Thời thơ ấu gian khổ - Iamin Muxtaphin

Tanha ơi đã đọc được chưa? Sang bên thắc mắc góp ý kêu giúp mình với chứ post lên không đọc được thì phí công lắm.
 
....Trong tất cả bọn trẻ Taiset thì Côlia Xocolôp là người nổi tiếng say mê câu cá. Mùa hè, hầu như ngày nào cậu cũng ra câu ở sông Biruxa. Và khó mà bắt được cậu ta đi cắt cỏ, xới đất và vun khoai tây. Khi phải làm những việc này với người lớn,cậu ta suốt buổi cứ lặng thinh như giận ai.
Nhiều lần Vichia, Giamin và Gôga xin Côlia cho đi theo câu cá ban đêm, nhưng bao giờ cậu ta cũng lấy bộ quan trọng nói:
- Các cậu làm cá sợ chạy hết. Các cậu thì chỉ biết chơi đánh khăng và ném dao thôi. Không được, cá thích yên tĩnh...
- Cho bọn mình đi câu với, Côlia, bọn mình sẽ không làm ồn đâu. Mà cậu cũng đỡ vất vả chứ, bọn mình sẽ trông cho lửa không tắt, sẽ đi xem những dây câu cắm cho cậu...Còn cậu cứ việc ngủ - các cậu kia năn nỉ, thiết tha nhìn vào khuôn mặt thỏa mãn và đầy tàn nhang của bạn, dường như có ai rắc hạt kê chưa xát vỏ lên trên..
Rồi một hôm, sau nhiều lần năn nỉ như thế, Côlia lấy vẻ đàn anh, nhíu đôi lông mày nâu nhạt, nói:
- Thôi được, tớ cho đi. Các cậu đã thuyết phục được tớ. Nhớ mang cần câu đi theo!
Nhưng bọn mình kiếm đâu được cần câu? - Gôga hỏi.
- Chính cậu bảo là mùa xuân vừa rồi cậu đi câu với bố cậu cơ mà? Giamin ngạc nhiên hỏi - Bố cậu còn có cả dây câu cắm mà.
- Không sao, thiếu cần câu của cậu ấy cũng được - Vichia khoát tay nói - Chứ không cái tính keo kiệt của nó cũng hành cậu ấy chết.
Côlia cũng cho là Vichia nói về mình. Cậu ta nhăn nhó, quay người, nói như đã quyết định từ lâu:
- Cần câu sẽ có. Các cậu cứ đào giun đi. Đào ở những chỗ có phân đọng ấy, ở đấy giun to và béo. Đừng quên rắc một ít đất dưới đáy hộp.
Hôm sau, trời chưa tối, các cậu đã ở một nhánh của sông Biruxa. Nước sông vàng óng dưới ánh mặt trời sắp lặn,tràn vào các lạch như dòng kim loại bị nung chảy.
 
Cá Măng ơi, mình đọc được rồi, với lại mình copy ra rồi, nên thôi khỏi thắc mắc nữa vậy.
Cảm ơn Cá Măng nhé, cảm ơn rất nhiều ...
 
- Đi bắt ruồi trâu, nhanh lên. Cái giống cá trắm thích loại ruồi này lắm đấy! - Côlia ra lệnh và vứt chiếc túi xuống cạnh chiếc lều dựng tạm gần một cây bạch dương trên gò đất cao. - Ở đây ít ruồi nhặng hơn. Vì có gió mà! - cậu nói thêm.
- Nhưng làm thế nào mà bắt được? - Vichia hỏi.
- Thế nào, thế nào à? - Côlia nhại lại - Gôga, cởi áo ra. Cậu béo tròn trùng trục và nhẵn nhụi như một củ cải. Lại vừa đúng lúc cậu đang ra mồ hôi. Đứng dậy và không được động đậy. Chờ một phút rồi xem, sẽ có hàng đàn ruồi trâu đến bâu, chỉ có không kịp đập thôi. Cụ Cudia dạy mình bắt ruồi kiểu này đấy.
