[size=18:ac69905ec0][color=red:ac69905ec0]US Open - niềm tự hào nước Mỹ[/color][/size]
(VietNamNet) - Suốt hơn 120 năm tồn tại, US Open nổi tiếng là Grand Slam của sự thay đổi (tên gọi, địa điểm, mặt sân) và Grand Slam thành công nhất cho các tay vợt chủ nhà.
[size=15:ac69905ec0]Lịch sử nhiều biến đổi[/size]
Tháng 5/1881, Hiệp hội Quần vợt sân cỏ Hoa Kỳ (US Lawn Tennis Association - USLTA) được thành lập. Tháng 8 cùng năm, USLTA quyết định tổ chức giải đấu mang tên Giải vô địch quần vợt quốc gia Mỹ tại Newport Casino, Rhode Island. Ban đầu, chỉ có 26 tay vợt là thành viên của USLTA được phép tham gia. Richard Sears đi vào lịch sử với tư cách là nhà vô địch đầu tiên của US Open khi giành thắng lợi tuyệt đối ở cuộc tranh tài năm đó. Ông đăng quang mà không để thua một set nào.
Sự thống trị của Sears được khẳng định vững chắc khi ông 6 lần bảo vệ thành công danh hiệu của mình. Kết quả này cũng không quá gây ngạc nhiên. Vì mãi tới năm 1911, BTC vẫn duy trì thể thức thi đấu nhà vô địch năm trước đương nhiên được tham dự trận chung kết giải năm sau.
Sears, nhà vô địch đầu tiên.
6 năm sau giải đấu đầu tiên, các tay vợt nữ chính thức được góp mặt tranh tài tại Philadelphia Cricket Club. Nhà vô địch năm 1887 là Ellen Hansell. Hai năm sau, người ta bổ sung nội dung đôi nữ. Và cần thêm 3 năm nữa để ra đời nội dung đôi nam nữ phối hợp.
Giải vô địch quần vợt quốc gia Mỹ hoàn thiện nội dung thi đấu thứ 5 (đôi nam) vào năm 1900. Khác với 4 nội dung trước, cuộc tranh tài đôi nam được chia thành hai khu vực Đông và Tây. Hai đôi xuất sắc nhất hai miền gặp nhau trong trận play-off để chọn ra người chiến thắng thi đấu chung kết với đôi đương kim vô địch. Mãi đến năm 1920, thể thức thi đấu rắc rối trên mới được thay thế bằng hệ thống knock-out như ngày nay.
Sau 7 năm diễn ra ở Newport Casino, giải Grand Slam thứ tư trong năm đã có rất nhiều "sân nhà" khác nhau. Trong lịch sử 125 năm, 5 nội dung chính của US Open lần lượt chuyển qua 9 địa điểm thi đấu. Trong đó, nội dung đơn nam giữ kỷ lục có mặt... 8 trong số 9 địa điểm đó. Ngược lại, nội dung đơn nữ "lười di chuyển" nhất khi mới diễn ra ở 3 nơi: Philadelphia Cricket Club, West Side Tennis Club và USTA National Tennis Center.
Khi "kỷ nguyên Open" mở ra (năm 1968), giải Grand Slam bên châu Mỹ chính thức có tên là US Open. Cả 5 nội dung thi đấu cùng được tổ chức tại West Side Tennis Club thuộc khu Forest Hills, Queens, New York. Đã có 96 tay vợt nam và 63 tay vợt nữ tham gia giải đấu có tổng giá trị tiền thưởng 100.000 USD này.
Năm 1978, một lần nữa US Open lại chuyển chỗ từ Forest Hill sang Flushing Meadows, địa điểm thi đấu hiện nay. Sân đấu chính mang tên nhà vô địch năm 1968 Arthur Ashe có sức chứa 23.000 chỗ.
Sân West Side Tennis Club từng là sân nhà của US Open trong 63 năm.
Khoảng thời gian từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 80 thế kỷ trước là thời hoàng kim của các tay vợt chủ nhà. John McEnroe và Jimmy Connors lần lượt giành 7 chức vô địch đơn nam liên tiếp. Bên phía nữ, Billie Jean King, Chris Evert và Martina Navratilova thay nhau 14 lần đăng quang trong hai thập kỷ đó.
