cười ha hả vui vẻ rồi trái với định luật vạn vật hấp dẫn, cả khối người to tướng ấy lăn ngược lên bục biểu diễn và rã ra ở đấy thành 33 con người riêng biệt, những người này ngồi vào chỗ và khúc nhạc chào lại vang lên...
- Xin phép quý vị!... Xin quý vị cho tôi đi nhờ! ... - Một người gầy gò đeo kính gọng sừng cố lách qua đám đông thích thú đang vây chặt xung quanh ông già Khốttabít. - Thưa đồng chí! - Người này lễ phép nói với ông Khốttabít. - Xin đồng chí làm ơn quá bộ vào phòng làm việc của đồng chí giám đốc. Đồng chí phụ trách Liên đoàn các rạp xiếc quốc gia muốn trao đổi với đồng chí về một loạt cuộc biểu diễn tại Mátxcơva và tại các rạp xiếc ở địa phương.
- Xin ông hãy để cho ông già được yên! - Vônca bực tức nói. - Chẳng lẽ ông không thấy ông già đang bị bệnh sao? Thân nhiệt ông già đã lên cao rồi đấy.
Quả thực, ông Khốttabít đang sốt nặng.
Ông già đã chén đẫy kem mà![/color]
 
[color=darkblue:104395f461]Chương 25

[size=15:104395f461]Bệnh viện dưới gầm giường[/size]


Những ai chưa bao giờ phải trông nom một ông thần bị bệnh, ắt không thể hình dung nổi việc chữa bệnh cho ông già vất vả và phiền toái như thế nào.
Trước tiên, nảy ra vấn đề: để ông già nằm ở đâu?
Không thể đưa một ông thần vào bệnh viện, còn để ông ấy nằm khơi khơi ở nhà cũng chẳng được.
Thứ hai, chữa bệnh cho ông ta như thế nào?
Y học chỉ nhằm chữa bệnh cho người trần mắt thịt, chứ không phải cho các ông thần trong truyện cổ tích.
Thứ ba, bệnh của các ông thần có lây sang người hay không?
Cả ba vấn đề trên, hai cậu bé sẽ thảo luận kỹ càng khi chúng đưa ông Khốttabít đang mê sảng từ rạp xiếc trở về nhà bằng xe tắcxi.
Cuối cùng, chúng đã quyết định:
1. Không đưa ông Khốttabít vào bệnh viện, mà để ông nằm dưới gầm giường của Vônca với tất cả những tiện nghi có thể có, sau khi đề nghị ông biến thành vô hình cho được an toàn.
2. Chữa bệnh cho ông như chữa bệnh cho người bị cảm lạnh. Ban đêm cho uống thuốc átpirin, uống nước trà với mứt đũm hương để ra nhiều mồ hôi.
3. Bệnh của các ông thần có lẽ không lây sang người.
May thay, ở nhà không có ai cả. Hai cậu bé đã yên ổn đặt ông Khốttabít nằm vào cái chỗ quen thuộc của ông ở dưới gầm giường.
Giênia chạy ra hiệu thuốc mua átpirin và tới cửa hàng thực phẩm mua mứt đũm hương. Còn Vônca thì đi xuống bếp nấu nước pha trà.
- Trà đã pha xong rồi đây! - Vônca vui vẻ nói khi nó từ bếp quay lại với ấm trà cầm trên tay. - Ông cháu ta uống trà, ông Khốttabít nhé!
Ông Khốttabít không trả lời.
- Ông chết mất rồi? - Vônca kinh hoàng và nó bỗng cảm thấy rằng bất kể mọi chuyện khó chịu mà ông Khốttabít đã gây cho nó, nó vẫn rất thương xót nếu như ông già chết. - Ông Khốttabít thân yêu! - Vônca lắp bắp và quỳ xuống, chui vào gầm giường.
Nhưng chẳng thấy ông già ở dưới gầm giường.
- Ông già kỳ cục thật! - Vônca lúc ấy nổi khùng, sau khi đã quên ngay những tình cảm trìu mến của mình. - Vừa mới nằm ở đây, ấy thế mà đã kịp biến đi đâu mất?
Không biết Vônca còn nói những lời cay đắng nào nữa về ông già nếu như lúc ấy Giênia không bước huỳnh huỵch vào phòng và lôi xềnh xệch ông Khốttabít theo sau mình. Ông già không chịu và lầu bầu một câu gì chẳng mạch lạc.
- Ông già lẩm cẩm quá xá! Không, cậu không tưởng tượng được ông già lẩm cẩm đến mức độ nào đâu! - Giênia giúp người bệnh vào nằm dưới gầm giường và nói với vẻ tức giận. - Lúc mình trên đường về, mình thấy ông Khốttabít đứng ở góc phố, tay cầm một túi vàng và đang cố giúi bằng được cái túi vàng ấy cho một người qua đường. Mình hỏi ông ấy: “Ông làm gì ở đây trong khi ông đang bị sốt cao?”. Ông ấy trả lời mình: “Ta cảm thấy ta sắp chết đến nơi rồi. Ta muốn nhân dịp này đi phân phát của bố thí”. Nghe vậy, mình mới bảo ông ấy: “Ông lẩm cẩm quá ông ơi! Ông định phân phát của bố thí cho ai nào? Ở nước chúng cháu, ông thấy đâu có những người ăn mày?”. Lúc đó, ông ấy nói với mình: “Vậy thì ta đi về nhà!”. Thế là mình dẫn ông ấy về... Nằm nghỉ đi, ông già thân mến, hãy ráng bình phục, ông chẳng chết đâu mà sợ?...
Hai cậu bé cho ông Khốttabít uống một liều thuốc átpirin rất lớn, cho ông ăn cả một hộp mứt đũm hương và uống kèm nước trà, rồi sau khi đắp chăn kín mít để ông ra được nhiều mồ hôi trong đêm, chúng bắt ông đi ngủ.
Nằm yên được một lúc, ông già đã bắt đầu lo lắng và toan dậy để đi đến gặp vua Xalômông con trai của Đavít nhằm xin lỗi về những chuyện bực mình xa xưa nào đó. Sau đó, ông lại khóc lóc van nài Vônca chạy đến Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương để tìm dưới đáy hai biển ấy cái bình đồng, trong đó giam cầm người em thân yêu của ông là Ôma Iuxúp con trai của Khốttáp, giải thoát ông ta khỏi nơi giam cầm và dẫn ông ta về đây.
- Cả hai ta mà được sống bên nhau ở đây thì tuyệt biết chừng nào! - Ông già vừa lẩm bẩm trong cơn mê sảng, vừa tuôn rơi những giọt nước mắt nóng hổi.
Nửa tiếng sau, ông già hồi tỉnh và từ dưới gầm giường, ông nói với giọng yếu ớt:
- Hai các cậu bạn trẻ tuổi của ta, ngay cả các cậu cũng không thể hình dung được ta biết ơn các cậu ra sao về tình yêu và sự quan tâm quý báu của các cậu đối với ta! Xin các cậu hãy làm ơn giúp ta một việc nữa: các cậu hãy trói tay ta lại cho thật chặt, nếu không lúc lên cơn sốt, ta lại phù phép gì đó mà sau này ta sợ rằng chính ta cũng đành phải bó tay, hối cũng không kịp nữa.
Hai cậu bé trói ông già lại và ông lập tức ngủ say như chết.
Sáng hôm sau, lúc thức dậy, ông Khốttabít hoàn toàn khỏe mạnh.
- Thế có nghĩa là chúng ta đã chữa chạy kịp thời! - Giênia nói với vẻ mãn nguyện và cu cậu đã quyết định dứt khoát rằng sau khi tốt nghiệp trường trung học, sẽ thi vào trường đại học Y khoa[/color]
 
[color=darkblue:f1e88110c1]Chương 26

[size=15:f1e88110c1]Trong chương này chúng ta hãy quay về một chốc với cậu bé sủa gâu gâu[/size]