Gôga co ro như người bị hàng chục con ruồi to đang cắn..
- Nhưng thế thì chúng sẽ cắn đau chết.....
- Thế cậu tưởng chúng sẽ hôn cậu à?- rồi Côlia lấy giọng an ủi nói thêm: - Không sao, chúng cắn một tý thôi mà. Tai họa thật! Nhưng đến tối thì tha hồ mà chén cá trắm - vừa vuốt những chiếc cần câu, cậu ta vừa an ủi Gôga - Cá trắm mê ruồi trâu nhất đấy!
Vichia và Giamin định phản đối cái cách bắt mồi này nhưng nhìn thấy nét mặt nghiêm khắc của Côlia lại thôi.
Gôga cởi áo ra và đứng thẳng lưng.
- Còn các cậu thì đứng cạnh - Côlia bảo - Đừng đánh ngay. Cứ bình tĩnh để chúng tiêm nọc đã, nếu không chúng có thể bay mất.
Một phút, rồi hai phút trôi qua...
- Côlia này, không có con nào đến bâu cả - Gôga phấn khởi nói - Hay mình mặc áo vào nhé?
- Không! - Côlia cắt ngay - Chờ đấy, chúng sẽ đến bây giờ. Cậu nghĩ rằng cá nó tự vào tay cho cậu bắt đấy phỏng? Chính các cậu nài nỉ xin đi câu với mình cơ mà!
Vừa đúng lúc ấy Vichia đập đánh đét một cái vào lưng Gôga, bắt con đầu tiên:
- Này, to ghê! Chẳng khác gì con ong nhé?
- Nhưng đau quá...Cậu đập khẽ tí nữa không được hay sao? - Gôga nhăn nhó.
Bây giờ thì các cậu thi nhau lấy lòng bàn tay đập đen đét vào chiếc lưng sưng vù của Gôga. Cậu ta không còn cảm giác đau nữa, mà còn phụ theo một cách sung sướng:
- Xem này, Côlia, con này to chưa? Chắc là ruồi chúa.
- Ờ, béo lắm - Côlia gật đầu. Cậu cẩn thận xếp ruồi vào hộp sắt - Có điều các cậu phải đập cẩn thận! Những con gãy cánh thế này là không dùng được đâu. Cái giống cá trắm ranh lắm.
- Thế này chưa đủ à? - Vừa đập xong một con Gimin hỏi/
- Chưa. Xem chúng bay đến nhiều chưa kìa - Côlia sung sướng kêu lên - Ta tranh thủ bắt mồi luôn cho sáng mai.
Kinh nghiệm đã dạy cho cậu biết là sáng mai nhất định Gôga sẽ không đời nào chịu đứng bắt mồi thế này nữa.
- Gôga, mặc áo vào để mình đứng thay cho. Biết đâu lưng mình chúgn cũng thích cắn. Giamin đề nghị.
- Không sao, mình chịu quen rồi - Gôga đáp, nhưng lại vội vàng mặc áo vào.
Lưng cậu ta đỏ ửng như bị ai lấy cây tầm ma mà quất.
Lúc đầu tiếng đập nghe còn rụt rè, Côlia trách Gôga:
- Mình đã bảo là gắng chịu tý nữa. Có thấy không, đập vào lưng nó, mình cũng thấy thương hại.
Nhưng rồi một chốc sau, bàn tay của các cậu cũng thi nhau in hình lên chiếc lưng trắng của Giamin, làm nó trở nên đỏ hỏn như bị phơi dưới nắng gắt tháng sáu...
Hai bên bờ dòng sông nhánh đã ngả màu thẫm, như màu thép mới tôi. Côlia đi ngược dòng một quãng rồi tung xuống nước một nắm ruồi trâu bị đập nát bét. Khi các cậu tới ngang với chiếc lều thì mặt nước đã nổi gợn lăn tăn như có ai vừa vứt xuống một nắm sỏi nhỏ...