Sau giai đoạn làm mưa, làm gió của các tay vợt châu Âu, thành công trở lại với nước chủ nhà khi một thế hệ tài năng mới xuất hiện. Pete Sampras và Andre Agassi thống trị giải nam. Còn Monica Seles, Lindsay Davenport rồi chị em nhà Williams tung hoành giải nữ.
Do tất cả các trận đấu của US Open đều diễn ra trên mặt sân cứng, đường bóng tại đây sẽ có tốc độ nhanh nhất thế giới. Ngoài ra, US Open cũng là giải Grand Slam duy nhất thi đấu dưới ánh đèn. "Giờ vàng" này tất nhiên khiến US Open thu hút được rất nhiều khán giả truyền hình.
[size=15:ac69905ec0]Những trận đấu đáng nhớ (tính từ mốc 1968)[/size]
Đơn nữ
Chung kết năm 1979: Tracy Austin - Chris Evert-Loyd 6-4, 6-3.
Ngày nay, người ta quá quen thuộc với việc những ngôi sao trẻ làm mưa làm gió trên sân quần vợt thế giới. Nhưng vẫn chưa ai trong số họ phá được kỷ lục của Tracy Austin. Hạ đàn chị Ever-Loyd, Austin lên ngôi trước sinh nhật thứ 17 ba tháng
Tracy Austin.
Hai năm sau, Austin lại đánh bại Martina Navratilova 1-6, 7-6, 7-6 để lần thứ hai đăng quang. Đây cũng là lần đầu tiên một trận chung kết Grand Slam được giải quyết bằng loạt tie-break.
Tuy nhiên, chấn thương dai dẳng (do thi đấu quá nhiều ở độ tuổi quá trẻ) đã không cho Austin có cơ hội giành thêm một danh hiệu lớn nào. Sau đó, WTA đã phải hạn chế số giải đấu mà các tay vợt trẻ được phép tham gia.
Tứ kết 1989: Zina Garrison - Chris Evert 7-6, 6-2.
Trận tứ kết này chưa phải là trận đấu hay nhất trong lịch sử Mỹ mở rộng. Nhưng có thể đó là trận đấu giàu cảm xúc nhất của Evert. Ở độ tuổi 34, Evert nói lời chia tay với giải Grand Slam thứ tư trong năm sau pha thuận tay mắc lỗi, sau cái ôm chặt với Garrison và sau những cái vẫy tay chào khán giả.
Thật khó tin, 1989 mới là lần thứ hai sau 19 năm Evert không thể góp mặt ở vòng bán kết Mỹ mở rộng. Thậm chí, đối thủ nhiều duyên nợ Martina Navratilova đã không biết nên buồn hay vui khi không phải chạm trán Evert tại bán kết năm đó.
Chung kết 1994: Arantxa Sanchez Vicario - Steffi Graf 1-6, 7-6, 6-4.
Suốt 10 năm, qua 51 trận tại Flushing Meadows, Steffi Graf không bao giờ phải gác vợt sau khi đã dẫn trước set đầu. Tuy nhiên, Sanchez Vicario đã chặn đứng chuỗi kết quả đáng nể ấy.
Graf chỉ cần 22 phút để giành set đầu. Tay vợt Đức thành công 20 trên tổng số 24 lần có thể ghi điểm. Nhưng Graf vẫn không thể thắng được một Vicario đang ở phong độ cao nhất. Cô gái Tây Ban Nha xuất sắc lật lại hai set sau để mang về danh hiệu Grand Slam thứ hai trong năm (sau thành công tại Roland Garros).
Có thể coi 1994 là năm vàng của quần vợt Tây Ban Nha. Ngoài hai chức vô địch của Vicario, Conchita Martinez lên ngôi trên sân cỏ Wimbledon còn Sergi Bruguera trở thành ông hoàng sân đất nện Paris.
Chung kết 1995: Steffi Graf - Monica Seles 7-6, 0-6, 6-3.
Steffi Graf và Monica Seles tiến vào trận chung kết từ hai vị thế rất khác nhau. Nếu như Graf vừa hoàn thành cú đúp French Open - Wimbledon, Seles mới chỉ trở lại sau thời gian nghỉ điều trị vết thương (do một khán giả quá khích đâm) tháng 4 năm 1993.