Thành thực mà nói, mỗi lần Vônca nhớ tới Gôga, nỗi ghen tị lại bắt đầu hành hạ nó. Mà lúc ở nhà, hoặc ở đầu cầu thang, hoặc ở trong cái sân nằm gần cổng, khó mà không nhớ tới Gôga được. Thậm chí qua cửa ra vào khóa trái, thậm chí qua các cửa sổ đóng kín, thỉnh thoảng vẫn vọng ra tiếng chó sủa hấp dẫn, tuyệt vời đến kỳ diệu.
Quả là cũng ngạc nhiên khi thấy Gôga không chịu ló mặt ra sân. Ở địa vị Gôga, dĩ nhiên chẳng một chú bé nào chịu giữ lâu như thế mà không đưa ra khoe với các bạn chú chó con tốt giống thực sự ấy. Hẳn là Gôga đang đắc chí trước sự ghen tị của các bạn.
Không, ở đây ắt phải có một chuyện gì đó.
Cuối cùng, không chịu nổi, Vônca bèn hỏi bà Natalia tại sao chẳng thấy mặt mũi Gôga đâu cả.
Bà Natalia chẳng hiểu sao lại hết sức bối rối và bà ấp úng trả lời rằng Gôgôtrơca (1) hơi bị mệt.
Bà nói ấp úng và lập tức vội vã đi về nhà mình.
- Bác Natalia Cudiminhitrơna! - Vônca gọi với theo bằng giọng van nài. - Cháu xin hỏi bác một câu, chỉ một câu thôi ạ!
Bà Natalia dừng lại rất miễn cưỡng.
- Bác Natalia, xin bác cho cháu biết chó bécgiê phải không ạ?
- Chó bécgiê nào? - Người đàn bà tội nghiệp nhún vai.
- Con chó con mà bác mua tặng Gôga và nó vẫn sủa gâu gâu ở trong nhà bác là chó bécgiê hay chó bốcxơ ạ?
- Trời ơi, sao cháu lại nói nhảm nhí thế? - Bà Natalia thở dài và lẩn ngay vào nhà mình.
Và thật như trêu người, từ trong đó lập tức vang lên tiếng sủa gâu gâu nhanh, cao và rất tức tối. Toàn bộ chuyện này có tính chất hết sức bí ẩn.
Thêm vào đó, ông Khốttabít, theo lệ thường vẫn nằm nghỉ dưới gầm giường của Vônca, lại đặt một câu hỏi tựa hồ bâng quơ:
- Chẳng hiểu cái thằng thù địch với cậu tên là “Thuốc viên” đang sống ra sao?
Ông già nóng lòng muốn khoe với Vônca lời nguyền độc đáo của mình và cùng với Vônca thích thú trước cái tai họa mà Gôga đã phải gánh chịu một cách đích đáng. Ông kiêu hãnh nghĩ: “Không một ai có thể giải được lời nguyền đó một khi ta chưa cho rằng đã đến lúc có thể giải. Ta hình dung lời nguyền đó sẽ làm cậu Vônca con trai của Aliôsa rát đáng kính thích thú như thế nào và cậu ấy sẽ khâm phục trước những phép lạ thiên hình vạn trạng của ta ra sao!”.
- “Thuốc viên”? - Vônca lơ đãng hỏi lại và nó bỗng nảy ra một ý định rất giản dị và hấp dẫn. - Chà, “Thuốc viên”! “Thuốc viên” bị ốm vặt gì đó thôi... Ông Khốttabít này... - Vônca ngồi xổm và chui đầu vào gầm giường để tiến hành thương lượng cho tiện hơn. - Cháu rất muốn yêu cầu ông giúp cho một việc.
“Lại bắt đầu rồi!”, ông thần già bực tức nghĩ thầm. Ông nghĩ rằng Vônca định yêu cầu ông giải lời nguyền cho Gôga và ông quyết định sẽ từ chối thẳng thừng, ít ra là trong thời gian trước mắt. Chẳng sao cả, cứ để cho cái thằng đơm đặt chuyện và hay hớt lẻo ấy bị khổ sở đôi chút. Việc đó chỉ có lợi cho nó mà thôi..
Nhưng ông Khốttabít vẫn rầu rĩ nói thành tiếng:
- Ta rất sung sướng nếu được biết cậu muốn yêu cầu gì.
- Cháu muốn yêu cầu ông cho cháu một món quà.
Ông già mừng rỡ khi thấy không phải là chuyện ân xá trước thời hạn cho Gôga. Ông nhanh nhẹn chui ra khỏi gầm giường:
- Hỡi vị cứu tinh trẻ tuổi và không vụ lợi của các ông thần, cậu hãy nói cậu muốn có món quà gì, cậu sẽ được nhận món quà ấy ngay lập tức.
- Ông có thể cho cháu một con chó không ạ. Một con chó bécgiê.
- Một con chó? Không có gì dễ hơn và ta rất lấy làm vui lòng.
Ông Khốttabít liền rứt một sợi râu, thế là Vônca đã lịm người đi vì khâm phục: một con chó bécgiê 3 tuổi tuyệt vời, xương xương, chắc lẳn đang nằm duỗi mình dưới chân cậu bé, miệng gừ gừ thân mật. Con chó có cặp mắt lanh lợi, thông minh, cái mũi lạnh và ướt, đôi tai nhọn tuyệt đẹp. Vônca vuốt ve đầu nó. Con chó vẫy đuôi lễ phép và khoái chí sủa vang cả nhà.
- Con chó ấy có làm cậu vừa lòng không hả? - Ông Khốttabít hể hả chạy tới chạy lui và chỉ cần Vônca yêu cầu một tiếng nữa thôi, ông sẵn sàng làm cho cả căn phòng, cả căn hộ và cả khu nhà này đầy nhóc những con chó quý nhất. - Chà, cậu hãy tha lỗi, ta quên béng mất một cái đồ vặt.
Cái “đồ vặt” mà ông muốn nói là cái cổ dề bỗng xuất hiện ở cổ con chó bécgiê. Những viên đá quý gắn trên cái cổ dề nhiều tới mức có thể thừa sức gắn trên hai chiếc vương miện (2).
Vônca ngây người vì cái diễm phúc mà nó được hưởng. Nó chỉ còn biết dùng bàn tay run run vuốt ve con chó và đồng thời mỉm cười bối rối đến nỗi ông già đa cảm phải xúc động tới rớt nước mắt.
Nhưng trên đời chẳng có một diễm phúc nào trọn vẹn cả ít ra cũng là khi dính dáng đến những quà tặng của các ông thần. Ngoài cửa bỗng có tiếng chân đàn bà, ông Khốttabít chỉ kịp trốn vào gầm giương và biến thành vô hình thì cánh cửa đã mở toang và bà Xvétlana, mẹ của Vônca, bước vào.
- Mẹ nghĩ đúng thế mà! - Bà nói sau khi thấy con chó mà ông thần già vì quá vội vã đã không kịp biến thành vô hình. - Con chó!... Mẹ muốn biết con lấy đâu ra con chó này...
Vônca cảm thấy nguy đến nơi rồi.
- Đấy là con... Đấy là người ta cho con... Mẹ hiểu không... Con biết nói với mẹ thế nào bây giờ...
Nói thật thì mẹ chẳng thể nào tin nổi. Còn nói dối thì Vônca không muốn. Vả lại, đó cũng là một việc tuyệt vọng: mẹ có thể biết nó nói dối ngay thôi.
- Vônca! - Bà cất cao giọng. - Mẹ không thích con cứ nói lúng búng như thế. Con hãy nói thẳng: con chó bécgiê này của ai?
- Không của ai cả ạ... Tức là trước đây nó không của ai cả, còn bây giờ là của con.
Bà Xvétlana đỏ bừng mặt vì tức giận:
- Chẳng lẽ con lại hạ mình tới mức nói dối sao? Hãy trả lời: con chó của ai? Chỉ riêng cái cổ dề của nó thôi đã đáng giá thành chục rúp rồi...
Bà ngỡ rằng cái cổ dề được trang điểm bằng những mảnh thủy tinh màu.
Bấy giờ, ở dưới gầm giường, ông Khốttabít tức ra trò. Tức và rất phật ý! Ông rất muốn nói cho người đàn bà đáng kính nhưng ngây thơ ấy hiểu rằng Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp chẳng phải là hạng người đem tặng những mảnh thủy tinh rẻ tiền cho các người bạn tốt của mình, rằng cái cổ dề thật sự rất quý ấy đáng giá không phải hàng chục rúp, mà là nhiều nghìn rúp. Nhưng ông đã kịp thời kìm lại được. Ông đã hiểu được rằng việc khoe khoang như vậy chỉ càng làm cho tình cảnh của Vônca rắc rối thêm mà thôi.
Là người chân thật và thẳng thắn, ông Khốttabít không thể không tán thành việc Vônca không muốn nói dối, cho dù là một sự nói dối vô hại nhất, và ông hiểu rằng lối thoát duy nhất là phải xóa sạch toàn bộ sự hiểu lầm ấy bằng một cách dứt khoát nhất.
“Thôi được!”, ông vừa mỉm cười vừa nghĩ thầm. “Cậu bạn tốt bụng và chân thật của ta đành phải không có chó riêng trong một thời gian nữa... Và cứ để cho cậu ta khổ sở tới một mức nào đó vì cái ước mơ có một con chó riêng vậy!”.
Từ gầm giường phát ra một tiếng “tưng” rất khẽ, thế là con chó liền biến mất, dường như nó chưa hề xuất hiện bao giờ.
- Valiôtrơca (3), nếu các bác ở Đảng ủy hay bác Xécgây gọi điện thoại đến, con nói rằng một tiếng rưỡi nữa mẹ sẽ về. - Bà Xvétlana dặn Vônca sau khi bà đã quên sạch câu chuyện vừa nói. - Luôn tiện mẹ hỏi, con có biết ông bác sĩ vừa vào căn hộ số 37 thăm bệnh cho ai không?
- Có lẽ là Gôga ạ.
- Gôga bị bệnh ư?
- Hình như thế ạ.
- Sao lại hình như?... Chẳng lẽ Gôga không phải là bạn của con sao?
- Đúng là bạn ạ!...
- Mẹ xấu hổ thay cho con đấy, cậu đội viên thiếu niên tiền phong trẻ tuổi Côxtưncốp! - Bà Xvétlana nói xong, quay lưng đi ra khỏi phòng với bộ mặt nặng nề.
- Chao ôi, - Vônca thở dài rầu rĩ và quyết định qua thăm Gôga ngay sau khi ông bác sĩ ra về. - Ông Khốttabít ơi ông Khốttabít!
Từ dưới gầm giường không có tiếng trả lời.
- Ông già lại biến đi đâu mất rồi! - Vônca lầu bầu bực tức. - Nhè lúc cần hỏi ý kiến, ông ấy lại biến mất tiêu. Hừ, thần với thiếc...
Trong lúc ấy, ông Khốttabít đã thu xếp xong một chỗ nằm thuận tiện tại căn hộ số 37, ở ngay dưới gầm giường của cu cậu Gôga đang bị một chứng bệnh hết sức kỳ lạ. Ông tò mò muốn nghe xem vị bác sĩ già sẽ vò đầu bứt tai bất lực như thế nào trong việc tìm kiếm một cách giải quyết đúng đắn. Dĩ nhiên, ông bác sĩ này không hề biết mình sắp phải đương đầu với một đối phương khác thường và hùng mạnh đến mức nào.
Thế rồi trong khi Vônca lợi dụng sự vắng mặt của ông Khốttabít, đang ngồi đọc cuốn sách giáo khoa địa lý, còn ông thần già đang dấu mình dưới gầm giường của Gôga, thì đã xảy ra những chuyện như sau tại một căn phòng của căn hộ số 37. Trong căn phòng ấy, trên những chiếc gối cao, đang nằm một bệnh nhân kỳ lạ nhất trong tất cả các bệnh nhân của ông bác sĩ già ở Trạm Cấp cứu. Người ta vẫn thường gọi ông là Alếchxanđrơ Alếchxêêvích. Đó là một bác sĩ giàu kinh nghiệm và rất từng trải. Chúng tôi cố ý nhấn mạnh tên ông để nếu một lúc nào đó các bạn có gặp ông ấy, các bạn biết ngay rằng đó là một bác sĩ chân chính.
- Thưa bà Natalia Cudiminhitrơna, xin bà hãy để cho tôi nói chuyện riêng với cậu Gôga. - Ông bác sĩ ân cần nói với mẹ Gôga vẫn không nguôi lo sợ. - Tôi cần bàn với cậu ấy đôi điều.