- Các cậu nhóm lửa, xách nước va kiếm củi đi! - Côlia hạ giọng ra lệnh. Ba cậu kia răm rắp làm theo.
Lần quăng câu đầu tiên đã thắng lợi. Côlia giật lên bờ một con cá trắm lưng đen, đặc sản của các dòng sông rừng tai ga, nặng gần nửa cân.
- Con đầu tiên nhé! - Cậu ta bình tĩnh nói.
Con cá nặng nề rơi xuống cỏ, lặng đi một lúc rồi vẫy vẫy chiếc vây sống lưng như chiếc quạt, óng ánh đủ tất cả các màu sắc của cầu vồng.
Côlia đã câu được khá nhiều cá trắm, nhưng mỗi lần câu được con nào, cậu cũng không hết ngạc nhiên trước vẻ đẹp của chúng, cái vẻ đẹp nhất thời, đầy sức quyến rũ. Bản thân cậu và cả cụ Cudia cũng không cắt nghĩa nổi tại sao khi mới bị lôi lên khỏi mặt nước cá trắm lại có vẻ đẹp lạ lùng như vậy.
Khi các cậu khác chạy lại thì con cá trắm đã ngả màu. Gôga hồi hộp hỏi:
- Có phải cậu câu được do ruồi trâu của mình không?
Côlia lặng thinh, khéo léo mắc một con ruồi nữa vào lưỡi câu, nhổ nuớc bọt lên nó, lẩm bẩm một điều gì đó và quăng xuống nước.
Một giờ sau, vừa xuýt xoa húp món cá ám từ chiếc xoong đang bốc hơi, Gôga vừa ngớt lời khen:
- Cả đời mình chưa bao giờ được ăn một bữa cá ám ngon như thế này!
- Thế này đã thấm gì, - Côlia lấy giọng kẻ cả nói. Cậu ăn một cách điềm đạm, đàng hoàng - Một lần mình với cụ Cudia nấu một nồi cá dày không thể tưởng được! Nấu cá dày xong, chắt nước, cứ thế ba lần. Và lần cuối thì luộc cá sộp. Được một nồi cá ám đặc sệt, cắm thìa vào cứ là đứng thẳng!
 
... Trời sẩm tối, các cậu đã đặt xong dây câu cắm ở những chỗ ngoặt của sông nhánh, nơi rừng taiga ăn ra sát tận nước, và rễ cây xoắn lấy nhau cắm xuống đáy cát dòng sông. Côlia biết là ở đó ban đêm thuờng hay câu được cá sộp, và nhiều khi cả cá lăng nữa.
- Thế còn đi xem những dây câu cắm thì thế nào? - Gôga hỏi, sợ hãi nhìn xung quanh. Ngay bây giờ trông cũng đã đủ rợn người rồi - trước mặt là dòng sông Biruxa hùng vĩ và bí ẩn, đằng sau là bóng những cây thông lâu đời chĩa thẳng lên trời, trông như những chiếc cột đồng ngả đen vì thời gian, dưới gốc là bụi rậm dày đặc chăng kín khắp nơi. Mùi hoa Maria có màu vừa chói vừa đỏ thẫm như hoa mẫu đơn làm chóng cả mặt. Những bông hoa có màu sắc khác thường này to dễ bằng đầu trẻ em, nhưng vì mùi như thế nên ít người hái chúng.
- Từng đứa một thay phiên nhau đi xem những dây câu cắm - im lặng một chốc, Côlia nói - Cố nhớ rõ đường đi. Chỗ nào cắm cọc là có dây câu cắm.
Dọc đường trở về lều, các cậu hái một túm hành dại giống lá cây linh lan và có mùi như mùi tỏi.
- Ăn nữa đi, loại hành này bổ ghê lắm - Côlia nói, vuốt tay lên đầu mình.
