Thơ của K.Simonov (Константин Симонов)

Dementieva

New member
Константин Симонов

[size=18:06d2da7e1c] Ты помнишь, Алеша,[/size]

* * *
А. Суркову

Ты помнишь, Алеша, дороги Смоленщины,
Как шли бесконечные, злые дожди,
Как кринки несли нам усталые женщины,
Прижав, как детей, от дождя их к груди,

Как слезы они вытирали украдкою,
Как вслед нам шептали:- Господь вас спаси!-
И снова себя называли солдатками,
Как встарь повелось на великой Руси.

Слезами измеренный чаще, чем верстами,
Шел тракт, на пригорках скрываясь из глаз:
Деревни, деревни, деревни с погостами,
Как будто на них вся Россия сошлась,

Как будто за каждою русской околицей,
Крестом своих рук ограждая живых,
Всем миром сойдясь, наши прадеды молятся
За в бога не верящих внуков своих.

Ты знаешь, наверное, все-таки Родина -
Не дом городской, где я празднично жил,
А эти проселки, что дедами пройдены,
С простыми крестами их русских могил.

Не знаю, как ты, а меня с деревенскою
Дорожной тоской от села до села,
Со вдовьей слезою и с песнею женскою
Впервые война на проселках свела.

Ты помнишь, Алеша: изба под Борисовом,
По мертвому плачущий девичий крик,
Седая старуха в салопчике плисовом,
Весь в белом, как на смерть одетый, старик.

Ну что им сказать, чем утешить могли мы их?
Но, горе поняв своим бабьим чутьем,
Ты помнишь, старуха сказала:- Родимые,
Покуда идите, мы вас подождем.

"Мы вас подождем!"- говорили нам пажити.
"Мы вас подождем!"- говорили леса.
Ты знаешь, Алеша, ночами мне кажется,
Что следом за мной их идут голоса.

По русским обычаям, только пожарища
На русской земле раскидав позади,
На наших глазах умирали товарищи,
По-русски рубаху рванув на груди.

Нас пули с тобою пока еще милуют.
Но, трижды поверив, что жизнь уже вся,
Я все-таки горд был за самую милую,
За горькую землю, где я родился,

За то, что на ней умереть мне завещано,
Что русская мать нас на свет родила,
Что, в бой провожая нас, русская женщина
По-русски три раза меня обняла.
1941
Константин Симонов.
Всемирная библиотека поэзии.
Ростов-на-Дону, "Феникс", 1998.


A-Liêu-sa nhớ chăng
(dịch thơ Simonov)

A-liêu-sa nhớ chăng
Những con đường Smô-lăng
Mưa dầm dề dai dẳng
Các chị em nhọc nhằn từng chặng
Ngực gầy ôm vò sữa che mưa
Thầm lau nước mắt tiễn đưa
Lạy trời phù hộ cho ta lên đường
Thân gái cũng can trường chiến sĩ
Yêu quê hương hùng vĩ
Như lòng xưa chứa chan
Cồn xanh quanh quất đường quan
Bước đi trăm dặm mà ngàn lệ sa
Xóm làng trắng bãi tha ma
Chừng đây hồn nước non Nga tụ về
Chừng đây sau dậu rào quê
Tổ tiên giang cánh chở che cho mình
Rủ nhau về họp cầu xin
Thương đàn con cháu chẳng tin có trời

Ta đã biết bạn ơi đất nước
Ðâu chỉ nhà ta được nâng niu
Mà làng quê những sớm chiều
Với cây giá gỗ thân yêu bên mồ

A-liêu-sa nhớ Bô-ri-xốp
Tiếng khóc than xé ruột nhà nào
Lệ người thiếu nữ tuôn trào
Và người mẹ góa mái đầu hoa râm
Áo tang trắng lạnh ướt đầm
Biết làm sao nói biết làm sao khuây
Xót lòng ta tính sao đây
Nhưng người mẹ đã đoán ngay nhủ mình:
- Các con ơi buổi chiến tranh
Ði đi mẹ đợi các anh trở về

Chúng tôi đợi các anh về!
Rừng xanh vọng tiếng đồng quê nhắn lời

Rừng xưa quê cũ xa rồi
Ðêm đêm còn vọng giọng lời thiết tha
Bạn với ta xông pha lửa đạn
Nguy bao phen thoát nạn sống còn
Lòng càng vui với nước non
Nước non Nga ta yêu dấu
Ta vui với đời ta chiến đấu
Trên đất đau thương xương máu gia đình
Ta vui vì mẹ Nga sinh
Vui vì một sớm chiến chinh lên đường
Có người vợ rất yêu thương
Hôn ta ba bận, lệ thường tiễn đưa
1949
Tố Hữu dịch
 
Hình như chưa ai đăng một bài về Simonov và Serova của nhà báo Hồng Thanh Quang thì phải. Nina thấy bài này trên mạng, cũng nhớ mang máng là có đọc rồi, chắc là ở An ninh thế giới cuối tháng, nhưng lại cắt dán từ namdinhonline.net

[size=18:74ecc4b361]“Đợi anh về”[/size]

Người ta kể lại rằng, lãnh tụ Liên Xô cũ, Ioxip Xtalin, khi đọc lần đầu bài thơ “Đợi anh về” của Ximonop, đã hỏi những người dưới quyền: “Thế bài thơ này được in bao nhiêu bản?” “Thưa, hàng triệu bản ạ!”. Xtalin, một chính khách đa diện, sâu sắc và hiển nhiên là có tính umua của người dân xứ Capcaz, cười khẩy: “Lẽ ra, chỉ nên in hai bản thôi, một để Ximonop giữ, còn một gửi cho Xerova!”. Xtalin dù bận trăm ngàn việc quốc gia đại sự vẫn không thể không biết đến mối tình éo le của cặp nghệ sĩ-văn sĩ lớn; hơn ai hết, ông hiểu rằng Ximonop viết “Đợi anh về” trước hết, chỉ dành cho người đàn bà mà ông yêu một cách si mê và đầy mâu thuẫn. Với Ximonop và những người hiểu ông, chỉ do tình cờ mà “Đợi anh về” mới trở thành bài thơ ca ngợi lòng chung thuỷ của người phụ nữ Xô viết trong chiến tranh. Thực ra Ximonop viết “Đợi anh về” thoạt đầu như lời khẩn cầu long chung thuỷ xót xa nhất cho Xerova, người đàn bà mà như ông viết trong một bài thơ khác “nông nổi, bẳn tính, hay châm chọc, đã của tôi dù chẳng lâu dài”. Chắc lúc viết, chính ông cũng không ngờ rằng lời khẩn cầu đó về sau đã giúp cho người vợ chẳng mấy chung tình theo nghĩa thông thường của ông trở thành biểu tượng sắt son của lòng chung thuỷ. Đến độ, rồi ông phải viết cả một kịch bản phim “Đợi anh về”, chính thức “phong thánh thuỷ chung” cho Xerova, nữ diễn viên đóng vai chính của phim, được chiếu rộng rãi ngay trong những năm diễn ra cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.