Lúc trong phòng chỉ còn lại hai người là ông bác sĩ và Gôga (dĩ nhiên không kể ông Khốttabít đang nấp dưới gầm giường), ông bác sĩ nói:
- Thế nào, ngươi trẻ tuổi, tình hình ra sao? Vẫn gâu gâu à?
- Không thoát được? - Gôga rên rỉ.
- Thế đấy! Thôi được, nếu vậy thì chúng ta sẽ nói chuyện với nhau nhé. Cậu có thích thơ không nào?
- Gâu gâu gâu! - Tiếng sủa lại phát ra từ mồm Gôga, làm cho bà Natalia đang nấp cạnh lỗ khóa ở bên kia cửa lại trào nước mắt.
Các bạn có thể hình dung rằng Gôga định trả lời câu hỏi của ông Alếchxandrơ. Câu hỏi ấy làm cho Gôga phát cáu. Nó cho đó là một câu hỏi vớ vẩn, không cần thiết.
Nhưng tiếng sủa của Gôga không hề làm ông bác sĩ già ngạc nhiên và buồn bực.
- Cậu đừng cáu! - Ông nói với giọng hết sức ôn tồn. - Câu nói ấy có liên quan trực tiếp tới chứng bệnh của cậu đấy.
- Cháu thích bài “Bão táp mịt mù”... - Cuối cùng, Gôga đáp, sau khi đã sủa mỏi mồm. - “Bão táp mịt mù che phủ bầu trời”, thơ của Puskin.
- Yêu cầu cậu đọc cho tôi nghe bài thơ đó. Cậu thuộc chứ?
Gôga bắt đầu đọc:
“Bão táp mịt mù che phủ bầu trời
Và cuốn lên cao những cơn lốc tuyết
Lúc nghe như tiếng thú gào thảm thiết
Lúc nghe như tiếng kêu khóc trẻ thơ...”
- Thôi đủ rồi! - Ông Alếchxanđrơ ngắt lời Gôga. - Bây giờ, cậu hãy làm ơn nói cho tôi biết ý kiến của cậu về một người bạn cùng lớp với cậu, chẳng hạn như cậu bạn ấy ở trường học hành ra sao?
- Về Vônca Côxtưncốp ấy à?
- Đúng thế!
- Gâu gâu gâu! - Gôga sủa luôn một tràng chối tai.
- Cậu hãy diễn đạt bằng lời và chỉ bằng lời mà thôi.
- Gâu gâu gâu! - Gôga vừa đáp vừa vung tay bất lực. Tự hẳn nó muốn nói rằng nó rất lấy làm sung sướng nếu diễn đạt được bằng lời, nhưng nó không thể nào nói nên lời được.
- Tôi hiểu... Đủ rồi... Đủ rồi, tôi bảo mà!... Thế! Nào, còn các bạn khác trong lớp của cậu thi sao?
- Trong lớp cháu ấy ạ? - Bệnh nhân Gôga cười gằn. - Nếu ông muốn biết thì cháu xin nói rằng trong lớp cháu, tất cả bọn bạn đều gâu gâu gâu!
- Thế còn về tôi, cậu có ý kiến gì không? Cậu nói đi nào, đừng có ngại. Cậu có ý kiến gì về một bác sĩ như tôi?
- Về một bác sĩ như ông ấy ạ? Nếu nói về một bác sĩ thì cháu nghĩ ông quả là gâu gâu gâu!
- Khá lắm! - Ông Alếchxanđrơ vui mừng hết sức thành thực. - Nào, thế còn về mẹ cậu, cậu có ý kiến gì?
- Mẹ cháu là người rất tốt! - Gôga nói, và bà Natalia đứng ở ngoài cửa lại trào nước mắt, nhưng lần này là những giọt nước mắt sung sướng. - Chỉ đôi khi mẹ cháu gâu... - Gôga giật mình và ngưng nói. - Không, nói chung, mẹ cháu bao giờ cũng là một người rất tốt.
- Nào, thế về tờ báo tường của lớp cậu, hẳn là cậu cũng có ý kiến chứ? - Ông bác sĩ già hỏi chỉ cốt sau này khỏi phải ân hận. Ông đã hiểu thực chất căn bệnh hiếm có ở người mới bệnh trẻ tuổi của ông. - Thỉnh thoảng cậu cũng bị đưa ra phê bình ở đấy chứ?
Lần này, Gôga sủa gâu gâu hai phút liền. Ông Khốttabít nấp dưới gầm giường nghe phát chán cả tai. Còn ông Alếchxanđrơ thì lại thích thú với tiếng sủa ấy, dường như chẳng phải Gôga Piliukin - bị đặt biệt danh là Philiulia (Thuốc viên) vì tính nết tồi tệ của nó - đang sủa gâu gâu, mà là một ca sĩ trứ danh nào đó đang hát một khúc ca hay nhất trong vốn tiết mục của mình. Sau khi để mặc cho Gôga sủa chán chê, ông Alếchxandrơ xoa tay hài lòng.
- Ban điều tra đã rõ tất cả rồi. - Ông nói. - Bà Natalia Cudiminhitrơna, xin mời bà vào phòng!
Bà Natalia bước vào và dùng chiếc khăn tay ướt đẫm lau đôi mắt đỏ ngầu.
Ông Alếchxandrơ mời bà ngồi, rồi nói:
- Xin báo để bà biết rằng suốt cả dêm qua, tôi không hề chợp mắt. Tôi ngồi đọc các sách y học và suy nghĩ. Trong các sách chuyên môn, tôi không hề tìm thấy một trường hợp nào giống như trường hợp con trai bà.
Bà Natalia tội nghiệp lo sợ kêu ối lên một tiếng. Ông bác sĩ già ngăn bà lại và nói tiếp:
- Bà chớ vội buồn, bà Natalia Cudiminhitrơna thân mến! Sự việc chưa đến nỗi đáng sợ lắm đâu. Tôi đọc, đọc miết... Rồi suy nghĩ, suy nghĩ hoài... Và sau đó, dĩ nhiên là không thể nào ngủ dược. Cũng chẳng có gì đặc biệt, vì người già vốn như vậy. Để lãng quên những ý nghĩ của mình, tôi cầm tập truyện cổ tích Truyện nghìn lẻ một đêm và đọc luôn chuyện một lão phù thủy, hay nói cho đúng hơn là một lão thần, đã biến một kẻ mà lão không ưa thành một con chó. Lúc bấy giờ, tôi nghĩ rằng nếu trên thế gian này còn có những ông thần (ông Khốttabít nấp dưới gầm giường lấy làm phật ý) và nếu một trong số ông thần ấy muốn trừng phạt một đứa bé nào đó chẳng hạn về tội nó hay đơm đặt chuyện, hớt lẻo, nói xấu nhũng người thân của mình thì ông thần đó có thể phát ra một lời nguyền rằng đứa bé ấy sẽ sủa gâu gâu mỗi khi nó muốn nói những lời lẽ xấu xa. Vừa rồi, tôi và cậu con trai của bà đã nói chuyện cởi mở với nhau. Thì ra cậu ấy không hề sủa khi đọc thơ Puskin, gần như không hề sủa khi nói về bà, bà Natalia Cudiminhitrơna ạ. Trong lúc đó lại sủa gần như liên hồi khi nói về các bạn học của mình và về tờ báo tường của lớp, trên tờ báo tường đó có lẽ các bạn học thỉnh thoảng vẫn phê bình cậu ấy... Bà hiểu ý của tôi chứ? Hình như tôi đã diễn đạt khá rõ?
- Bác sĩ cho rằng... - Bà mẹ Gôga trầm ngâm kéo dài giọng.
- Đúng thế! Dĩ nhiên, trên đời này không thể có một ông thần nào cả (ông Khốttabít phật ý và lần này thì phật ý ghê gớm). Nhưng ở cậu con trai của bà có một chấn thương tâm thần rất đặc biệt. Với tất cả trách nhiệm của mình, tôi phải nói với bà rằng từ nay trở đi, cậu ấy sẽ sủa gâu gâu...
- Trời ơi! - Người đàn bà tội nghiệp vung tay hoảng sợ.
-... Sẽ sủa gâu gâu mỗi khi cậu ấy định đơm đặt chuyện hoặc hớt lẻo, nói chung là mỗi khi cậu ấy định nói những lời lẽ không hay. Và lúc bấy giờ, mọi người sẽ gọi cậu ấy không phải là Gôga Piliukin mà là Gâugâu Piliukin. Lúc cậu ấy lớn lên, người ta sẽ không gọi cậu một cách kính trọng là Ghêoócghi Vaxiliêvích, mà sẽ gọi là Gâugâu Vaxiliêvích, dĩ nhiên là chỉ gọi sau lưng thôi. Bà thấy đấy, cậu con trai của bà có thể lâm vào một tình cảnh rất bi đát. Nhưng nếu cậu ấy nhất quyết tự đề ra cho mình một nguyên tắc là không hớt lẻo, không đơm đặt chuyện, không làm mất uy tín của những người tốt thì tôi xin đem đầu mình ra cam đoan với bà rằng cậu ấy sẽ vĩnh viễn hết sủa.
- “Gâugâu Vaxiliêvích”! - Bà Natalia tội nghiệp hoảng sợ. - Mới chỉ nghĩ thôi đã cảm thấy ghê rợn rồi! Tôi quả là không thể chịu đựng nổi chuyện đó... Còn thuốc men thì sao ạ? Có thể bác sĩ vẫn cứ cho cháu một thứ thuốc nào đó chăng?
- Thuốc men chẳng giúp ích được gì cả. Thế nào, ngươi trẻ tuổi, thử làm theo cách của tôi chứ?
- Làm như thế thì cháu sẽ hoàn toàn không sủa nữa? - Gôga hỏi.
- Mọi chuyện bây giờ chỉ tùy thuộc ở cậu thôi, người trẻ tuổi ạ!
- Thế có nghĩa là sẽ không cần toa thuốc? - Thấy ông Alếchxanđrơ định ra về, bà Natalia hỏi lại.
- Đó chính là toa thuốc của tôi. Một toa thuốc duy nhất đúng đắn. Vả lại, có thể kiểm tra xem. Nào, bây giờ cậu hãy nói vài lời đúng đắn về cậu bạn Vônca của cậu. Tôi xin lưu ý cậu rằng chỉ nói những lời đúng đắn thôi đấy nhé.
- Nói chung, dĩ nhiên Vônca Côxtưncốp là một thiếu niên tốt. - Gôga nói ngập ngừng cứ như nó lần đầu tiên tập nói vậy. - Đúng thế ạ, thưa bác sĩ, đó là một cậu bạn đáng yêu! Lần đầu tiên sau buổi thi môn địa lý, cháu không sủa khi nói về Vônca. Hoan hô! Hoan hô!
- Thế trong buổi thi ấy đã xảy ra chuyện gì đặc biệt nào? - Ông bác sĩ già hỏi như là tiện thể thì hỏi vậy thôi.
- Quả là chẳng có chuyện gì đáng đem đi rêu rao cả. Thiếu gì điều có thể xảy ra một cậu bé bỗng nhiên bị bệnh do quá mệt. - Gôga đã trả lời với vẻ vững tin hơn nhiều.
- Thôi, tôi đi đây. - Ông bác sĩ già nói. - Tôi còn phải đến thăm cả chục ngươi bệnh thực sự. Gôga, thế là cậu đã hiểu vấn đề là ở chỗ nào rồi chứ?
- Cháu hiểu rồi ạ! Ôi, cháu đã hiểu rồi! Lời nói danh dự của một đội viên thiếu niên tiền phong! Xin cám ơn bác sĩ!
- Tốt lắm! Bây giờ cậu hãy cố làm theo điều cậu hiểu! Chúc bà và cậu mạnh khỏe!
*
Vài giây sau, khi ông thần già chui vào chỗ quen thuộc của mình ở dưới gầm giường của Vônca với vẻ mặt rất đăm chiêu. Vônca hỏi xẵng:
- Ông biến đi đâu thế?
- Hãy nghe ta nói, hỡi cậu Vônca! - Ông già nói với vẻ trịnh trọng khác thường ngay cả đối với ông ta. - Ta vừa chứng kiến một trường hợp quả là chưa từng có, khi mà một người trần mắt thịt lại giải được lời nguyền của một ông thần. Thật thế, đó là một con người rất thông minh và rất công bình. Ông ta công bình đến nỗi ta không hề nghĩ đến chuyện trừng phạt ông ta về việc ông ta đã không tin vào sự tồn tại của ta... Cậu định đi đâu vậy?
- Cháu phải đi thăm Gôga. Cậu ấy bị bệnh mà cháu chẳng thăm nom gì thì thật là tệ.
- Cậu đi đi! - Ông thần già nói. - Cậu đi thăm người bạn học của mình đi, mặc dù cậu ấy không còn bị bệnh nữa.
- Không bị bệnh nữa? Cậu ấy đã hoàn toàn bình phục rồi hả ông?
- Bây giờ chuyện đó hoàn toàn tùy thuộc ở chính cậu ta. - Ông Khốttabít nói và sau khi dẹp được lòng tự ái của mình, ông đã kể cho Vônca nghe câu chuyện độc nhất vô nhị về việc cậu bé bị phù phép đã được một ông thầy thuốc bình thường chữa khỏi như thế nào[/color].