Đêm đến một cách chậm chạp. Mặt trời lơ lửng trên những ngọn đồi có hình cây nham nhở như lông nhím cho đến khi khuất hẳn. Mặt nước cũng miễn cưỡng biến đổi theo - lúc đầu ngả màu vàng, tiếp đến màu xanh nhạt, màu sẫm và cuối cùng thành màu chì xám.
Tiếng muỗi vo ve đến phát ngấy, như thể có ai không ngớt đập ngón tay vào những dây đàn đã đứt. Thân cây tùng lá rụng to rực cháy, bắn các đốm lửa ra chung quanh. Các cậu ngồi sát bên nhau trong lều, thỉnh thoảng lại lấy cành bạch dương xua muỗi.
Côlia là người đầu tiên đi xem dây câu cắm. Cậu lấy một thanh củi còn cháy làm đuốc soi đường rồi biến mất trong rừng rậm. Có lúc qua kẽ lá lại thấp thoáng ánh lửa, nghe rõ từng bước chân của Côlia. Tất cả những cái ấy quả đẹp thật, nhưng đồng thời cũng có vẻ huyền bí và khác thường một cách dễ sợ. Rừng taiga như nuốt chửng con người bé nhỏ kia. Khi tiếng chân bước của Côlia mất hẳn, Gôga thì thầm hỏi bạn:
- Chẳng nhẽ đi một mình mà cậu ta không sợ?
- Sợ ai mới được chứ ? - Vichia lên tiếng - Đống lửa chiếu sáng suốt đêm, cậu ta nằm trong lều như nằm trong pháo đài.
- Nhưng đằng kia - Gôga lại hỏi, hất đầu về phía bóng tối Côlia vừa đi qua - Ở đấy làm gì có lửa?
- Do quen thôi, các cậu ạ - Giamin thêm vào , tay lấy một chiếc gậy dài khều lửa. Tàn lửa bay lên trời đêm như những con đom đóm.
- Dù sao một mình cũng thấy sợ lắm. Bà mình kể là có một lần, khi bà sống ở trại trong rừng, cũng có một đêm như thế này...- Gôga không nói hết câu. Một tiếng cười man rợ phá tan cái im lặng mênh mông của rừng taiga, và tiếp đến có tiếng gì vọng lại như có ai lấy xẻng mà đập xuống nước. Có cả tiếng gì sịt sịt và tiếng kêu rất khẽ, tinh lắm mới nghe được.
- Cái gì thế nhỉ - Gôga thì thào hỏi và xích lại gần các bạn.
- Không biết - Vichia sợ hãi đáp.
Các cậu lặng im.
Bỗng từ phía bụi rậm cạnh lều có tiếng sột soạt, tiếng cành khô gẫy và như có một người nào đấy đang chạy qua rừng.
- Hay ta đi lại chỗ Côlia đi? - Giamin đề nghị và bò ra khỏi lều. Nhưng liền lúc ấy cậu ta đã kêu to, lùi lại, suýt nữa thì giẫm chân không lên đống than nóng bỏng.
- Thế nào, vẫn ngồi đấy à? - Côlia bỗng xuất hiện với nụ cười trên môi, từ chân đến lưng ướt đẫm, dính đầy đất, rêu cỏ và lá cây. Trên đầu chiếc gậy ở sau lưng có treo một vật gì lủng lẳng, nặng, dài và động đậy.
- Cậu làm mình sợ quá! - Giamin thú nhận.
- Không sao, lúc đầu mình cũng sợ. Sau quen đi. Trong rừng tai ga không có gì đáng sợ lắm đâu...
 
Các cậu biết là người câu cá chính của mình bây giờ đang vui, mặc dầu trông cậu ta chẳng khác gì ma lem. Côlia bỏ gậy xuống, và trong ánh lửa, các cậu nhìn thấy một con cá trông như một khúc gỗ lớn. Con cá còn sống. Nó đập đập cái đuôi đẹp xuống đất, thỉnh thoảng lại há cái miệng rộng đầy răng.
Vichia và Gôga chồm ra khỏi lều, tò mò ngắm nhìn con cá.