Gác lại phần thua sít sao trong set đầu, Seles trở thành tay vợt đầu tiên trong khoảng thời gian 2 năm thắng được Graf một set 6-0. Nhưng tất cả những gì tay vợt chủ nhà làm được chỉ có thế. Graf thắng set cuối không mấy khó khăn. Ngôi sao người Đức này trở thành tay vợt đầu tiên trong lịch sử vô địch cả 4 giải Grand Slam, mỗi giải ít nhất 4 lần.
Bán kết 1999: Martina Hingis - Venus Williams 6-1, 4-6, 6-3.
Năm đó, người ta truyền nhau rằng nếu một trong hai chị em nhà Williams không đánh bại được bạn, người còn lại sẽ làm được. Martina Hingis là người thấm thía nhận định đó hơn ai hết.
Tay vợt 18 tuổi đến từ Thuỵ Sĩ kiên cường hạ cô chị Venus trong một trận bán kết căng thẳng. Nhưng ngay trong ngày hôm sau, Hingis lại chịu đầu hàng trước cô em Serena với tỷ số 3-6, 6-7.
Đơn nam
Chung kết 1980: John McEnroe - Bjorn Borg 7-6, 6-1, 6-7, 7-5, 6-4.
Chưa đầy hai tháng sau thất bại trước Bjorn Borg tại chung kết Wimbledon, John McEnroe thực hiện cuộc phục thù ngọt ngào trong một màn tra tấn thể lực của cả hai bên. Người chiến thắng cũng thừa nhận cơ thể anh tưởng như không thể đứng vững trong set thứ năm
Enroe và Borg luôn đối đầu nhau trong những năm đầu thập kỷ 80.
Năm 1981, McEnroe và Borg lại chạm trán nhau ở trận đấu cuối cùng. Phần thắng vẫn thuộc về tay vợt chủ nhà. Và ngôi sao đến từ Thuỵ Điển chợt nhận ra rằng anh đã là "người của hôm qua". Borg nghỉ thi đấu khi mới 27 tuổi.
Vòng ba 1981: Jimmy Connors - Andres Gomez 6-7, 6-3, 6-1, 4-6, 7-6.
Tính đến trước trận đấu này, Connors đã giành được 3 (trong tổng số 5) chức vô địch Mỹ mở rộng. Nhưng tham vọng nâng cao thành tích của tay vợt chủ nhà đã bị thách thức thực sự bởi đối thủ đến từ Ecuador, người sau này từng lên ngôi tại Roland Garros năm 1990.
Trong ván quyết định, lỗi kép giao bóng của Connors mang lại lợi thế dẫn 6-5 cho Gomez. Tay vợt người Ecuador chỉ cần thắng hai điểm nữa là có thể kết thúc trận đấu. Gomez nắm quyền giao bóng và tỷ số ván 12 là 30-30.
Tuy nhiên, Gomez lại là người chịu áp lực nhiều hơn. Anh mắc liên hai lỗi để Connors giành break. Số phận trận đấu marathon phải phân định bằng loạt tie-break. Màn rượt đuổi tỷ số dai dẳng chỉ kết thúc sau pha giao bóng ăn điểm trực tiếp của tay vợt Mỹ.
Mặc cho chiến thắng quả cảm ấy, Connors phải đợi đến năm sau mới có được danh hiệu Mỹ mở rộng thứ tư. Vì cũng trong giải năm 1981, Connors đã phải dừng bước tại bán kết trước Bjorn Borg.
Tứ kết 1996: Pete Sampras - Alex Corretja 7-6, 5-7, 5-7, 6-4, 7-6
Những ai còn hoài nghi rằng lối chơi của Sampras tẻ nhạt và thiếu cá tính nên xem lại băng video của trận đấu này. Trong cuộc đấu marathon với Corretja, tay vợt chủ nhà gần như bị vắt kiệt sức lực. Đến loạt tie-break set 5, tưởng như Sampras không còn đủ năng lượng để thi đấu tiếp do hiện tượng đau bụng và mất nước
Huyền thoại Sampras (trái) tham dự một trong những trận đấu kinh điển của US Open năm 1996.
Vậy mà, Sampras vẫn thực hiện thành công cú giao bóng ăn điểm trực tiếp. Corretja sững sờ tới mức anh phạm lỗi kép giao bóng. Không ai ngạc nhiên khi sau trận tứ kết "trường kỳ" với đối thủ đến từ Tây Ban Nha, Sampras lần thứ 4 đăng quang.