---
(1) Tên gọi thân mật của Gôga - N.D.
(2) Mũ của nhà vua - N.D.
(3) Tên gọi âu yếm khác của Vônca - N.D.
[size=18:f1e88110c1][/size]
 
[color=darkblue:db5b200834]Chương 27

[size=15:db5b200834]Ông già Khốttabít và mixtơ Hari Oanđenđalét[/size]

Sau bữa ăn sáng, ông Khốttabít khoan khoái ngồi sưởi nắng và nói với Vônca:
- Hỡi cậu Vônca may mắn, ta luôn luôn tặng cậu những món quà mà theo ý ta là quý báu và lần nào những món quà đó cũng chẳng vừa lòng cậu. Có lẽ bây giờ chúng ta làm thế này nhé: tự cậu nói cho ta biết cậu và cậu bạn trẻ tuổi Giênia của chúng ta thích ta tặng món quà gì, ta sẽ rất lấy làm hân hạnh và sung sướng tặng ngay các cậu món quà ưa thích đó.
- Vậy thì ông hãy tặng cháu một cái ống nhòm đi biển loại lớn. - Vônca đáp ngay, chẳng cần suy nghĩ.
- Ta sẽ tặng cậu với tất cả nỗi niềm sung sướng và mến yêu.
- Cháu cũng muốn có một cái ống nhòm. Dĩ nhiên là nếu có thể được. - Giênia rụt rè nói.
- Chẳng có gì dễ hơn thế!
Thế rồi cả ba ông cháu kéo đến cửa hàng đồ cũ.
Cửa hàng nằm tại một đường phố nhỏ, ngắn ngủn và ồn ào ở ngay trung tâm thành phố. Trong cửa hàng, người mua đông nghẹt.
Những người bạn của chúng ta khó khăn lắm mới len được tới quầy hàng bán đủ thứ linh tinh, chẳng tài nào phân loại nổi bởi vì nếu phân loại thì mỗi thứ hàng lại phải có một quầy hàng riêng.
- Hỡi cậu Vônca đáng mến, cậu hãy chỉ cho ta xem cái ống nhòm mà các cậu ưa thích ấy hình thù ra sao. - Ông Khốttabít vui vẻ nói, nhưng ông bỗng tái mặt và run cầm cập như lên cơn sốt.
Ông đau đớn nhìn hai người bạn trẻ tuổi của mình rồi khóc òa và nói với chúng bằng một giọng trầm trầm rùng rợn: “Vĩnh biệt các cậu bạn thân thiết của lòng ta!”. Sau đó, ông đi về phía một người nước ngoài ăn mặc sang trọng, tóc bạc, mặt đỏ. Vừa đi ông vừa dùng cùi chỏ chen lấn đám đông và đến quỳ ngay trước người nước ngoài nọ.

image32.png
image33.png



- Ngài hãy ra lệnh đi, bởi vì tôi là kẻ nô lệ ngoan ngoãn và hiền lành của ngài! - Ông Khốttabít nuốt nước mắt rồi nói và cố hôn vạt áo véttông của người nước ngoài.
- Không được mó vào người ta! - Người nước ngoài hét lên bằng thứ tiếng Nga trọ trẹ. - Không được mó vào người ta, nếu không ta sẽ vả vào mặt ngươi bây giờ. Ngươi là một tên móc túi! Ngươi muốn moi chiếc ví của ta! Thật là nhục nhã!
- Ngài lầm rồi, hởi ông chủ của tôi! - Ông già đáp và vẫn quỳ - Tôi chờ đợi các mệnh lệnh của ngài để thực hiện ngay lập tức và không điều kiện.
Từ sau quầy hàng, người bán hàng nói với ông Khốttabít bằng một giọng trách móc:
- Ông già kia, thời buổi này mà còn đi ăn xin thì thật là xấu hổ!
- Như vậy, tôi có phải trả bao nhiều cái nhẫn (1) xấu này? - Người nước ngoài bực tức tiếp tục cuộc nói chuyện đã bị ông Khốttabít phá ngang.
- Chỉ có 10 rúp 71 côpếch thôi. - Người bán hàng đáp. - Dĩ nhiên đây chỉ là một món đồ lâu lâu mới có.
Những người bán hàng ở các cửa hàng đồ cũ đã nhăn mặt mixtơ (2) Hari Oanđenđalét. Ông ta vừa từ Niu Yoóc tới với tư cách là một thương gia đi du lịch.
Lúc rảnh rỗi, Oanđenđalét thường lân la đến các cửa hàng đồ cũ, những mong mua được món đồ có giá trị nào đó bằng cái giá rẻ mạt.
Mới đây.thôi, ông ta đã mua được với giá rất hời nửa tá tách uống trà của nhà máy sứ mang tên Lômônôxốp. Và ngay bây giờ, đúng vào lúc ông già Khốttabít khốn khổ đến quỳ trước mặt Oanđenđalét, nhà du lịch người Mỹ này đang hỏi giá một chiếc nhẫn đã ngã màu vì thời gian. Người bán hàng cho rằng đây là một chiếc nhẫn bạc, còn Oanđenđalét thì cho rằng chiếc nhẫn làm bằng bạch kim.
Mua được chiếc nhẫn rồi, Oanđenđalét nhét nó vào túi áo gilê. Ông Khốttabít liền vội vã đi theo nhà du lịch người Mỹ, vừa đi ông vừa lấy tay quệt những hàng nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt nhăn nheo, ngăm ngăm đen. Lúc chạy ngang qua hai người bạn trẻ của ông. Ông già chỉ kịp nói mấy câu:
- Than ôi, ta vừa thấy cái ông ngoại quốc tóc bạc kia cầm trong tay chiếc nhẫn thần của vua Xalômông con trai của Đavít - Cầu chúc cả hai vị đều bình an. Còn ta là nô lệ của chiếc nhẫn đó và ta phải đi theo người làm chủ chiếc nhẫn đó, xin vĩnh biệt hai cậu bạn của ta! Ta sẽ luôn luôn nhớ tới các cậu với lòng biết ơn và yêu mến...
Mãi đến lúc này, khi đã chia tay ông Khốttabít mà không hẹn ngày gặp lại, hai cậu bé mới hiểu được chúng đã gắn bó với ông già tới mức nào. Buồn bã và lầm lì, chúng rời khỏi cửa hàng đồ cũ, thậm chí chẳng buồn ngó ngàng đến ống nhòm nữa. Cả hai đi về phía bờ sông, là nơi trong thời gian gần đây hầu như ngày nào chúng cũng gặp nhau để chuyện trò tâm sự. Chúng nằm khá lâu ở trên bờ, ngay cạnh nơi mà gần đây Vônca đã tìm được cái bình gốm phủ đầy rêu, bên trong nhốt ông Khốttabít. Hai cậu bạn nhớ lại những thói quen tức cười nhưng dễ thương của ông già và mỗi lúc một tin chắc rằng xét cho cùng, tính tình của ông rất dễ chịu và hiền lành.
- Nói cho đúng ra, chúng ta đã chẳng coi trọng ông Khốttabít. - Giênia buồn bã thở dài.
Vônca trở mình, muốn đáp lại Giênia một câu gì đó, nhưng nó chẳng đáp mà lại dừng phắt dậy và lao vào giữa vườn hoa ở bên bờ sông:
- Hoan hô!... Ông Khốttabít đã trở lại! Hoan hô-ô!
Quả thực, Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp đang bước lại gần hai cậu bé với dáng đi tất tả, hơi lập cập của người già. Ông đeo lủng lẳng trên vai hai cái bao da màu đen và màu nâu, bên trong dựng ống nhòm đi biển loại lớn. [/color]