- Cá thế mới là cá chứ - Gôga kéo dài giọng, lấy gậy chọc vào nó.
- Làm thế nào mà cậu kéo được nó thế? - Vichia hỏi, giọng ngạc nhiên.
- Trong nước, con cá lăng bơi lội thoải mái - vừa cởi bộ quần áo ứot ra, Côlia giải thích - Nó vừa nhô lên đớp không khí một cái là hình như trở nên hung hãn - Côlia lấy miệng ủng dí vào chiếc bụng màu hồng nhạt có các đốm nhỏ của nó - Ở dưới nước, mình không nhìn rõ lắm, cứ nghĩ là lưỡi câu mắc vào rong rêu gì đó. Khi soi đuốc lên xem thì chính mình cũng phải ngạc nhiên. Mình lôi nó lên bờ, nhưng nào đã hết. Nó giãy giụa, đập mạnh đuôi xuống nước đánh ầm một cái! Mình nhảy theo ngay. Cũng may là gần bờ nên nước không sâu. Nhưng khốn nỗi một cái là ngọn đuốc ấy lại xì xì một hồi rồi tắt ngấm. Thế mới lắm chuyện. Vất vả lắm mình mới lại lôi được nó lên bờ, rối lấy gậy nện thẳng cánh. Vì tối có lẽ mình nện cũng chẳng trúng lắm, hơn nữa cũng sợ giẫm chân vào miệng nó.
- Cứ cái miệng này, có lẽ nó ngoạm được hổ chứ chẳng chơi, Côlia nhỉ! - Gôga thêm vào.
- Hổ thì hơi quá, nhưng nó có thể cắn vào gót chân được - Côlia nói và nhìn các bạn với vẻ không tán thành. Cậu vốn không thích khoác lác.
Bọn trẻ con xâu con cá đã nằm im vào sợi dây đang treo lủng lẳng mấy con cá trắm hôm qua còn lại.
- Còn bọn mình thì, Côlia ạ, không có cậu sợ đến chết người đi được - Giamin lại nói khi tất cả đã nằm trong lều- Có tiếng cười rợn người đâu đây và tiếp là tiếng ai đập xuống nước. Sợ lắm.
- Quả là đáng sợ! Gôga phụ thêm.
- Con cú vọ đấy! Nó vẫn hay trêu người như thế - Côlia giải thích - Lúc đầu mình cũng sợ lắm. Cụ Cudia bảo mình: hễ cú vọ kêu như người cười, nghĩa là gần đấy không có thú to. Mà có cú vọ thì lại vui hơn, có điều phải quen đi mới được.
Như nghe tiếng Côlia nói, con cú lại nổi lên một tràng tương tự ngay gần đấy. Các cậu kia rùng mình nhìn Côlia, còn Côlia thì nằm sấp, vẽ lên mặt đất những hình thù kỳ quặc, như thể cậu ta không nghe thấy gì. Từ quần áo treo trên cọc, hơi nước bốc lên dày đặc, mùi ủng da ướt nồng nặc khắp nơi.
Các cậu kia yên tâm thiếp đi lúc nào không biết. Côlia lắc đầu - như thế mà cũng đòi đi câu cá! Nhưng cậu cũng không đánh thức các bạn dậy. Còn lâu mới cần xem dây câu cắm.
Phương Đông, sao nhấp nhánh nhiều hơn. Khí trời trở nên mát mẻ. Sương mù bay dọc sông như có ai ở trên cao mà nhả khói xuống. " Trời sắp sáng" - Côlia khoan khoái ngáp rồi co mình trong chiếc áo ấm.
- Dậy thôi - một chốc sau cậu lay Gôga. Giamin cũng tỉnh dậy - Đã đến lúc phải xem dây câu cắm.
Hai cậu kia vươn người, uể oải bò ra khỏi lêu.
- Nhớ mang theo chiếc thùng - Côlia khuyên - Gặp cá nhỏ thì có thùng cũng tốt. Còn đuốc thì nên chọn cành nào nhiều nhựa ấy, kẻo tắt. Các cậu cũng biết là trong rừng rất ẩm.