Chung kết 1997: Patrick Rafter - Greg Rusedski 6-3, 6-2, 4-6, 7-5.
8 năm trước, Greg Rusedski trở thành tay vợt Anh đầu tiên lọt vào chung kết US Open kể từ thời Fred Perry năm 1936. Rusedski tung ra những cú giao bóng đạt tốc độ kỷ lục 230 km/h. Nhưng các pha giao bóng khôn ngoan và những quả vô-lê của Rafter mới chiếm ưu thế.
Sau khi dễ dàng để mất hai set đầu, tay vợt đến từ xứ sở sương mù đã rất nỗ lực đảo ngược tình thế. Rusedski thắng lại set ba. Sang set thứ tư, anh giành liền một mạch 3 ván để san bằng tỷ số 4-4. Tiếc là, như thế vẫn chưa đủ ngăn Rafter giành danh hiệu đầu tiên tại Flushing Meadows.
Vòng bốn 1999: Todd Martin - Greg Rusedski 5-7, 0-6, 7-6, 6-4, 6-4.
Cuộc lội ngược dòng ngoạn mục này là một trong những trận đấu kịch tính nhất trong lịch sử US Open. Do Pete Sampras và Patrick Rafter không thể góp mặt tranh tài vì chấn thương, người thắng trong cặp đấu Martin - Rusedski sẽ rộng đường vào chung kết. Trước giờ khai cuộc, hạt giống số 9 người Anh được đánh giá cao hơn niềm hy vọng nước chủ nhà.
Và thực tế, Rusedski không mất nhiều thời gian để giành hai set đầu. Không ai nghi ngờ vào khả năng chiến thắng của anh, nhất là khi đối thủ Martin vừa gặp chấn thương đầu gối vừa bị đau tay.
Tuy nhiên, tay vợt người Mỹ đã bất ngờ giáng cho Rusedski một trong những thất bại cay đắng nhất trong sự nghiệp. Tay vợt Anh thậm chí còn dẫn trước 4-1 ở set quyết định. Song không thể tin nổi, Martin thắng liền một mạch 20 trong tổng số 21 điểm cuối cùng để ghi tên mình vào tứ kết.
(VietNamNet) - Suốt hơn 120 năm tồn tại, US Open nổi tiếng là Grand Slam của sự thay đổi (tên gọi, địa điểm, mặt sân) và Grand Slam thành công nhất cho các tay vợt chủ nhà.
[size=15:ac69905ec0]Lịch sử nhiều biến đổi[/size]
Tháng 5/1881, Hiệp hội Quần vợt sân cỏ Hoa Kỳ (US Lawn Tennis Association - USLTA) được thành lập. Tháng 8 cùng năm, USLTA quyết định tổ chức giải đấu mang tên Giải vô địch quần vợt quốc gia Mỹ tại Newport Casino, Rhode Island. Ban đầu, chỉ có 26 tay vợt là thành viên của USLTA được phép tham gia. Richard Sears đi vào lịch sử với tư cách là nhà vô địch đầu tiên của US Open khi giành thắng lợi tuyệt đối ở cuộc tranh tài năm đó. Ông đăng quang mà không để thua một set nào.
Sự thống trị của Sears được khẳng định vững chắc khi ông 6 lần bảo vệ thành công danh hiệu của mình. Kết quả này cũng không quá gây ngạc nhiên. Vì mãi tới năm 1911, BTC vẫn duy trì thể thức thi đấu nhà vô địch năm trước đương nhiên được tham dự trận chung kết giải năm sau.
Sears, nhà vô địch đầu tiên.
6 năm sau giải đấu đầu tiên, các tay vợt nữ chính thức được góp mặt tranh tài tại Philadelphia Cricket Club. Nhà vô địch năm 1887 là Ellen Hansell. Hai năm sau, người ta bổ sung nội dung đôi nữ. Và cần thêm 3 năm nữa để ra đời nội dung đôi nam nữ phối hợp.
Giải vô địch quần vợt quốc gia Mỹ hoàn thiện nội dung thi đấu thứ 5 (đôi nam) vào năm 1900. Khác với 4 nội dung trước, cuộc tranh tài đôi nam được chia thành hai khu vực Đông và Tây. Hai đôi xuất sắc nhất hai miền gặp nhau trong trận play-off để chọn ra người chiến thắng thi đấu chung kết với đôi đương kim vô địch. Mãi đến năm 1920, thể thức thi đấu rắc rối trên mới được thay thế bằng hệ thống knock-out như ngày nay.