0001-valentina_serova_01.jpg

Valentina Serova
Nguồn: http://www.openfilms.ru/


Nàng là ai, người đàn bà đã tạo cảm hứng cho Ximonop viết “Đợi anh về” và rất nhiều bài thơ trữ tình rất tuyệt khác? Đó là một nữ nghệ sĩ từng đứng trong hàng ngũ những ngôi sao sân khấu và điện ảnh lớn nhất Liên Xô cũ một thời, Valentina Xerova. Người ta đến giờ vẫn không biết cụ thể và chính xác ngày sinh của bà, chỉ biết rằng “người đàn bà hấp dẫn nhất của điện ảnh Xô viết” kỷ niệm ngày sinh của mình vào đúng ngày thành lập quân đội Xô viết (23-2), ngày lễ của giới mày râu Liên Xô cũ. Từ điển điện ảnh Xô viết ghi ngày sinh của bà là 23-12-1917, nhưng thực ra đấy cũng chỉ là những thông tin giả định.

Trước khi gắn bó cùng nhà văn kiêm thi sĩ Ximonop, Valentina đã kết hôn cùng một phi công nổi tiếng tên là Anatoli Xerop (Họ của người chồng đã gắn bó với bà suốt đời). Khi Valentina đang mang thai, Anatoli bị hi sinh trong một chuyến bay thử nghiệm tháng 5-1939, lúc anh mới vừa 29 tuổi. Ba tháng sau, vợ anh sinh hạ một con trai và lấy tên chồng đặt cho nó. Đứa con của mối tình lớn hoá ra về sau cũng không được hạnh phúc. Anh ta đã chết vì rượu năm mới 35 tuổi, nửa năm trước khi chính mẹ anh ta qua đời.

Cuộc gặp gỡ định mệnh giữa Ximonop và Xerova diễn ra năm 1941. Lúc đó, Valentina đóng vai Pavla trong vở kịch của Gorki “Họ Dưcov” trên sân khấu nhà hát TRAM. “Tôi luôn luôn nói sự thất”, - với lời thoại này, Valentina đã một lần và trọn đời bước vào cuộc sống của Ximonop; ngay cả khi hai người đã chia tay, nàng vẫn giữ nguyên cho mình chỗ đứng trong trái tim ông. Về sau, Ximonop có viết về ngày gặp gỡ đó : “ngay cả khi rủa nguyền ngày biệt ly cùng em, anh vẫn tụng ca ngày lần đầu ta gặp gỡ ...”. Lúc đó nàng đã là một nhân vật nổi tiếng bởi cạnh ngộ góa bụa bi thảm và vai diễn trong “Cô gái có tính cách”. Hai tâm hồn đều đa cảm và lãng mạn gặp nhau như rơm khô gặp lửa : chẳng gì có thể ngăn cản được mối tình bùng như bão tố giữa chàng văn sĩ chưa vợ và người đàn bà goá “trông mòn con mắt”. Rất sóng, rất mâu thuẫn và đầy thăng trầm – đó là tính chất mối quan hệ đó, làm Ximonop cực kỳ đau đớn và dằn vặt, nhưng đã giúp ông viết được chùm thơ tình vào loại hay nhất của nền thơ Xô viết thế kỷ XX. Trên đường công tác, qua các ga xép, ông nhớ về người tình: “Giá ở giữa đám đông qua lại, Tìm được người lạ lẫm nào đây, Không chung thuỷ giống như em ấy ...”. Ông thề thốt với nàng : “Phải anh chắc bướng hơn tất cả, Anh không nghe thiên hạ đặt điều, Và không đếm trên ngón tay những kẻ, Gọi em bằng hai chứ “Em yêu!” và “Hãy tới cùng anh, dù chỉ mang điều ác, Mặc người đời nói ngả nói nghiêng, Anh đã tự khép cho mình án, Sống chung thân cùng em!...” Ximonop đã dành cho người tình rất nhiều tác phẩm của mình, bắt đầu từ vở kịch đầu tay “Chuyện một tình yêu” đến giữa những năm 50, ông dành toàn bộ sáng tác của mình cho Xerova. Nàng là nhân vật chính và duy nhất trong tập thơ trữ tình hay nhất của ông “Với em và thiếu em”, là “nàng thơ” của ông. Nàng là biểu tượng của những hay ho trần thế đáng giá nhất đối với ông, mặc dầu trong đời thực, có lẽ chưa ai làm ông khốn đốn đến thế.

serova__1.jpg

Valentina Serova
Nguồn: http://www.peoples.ru/art/cinema/actor/serova/serova__1.jpg

Là một nữ nghệ sĩ, Xerova không tránh khỏi những phù hoa truyền kiếp. Là nhà văn, Ximonop hiểu điều này hơn ai hết; những bài thơ ông viết tặng nàng chứng tỏ ông luôn “đi guốc” trong bụng người tình. Ông chỉ không thể nào lý giải nổi, vì sao nàng lại hoá thành thân quí và chẳng gì, chẳng ai thay thế được đối với ông. Ông luôn linh cảm rẳng chỉ ccần ông rời khỏi cửa là người đàn bà ông yêu - người đàn bà đêm rồi cất rất thành thật thét tiếng yêu ông - sẽ có thể lòng bay bổng. Nàng yêu ai cũng thành thật và cái thành thật trẻ thơ ấy khiến cho cánh mày râu, nhất là những người đàn ông cứng cỏi, phải mềm lòng. Không ngẫu nhiên, mà khi chiến tranh vừa diễn ra có mấy ngày, từ chiến trường Ximonop đã phải viết ngay “Đợi anh về”. Người đàn ông đầy bản lĩnh và từng trải này đã phải viện đến lý lẽ cuối cùng để thuyết phục người tình: Em ơi, hãy đợi anh về nhé, vì chỉ có sự đợi chờ của em mới cứu được anh khỏi hi sinh ngoài chốn sa trường! Cảm động thật, nhưng cũng bi thảm làm sao!