---
(1) Cái nhẫn. Câu này và tất cả các câu sau, người nước ngoài nói sai cách và sai giọng. Khi dịch, chúng tôi vẫn giữ nguyên cách nói sai đó. - N.D.
(2) Tiếng Anh: ông, ngài - N.D.
[size=9:db5b200834][/size]
 
[color=darkblue:ae39c002ec]Chương 28

[size=15:ae39c002ec]Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp kể lại những chuyện ông đã gặp phải sau khi ra khỏi cửa hàng đồ cũ[/size]

- Hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta, các cậu phải biết rằng những chuyện ta đã gặp rất là ly kỳ, đặc biệt. Ta muốn các cậu ngồi ngay cạnh ta trong lúc ta kể lại cho các cậu nghe đầu đuôi câu chuyện và nói cho các cậu rõ tại sao ta lại có mặt ở đây.
Số là khi lão ngoại quốc mặt đỏ bước ra khỏi cửa hàng đồ cũ, lão ta cho người tài xế lái xe hơi về trước, còn lão thì đi bộ để tiêu bớt đôi chút lớp mỡ bao bọc dày dặc cái thân hình mập ú của lão ta. Lão đi nhanh tới mức khó khăn lắm ta mới có thể theo kịp. Ta đã đuổi kịp lão ở một phố khác và ta đã quỳ ngay trước mặt lão mà kêu lên: “Hãy cho tôi đi theo ngài, hỡi ông chủ của tôi!”.
Nhưng lão ngoại quốc nọ không thèm nghe ta nói và vẫn cứ đi tiếp. Mười tám lần ta đuổi kịp lão, mười tám lần ta phủ phục trước mặt lão và mười tám lần lão để mặc ta quỳ gối khom lưng, đồng thời giận dữ quát lên: “Cút đi! Ngươi là một tên cướp già!”.
Thế rồi lão dùng chân đạp ta, mà ta thì không thể làm gì được lão bởi vì lão có trong tay chiếc nhẫn thần của vua Xalômông và ta sợ làm cho lão nổi cơn thịnh nộ. Thấy chẳng có cách nào tránh được việc phải di theo lão, thế là ta đành phải đi theo lão sát gót. Còn lão thì lại ngỡ rằng ta muốn xin tiền lão và lão ta kêu lên rằng lão chẳng mang theo một xu nào cả, mặc dù ta không hề xin tiền lão ta.
Lão đánh ta chí tử mỗi khi vắng người. Lúc bấy giờ ta sợ hãi, miệng ta khô rang vì hoảng sợ ghê gớm và ta chẳng còn trông mong sẽ sống sót nữa. Khi ấy, ta khóc như cha chết, đến nỗi nước mắt ướt đẫm cả quần áo.
Ta và lão ngoại quốc cứ đi như thế cho tới khi đến cửa nhà lão. Ta muốn đi vào đấy theo lão, nhưng cái lão ngoại quốc dữ tợn ấy đã dùng tay đẩy ngực ta và hét lên: “Ngươi không được mò vào nhà ta, nếu không ta sẽ gọi công an bây giờ!”.
Ta bèn hỏi lão: “Lẽ nào tôi lại phải đứng ở cửa nhà ngài cho đến tận tối?”. Và lão ta đáp: “Dẫu ngươi có đứng đến sang năm cũng mặc xác!”.
Thế là ta đành phải đứng ở gần cửa nhà lão ngoại quốc ấy bởi vì lời nói của người làm chủ chiếc nhẫn của vua Xalômông là một đạo luật đối với ta. Ta đứng như thế một lúc cho tới khi nghe tiếng động mạnh ở trên đầu ta và cánh cửa sổ ngay trên đầu ta mở toang ra. Lúc bấy giờ, ta ngước mắt lên và thấy một mụ đàn bà gầy đét, cao nghều, mặc áo dài lụa màu xanh, xuất hiện trong khung cửa sổ. Mụ ta cất tiếng cười dữ dằn và khinh mạn. Phía sau lưng mụ, ta trông thấy lão mặt đỏ trông có vẻ thiểu não. Mụ đàn bà bảo lão với giọng nhạo báng: “Than ôi, tôi đã lầm to khi lấy ông làm chồng 14 năm về trước! Ông chỉ là một gã bán hàng tạp hóa tầm thường và suốt đời vẫn chỉ vậy mà thôi! Trời ơi không phân biệt nổi chiếc nhẫn bạc thổ tả với chiếc nhẫn làm bằng bạch kim!... Ôi, nếu ông bố đã quá cố của tôi biết được chuyện này!”.
Thế rồi mụ ta liệng ngay chiếc nhẫn xuống mặt đường và đóng sầm cửa sổ lại. Trông thấy cảnh đó, ta liền té xỉu, bởi vì nếu chiếc nhẫn trắng của vua Xalômông bị liệng xuống đất thì có thể xảy ra những tai họa khủng khiếp. Nhưng sau đó ta mở mắt ra và tin chắc rằng ta vẫn còn sống, xung quanh chẳng xảy ra một tai họa nào cả. Lúc bấy giờ, ta hết sức vui mừng bởi vì qua việc này, ta đã kết luận rằng ta có thể cho mình là một người may mắn.
Thế rồi lúc ấy ta bèn đứng phắt dậy, cảm tạ số phận của mình, rồi nhặt lấy chiếc nhẫn và ba chân bốn cẳng chạy đi tìm các cậu, những người bạn trẻ tuổi của ta, sau khi đã một công đôi việc xoay được hai món quà mà các cậu vẫn ước ao. Đấy là tất cả những chuyện mà ta có thể kể.
- Cứ như trong truyện cổ tích ấy! - Giênia reo lên với giọng thán phục khi ông già kết thúc câu chuyện của mình. - Vậy cháu có thể cầm trên tay chiếc nhẫn thần ấy được không hả ông?
- Được quá đi chứ! Cậu hãy đeo chiếc nhẫn vào ngón trỏ ở bàn tay trái rồi sau đó vừa xoay nó, vừa nói to điều ước của mình. Điều ước sẽ được thực hiện ngay lập tức.
- Thế kia ư! - Giênia lại tỏ vẻ khâm phục rồi đeo nhẫn, xoay nhẫn rồi nói to: - Tôi muốn có ngay lập tức một chiếc xe đạp!
Cả ba ông cháu đứng lặng đợi chờ. Nhưng chiếc xe đạp vẫn chẳng thấy hiện ra.
Giênia nhắc lại lần nữa, còn to hơn:
- Tôi muốn có ngay lập túc một chiếc xe đạp! Có ngay bây giờ!
Chiếc xe đạp vẫn bướng bỉnh chẳng chịu hiện ra.
- Có lẽ chiếc nhẫn bị trục trặc gì đó. - Vônca nói rồi cầm lấy chiếc nhẫn trên tay Giênia và bắt đầu xem xét kỹ lưỡng.
- Này, mặt bên trong có khắc chữ gì đó!... Chữ Nga! - Vônca nói và đọc chậm từng chữ: - “Catia, em hãy đeo cho mạnh khỏe. Vaxia Cucuxkin. 2-5-1916”.

[/color]
 
[color=darkblue:cd53185d4a]Chương 29

[size=15:cd53185d4a]Vẫn ba ông cháu và Hari Oanđenđalét[/size]