Sau 7 năm diễn ra ở Newport Casino, giải Grand Slam thứ tư trong năm đã có rất nhiều "sân nhà" khác nhau. Trong lịch sử 125 năm, 5 nội dung chính của US Open lần lượt chuyển qua 9 địa điểm thi đấu. Trong đó, nội dung đơn nam giữ kỷ lục có mặt... 8 trong số 9 địa điểm đó. Ngược lại, nội dung đơn nữ "lười di chuyển" nhất khi mới diễn ra ở 3 nơi: Philadelphia Cricket Club, West Side Tennis Club và USTA National Tennis Center.
Khi "kỷ nguyên Open" mở ra (năm 1968), giải Grand Slam bên châu Mỹ chính thức có tên là US Open. Cả 5 nội dung thi đấu cùng được tổ chức tại West Side Tennis Club thuộc khu Forest Hills, Queens, New York. Đã có 96 tay vợt nam và 63 tay vợt nữ tham gia giải đấu có tổng giá trị tiền thưởng 100.000 USD này.
Năm 1978, một lần nữa US Open lại chuyển chỗ từ Forest Hill sang Flushing Meadows, địa điểm thi đấu hiện nay. Sân đấu chính mang tên nhà vô địch năm 1968 Arthur Ashe có sức chứa 23.000 chỗ.
Sân West Side Tennis Club từng là sân nhà của US Open trong 63 năm.
Khoảng thời gian từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 80 thế kỷ trước là thời hoàng kim của các tay vợt chủ nhà. John McEnroe và Jimmy Connors lần lượt giành 7 chức vô địch đơn nam liên tiếp. Bên phía nữ, Billie Jean King, Chris Evert và Martina Navratilova thay nhau 14 lần đăng quang trong hai thập kỷ đó.
Sau giai đoạn làm mưa, làm gió của các tay vợt châu Âu, thành công trở lại với nước chủ nhà khi một thế hệ tài năng mới xuất hiện. Pete Sampras và Andre Agassi thống trị giải nam. Còn Monica Seles, Lindsay Davenport rồi chị em nhà Williams tung hoành giải nữ.
Do tất cả các trận đấu của US Open đều diễn ra trên mặt sân cứng, đường bóng tại đây sẽ có tốc độ nhanh nhất thế giới. Ngoài ra, US Open cũng là giải Grand Slam duy nhất thi đấu dưới ánh đèn. "Giờ vàng" này tất nhiên khiến US Open thu hút được rất nhiều khán giả truyền hình.
[size=15:ac69905ec0]Những trận đấu đáng nhớ (tính từ mốc 1968)[/size]
Đơn nữ
Chung kết năm 1979: Tracy Austin - Chris Evert-Loyd 6-4, 6-3.
Ngày nay, người ta quá quen thuộc với việc những ngôi sao trẻ làm mưa làm gió trên sân quần vợt thế giới. Nhưng vẫn chưa ai trong số họ phá được kỷ lục của Tracy Austin. Hạ đàn chị Ever-Loyd, Austin lên ngôi trước sinh nhật thứ 17 ba tháng
Tracy Austin.
Hai năm sau, Austin lại đánh bại Martina Navratilova 1-6, 7-6, 7-6 để lần thứ hai đăng quang. Đây cũng là lần đầu tiên một trận chung kết Grand Slam được giải quyết bằng loạt tie-break.
Tuy nhiên, chấn thương dai dẳng (do thi đấu quá nhiều ở độ tuổi quá trẻ) đã không cho Austin có cơ hội giành thêm một danh hiệu lớn nào. Sau đó, WTA đã phải hạn chế số giải đấu mà các tay vợt trẻ được phép tham gia.
Tứ kết 1989: Zina Garrison - Chris Evert 7-6, 6-2.
Trận tứ kết này chưa phải là trận đấu hay nhất trong lịch sử Mỹ mở rộng. Nhưng có thể đó là trận đấu giàu cảm xúc nhất của Evert. Ở độ tuổi 34, Evert nói lời chia tay với giải Grand Slam thứ tư trong năm sau pha thuận tay mắc lỗi, sau cái ôm chặt với Garrison và sau những cái vẫy tay chào khán giả.