Nhưng biết làm sao khi người nữ nghệ sĩ ấy chỉ yêu được những gì gần mình! Trong lúc Ximonop quắt quay long nhớ nàng từ chiến trường xa “Anh ở đây không tâm sự cùng ai, Và ít nhắc tên em thành tiếng, Nhưng ngay cả khi anh không hề nói, Im lặng này cũng hướng hết về em”, thì Valentina trong những chuyến du diễn lại làm vô số những người đàn ông - rất chân chính hẳn hoi- phải lòng nàng mê mệt. Trong số những người đàn ông đó có một vị nguyên soái: Konstantin Rokoxxoxki (1896-1968). Hai người làm quyen với nhau khi Xerova ra chiến trường để diễn năm 1943. Mối tình ngoài chiến tuyến kéo dài không lâu. Cả hai đều đang có vợ có chồng, vị thế của ông nguyên soái và danh tiếng của nàng diễn viên không cho phép họ gắn bó hôn nhân cùng nhau. Với Valentina, đó chỉ là một kỷ niệm, vui vẻ và lãng mạn, nhưng đối với trái tim sắt đá của ông nguyên soái tài ba, đó là nỗi ám ảnh đến cuối đời. Inna Macarova, một nữ diễn viên cũng rất nổi tiếng nhưng thuộc thế hệ đàn em của nàng, có kể lại rằng, có bận, Valentina đã đánh cuộc với bạn diễn là cứ đúng 5 giờ chiều, trước cửa sổ phòng trang điểm tại nhà hát của nàng sẽ xuất hiện một “người hâm mộ” rất nổi tiếng. Quả thật, đúng 5 giờ chiều, phía dưới cửa sổ phòng trang điểm của nàng có một cỗ xe bóng lộn dành cho các quan chức cao cấp. Từ đó bước ra một người đàn ông mang quân phục nguyên soái. Ông đứng nghiêm tại đó mấy phút liền với niềm sùng kính rồi mới lên xe đi về nhà mình. Đó là Rokoxxoxki, người đàn ông luôn nhìn lên cửa sổ người tình nông nổi bằng đôi mắt buồn bã.

Những tin đồn đại về chuyện trăng hoa của Xerova không sớm thì muộn đều đến tai Ximonop. Thế nhưng, ông vẫn yêu nàng, dẫu không phải tình yêu lúc nào cũng bằng phẳng. Và ông đã viết thẳng cho bà trong thơ: “Đâu phải anh không nhớ dai điều ác, Nên anh thường tha thứ em luôn”. Kể cũng tội, cả hai đều là những tính cách quá mạnh để có thể tự hi sinh mình vì người khác. Sau chiến tranh, họ lại trở về Moscow sống cùng nhau như một đôi vợ chồng văn nghệ sĩ thượng lưu, luôn là chủ đề cho những tin đồn đại.
Mãi cho đến giữa những năm 50, Ximonop cuối cùng mới cảm thấy mình không còn là cậu học viên trẻ trung nữa để tiếp tục chịu đựng tính khí của người đàn bà tài năng và nổi tiếng luôn dấn mình vào các cuộc phiêu lưu tình ái. Những thề thốt tuổi thanh niên đã chẳng thể giữ lại được đến cùng. Và hai người chia tay nhau đầy đau đớn. Cô con gái cưng của họ, Maria Ximonova, nhớ lại, chỉ sau khi chia tay với Ximonop rồi, Valentina mới hiểu, ông đã giá trị thế nào đối với nàng!. Xerova trong cảnh cô đơn thường giở lại những trang thơ mà Ximonop đã gửi tặng nàng trước kia. Maria nhớ lại: “Mẹ tôi ngồi, sắp xếp lại giấy gờ, thầm thì đọc gì đó. Rồi bà ngẩng đầu lên, nói với tôi, thở dài:

-Masa, con có muốn mẹ đọc cho con nghe thơ của cha con không, những bài thơ chắc là ông ấy quên rồi!
Rồi bà nói tiếp như chỉ riêng với mình:

-Mà không, ông ấy không quên đâu, ông ấy không dám quên đâu! Không dám quên đâu!
Rồi bà im bặt, mắt nhắm lại. Và tôi nhìn thấy những giọt lệ trào ra. Tôi cảm thấy những giọt lệ này không chân thành, giả dối; tôi căm thù mẹ tôi khi bà say rượu, tôi không muốn bà đọc thơ cho tôi nghe”.

Kể cũng tội, một nghệ sĩ lớn khi bị người đàn ông từng yêu quí mình nhất, từng khắc tên mình vĩnh cữu vào thơ, bỏ đi, thì còn biết làm gì hơn ngoài việc uống rượu, tìm những niềm an ủi trong ánh hào quang tưởng tượng của hạnh phúc quá vãng?!