Gôga và Giamin biến mất trong sương mù như bị một bức tường tuyết che khuất. Côlia nằm nghĩ cách chia con cá lăng làm sao để không ai phật ý. Nếu có hai con thì dễ dàng biết mấy, cứ cắt dọc là ổn. Ai cũng có phần đầu, phần giữa và phần đuôi. Nhưng chỉ một con thì làm thế nào bây giờ? Khó thật. Hơn nữa là một người câu cá có kinh nghiệm , cậu hiểu thế nào là ăn cá lăng - có ăn cả con mới biết có ngon hay không. Có người thích ăn đầu của con cá lăng nổi tiếng ở sông ngòi vùng Xibêri, có nguời thích ăn gan, cũng có người thích ăn món cá ám nấu bằng đuôi, đầu và vây của nó..
Nhưng những tính toán đắn đo của cậu bị ngắt quãng bởi tiêng người kêu và tiếng cành cây gãy từ phía sông nhánh vọng lại. Côlia chồm dậy, nghe ngóng. Tiếng vọng khó hiểu mỗi lúc to thêm. Vớ vội cây đuốc, Côlia chạy bổ về hứong đặt dây câu cắm. Bây giờ thì cậu nghe rõ tiếng kêu hớt hải của Giamin: " Chạy lại phía hàng cây, nấp ở đấy! Nó không lại đó được đâu"
Tới nơi, trong cảnh tranh tối tranh sáng, Côlia nhìn thấy cạnh bờ nước là một con hươu con và một con hươu mẹ có sừng rất to. Nó đang từ từ rút lui vào rừng rậm, trước mặt nó Giamin đang dùng thanh củi làm đuốc khua như điên nhưu dại vào chiếc thùng. Con hươu hoảng sợ vì tiếng gõ và lửa, lắc lắc đầu rồi cả chiếc thân nặng nề vào bụi rậm. Cuối cùng, nó rống lên và lao vào rừng sâu. Con hươu con tập tễnh chạy theo, nhún nhảy như một chú dế mèn, trông thật buồn cười.
Sau này khi ngồi quanh đống lửa và đã hoàn hồn. Gôga kể lại việc cậu thấy con hươu con đang uống nước cạnh chỗ đặt dây câu cắm và định bắt nó, nhưng nó bỗng kêu to và lúc đó, nghe tiếng hươu con kêu, hươu mẹ giận dữ chạy xổ từ trong rừng rậm ra. Gôga chỉ biết đứng sững như đá vì sợ hãi. Cũng may mà lúc ấy Giamin kịp chạy lại, khua đuốc, gõ thùng ầm ĩ đứng chắn đường con vật khổng lồ của rừng taiga. Về sau, Vichia vẫn thường hỏi không lẽ cậu ta không sợ nó.
- Sợ chứ! Rất sợ nữa là khác. Nhưng lúc ấy Gôga tay không, mà con vật cứ nhằm cậu ta lao tới. Còn mình thì có cây đuốc và chiếc thùng rỗng.

Gôga không thích người khác nhắc lại chuyện này với cậu.
 
[color=blue:974ea8e0ff][/color][size=18:974ea8e0ff][/size]Chương IV

[color=blue:974ea8e0ff]MẮT BÃO[/color][size=18size]

Cụ Cudia nhận thấy là thời gian gần đây Giamin, con trai thím Samsura, hay ra trại ngựa và lảng vảng cạnh chuồng ngựa. Trước kia Giamin và các bạn thỉnh thoảng cũng đến đây, có việc vẫn thường sẵn lòng giúp cụ: quay tời kéo nước từ dưới giếng lên, mang cỏ tới máng ngựa ăn, rửa chuồng ngựa. Vỉ thế các cậu được cụ cho chơi với bầy ngựa con, cưỡi dạo trong sân trên con ngựa đốm Dorica hiền lành. Một lúc bốn cậu có thể ngồi gọn trên cái lưng rộng của nó. Các cậu chỉ thích cưỡi con ngựa này vì tin chắc nó là ngựa rạp xiếc. Sau một lần xem phim về xiếc, các cậu đã đi đến kết luận như vậy. Cái kết luận này được hoàn toàn xác định hẳn khi Vichia một lần đã khám phá ra điều mới này:
- Các cậu ạ, đuôi con Dorica cũng rậm lông như đuôi ngựa rạp xiếc ấy! Nhìn xem!