Thật khó tin, 1989 mới là lần thứ hai sau 19 năm Evert không thể góp mặt ở vòng bán kết Mỹ mở rộng. Thậm chí, đối thủ nhiều duyên nợ Martina Navratilova đã không biết nên buồn hay vui khi không phải chạm trán Evert tại bán kết năm đó.
Chung kết 1994: Arantxa Sanchez Vicario - Steffi Graf 1-6, 7-6, 6-4.
Suốt 10 năm, qua 51 trận tại Flushing Meadows, Steffi Graf không bao giờ phải gác vợt sau khi đã dẫn trước set đầu. Tuy nhiên, Sanchez Vicario đã chặn đứng chuỗi kết quả đáng nể ấy.
Graf chỉ cần 22 phút để giành set đầu. Tay vợt Đức thành công 20 trên tổng số 24 lần có thể ghi điểm. Nhưng Graf vẫn không thể thắng được một Vicario đang ở phong độ cao nhất. Cô gái Tây Ban Nha xuất sắc lật lại hai set sau để mang về danh hiệu Grand Slam thứ hai trong năm (sau thành công tại Roland Garros).
Có thể coi 1994 là năm vàng của quần vợt Tây Ban Nha. Ngoài hai chức vô địch của Vicario, Conchita Martinez lên ngôi trên sân cỏ Wimbledon còn Sergi Bruguera trở thành ông hoàng sân đất nện Paris.
Chung kết 1995: Steffi Graf - Monica Seles 7-6, 0-6, 6-3.
Steffi Graf và Monica Seles tiến vào trận chung kết từ hai vị thế rất khác nhau. Nếu như Graf vừa hoàn thành cú đúp French Open - Wimbledon, Seles mới chỉ trở lại sau thời gian nghỉ điều trị vết thương (do một khán giả quá khích đâm) tháng 4 năm 1993.
Gác lại phần thua sít sao trong set đầu, Seles trở thành tay vợt đầu tiên trong khoảng thời gian 2 năm thắng được Graf một set 6-0. Nhưng tất cả những gì tay vợt chủ nhà làm được chỉ có thế. Graf thắng set cuối không mấy khó khăn. Ngôi sao người Đức này trở thành tay vợt đầu tiên trong lịch sử vô địch cả 4 giải Grand Slam, mỗi giải ít nhất 4 lần.
Bán kết 1999: Martina Hingis - Venus Williams 6-1, 4-6, 6-3.
Năm đó, người ta truyền nhau rằng nếu một trong hai chị em nhà Williams không đánh bại được bạn, người còn lại sẽ làm được. Martina Hingis là người thấm thía nhận định đó hơn ai hết.
Tay vợt 18 tuổi đến từ Thuỵ Sĩ kiên cường hạ cô chị Venus trong một trận bán kết căng thẳng. Nhưng ngay trong ngày hôm sau, Hingis lại chịu đầu hàng trước cô em Serena với tỷ số 3-6, 6-7.
Đơn nam
Chung kết 1980: John McEnroe - Bjorn Borg 7-6, 6-1, 6-7, 7-5, 6-4.
Chưa đầy hai tháng sau thất bại trước Bjorn Borg tại chung kết Wimbledon, John McEnroe thực hiện cuộc phục thù ngọt ngào trong một màn tra tấn thể lực của cả hai bên. Người chiến thắng cũng thừa nhận cơ thể anh tưởng như không thể đứng vững trong set thứ năm
Enroe và Borg luôn đối đầu nhau trong những năm đầu thập kỷ 80.
Năm 1981, McEnroe và Borg lại chạm trán nhau ở trận đấu cuối cùng. Phần thắng vẫn thuộc về tay vợt chủ nhà. Và ngôi sao đến từ Thuỵ Điển chợt nhận ra rằng anh đã là "người của hôm qua". Borg nghỉ thi đấu khi mới 27 tuổi.
Vòng ba 1981: Jimmy Connors - Andres Gomez 6-7, 6-3, 6-1, 4-6, 7-6.