Bản thân Ximonop chắc cũng chẳng vui vẻ gì khi chia tay với người đàn bà từng ám ảnh ông suốt thời trai trẻ và đến tận ngày cuối cùng của kiếp trần gian. Ông đau đớn và thất vọng với kết cục cuộc tình đến nỗi, trong những lần tái bản thơ, ông xoá hết những dòng đề tặng. Chỉ trừ ở bài “Đợi anh về”. Có lẽ dù sao ông cũng không dám động đến tượng đài cuối cùng kỷ niệm nỗi đau lớn lao của mối tình giữa họ.
Cũng theo lời con gái Maria của hai người, trước khi chết, Ximonop đã bảo con mang đến những lá thư mà ông từng viết cho bà vào bệnh viện. Ông đót những bức thư đó và nói với Maria:

-Con biết không, đã bao nhiêu năm trôi qua ... Vậy mà cha đọc lại chúng mà ngỡ như cha vừa mới viết chúng xong ... Cha đốt chúng để không một bàn tay nào khác được chạm vào chúng sau khi cha chết.
Rồi ông nói tiếng:

-Cha không thể để cho con giữ chúng được. Thiếu gì chuyện có thể xảy ra, mà những chuyện này chỉ liên quan đến cha và mẹ con thôi. ... Hãy tha lỗi cho cha, con gái yêu, nhưng những gì xảy ra giữa cha và mẹ con đã là hạnh phúc lớn nhất đời cha ... và là nỗi bất hạnh lớn nhất !

Ximonop qua đời năm 1979, sau Valentina 4 năm.

Tác giả bài viết: nhà thơ Hồng Thanh Quang
 
Đây là bản Tiếng Anh của bài thơ " Đợi anh về" của K.Simonov.

[size=18:a0160a34d3]Wait for me[/size]
To Valentina Serova

Wait for me, and I'll come back!
Wait with all you've got!
Wait, when dreary yellow rains
Tell you, you should not.
Wait when snow is falling fast,
Wait when summer's hot,
Wait when yesterdays are past,
Others are forgot.
Wait, when from that far-off place,
Letters don't arrive.
Wait, when those with whom you wait
Doubt if I'm alive.
Wait for me, and I'll come back!
Wait in patience yet
When they tell you off by heart
That you should forget.
Even when my dearest ones
Say that I am lost,
Even when my friends give up,
Sit and count the cost,
Drink a glass of bitter wine
To the fallen friend -
Wait! And do not drink with them!
Wait until the end!
Wait for me and I'll come back,
Dodging every fate!
"What a bit of luck!" they'll say,
Those that did not wait.
They will never understand
How amidst the strife,
By your waiting for me, dear,
You had saved my life.
How I made it, we shall know,
Only you and I.

1941
 
Và đây là bản dịch của nhà thơ Tố Hữu. Bài thơ này được phổ biến rất rộng rãi ở Việt Nam, nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nó được chép trong rất nhiều các sổ tay thơ của cả một thế hệ thanh niên thời đó & có tác động rất lớn trong hệ tư tưởng. Nhờ nó mà biết bao nhiêu người phụ nữ Việt Nam có thêm động lực, vượt qua bao gian khó hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình để chờ đợi người chồng, người yêu trở về trong ngày chiến thắng.

[color=blue:bec0fcd638][size=18:bec0fcd638]Đợi anh về[/size][/color]

Em đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có dài lê thê
Em ơi em cứ đợi.

Dù tuyết rơi gió nổi
Dù nắng cháy em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi anh về em nhé !

Tin anh dù vắng vẻ
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi người về
Thì em ơi cứ đợi !

Em ơi em cứ đợi
Dù ai nhớ thương ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại
Hết mong anh trở lại
Dù bạn viếng hồn anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì em ơi mặc bạn
Đợi anh hoài em nghe
Tin rằng anh sắp về !

Đợi anh anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ

Nào có biết bao giờ
Bởi vì em ước vọng
Bởi vì em trông ngóng
Tan giặc bước đường quê
Anh của em lại về.

Vì sao anh chẳng chết?
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu em ơi
Chỉ vì không ai người
Biết như em chờ đợi.

Tố Hữu
 
Minh up lai bai tho cua Симонов К. bang tieng Nga boi se co nhung nguoi cung nhu minh thich cam nhan tho bang chinh ngon ngu nuoc do
* * *
Жди меня, и я вернусь.
Только очень жди,
Жди, когда наводят грусть
Желтые дожди,
Жди, когда снега метут,
Жди, когда жара,
Жди, когда других не ждут,
Позабыв вчера.
Жди, когда из дальних мест
Писем не придет,
Жди, когда уж надоест
Всем, кто вместе ждет.

Жди меня, и я вернусь,
Не желай добра
Всем, кто знает наизусть,
Что забыть пора.
Пусть поверят сын и мать
В то, что нет меня,
Пусть друзья устанут ждать,
Сядут у огня,
Выпьют горькое вино
На помин души...
Жди. И с ними заодно
Выпить не спеши.

Жди меня, и я вернусь,
Всем смертям назло.
Кто не ждал меня, тот пусть
Скажет: - Повезло.
Не понять, не ждавшим им,
Как среди огня
Ожиданием своим
Ты спасла меня.
Как я выжил, будем знать
Только мы с тобой,-
Просто ты умела ждать,
Как никто другой.
1941
 
Trên kênh 1 truyền hình Nga có một chương trình khá xúc động về tìm kiếm những người thân. Người ta đặt tên chương trình là [size=18:2ddd35f050]Жди меня[/size]- có lẽ là do gợi ý của bài thơ trên.

Có bác nào có bài thơ (tiếng Nga) của Симонов. К viết tặng Tố Hữu không? (Thơ tôi chết trong bản dịch của anh)
 
Thế anh có bản tiếng Việt không? Em chỉ tìm được bản tiếng Nga thôi

http://www.fplib.org/literature/20century-4/simonov/simonov5.2a7.html(opt,mozilla,mac,russian,koi8,new)

Симонов К.

ТОВАРИЩУ ТО ХЫУ,
КОТОРЫЙ ПЕРЕВЕЛ "ЖДИ МЕНЯ"


Я знаю, здесь мои стихи живут
В прекрасном Вашем переводе.
И будут жить, покуда жены ждут
Тех, кто в походе.

Уж четверть века пушки бьют и бьют!
И вдовы на могилы ходят,
И, ждя живых, мои стихи живут
В прекрасном Вашем переводе.