- Bất cứ người nào cũng có thể sai lầm. - Vônca độ lượng nhận xét và nhìn ông Khốttabít đang ngượng ngùng cùng với vẻ thông cảm. - Rốt cuộc, lại còn tốt hơn nữa là đằng khác khi đây chỉ là một chiếc nhẫn thường. Còn hai món quà mà ông cho thì chúng cháu rất cảm ơn.
Hai cậu bé tế nhị quay lưng lại để ông già khỏi ngượng, rồi lấy ống nhòm ra khỏi bao và thích thú nhận thấy rằng ống nhòm quả là không thể chê vào đâu được.
Các ngôi nhà xa tít đang như được chuyền gần tới tận dòng sông, những chấm nhỏ xíu biến thành những người đang đi, còn chiếc xe hơi đang lao vun vút ở mãi đằng xa thì cứ tưởng như là sắp tông ngã cậu bé may mắn được làm chủ cái ống nhòm. Ống nhòm xem gần được đến thế là cùng.
Vài phút sau, Vônca nói:
- Ông Khốttabít ơi, ông xem có ai đang đi về phía chúng ta kia kìa.
Vônca đưa ống nhòm cho ông Khốttabít, nhưng bằng mắt thường, ông già cũng đã thấy mixtơ Hari Oanđenđalét đang dẫn cái xác nặng khoảng 6 pút (1) của mình đi về phía ba ông cháu. Lão đi nhanh, gần như chạy, vừa đi vừa thở hồng hộc.
Nhận thấy ba ông cháu đang theo dõi mình, Oanđenđalét bước chậm lại, đi khệnh khà khệnh khạng, làm ra vẻ như lão chẳng vội vã gì, mà chỉ đi dạo ở một nơi xa hẳn những đườg phố ồn ào. Lúc bước lại gần hơn, lão liền nặn ra trên khuôn mặt đỏ gay như tôm luộc (2) một nụ cười tươi hớn hở:
- A, lạy Chúa tôi! Một cuộc gặp gỡ mới thú vị và bất ngờ làm sao!...
Trong lúc lão bước tới gần ba người bạn của chúng ta và nồng nhiệt bắt tay họ, chúng ta có thể nói rõ tại sao lão lại xuất hiện lần nữa trong cuốn truyện của chúng ta.
Số là hôm đó, mítxi (3) Oanđenđalét rất bực bội trong lòng. Do vậy, mụ ta đã phát cáu và liệng chiếc nhẫn qua cửa sổ. Sau đó, mụ còn đứng nán lại bên cửa sổ để lấy lại hơi. Lúc bấy giờ, mụ để ý tới một ông già nhặt chiếc nhẫn nằm trên mặt đường, rồi ù té chạy.
- Ông có thấy không? - Mụ nói với lão Oanđenđalét vẫn còn rầu rĩ. - Lão già mới ngộ làm sao! Lão ta chộp lấy chiếc nhẫn, cứ như chiếc nhẫn có gắn mặt ngọc ấy, rồi ù té chạy.
- À, đó là một lão già rất khó chịu! - Oanđenđalét tươi tỉnh lên và đáp. - Lão đã bám lấy anh từ lúc còn ở trong cửa hàng đồ cũ, sau đó lại lẽo đẽo theo anh về đến tận nhà và em thân yêu của anh, em có tưởng tượng được không, chốc chốc lão ta lại quỳ trước mặt anh. Lão kêu lên với anh: “Tôi là kẻ nô lệ của ngài, bởi vì ngài có chiếc nhẫn của vua Xalômông”. Anh bèn trả lời lão: “Thưa ngài, ngài lầm to rồi! Tôi vừa mua chiếc nhẫn này và bây giờ nó thuộc về tôi và chỉ thuộc về tôi mà thôi”. Nhưng lão già ngang bướng như một con lừa, vẫn một mực không chịu: “Không, hỡi ông chủ của tôi, đây là chiếc nhẫn của vua Xalômông. Đây là một chiếc nhẫn thần!”. Anh nói: “Không, đây không phải là nhẫn thần, mà là nhẫn bạch kim!”. Lão già lại kêu lên: “Không, hỡi ông chủ của tôi đây không phải là nhẫn bạch kim, mà là nhẫn thần”. Và lão còn làm ra vẻ muốn hôn vạt áo véttông của anh. Như em thân yêu biết đấy, trong túi áo véttông của anh có cái ví tiền. Anh bèn bảo lão già: “Này, hồi ta còn học cao đẳng, ta được coi là một võ sĩ quyền Anh loại khá đấy nhá!”. Thế rồi anh bốp luôn một cú vào mặt lão già. Chà, anh tẩm lão một trận ra trò. Thậm chí bây giờ nhớ lại vẫn cảm thấy khoái!...
Mụ Oanđenđalét lúc đầu còn nhìn ông chồng đang ba hoa bằng cặp mắt khinh bỉ, sau đó có lẽ không chịu nỗi cái vẻ mặt đươg đương tự đắc của lão, mụ ta liền đưa mắt về phía khác. Và vô tình, mụ lại nhìn đúng vào tập truyện Nghìn lẻ một đêm đang nằm trên đivăng. Lúc ấy, mụ bàng hoàng vì một ý nghĩ bất chợt nào đó. Mụ buông mình xuống chiếc ghế bành ở gần đấy và nói khe khẽ với giọng cay đắng:
- Trời ơi! Sao đời con lại hẩm hiu mà lấy phải cái người này! Thưa ngài, với cái óc tưởng tượng của ngài, lẽ ra ngài nên làm thợ đóng quan tài chứ không nên làm thương gia. Bất cứ một con thằn lằn nào cũng có nhiều óc hơn ngài đấy, thưa ngài!
- Có chuyện gì vậy, em thân yêu của anh? - Lão chồng hoảng sợ. - Anh đã tẩm lão già ở những chỗ vắng. Chẳng có nhân chứng nào đâu. Em đừng lo, em thân yêu của anh!...
- Các ngài ơi! - Mụ Oanđenđalét kêu lên với giọng bi thảm mặc dù trong phòng không hề có một người nào ngoài vợ chồng mụ. - Các ngài ơi, cái người này lại còn hỏi có chuyện gì vậy? Thưa ngài, xin mời ngài lập tức đuổi theo lão già và lấy lại chiếc nhẫn khi vẫn còn chưa muộn!
- Chúng ta cần chiếc nhẫn ấy để làm quái gì, em thân yêu của anh? Một chiếc nhẫn bạc thổ tả, chẳng những thế lại là nhẫn tự làm.
- Cái người này làm tôi chết mất thôi! Cái người này lại còn hỏi tôi cần chiếc nhẫn thần của vua Xalômông để làm gì trong khi nó có thể thực hiện bất cứ điều ước nào của ta, có thể làm cho ta trở thành người giàu nhất và hùng mạnh nhất trên trái đất!
- Nhưng niềm sung sướng của anh ơi, em đã từng thấy những chiếc nhẫn thần ở đâu?
- Vậy thưa ngài, ngài đã tìm thấy ở đâu, trên cái đất nước Liên Xô này, có ai đi quỳ trước mặt người khác và lại còn cố hôn tay người đó?
- Không phải hôn tay, em yêu quý, mà là hôn vạt áo véttông.
- Như thế lại còn ghê gớm hơn! Thưa ngài, xin mời ngài lập tức đuổi theo lão già và lấy lại chiếc nhẫn. Nếu ngài cả gan quay về nhà mà không có chiếc nhẫn đó thì tôi sẽ cho ngài biết tay, thưa ngài!..
Đó là sự việc xảy ra trước khi lão chồng mặt đỏ của mụ Oanđenđalét hung dữ xuất hiện rất bất ngờ trước mặt ông già Khốttabít cùng hai người bạn trẻ tuổi của ông.
Ví thử lão Oanđenđalét ở vào địa vị ông Khốttabít, lão không đời nào trả lại chiếc nhẫn, cho dù đó chỉ là nhẫn thường chứ đùng nói là nhẫn thần. Chính vì thế, ngay khi còn ở xa, lão đã quyết định phải hành động ra sao rồi.
- A, lạy Chúa tôi! Một cuộc gặp gỡ mới thú vị và bất ngờ làm sao? - Lão reo lên, miệng cười tươi tới mức tưởng chừng như suốt đời lão chỉ ước ao được kết bạn với ông Khốttabít, Vônca và Giênia. - Trời đẹp làm sao! Cụ và hai cậu có được mạnh khỏe không ạ?
- Cám ơn ngài, hỡi ông ngoại quốc tóc bạc! - Ông Khốttabít lịch sự đáp - Cả tôi lẫn hai người bạn trẻ tuổi của tôi đều rất mạnh khỏe. Tôi hy vọng rằng ngài cũng mạnh khỏe đấy chứ?
- Cam ơn, cam ơn, tôi rát rát mạnh khỏe! Ồ, cậu bé này mới rất đẹp làm sao! - Oanđenđalét tán tụng và định bẹo má Vônca, nhưng Vônca đã quay mặt đi với vẻ kinh tởm. Làm ra vẻ như không nhận thấy thái độ của Vônca đối với mình, Oanđanđalét lại nói tiếp: - Tôi cho rằng cậu rát ước mơ trở thành một găngxtơ (4). Ở Mỹ, tôi có hai thằng con trai, chúng suốt ngày chơi trò găngxtơ. Ồ, chúng là những đứa trẻ rát thông minh, chúng sẽ là ông chủ nhà băng Mỹ nổi tiếng? - Nói tới đây, lão lập mưu và suồng sã bẹo má Giênia trước khi Giêna kịp lùi lại. - Cậu bé đáng yêu ơi, cậu có muốn trở thành ông chủ nhà băng không?
- Lại còn thế nữa? - Giênia giằn cơn tức giận và lùi ra xa Oanđenđalét. - Tôi đâu có điên? May thay, đây là nước chúng tôi chứ không phải là nước Mỹ!...