Tính đến trước trận đấu này, Connors đã giành được 3 (trong tổng số 5) chức vô địch Mỹ mở rộng. Nhưng tham vọng nâng cao thành tích của tay vợt chủ nhà đã bị thách thức thực sự bởi đối thủ đến từ Ecuador, người sau này từng lên ngôi tại Roland Garros năm 1990.
Trong ván quyết định, lỗi kép giao bóng của Connors mang lại lợi thế dẫn 6-5 cho Gomez. Tay vợt người Ecuador chỉ cần thắng hai điểm nữa là có thể kết thúc trận đấu. Gomez nắm quyền giao bóng và tỷ số ván 12 là 30-30.
Tuy nhiên, Gomez lại là người chịu áp lực nhiều hơn. Anh mắc liên hai lỗi để Connors giành break. Số phận trận đấu marathon phải phân định bằng loạt tie-break. Màn rượt đuổi tỷ số dai dẳng chỉ kết thúc sau pha giao bóng ăn điểm trực tiếp của tay vợt Mỹ.
Mặc cho chiến thắng quả cảm ấy, Connors phải đợi đến năm sau mới có được danh hiệu Mỹ mở rộng thứ tư. Vì cũng trong giải năm 1981, Connors đã phải dừng bước tại bán kết trước Bjorn Borg.
Tứ kết 1996: Pete Sampras - Alex Corretja 7-6, 5-7, 5-7, 6-4, 7-6
Những ai còn hoài nghi rằng lối chơi của Sampras tẻ nhạt và thiếu cá tính nên xem lại băng video của trận đấu này. Trong cuộc đấu marathon với Corretja, tay vợt chủ nhà gần như bị vắt kiệt sức lực. Đến loạt tie-break set 5, tưởng như Sampras không còn đủ năng lượng để thi đấu tiếp do hiện tượng đau bụng và mất nước
Huyền thoại Sampras (trái) tham dự một trong những trận đấu kinh điển của US Open năm 1996.
Vậy mà, Sampras vẫn thực hiện thành công cú giao bóng ăn điểm trực tiếp. Corretja sững sờ tới mức anh phạm lỗi kép giao bóng. Không ai ngạc nhiên khi sau trận tứ kết "trường kỳ" với đối thủ đến từ Tây Ban Nha, Sampras lần thứ 4 đăng quang.
Chung kết 1997: Patrick Rafter - Greg Rusedski 6-3, 6-2, 4-6, 7-5.
8 năm trước, Greg Rusedski trở thành tay vợt Anh đầu tiên lọt vào chung kết US Open kể từ thời Fred Perry năm 1936. Rusedski tung ra những cú giao bóng đạt tốc độ kỷ lục 230 km/h. Nhưng các pha giao bóng khôn ngoan và những quả vô-lê của Rafter mới chiếm ưu thế.
Sau khi dễ dàng để mất hai set đầu, tay vợt đến từ xứ sở sương mù đã rất nỗ lực đảo ngược tình thế. Rusedski thắng lại set ba. Sang set thứ tư, anh giành liền một mạch 3 ván để san bằng tỷ số 4-4. Tiếc là, như thế vẫn chưa đủ ngăn Rafter giành danh hiệu đầu tiên tại Flushing Meadows.
Vòng bốn 1999: Todd Martin - Greg Rusedski 5-7, 0-6, 7-6, 6-4, 6-4.
Cuộc lội ngược dòng ngoạn mục này là một trong những trận đấu kịch tính nhất trong lịch sử US Open. Do Pete Sampras và Patrick Rafter không thể góp mặt tranh tài vì chấn thương, người thắng trong cặp đấu Martin - Rusedski sẽ rộng đường vào chung kết. Trước giờ khai cuộc, hạt giống số 9 người Anh được đánh giá cao hơn niềm hy vọng nước chủ nhà.
Và thực tế, Rusedski không mất nhiều thời gian để giành hai set đầu. Không ai nghi ngờ vào khả năng chiến thắng của anh, nhất là khi đối thủ Martin vừa gặp chấn thương đầu gối vừa bị đau tay.
Tuy nhiên, tay vợt người Mỹ đã bất ngờ giáng cho Rusedski một trong những thất bại cay đắng nhất trong sự nghiệp. Tay vợt Anh thậm chí còn dẫn trước 4-1 ở set quyết định. Song không thể tin nổi, Martin thắng liền một mạch 20 trong tổng số 21 điểm cuối cùng để ghi tên mình vào tứ kết.