Скорей бы наступил тот год
На длительном пути к свободе,
Когда стихи, как люди, свой поход
Закончат в Вашем переводе.

Пусть в этот день, когда уже не ждут
С войны людей и - тишина в природе,
Мои стихи, легко вздохнув, умрут
В прекрасном Вашем переводе.


1970
 
Bản dịch tiếng Việt chỉ nhớ láng máng thôi Nina ạ. Cảm ơn vì bản tiếng Nga nhé.
 
Em cũng chỉ nhớ láng máng, khổ thế, mà lại chẳng nhớ ai dịch nữa, đại khái
Thơ tôi sẽ chết
trong bài thơ anh dịch tuyệt vời

Tìm trên net thì không có, có một bài trên trang chính nước Nga thì chỉ dịch nghĩa chứ không dịch thơ
 
Một bản dịch nữa của nhà thơ Hồng Thanh Quang, đương nhiên em chỉ trích phần liên quan đến bài thơ "Đợi anh về".

http://www.cand.com.vn/vi-vn/vanhoathethao/tanman/2005/9/62231.cand
[size=18:67718efdcf]Thoát hiểm nhờ tín nghĩa[/size]

Trong đạn lửa, người lính cần gì nhất? Có lẽ không chỉ là lương thảo, đạn dược. Khi đối mặt với kẻ thù, mỗi một đấng mày râu cần nhất là sự tin tưởng tuyệt đối về hậu phương, về lòng chung thủy của vợ, của ý trung nhân. Cứu ta ra khỏi chết chóc không phải là thắng lợi của vũ khí, mà chính là một chữ tín lắm khi không thể lý giải rành rẽ được.



Nhà thơ Xôviết Konstantin Simonov (1917-1979) đã viết rất hay về điều đó trong khúc tuyệt tình "Đợi anh về" tặng nữ nghệ sĩ Valentina Serova. Và ở nước ta, nhà thơ Tố Hữu đã dịch bài thơ đó (từ bản tiếng Pháp) rất thành công sang Việt ngữ.

Tôi từ hàng chục năm nay không dám dịch lại Đợi anh về vì những ấn tượng tuổi nhỏ quá sâu sắc về bản dịch của nhà thơ Tố Hữu. Ngay trong tuyển tập thơ Simonov Gửi người con gái xa xôi mà tôi chuyển ngữ và in tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cuối năm 1996 nhờ sự giúp đỡ của anh bạn vong niên Lê Huy Hòa, Đợi anh về vẫn là bản dịch cũ của Tố Hữu (được xếp vào phần phụ lục). Chỉ nhờ một ngẫu hứng mà giờ đây tôi mới có được bản dịch Đợi anh về của mình thực hiện từ nguyên bản tiếng Nga.

Tôi không nghĩ rằng bản dịch của tôi có thể so sánh được với bản dịch của nhà thơ tiền bối nhưng trong những phút buồn rầu, khi phải chứng kiến những cảnh không trung hiếu nghĩa tín, giở chồng sách cũ của mình ra đọc, tôi đọc lại những gì mình đã dịch và cảm thấy xúc động. Và tôi muốn chia sẻ cùng những đọc giả quen thuộc của chuyên mục "Văn hóa cuối tuần":

"Đợi anh, anh sẽ về,
Hãy đợi chờ anh nhé.
Hãy đợi, mặc dầm dề
Mưa giăng buồn tái tê,
Hãy đợi, mặc tuyết giá,
Hãy đợi, dù nắng nôi,
Dù mọi người hết đợi,
Hôm qua quên lãng rồi.
Hãy đợi, dù xa ngái
Chẳng tới một dòng thư,
Hãy đợi, dầu tất cả
Đã chán chê đợi chờ.

Đợi anh, anh sẽ về,
Chớ mong chi điều phúc
Cho tất cả ai người
Nghĩ giờ, quên phải lúc.
Dù con ta, mẹ ta
Đều tin rằng anh chết,
Dù bạn chờ đã mệt,
Bên bếp lửa quây quần
Sẽ cạn men rượu đắng
Tưởng niệm một linh hồn...

Đợi anh. Và cùng bạn
Chớ nâng ly vội vàng.

Đợi anh, anh sẽ về,
Chẳng xá gì chết chóc.
Mặc ai đó không ngờ,
Thốt lời: May được thoát!

Không đợi, làm sao biết
Giữa bão đạn mưa bom
Bằng mong ngóng chờ trông
Em cứu anh khỏi chết.
Anh nhờ đâu sống sót,
Mỗi hai mình hiểu thôi,
Chỉ vì em biết đợi
Khác ai ai trên đời...

Làm sao anh khỏi chết?
Đơn giản thôi em ơi,
Bởi không có ai người,
Biết như em chờ đợi..."

"Đợi anh về" là một bài thơ rất hay về tín nghĩa thời chiến. Đó là hy vọng, khát khao của những người trai khi ra sa trường. Và có thể tin rằng, phụ nữ rất thấu hiểu tâm sự đó. Chữ tín với phụ nữ hay với đàn ông cũng đều quan trọng. Và không chỉ một phụ nữ hiểu rõ thiên chức của mình: Chờ đợi sắt son!
 
Tớ có đọc bài này trên báo in từ hơn một tuần trước, thú thực là bác HTQ làm tớ nhớ cụ Tố Hữu nhiều hơn.
 
Nina nói:
Симонов К.

ТОВАРИЩУ ТО ХЫУ,
КОТОРЫЙ ПЕРЕВЕЛ "ЖДИ МЕНЯ"


Я знаю, здесь мои стихи живут
В прекрасном Вашем переводе.
И будут жить, покуда жены ждут
Тех, кто в походе.

Уж четверть века пушки бьют и бьют!
И вдовы на могилы ходят,
И, ждя живых, мои стихи живут
В прекрасном Вашем переводе.

Скорей бы наступил тот год
На длительном пути к свободе,
Когда стихи, как люди, свой поход
Закончат в Вашем переводе.

Пусть в этот день, когда уже не ждут
С войны людей и - тишина в природе,
Мои стихи, легко вздохнув, умрут
В прекрасном Вашем переводе.