- Ha ha ha! - Oanđenđalét cười lấy lòng và giơ ngón tay dọa đùa Giênia - Cậu làm tôi buồn cười quá. Cậu là ngươi pha trò rát vui. Vì việc đó, tôi tạn cậu một cái bút chì Mỹ rát tiện lợi...
- Tôi không cần bút chì của ông và xin ông hãy để cho tôi được yên! - Giênia tức giận khi lão người Mỹ lại định bẹo má nó. - Ông có con của ông, chúng muốn trở thành những tên tướng cướp, ông đi mà bẹo má chúng tùy thích... Còn chúng tôi thì không thích những tên chủ nhà băng và không thích những tên tướng cướp. Ông hiểu chứ?
- Ha ha ha! - Oanđenđalét sung sướng trước những lời nói đó, cứ như lão vừa được nghe những lời khen hết sức dễ chịu. - Tôi ở nước Mỹ một kỹ sư quen, ông ta cũng nói rằng không thích ông chủ nhà băng. Ông ta bây giờ đang ngồi trong cái nhà tù rát đẹp ở Niu Yoóc...
- Tôi có thể hỏi ông một câu được không? - Vônca bỗng nói với Oanđanđalét và theo thói quen như ở lớp học, nó giơ tay. - Tại sao ở nước Mỹ của ông, người ta lại hành hạ những người da đen?
- Ồ! - Oanđenđalét kêu lên. - Cậu là một người trẻ tuổi ham thích chính trị! Điều đó rất tốt!... Chúng tôi ở nướcc Mỹ tự do hoàn toàn, mỗi ngươi có thể làm những gì mà người ta thích.
- Thế những người da đen có thể đánh trả những người da trắng được không, nếu họ thích làm việc đó?
- Hừ, một câu pha trò mới ngốc nghếch làm sao. Cậu đừng nên bao giờ pha trò ngốc nghếch như thế! Những người da đen đều có biết vị trí của mình! Những ngươi da den... - Nói đến đây, lão thấy cần phải cười xòa và chấm dứt việc thảo luận cái vấn đề tế nhị này. - Cụ là một ông già rát đáng yêu. - Lão nói với ông Khốttabít để cho yên chuyện. - Tôi có hy vọng chúng ta sẽ là những người bạn rát tốt bụng của nhau.
Ông Khốttabít lặng lẽ cúi chào.
- Ồ - Oanđenđalét kêu lên với vẻ ngạc nhiên vờ vĩnh. - Tôi thấy trên ngón tay cụ một cái nhận bạc. Cụ sẽ cho tôi xem cái nhận bạc đó chứ?
- Rất sung sướng và vui lòng! - Ông Khốttabít đáp và chìa bàn tay có đeo nhẫn cho lão người Mỹ xem.
Nhưng thay vì xem chiếc nhẫn, lão Oanđenđalét bằng một cử chỉ đột ngột đã giật chiếc nhẫn khỏi ngón tay ông Khốttabít và lập tức đeo vào ngón tay to như khúc xúc xích chưa hấp của mình.
- Cam ơn, cam ơn! - Lão nói khàn khàn và mặt lão vốn đã đỏ bây giờ lại càng đỏ thêm, làm cho ông Khốttabít lo rằng Oanđenđalét bị trúng phong bất tử. - Cụ đã mua cái nhận này ở đâu đó?
Lão đoán rằng ông già sẽ nói dối, và dù thế nào đi nữa, lão cũng sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để không trả lại chiếc nhẫn cho ông già. Lão đưa mắt lượng sức ông già gầy nhom đang đứng trước mặt lão và hai đứa bé ngồi cách xa một chút, rồi ước tính rằng nếu sự việc dẫn đến chỗ phải ẩu đả thì lão sẽ dễ dàng thắng được cả ba.
Nhưng lão người Mỹ ngạc nhiên khi thấy ông già không hề nghĩ đến chuyện nói dối. Ông thản nhiên nói:
- Tôi không mua chiếc nhẫn này. Tôi đã nhặt nó trên mặt đường ở trước nhà ngài. Đó là chiếc nhẫn của ngài, hỡi ngài ngoại quốc tóc bạc?
- Ồ! - Oanđenđalét kêu lên với vẻ khâm phục. - Cụ là một ông già rát ngay thật. Cụ sẽ là một đài tớ yêu mến của tôi!
Nghe những câu nói đó, hai cậu bé cau mặt, nhưng vẫn im lặng. Chúng muốn biết mọi việc sẽ tiếp diễn ra sao..
- Vừa rồi cụ đã có giải thích cho tôi biết rằng cái nhận này là cái nhận thần. Có thực là nó có thể thực hiện được bất cứ một điều ước nào không?
Ông Khốttabít gật đầu xác nhận. Hai cậu bé cười sằng sặc Chúng nghĩ rằng ông Khốttabít định trêu lão người Mỹ khó chịu ấy và chuẩn bị xem một tiết mục vui nhộn.
- Ồ! - Oanđenđalét thốt lên - Cam ơn, cam ơn! Cụ sẽ giải thích cho tôi cách sử dụng cái nhận thần chứ?
- Rất sung sướng và vui lòng, hỡi người mặt đỏ nhất trong số tất cả các người ngoại quốc! - Ông Khốttabít cúi rạp xuống chào và đáp. - Ngài cầm chiếc nhẫn thần, đeo nó vào một ngón ở bàn tay trái rồi vừa xoay nhẫn vừa nói điều ước của mình.
- Và điều ước đó nhất định có được thực hiện?
- Đúng thế?
- Tôi muốn có điều ước nào cũng được sao?
- Bất cứ điều ước nào cũng được!
- Thế kia ư? - Oanđenđalét đắc chí thốt lên và vẻ mặt lão lập tức trở nên lạnh lùng, vênh váo. Lão xoay nhanh chiếc nhẫn và quát ông Khốttabít. - Hỡi lão già ngu ngóc kia! Hãy lại gần đây! Mi sẽ đóng gói đôla cho ta!
Giọng nói xấc xược của lão làm cho Vônca và Giênia phẫn nộ. Cả hai đều nhích tới gần và đã định cự cho lão ngươi Mỹ một trận nên thân, nhưng ông Khốttabít lại xua tay lia lịa ngăn hai cậu bạn và bước tới sát lão Oanđenđalét.
- Xin ngài tha lỗi cho, tôi chưa được biết đồng đôla ra sao cả Ngài hãy đưa cho tôi xem một đồng đôla thôi để tôi biết hình thù nó thế nào.
- Một người có văn hóa ắt phải biết đồng đôla Mỹ hình thù ra sao! - Oanđenđalét rít lên với giọng khinh bỉ, rồi rút trong ví ra một tờ 10 đôla và sau khi vẫy vẫy một cách dạy đời trước mũi ông Khốttabít, lão lại nhét tiền vào ví. - Đôla là thứ văn minh nhất ở Mỹ, cũng có nghĩa là ở cả toàn thế giới nữa. Bọn mi hiểu rõ điều đó chứ?
Ông Khốttabít lại cúi chào.
- Còn bây giờ đã đến lúc phải bắt tay vào kinh doanh làm giàu! - Oanđenđalét nói. - Hãy đến với ta ngay lập tức một trăm nghìn đôla!
- Ngài hãy mở rộng túi ra! - Vônca cười hi hì và nháy mắt với Giênia. - Mixtơ đã vớ được nhẫn “thần”! “Catia, em hãy đeo cho mạnh khỏe!”.
- Hãy đến với ta ngay lập tức một trăm nghìn đôla? - Oanđenđalét lặp lại.
Lão buồn bã: những đồng đôla vẫn chẳng hiện ra. Hai cậu bé nhìn lão với vẻ hí hửng độc địa không che giấu.
-Ta chẳng thấy những đồng đôla của ta dâu cả? Một trăm nghìn đôla của ta đâu rồi? - Lão ta phát khùng rống lên và ngay lúc đó lão lăn ra bất tỉnh vì lão bị một cái bao nơi nào đó rơi xuống, nện cho một cú choáng váng vào đầu.
Trong lúc ông Khốttabít làm cho lão tỉnh lại, hai cậu bé mở bao ra xem.
Một trăm xấp giấy xanh được buộc cẩn thận nhét chật căng cả bao vải. Mỗi xấp có một trăm tờ 10 đôla.
- Chiếc nhẫn kỳ cục thế nào ấy! - Giênia lầu bầu tức tối. - Một ngươi lương thiện muốn một chiếc xe đạp thì nó chẳng buồn cho, trong khi đó bỗng dưng lại đi cho lão con buôn người Mỹ một trăm nghìn đôla! Chiếc nhẫn “Catia, em hãy đeo cho mạnh khỏe” như thế đấy, cậu đã thấy chưa?
- Quả thật, mình chẳng hiểu gì cả! - Vônca nhún vai.
Trong khi đó, Oanđenđalét mở mắt ra, thấy những xấp đôla nằm ngổn ngang thành đống liền đứng phắt dậy, xem thử một xấp, thấy rõ trong đó quả là có đúng một trăm tờ 10 đôla. Sau đó, lão đếm lại các xấp tiền và thấy đúng một trăm xấp. Nhưng nụ cười thỏa mãn lưu lại không lâu trên bộ mặt đỏ gay của lão. Lão vừa buộc xong bao tiền quý bằng hai bàn tay run run vì xúc động, cặp mắt của lão lại rực lên ánh tham lam.
Ghì chặt bao tiền vào bộ ngực mập ú, lão lại xoay chiếc nhẫn và nóng nảy kêu lên:
- Một trăm nghìn vẫn còn ít! Ta cần có ngay lập tức một trăm triệu đôla... Mau lên...!
Lão vừa kịp nhảy qua một bên thì một cái bao to tướng, nặng ít ra là 10 tấn, đã rơi đánh sầm xuống bãi cỏ. Vì rơi xuống quá mạnh, tất cả các đường chỉ khâu bao đều bị bật tung và trên bãi cỏ liền mọc lên một đống đồ sộ một trăm nghìn xấp tiền Mỹ.