Các cậu khác cũng cho là như thế, mặc dù thừa biết là Côlia đã làm được nhiều dây câu từ đuôi của Dorica.
Các cậu cứ bám chặt lấy ông cụ như ruồi bâu mật, mặc dù ông cụ bao giờ cũng nghiêm khắc, và không bao giờ bỏ qua cho các cậu một lỗi lầm nhỏ nào. Chỉ cần có cậu nào treo vòng cổ ngựa không đúng chỗ, hay để quên bộ cương ngoài đường là y như cụ đặt một chân lên thành giường, nhấp nháy đôi mắt xanh lam như hoa lý dưới đôi mi đã trắng bạc vì thời gian, rồi cất giọng trẻ trung một cách lạ lùng, nói:
- Cậu nào làm sai thế? Đi lại đây!
Nghe cụ nói thế, người có lỗi vội vàng chạy đi chữa lại việc đã làm sai.
- Được ! - Đôi mắt xanh của cụ lại ánh, và cụ lại vân vê bộ ria trắng vốn đã vểnh ra ngoài của mình.
Các cậu nhận thấy là cụ giống Sapaép - cùng một tầm vóc, cũng nhanh nhẹn như thế, bộ ria cũng thế, có điều là ria của cụ trắng mà thôi...
Không hiểu sao gần đây cụ tiếp các cậu không được niềm nở như trước.
- Các cháu láng cháng nghịch ngợm ở đây, mà lão thì phải chịu trách nhiệm - cụ Cudia lúng búng trong miệng mỗi lần thấy Giamin đến trại.
Cố lấy giọng nghiêm khắc, cụ nói tiếp:
- Có chuyện gì xảy ra là người ta lại rầy rà lão. Có lẽ nên tránh xa thì hơn, các cháu ạ.
- Sẽ không có chuyện gì xẩy ra đâu, cụ ạ. Cháu chỉ lại chỗ con Taiphun thôi mà.
- Đúng, đúng. Chính vì nó mà lão đang phải khổ đấy. Cháu xem, con dê thì thích thế nào làm thế đấy, mà lão thì phải chịu trách nhiệm về nó. Có đời thuở nào như thế không? - Cụ Cudia ngồi xuống khúc gỗ cạnh chuồng ngựa, lấy tay phủi phủi các bụi cỏ khỏi hai ống áo bông. Vào những giờ rỗi rãi này, cụ thích ngồi ở đấy, chỗ mà cụ vẫn gọi là " trên boong tàu", thong thả hút thuốc và bàn luận về nhân tình thế thái.
Hôm nay tuy không vui lắm nhưng cụ vẫn nói chuyện với Giamin:
- Lại chỗ con Taịphun đấy à? Nó có gì mà quyến rũ cháu thế? Cháu định thắng cương cho nó chắc? - Giọng cụ có vẻ hiền lành hơn - Cậu bé ạ, lão phải vất vả nhiều lắm vì nó đấy. Bao giờ cũng phải để mắt trông nó. Mà lão thì lúc nào cũng bận túi bụi. Cháu hiểu chứ? Sao đứng thế, ngồi xuống đi.
" Cụ nguôi giận rồi". Giamin mừng thầm, ngồi xuống khúc gỗ. Từ người ông lão coi ngựa , mùi cỏ và mùi mồ hôi ngựa bay ra. Cậu không thể giải thích được tại sao cậu thích cái mùi này như vậy.