1970

Gửi đồng chí Tố Hữu, người dịch "Đợi anh về"

Tôi biết bài thơ tôi đang sống
Trong bản dịch tuyệt vời của anh
Và còn sống khi chinh phụ còn trông ngóng
Những người đang quân hành

Súng vẫn nổ một phần tư thế kỷ!
Các quả phụ vẫn đi viếng mồ xanh
Thơ tôi còn sống, hễ còn người chờ đợi
Trong bản dịch tuyệt vời của anh

Mong làm sao sớm có ngày ấy
Trên đường dài đến với tự do
Khi thơ tôi như mọi người, tất thảy
Chấm dứt hành quân trong bản dịch của anh

Rồi đến ngày sẽ không ai chờ đợi
Người trở về từ chiến tranh
Thiên nhiên yên lành
Thở nhẹ nhàng, thơ tôi sẽ chết
Trong bản dịch tuyệt vời của anh

Nói thêm: Chắc hẳn đã có người dịch bài thơ này rồi nhưng tôi không có bản dịch đó trong tay, xin dịch tạm để các bạn cùng tham khảo.
 
hungmgmi nói:
Tớ có đọc bài này trên báo in từ hơn một tuần trước, thú thực là bác HTQ làm tớ nhớ cụ Tố Hữu nhiều hơn.

Em cũng thấy thế, nhưng không nói ngay sợ mọi người cụt hứng

Phanhoamay nói:
Tôi biết bài thơ tôi sẽ sống
Trong bản dịch tuyệt vời của anh
Và còn sống khi chinh phụ còn trông ngóng
Những người đang quân hành

Rất cám ơn anh Phanhoamay về bản dịch này nhé. Em chỉ xin góp ý anh (hay là ông, sao bác để 75 tuổi làm em băn khoăn quá :D) một chút xíu thôi. Ở khổ thơ đầu Ximonov viết

Я знаю, здесь мои стихи живут
В прекрасном Вашем переводе.

cho nên theo em nên để là

Tôi biết bài thơ tôi đang sống
 
Sau khi đọc bản dịch của bác Phanhoamay thì em cũng xuất ra một bản dịch bị ảnh hưởng nặng của bác :D

Tôi biết nơi đây thơ tôi đang sống
Trong bài thơ anh dịch tuyệt vời
Và còn sống khi người ta vẫn đợi
Những người chồng đang tiếp tục hành quân

Hai mươi lăm năm đại bác vẫn gầm
Những quả phụ vẫn đi viếng mộ
Và thơ tôi sống, khi người ta vẫn đợi
Trong bài thơ anh dịch tuyệt vời

Trên đường dài đến với tự do
Vẫn mong sao đến ngày mơ ước ấy
Khi thơ cũng như người được nghỉ
Trong bài thơ anh dịch tuyệt vời

Và ngày ấy chiến tranh không ai nhớ
Tất thảy bình yên trong cả đất trời
Thì thở nhẹ, thơ tôi sẽ chết
Trong bài thơ anh dịch tuyệt vời
 
Anh không thích câu "Trong bài thơ anh dịch tuyệt vời" lắm, nhất là ở khổ đấu:

[color=blue:2ee384745d]Tôi biết nơi đây thơ tôi đang sống
Trong bài thơ anh dịch tuyệt vời [/color]

Không biết làm gì thì cũng cố chen vào ý kiến ý cò chút vậy :roll:
 
Hihi, cái này là ảnh hưởng của cái nhà thơ nào đã dịch bài này đấy anh NguyenAnh ạ, :), tóm lại tất cả những câu thơ dở đều là do em lấy của người khác cả :D, mà hình như chẳng có câu nào của em :D

Tuy nhiên, có lẽ là câu ấy muốn nhấn mạnh rằng bản dịch của Tố Hữu không chỉ đơn thuần là một bản dịch, mà là một bài thơ thật sự
 
Về ông - [size=18:fba2adcd33]Константин Симонов[/size]

Rung_bach_duong xin được kể rõ thêm một chút về cuộc đời của nhà thơ Константин Симонов. :)

K.jpg


Là một nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch, biên kịch, nhà báo, nhà hoạt động xã hội tích cực, Konstanchin Simonov sinh ngày 28/1/1915 tại Petrograd. Thời thơ ấu của ông trải qua tại Riazani và Xaratov. Ông được nuôi dưỡng bởi người cha dượng là giảng viên trường trung cấp quân sự. Năm 1930, sau khi kết thúc trường trung học hệ 7 năm tại Xaratov ông học nghề tại một phân xưởng tiện. Năm 1931 ông cùng gia đình người cha dượng chuyển đến Maxcova. Tốt nghiệp ngành cơ khí chính xác, ông về làm việc tại nhà máy chế tạo máy bay đến năm 1935 và từ đây ông bắt đầu viết thơ. Những tác phẩm đầu tiên được xuất hiện từ năm 1934 và những bài thơ đầu của ông đã được đăng năm 1936 ở hai tạp chí “Người chiến sĩ” và “Tháng Mười”. Sau đó ông học đại học tại trường đại học Triết Văn Sử mang tên Н.Г. Чернышевского (МИФЛИ), tiếp đó là trường viết văn Macxim Gorki. Ông tốt nghiệp năm 1938, sau khi tốt nghiệp ông làm nghiên cứu sinh tại trường ĐH Triết Văn Sử (МИФЛИ). Tuy nhiên năm 1939 ông được cử đi làm phóng viên quân sự tại Mông cổ và sau đó ông không quay lại trường nữa. Năm 1940 ông viết kịch bản “Lịch sử một tình yêu” và được diễn ra mắt tại nhà hát им. Ленинского комсомола. Vợ ông – như các bạn đã đọc tại bài báo của Hồng Thanh Quang ở trên bà là nữ diễn viên xinh đẹp. Chồng cũ của bà là phi công Анатолий Серов, đã hy sinh trong chuyến bay thử nghiệm và được công nhận là anh hùng Liên Xô.

