Đúng là họa vô đơn chí - mạng phập phù vào đúng lúc đầu óc mình ... quên tứ tung

==========
Khi nghiên cứu chế tạo các tên lửa đạn đạo, như ngày nay đã thấy, S.Korolev hướng tới mục tiêu lớn hơn – tới việc chinh phục khoảng không vũ trụ và các chuyến bay có người lái vào vũ trụ. Nhằm mục đích này, từ năm 1949 S.Korolev cùng với các nhà khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đã bắt đầu các nghiên cứu sử dụng tên lửa cải tiến R-1A bằng cách phóng thẳng đứng chúng thường xuyên lên tới độ cao đến 100 km, rồi sau đó thì với các tên lửa R-2 và R-5 mạnh hơn phóng tới độ cao tương ứng là 200 và 500 km. Mục đích của các chuyến bay này là nghiên cứu các thông số của khoảng không vũ trụ gần, bức xạ mặt trời và thiên hà, từ trường Trái đất, khả năng sống của các động vật bậc cao trong các điều kiện vũ trụ (không trọng lượng, tăng trọng lượng, rung động lớn và gia tăng tải lượng âm thanh), cũng như hiệu chỉnh các phương tiện đảm bảo cuộc sống và đưa các động vật này trở về Trái đất từ vũ trụ - ông đã tiến hành bảy lần phóng tên lửa như vậy. Với việc này S.Korolev đã sớm đặt cơ sở vững chắc để con người chinh phục vũ trụ.
Vào năm 1955, còn xa những lần phóng thử nghiệm tên lửa R-7 thì S.P. Korolev, M.V.Kelduysh và M.K.Tikhonravov đã đề nghị với chính phủ dùng tên lửa R-7 để đưa vệ tinh nhân tạo của Trái đất vào vũ trụ. Đề nghị này được ủng hộ. Vào tháng 8/1956 OKB-1 tách ra khỏi Viện-88 và trở thành một cơ sở độc lập với giám đốc và tổng công trình sư được chỉ định là S.P.Korolev. Và tới ngày 4/10/1957 thì S.P.Korolev đã đưa lên quỹ đạo gần Trái đất vệ tinh nhân tạo đầu tiên trong lịch sử loài người. Chuyến bay của vệ tinh này đã thành công vang dội, và tạo cho Liên Xô uy tín quốc tế rất cao.
Ngày 12 tháng 4 năm 1961 S.P.Korolev lại một lần nữa khiến cho thế giới phải kinh ngạc. Sau khi chế tạo con tàu vũ trụ có người lái đầu tiên “Vostok”, ông đã triển khai chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ - chuyến bay của công dân Liên Xô Yuri Gagarin theo quỹ đạo gần Trái đất.
Yu.A.Gagarin và S.P. Korolev
Sergei Pavlovich Korolev không vội vã khi giải quyết vấn đề chinh phục khoảng không vũ trụ của con người. Con tàu vũ trụ đầu tiên chỉ bay một vòng xung quanh Trái đất: lúc đó không ai biết được con người sẽ có cảm giác gì khi phải chịu đựng trạng thái không trọng lượng lâu như thế, những gánh nặng tâm lý nào sẽ tác động lên con người trong chuyến du lịch vũ trụ hoàn toàn chưa bình thường và chưa được nghiên cứu này. Sau chuyến bay đầu tiên của Yu.A.Gagari, vào ngày 6/8/1961 thì German Titov trên con tàu “Vostok-2” đã thực hiện chuyến bay vũ trụ thứ hai kéo dài một ngày đêm. Lại một lần nữa – phân tích tỉ mỉ ảnh hưởng của các điều kiện chuyến bay tới hoạt động của cơ thể con người. Sau đó là chuyến bay chung của 2 con tàu vũ trụ “Vostok-3” và “Vostok-4” do hai phi công vũ trụ A.N.Nicolaev và P.R.Popovich thực hiện, từ ngày 11 tới 12/8/1962 giữa hai nhà du hành vũ trụ đã thiết lập liên hệ vô tuyến trực tiếp. Rồi năm sau là chuyến bay chung của hai nhà du hành vũ trụ V.F.Bykovsky và V.V.Tereshkova trên con tàu “Vostok-5” và “Vostok-6” từ ngày 14 tới 16/6/1963 – nghiên cứu khả năng chuyến bay vào vũ trụ của một nhà nữ du hành. Rồi sau đó – từ 12-13/10/1964 là một phi hành đoàn gồm 3 thành viên nghề nghiệp khác nhau – chỉ huy tàu, kỹ sư chuyến bay và một bác sĩ trên con tàu vũ trụ phức tạp hơn – tàu “Voskhod”. Ngày 18/3/1965 trong chuyến bay trên con tàu “Voskhod-2” với phi hành đoàn 2 người nhà du hành vũ trụ A.A.Leonov đã lần đầu tiên bước ra khoảng không vũ trụ trong bộ giáp vũ trụ.