image34.png
image35.png


Cũng như lần trước, trong mỗi xấp này đều có một trăm tờ 10 đôla. Những tờ này chẳng khác gì tiền thật, trừ có mỗi một điều là tất cả đều đánh cùng một con số. Đó chính là con số mà ông Khốttabít đã kịp nhận thấy trên tờ 10 đôla mà tên chủ chiếc nhẫn “thần” bị máu tham lam làm cho điên dại đã đưa cho ông xem.
Điều đó vị tất đã làm mixtơ Oanđenđalét vui mừng: trong bất cứ ngân hàng nào, người ta cũng chú ý đến con số ghi trên tờ bạc, mà những con số như nhau thì chỉ có thể có trên tiền giả mà thôi. Nhưng lúc này, Oanđenđalét còn đầu óc nào mà kiểm lại các con số! Mặt tái nhợt vì xúc động, lão leo lên ngọn đồng tiền đồ sộ quý giá và đứng thẳng người như một pho tượng, một biểu hiện sống của lòng tham con buôn sẵn sàng làm bất cứ một hành vi đểu cáng nào, sẵn sàng phạm cả tội ác tàn bạo nhất để đoạt thêm một xấp tiền - những đồng tiền tạo ra quyền lực áp bức dân chúng ở trong nước của lão người Mỹ và ở cả thế giới tư bản.
Oanđenđalét tóc tai rối bù, cặp mắt điên dại, hai tay run rẩy, tim đập thình thịch.
- Còn bây giờ... còn bây giờ... còn bây giờ ta muốn có mười nghìn đồng hồ vàng nạm kim cương, hai mươi nghìn bót thuốc lá bằng vàng, ba mươi... không, năm mươi nghìn bộ đồ ăn cổ bằng sứ.... - Lão rống lên liên tục và vất vả lắm mới né kịp vô số của cải trút xuống đầu lão. - Sao bọn mi cứ đúng như là những ông chủ thế kia? - Lão dữ tợn quát ông già Khốttabít, Vônca, Giênia khi đó vẫn đứng ở xa và đang nhìn lão với vẻ ghê tởm không che giấu. - Bọn mi là nô lẹ của ta, bọn mi là đài tớ của ta! Bọn mi lập tức thu nhặt các thứ kia và xếp lại thành đống? Nhan lên! Nếu không, ta sẽ tẩm tất cả bọn mi bằng quyền Anh!
- Nói dễ nghe nhỉ! - Vônca tức giận. - Ông không phải đang ở tại cái nước Mỹ nhà ông đâu. Và ông đang tiếp xúc không phải với những tên nô lệ, mà là với những con người Xôviết tự do. Thế đấy!
- Đúng, bây giờ bọn mi sẽ là nô lẹ của ta!... Bây giờ... Ngay lập tức... Bây giờ bọn mi sẽ trở thành nô lẹ suốt đời của ta!...
Oanđenđalét xoáy chiếc nhẫn và vừa rống lên, vừa vung hai nắm đấm ướt đẫm mồ hôi:
- Ta có một điều ước là biến lão già láo xược này và hai thằng bé Xôviết ương ngạnh, hỗn láo này thành nô lẹ của ta, để cho chúng đánh giày cho các con ta, để cho chúng sẽ làm đài tớ của ta mãi mãi, đến tận cuối đời!... Ta còn có một điều ước nhỏ này nữa: ta ước cho tất cả các nhà máy, tất cả các hầm mỏ, tất cả các nhà băng, tất cả các đường sắt, xe hơi, máy bay, tất cả đất đai, tất cả rừng núi ở Liên bang Xôviết đều thuộc về ta, thuộc về hãng “Hari Oanđenđalét và các con trai” của ta, và chỉ thuộc về hãng của ta mà thôi!... Mi nghe rõ chưa, hỡi cái nhận thần?... Hãy thực hiện các lệnh của ta ngay lập tức. Ta là một con ngài Mỹ kinh doanh và ta không có thì giờ chờ đợi. Toàn nước Nga, toàn thế giới phải thuộc về con ngài Mỹ kinh doanh!...
- Hỡi người ngoại quốc mặt đỏ, số của cải mà ngài đã nhận được vẫn chưa đủ hay sao? - Ông Khốttabít nghiêm nghị hỏi.
- Câm mồm! - Oanđenđalét gầm lên và giậm chân điên dại. - Khi ông chủ làm việc, đài tớ phải câm ngay cái mồm!... Nhận thần, hãy thực hiện các lệnh của ta. Nhan lên! Hỡi cái lão già đen nhẻm kia, rồi ta sẽ cho nếm mùi quyền Anh để mi biết vân lời ông chủ Mỹ da trắng của mình!
Nói rồi, lão vung nắm đấm lao về phía ông Khốttabít. Nhưng Vônca và Giênia đã túm chặt lấy Oanđenđalét. Hai cậu bé dùng sức mạnh tới mức làm cho lão người Mỹ ngã nhào xuống bãi cỏ như một khúc gỗ.
- Sao bọn mi dám cản ông chủ của bọn mi tẩn bằng quyền Anh tên đài tớ tồi của mình? - Lão gào lên, cố đứng dậy. - Bọn mi bây giờ là nô lẹ ngoan ngoãn của ta...
- Tên đế quốc đáng nguyền rủa kia, ngươi hãy cút xéo về nước Mỹ của ngươi đi! - Vônca thở hổn hển, quát lên với lão Oanđenđalét. - Hãy cút khỏi đất nước chúng tao!... Cút xéo đi cho rảnh mắt!... Cút đi...
- Đúng thế! - Ông Khốttabít nghiêm nghị xác nhận những lời nói của Vônca và rứt 4 sợi râu.
Đúng lúc đó, những bao đôla, những thùng đựng các bộ đồ ăn đồng hồ, chuỗi ngọc trai - tóm lại là tất cả những gì mà chiếc nhẫn bạc mang lại cho mixtơ Oanđenđalét - đã biến mất như độn thổ vậy. Còn chính lão người Mỹ thì bỗng lăn vùn vụt trên bãi cỏ, sau đó lăn trên con đường nhỏ theo hướng mà vừa rồi lão ta đã từ đó đi tới, lòng tràn trề hy vọng. Một lát sau, lão đã mất hút ở đằng xa, để lại sau mình một lớp bụi mỏng...
Lúc hai cậu bé đã trấn tĩnh được đôi chút sau những việc vừa xảy ra, Vônca trầm ngâm nói:
- Cháu chẳng hiểu gì cả... Rốt cuộc, đây là chiếc nhẫn gì? Nhẫn thần hay nhẫn thường?
- Dĩ nhiên là nhẫn thường! - Ông Khốttabít dịu dàng đáp.
- Thế tại sao nó lại thực hiện được những điều ước của cái tên người Mỹ chuyên đi khua khoắng ấy?
- Không phải chiếc nhẫn thực hiện việc đó, mà là chính ta.
- Ông?! Để làm gì?
- Vì lịch sự, hỡi cậu thiếu niên tò mò nhất trong tất cả các cậu thiếu niên. Ta cảm thấy khó xử đối với con người ấy. Ta đã quấy rầy ông ta ở cửa hàng đồ cũ, ta đã làm phiền ông ta khi ông ta trên đường trở về nhà, ta đã làm cho ông ta phát ngấy đến tận cổ khi ông ta đóng sập cửa nhà mình trước mũi ta, cho nên nếu ta không thực hiện vài điều ước của ông ta thì cũng bất tiện. Nhưng lòng tham của ông ta và tâm địa đen tối của ông ta đã làm cho ta ghê tởm...
- Ra thế đấy! - Vônca nói.
Lúc đi từ vườn hoa ra đường phố, ông Khốttabít giẫm phải một vật nhỏ tròn tròn nào đó. Đó là chiếc nhẫn “Catia, em hãy đeo cho mạnh khỏe”. Oanđenđalét đã đánh rơi chiếc nhẫn ấy khi lão vừa lăn vừa cố bám tay vào cỏ. Ông già nhặt chiếc nhẫn lên, chùi sạch nó bằng chiếc khăn tay to màu xanh tươi của mình và lặng lẽ đeo vào ngón vô danh bên bàn tay phải...
Vônca cùng với ông Khốttabít và Giênia Bôgôrát đã về nhà từ lâu rồi, đã kịp đánh một giấc và thức dậy vào sáng hôm sau, ấy thế mà mixtơ Hari Oanđenđalét vẫn còn tiếp tục lăn.
Gần 8 giờ sáng hôm sau, tại một nơi cách Pari (5) 400 kilômét về phía Đông, một bé gái người Pháp 9 tuổi, tên là Gianna Đaquy, trên đường đi tới trường, đã bị một vật gì đó tông ngã. Vật này lăn vùn vụt và theo lời em bé kể lại thì nó trông giống như một cái bao nhét căng giẻ rách.
Khoảng 5 giờ sau, bác dân chài Gaxtông Sácmachiê đang ngồi vá lưới trên bờ eo biển Pa đờ Cale (6) bỗng quay về phía có tiếng động khác thường và thấy một vật nặng thuôn thuôn trông tựa như khúc gỗ sồi đẽo thô, bụi bám đầy gớm ghiếc. Vật đó từ trên đường rẽ ngoặt xuống dốc và lao vùn vụt xuống nước rồi vừa quay nhanh, vừa đi xa bờ. Đang cần gỗ để sửa túp lều của mình, Sácmachiê liền lao thuyền xuống nước, nhưng dù đã cố hết sức, bác ta cũng không tài nào đuổi kịp khúc gỗ kỳ lạ ấy.
Những viên sĩ quan trực ban trên 5 chiếc tàu thủy chở vũ khí và thuốc súng từ Mỹ sang châu Âu và 3 chiếc tàu thủy chở sĩ quan và lính Mỹ đi phép từ châu Âu về Mỹ đã ghi trong nhật ký trên tàu của mình về một con vật kỳ lạ bắt gặp trên đại dương. Con vật này trông tựa như một con cá heo lớn, nhưng nó lại phun phì phì như lạc đà và chốc chốc lại tru lên như một con linh cẩu vằn (7) sắp chết. Như mọi người đều biết, cá heo không phun phì phì, không tru và cái chính là không cưỡi trên sóng, mà bơi ngập phần lớn thân ở dưới nước, mõm hướng về phía trước, lưng ngửa lên trên hoặc nhào lộn. Vì thế, tất cả 8 sĩ quan trực ban đều thấy cần phải nhận xét rằng chắc đó chẳng phải là cá heo, mà là một con vật nào đó mà cho tới nay khoa học vẫn chưa hề biết. Một sĩ quan trực ban ham mê khoa học thì chẳng nghi ngờ gì cả đã gọi rất chính xác con vật rất kỳ lạ dó là “sacan” (8) Đại Tây Dương.
Sáng hôm sau, khi mụ vợ của mixtơ Oanđenđalét lo lắng vì ông chồng vắng nhà lâu, đã định báo cho cảnh sát về việc lão mất tích, thì mụ nhận được một bức điện mật mã từ bên kia đại dương gửi tới:
“Sáng nay, phát hiện được Hari Oanđenđalét đang ở sau phố Uôn (9) trong tình trạng bẩn thỉu ghê gớm. Ông không thể hoặc không muốn giải thích tại sao lại có mặt ở đây. Dù sao chăng nữa, như việc thẩm tra kỹ lưỡng đã chứng tỏ, ông đã về đến đây chẳng phải bằng máy bay, cũng chẳng phải bằng tàu thuỷ. Ông gọi mítxi Oanđenđalét về nhà gấp”. [/color]

---
(1) Tức là khoảng 98 kilôgam - N.D.
(2) Nguyên bản: như bị bỏng, nước sôi - N.D.
(3) Tiếng Anh: bà - N.D.
(4) Tiếng Anh: tướng cướp – N.D
(5) thủ đô nước Pháp – N.D
(6) Eo biển nằm giữa nước Pháp và Anh – N.D
(7) Một loài thú dữ có vú ở các nước phương Nam, chuyên ăn xác chết - N.D.
(8) Một loài thú dữ thuộc họ chó, chuyên ăn xác chết - N.D.
(9) Một phố ở Niu Yoóc, nằm trong khu Manhattan, nơi tập trung mọi hoạt động chủ yếu của bọn tư bản tài phiệt Mỹ - N.D
 
Nói chung mấy chương này bây giờ đọc lại thì thấy hơi ... lạc hậu so với cuộc sống 1 tý, nhưng đọc vẫn thích các bác ạ
 
Back
Top