Konstanchin Simonov đã phục vụ trong quân đội ngay từ những ngày đầu của chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Ông là phóng viên thường trú của những tờ báo nổi tiếng Красная Звезда", "Правда", "Комсомольская правда", "Боевое знамя" ... Trong những năm làm báo quân đội ông có mặt tại nhiều chiến trường như Rumania, Bungaria, Nam tư, Ba lan, Đức. Ông là nhân chứng chứng kiến những trận đánh cuối cùng vì Beclin. Sau chiến tranh trong vòng 3 năm ông đi công tác nước ngoài tại Nhật, Mỹ, Trung Quốc. Năm 1946 -1950, ông là biên tập viên chính tạp chí “Thế giới mới”. Năm 1950- 54 là biên tập viên của Báo Văn học, năm 54 -58 lại một lần nữa là biên tập viên của tạp chí “Thế giới mới”. Những năm 1958 -1960 ông sống tại Tasken và là phóng viên báo Sự thật, phụ trách khu vực Trung Á. Ông mất vào ngày 28/8/1979 tại Matxcova. Tro của ông, theo nguyện vọng cá nhân được rải khắp những nơi mà ông đã đi qua trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

Cả cuộc đời ông cống hiến cho thơ. Tuy nhiên, cuộc đời của ông khá buồn, cô đơn bên người vợ xinh đẹp mà chẳng chung tình. Nhưng bà lại là nguồn cảm hứng để ông viết lên những trang thơ hay cho nhân loại. Giữa những năm 50 không thể chịu nổi hơn nữa cách sống của người đàn bà tài năng nổi tiếng luôn dấn mình trong những cuộc phiêu lưu tình ái, ông đã chia tay bà. Sự ra đi của ông làm người đàn bà đa tình này sốc và bà đã bị dằn vặt mãi cho đến tận lúc mất. Ngoài bài thơ “Đợi anh về” nổi tiếng được công chúng biết rộng rãi, ông còn rất nhiều bài thơ tình tặng vợ. Nhân đây rung_bach_duong xin giới thiệu với các Pác một trong những bài thơ tình của ông mà rung_bach_duong rất thích. Nhưng tớ không biết dịch thành thơ :oops: mời các Pác dịch nhé

[size=18:fba2adcd33]Ты говорила мне «люблю»,[/size]

[color=blue:fba2adcd33]Ты говорила мне «люблю»,
Но это по ночам, сквозь зубы.
А утром горькое «терплю»
Едва удерживали губы.

Я верил по ночам губам,
Рукам лукавым и горячим,
Но я не верил по ночам
Твоим ночным словам незрячим.

Я знал тебя, ты не лгала,
Ты полюбить меня хотела,
Ты только ночью лгать могла,
Когда душою правит тело.

Но утром, в трезвый час, когда
Душа опять сильна, как прежде,
Ты хоть бы раз сказала «да»
Мне, ожидавшему в надежде.

И вдруг война, отъезд, перрон,
Где и обняться-то нет места,
И дачный клязьминский вагон,
В котором ехать мне до Бреста.

Вдруг вечер без надежд на ночь,
На счастье, на тепло постели.
Как крик: ничем нельзя помочь!—
Вкус поцелуя на шинели.

Чтоб с теми, в темноте, в хмелю,
Не спутал с прежними словами,
Ты вдруг сказала мне «люблю»
Почти спокойными губами.

Такой я раньше не видал
Тебя, до этих слов разлуки:
Люблю, люблю... ночной вокзал,
Холодные от горя руки.
1941[/color]
cekaj_me1.jpg
 
Em đã nói “Yêu anh”

Em thường vẫn nói “Yêu anh”
Thì thầm kẽ răng đêm vắng
Sáng ra, riêng lời cay đắng
“Chán anh!” – em không thốt ra

Môi em, anh rất tin mà,
Cả đôi tay em dịu nóng
Nhưng những lời không hình bóng
Đêm đêm, anh chẳng hề tin

Biết em không hề dối anh
Yêu anh, thực lòng em muốn
Dối lừa là khi đêm xuống
Thể xác chế ngự tâm hồn

Sáng ra, khi tỉnh táo hơn
Tâm hồn lại thành mạnh mẽ
Với anh, đang chờ đợi thế
Sao em không nói lời yêu?

Rồi chiến tranh, sân ga, chuyến tàu
Nơi không tiện ôm nhau từ biệt
Anh phải kịp đi Brest
Trên một toa tàu hạng sang (*)

Tối đó, khi không tơ màng
Sẽ được chui vào chăn ấm
Bỗng nhiên, trời ơi, đằm thắm
Nụ hôn trên áo lính dài

Và giống như xưa, những lời
Thốt ra trong đêm, ngây ngất
Với đôi môi bình thản nhất
Em nói rằng “Em yêu anh!”

Anh chưa bao giờ thấy em
Như lần nói lời giã biệt
Yêu, yêu… nhà ga, anh biết
Đôi tay lạnh buốt khổ đau

(*) Dịch thoáng, thực ra là tên toa tàu thường chạy đến một khu nhà nghỉ.
 
Bái phục bạn PHM, cả cách dịch và thời gian dịch,
Xin lỗi, bạn làm nghề gì nhỉ? Câu hỏi này đâu có khó?
 
Số phận của hai bài thơ viết về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại

“Ðợi anh về” của nhà thơ K.Simonov và “Ðàn sếu” của nhà thơ R.Gamzatov - một được sáng tác ngay sau khi quân đội Hitler tiến công Liên Xô, một được sáng tác khi cuộc chiến tranh đẫm máu nhất thế kỷ 20 đã lùi xa 25 năm, nhưng đều trở thành bất tử trong số nhưng bài thơ viết về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại. Trong những năm chiến tranh giữ nước vĩ đại nhà thơ K.Simonov làm phóng viên mặt trận. Ông viết bài thơ “Ðợi anh về” vào tháng 7-1941 ngay sau khi quân đội Hitler tiến công Liên Xô để tặng người yêu của mình. Ðây là một trong những bài thơ tình hay nhất được viết trong những năm chiến tranh. Sau khi được đăng trên báo Pravda, “Ðợi anh về” lập tức trở thành bùa hộ mệnh của hàng triệu chiến sĩ Hồng quân Liên Xô. Hầu hết các chiến sĩ và sĩ quan đã chép bài thơ vào sổ tay riêng. Không chỉ những chiến sĩ Hồng quân. Hàng triệu người dân trên đất nước Xô-viết và nhiều nơi khác trên hành tinh đã nhắc lại nhiều lần những dòng tha thiết và đầy cảm động của nhà thơ Simonov như niệm thần chú. Bài thơ chứa đựng tình cảm của những những người bị chia lìa bởi chiến tranh. Nữ nghệ sĩ E.Visnievskaia, người từng phục vụ trong một đơn vị nghệ thuật ngoài mặt trận trong những năm chiến tranh đã kể lại: "Tính chân thật và nồng thắm của bài thơ đã chinh phục tôi ngay sau khi đọc bài thơ. Tôi cảm thấy tình cảm trong “Ðợi anh về” như hòa nhập vào hồn tôi. Có một lần khi biểu diễn ngoài mặt trận cả đoàn nghệ thuật bị bao vây và sau đó tất cả các nghệ sĩ bị bọn Ðức dồn vào một trại lao động. Một hôm nữ nghệ sĩ Visnievskaia đọc bài thơ “Ðợi anh về” trước các tù nhân ở trại lao động này gồm những người Nga, Ucraine, Ba Lan, Pháp. Những câu thơ: "Em ơi, đợi anh về. Ðợi anh hoài em nhé. Mưa có rơi dầm dề. Ngày có dài lê thê. Em ơi, Em cứ đợi. Dù tuyết rơi gió nổi. Dù nắng cháy em ơi. Bạn cũ có quên tôi... Thì em ơi cứ đợi... Ðợi anh, anh lại về. Trông chết cười ngạo nghễ. Ai ngày xưa rơi lệ. Hẳn có chuyện tình cờ. Nào có biết bao giờ. Bởi vì em ước vọng. Bởi vì em ngóng trông... Anh của em lại về" như có sức lan tỏa vào trái tim của từng người và ai nấy đều cảm động đến rơi lệ. Ðã có hơn 300 bài hát được sáng tác dựa trên lời bài thơ “Ðợi anh về”, trong số 300 tác giả có những nhạc sĩ Nga nổi tiếng thời đó. “Ðợi anh về” cũng đã được phổ thành bài hát ở Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài “Ðợi anh về” của nhà thơ Nga cũng đã được nhiều chiến sĩ Việt Nam học thuộc coi như một món ăn tinh thần giúp họ tự tin và vững tâm trong chiến đấu. Ðúng như Simonov đã viết: "Sự chung thủy đợi chờ của bao người vợ, người yêu đã tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ". Còn bài thơ “Ðàn sếu” do nhà thơ R.Gamzatov viết vào năm 1970, khi cuộc chiến tranh đẫm máu nhất thế kỷ 20 lùi xa được 25 năm và chỉ còn lại trong ký ức con người như một trang sử khủng khiếp. Thi phẩm đã trở thành điếu ca nổi tiếng về những người lính đã hy sinh. Khi còn sống nhà thơ Gamzatov đã đề xuất Ngày tưởng niệm Ðàn Sếu Trắng hằng năm được tiến hành tại nước CH Dagestan thành ngày tưởng niệm toàn thế giới. Nhưng sáng kiến của nhà thơ đã bị bác bỏ, vì lúc đó cả nước và thế giới mải quan tâm tới công cuộc cải tổ mà hệ quả là Liên Xô tan rã. Về thi phẩm này, trước lúc đi xa nhà thơ Gamzatov đã bộc bạch trên báo Nước Nga văn học tâm sự của mình như sau: - Tôi không ngờ qua vài thập niên sau khi tôi sáng tác, “Ðàn sếu” của tôi lại trở nên mang tính thời sự hơn. Chao ôi, biết bao nhiêu những người bạn và đồng hương của tôi đã hy sinh và hóa thân nhập vào đàn sếu. Trong thời hòa bình chúng ta đã mất rất nhiều người và những tin tức trên truyền hình hôm nay đôi lúc làm chúng ta nhớ đến những tin từ chiến trường trong những năm chiến tranh giữ nước vĩ đại đầy khốc liệt. Ðàn sếu của tôi cũng đã bay vượt khỏi biên giới nước Nga và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Tôi rất cảm ơn dư luận coi “Ðàn sếu” là hiện tượng cuộc sống. Có thể vì thế, bài thơ này đã lôi cuốn dịch giả N.Grebnev đã dịch rất hay từ tiếng A-va ra tiếng Nga và sau đó nhạc sĩ I.Prayken đã có công lớn trong việc phổ nó thành bài hát. Người đáng khâm phục nhất là danh ca, NSND M.Benet đã hát điếu ca này bằng tất cả nỗi xúc động sâu sắc từ trái tim mình. Giọng ca của anh vang lên trong mỗi căn nhà và lời ca đã trở nên rất đỗi gần gũi với tất cả những ai có người thân hy sinh và hóa thân nhập vào đàn sếu. Tôi-Gamzatov- chỉ có một phần rất khiêm tốn trong bài hát “Ðàn sếu”. Sáng tạo và diễn xuất bài hát Ðàn sếu là những con người tài năng mà thiếu họ thì không thể có bài ca tuyệt hay này. Cả những bạn đọc và nghe đài cũng tham gia tích cực vào việc tạo nên số phận tuyệt diệu của bài hát “Ðàn sếu”. Sự cổ vũ và tình yêu của họ đã làm cho bài hát trở thành của nhân dân. Ngày nay trên khắp nước Nga và cả ở nước ngoài đã bắt đầu xuất hiện những tượng đài kỷ niệm Ðàn Sếu Trắng. Ðã có hơn 30 tượng đài như vậy. Ðược biết nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày chiến thắng phát-xít tại Moscow sẽ xuất hiện một tượng đài tương tự. Ðàn sếu đang tiếp tục con đường của mình. ÐÀO HÙNG.
http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=43&sub=134&article=30989.
 
Back
Top