Dõi theo các chuyến bay vũ trụ đã thực hiện, chúng ta không thể không nhận thấy sự kế tiếp phương pháp luận rất rõ ràng trong việc chinh phục khoảng không vũ trụ của con người, và sự chuẩn bị xây dựng trạm quỹ đạo khoa học vũ trụ điều khiển lâu dài, mà sự cần thiết của trạm này đã được S.P.Korolev nói tới từ khi mới bắt đầu chinh phục vũ trụ.
Tiếp tục phát triển chương trình các chuyến bay gần trái đất có người lái, S.P.Korolev cũng bắt đầu triển khai các ý tưởng của mình về việc chế tạo trạm quỹ đạo nói trên. Hình mẫu của trạm này là con tàu vũ trụ mới hoàn toàn “Soyuz”, hoàn thiện hơn so với những con tàu trước. Trong thành phần con tàu này có ngăn sinh hoạt, để cho các nhà du hành vũ trụ có thể ở đó không cần mặc giáp và tiến hành các nghiên cứu khoa học. Trong thời gian chuyến bay cũng lập kế hoạch kết nối tự động trên quỹ đạo hai con tàu “Soyuz”, và sự di chuyển của các nhà du hành từ một con tàu này sang con tàu khác qua khoảng không vũ trụ trong bộ giáp vũ trụ. Rất tiếc là Sergei Korolev không sống được tới khi các ý tưởng của ông được hiện hình trong các con tàu vũ trụ “Soyuz”.
Để thực hiện các chuyến bay có người lái và phóng các trạm vũ trụ tự động, trên cơ sở tên lửa chiến đấu S.P.Korolev đã thiết kế chế tạo họ các tên lửa đẩy hoàn thiện hơn ba tầng và bốn tầng. Như vậy, đóng góp của S.P.Korolev trong sự phát triên ngành du hành vũ trụ có người lái của Liên Xô – Nga và thế giới là những đóng góp quyết định.
Để đáp trả lại các thành công vũ trụ của Liên Xô trong lĩnh vực các chuyến bay có người lái, và mong muốn phục hồi uy tín kỹ thuật của mình, Mỹ đã bắt tay thực hiện một chương trình khổng lồ về mục đích và quy mô – chương trình “Apollon”, nhằm xây dựng một tổ hợp vũ trụ mặt trăng đảm bảo cho việc đưa hai nhà du hành vũ trụ lên Mặt Trăng. Về phía mình, S.P. Korolev theo quyết định của chính phủ cũng bắt đầu thực hiện kế hoạch thám hiểm mặt trăng của Liên Xô. Tuy nhiên quyết định này được thông qua muộn hơn nhiều so với ở Mỹ trên nền triển khai một chương trình to lớn về các chuyến bay có người lái gần trái đất và nghiên cứu các hành tinh của Hệ Mặt trời. Các thời hạn bị rút ngắn quá nhiều, khối lượng công việc lớn trong các chương trình vũ trụ ưu tiên, cũng như không đủ đảm bảo kinh tế và sản xuất đã không cho phép người thừa kế của S.P.Korolev, tổng công trình sư V.P.Mishin xây dựng cụm vũ trụ mặt trăng đúng thời hạn, mặc dù dự án này được thiết kế từ khi S.P.Korolev còn sống. Kết quả là chương trình này đã bị chính phủ đóng lại.
Song song với sự phát triển vũ bão của ngành du hành vũ trụ có người lái thì các công việc đối với các vệ tinh cho các mục đích khoa học, kinh tế và quân sự. Năm 1958 họ đã chế tạo và phóng vào vũ trụ một vệ tinh địa vật lý, rồi sau đó là cặp vệ tinh “Elektron” để nghiên cứu các dải bức xạ của Trái đất. Năm 1959 thì ba thiết bị vũ trụ tự động đã được chế tạo và phóng về phía Mặt Trăng. Thiết bị thứ nhất và thứ hai – để đưa lên Mặt Trăng cờ hiệu của Liên Xô, thiết bị thứ ba nhằm mục đích chụp ảnh bề mặt khuất của Mặt Trăng (không thấy được từ Trái đất). Tiếp đó S.P.Korolev bắt đầu thiết kế các thiết bị mặt trăng khác hoàn thiện hơn để hạ cánh nhẹ nhàng xuống Mặt Trăng, chụp ảnh quang cảnh Mặt Trăng và gửi về Trái đất (đối tượng E-6).
Trung thành với nguyên tắc mời các tổ chức khác tham dự việc triển khai các ý tưởng của mình, Sergei Korolev giao cho một cộng tác viên của mình, người đã từng làm việc cùng ông từ thời ở Viện-88 hoàn thiện tiếp thiết bị này. Đó là tổng công trình sư G.N.Babakin, người từ năm 1965 đứng đầu Văn phòng thiết kế mang tên S.A.Lavochkin. Năm 1966 trạm “Luna-9” đã truyền những bức ảnh đầu tiên về toàn cảnh bề mặt mặt trăng. Korolev không trở thành người chứng kiến thành công ấy. Nhưng ý tưởng của ông đã được trao vào những đôi tay đáng tin cậy – Văn phòng thiết kế mang tên S.A.Lavochkin đã trở thành trung tâm lớn nhất về thiết kế và chế tạo các thiết bị vũ trụ tự động để nghiên cứu Mặt Trăng, Sao Kim, Sao Hỏa, Sao chổi Halley, vệ tinh Phobos của Sao Hỏa và tiến hành các nghiên cứu vật lý thiên văn.
Từ thời kỳ chế tạo tàu vũ trụ “Vostok” thì trên cơ sở cấu trúc của con tàu này S.P.Korolev đã bắt đầu thiết kế vệ tinh trinh sát hình ảnh “Zenit” cho Bộ Quốc phòng Liên Xô. S.P.Korolev đã chế tạo hai loại vệ tinh tương tự nhằm mục đích khảo sát chi tiết và toàn cảnh. Các vệ tinh này đã được đưa vào sử dụng trong những năm 1962-1963, và S.P.Korolev đã trao lại hướng quan trọng này của ngành vũ trụ cho một trong số các học sinh của mình, tổng công trình sư D.I.Kozlov ở chi nhánh Samara của OKB-1 (bây giờ đó là Văn phòng thiết kế đặc biệt trung tâm), và hướng này đã được phát triển rất thành công. Hiện nay đó là một trung tâm khoa học vũ trụ lớn về thiết kế chế tạo các vệ tinh để thăm dò bề mặt đất dùng cho các mục đích quân sự, kinh tế và khoa học, cũng như về hoàn thiện các tên lửa đẩy trên cơ sở của tên lửa R-7.
S.P.Korolev cũng khởi đầu cho sự phát triển một hướng sử dụng vệ tinh quan trọng khác. Ông chế tạo vệ tinh viễn thông Liên Xô đầu tiên “Molnya-1”, hoạt động trên quỹ đạo ellip cao. Hướng này được S.P.Korolev chuyển lại cho chi nhánh Krasnoyar của OKB-1 cho học trò của mình – tổng công trình sư M.F.Reshetnev. Bằng việc này ông đã đặt nền móng cho một trung tâm lớn nhất Liên Xô về thiết kế chế tạo các hệ thống liên lạc, vô tuyến truyền hình, định vị và trắc địa vũ trụ.
Từ những điều nói trên có thể thấy rõ vai trò quan trọng của S.P.Korolev như người đề xuất nhiều ý tưởng độc đáo, cha đẻ của các tập thể công trình sư xuất sắc làm việc trong lĩnh vực kỹ thuật tên lửa vũ trụ. Chỉ có thể kinh ngạc bởi sự đa dạng tài năng của Sergei Pavlovich, năng lượng sáng tạo vô tận của ông. S.P.Korolev là người mở đường cho nhiều lĩnh vực chính trong sự phát triển vũ khí tên lửa và kỹ thuật tên lửa – vũ trụ. Khó mà hình dung được các lĩnh vực này có thể đạt đến trình độ nào, nếu như cái chết không làm ngừng các ý tưởng bay bổng của Sergei Pavlovich Korolev.
(Bài viết của BBT tạp chí “Chế tạo tên lửa và du hành vũ trụ” nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh S.P.Korolev)