- Nhưng tại sao cháu bỗng chú ý đến con Taiphun thế mới được chứ? - cụ Cudia đưa tay ôm vai Giamin.
"Nếu mình nói thật, cụ có cười không nhỉ?biết đâu cụ lại chẳng trách cho"
- Thế nào, sao lại ngồi lặng thinh?
Giamin thở dài,cúi nhặt từ đất lên cọng bồ công anh đã bay hết hạt.
- Cụ ạ, cháu cãi nhau với các bạn. Với Gôga. Nó bảo là cả Taiset sợ con Taiphun, và chỉ mình bà nó là không sợ. Nó còn nói là bà nó đã nắm râu con dê mà lôi đi như lôi một thằng say rượu..
Ông lão coi ngựa chú ý lắng nghe, thậm chí còn ngừng cả hút thuốc. Tuy biết là cụ Cudia vẫn lắng nghe các cậu hơn ai hết, dù sao, cậu vẫn đưa mắt liếc nhanh nhìn cụ.
- Cụ biết thế nào không, cháu bảo là từ nay cháu sẽ không sợ con Tai phun nữa, thậm chí còn nói là...Giamin ngập ngừng: - Còn nói là cháu sẽ cưỡi lên nó...Chứ không thì thằng Gôga sẽ bảo là bao giờ Chúa cũng giúp bà nó..
 
- À, ra thế, cháu đến đây là vì chuyện đó. Lão nói thật với cháu là gay đấy. Nhưng kể ra cháu đã nói đúng. Đúng lắm, cháu ạ. Cần phải thế. Kẻo không hóa ra con dê chỉ sợ độc có một mụ già chỉ biết cầu chúa, còn lão và cháu nó không sợ à? Có điều, cháu xem, làm thế nào mà cưỡi nó được - Ông lão coi ngựa đứng dậy, đi lại chỗ con Taiphun đang bị nhốt trong chuồng.
Thấy có người, con dê nhỏm dậy, thở phì phì và lắc đầu, có vẻ bực dọc.
- Sao lại giận dữ thế, ông bạn? - Cụ Cudia đứng ngoài chuồng ngắm nó, hỏi - Có người muốn làm bạn với mày đấy - ông lão gật đầu chỉ về phía GIamin.
Taiphun thong thả dạo quanh chuồng rồi bỗng nhiên húc mạnh vào thành chuồng phía đối diện với cụ Cudia, thanh gỗ chắn rung lên, cong lại. Sau đó nó lùi lại một tí và cúi đầu xuống, như thể lắng nghe ông cụ nói gì.
- Tất nhiên là nó hung dữ. Nhưng làm sao mà không hung dữ được? Cháu nghĩ xem: ai cũng muốn trêu nó, đánh nó, ai thấy nó cũng chạy như chạy kẻ bị dịch hạch..Cháu tưởng nó không hiểu à? Cháu nhìn xem, nó đang nghe đấy. Hỏi đã mấy người định đối xử tốt, vuốt ve nó và làm bạn với nó? Chưa ai hết. Bao giờ nó cũng nghe nói : con quỷ, con trời đánh, đồ hung dữ. Sau những lời như thế thì làm sao nó có thể trở thành thiên thần được! Mà nó cũng chỉ là con vật mà thôi.
Taiphun thích nghe giọng nói của người hàng ngày vẫn cho nó ăn cỏ. Nó hoàn toàn bình tĩnh trở lại, đưa cặp môi mỏng chọn ở bó cỏ những ngọn non rồi oai vệ dạo quanh chuồng. " Nó cũng chẳng hung dữ lắm" - Giamin nghĩ bụng.
- Cháu có hiểu thế nào là "Taiphun" không? - Cụ Cudia bỗng hỏi và tinh nghịch nhìn Giamin.
- Gió to, bão lớn.
- Đúng thế. Rất nguy hiểm. Nó ập đến bất ngờ, bất ngờ như quỷ sứ từ lò sưởi ra vậy. Lúc ấy thì không thể phân biệt nổi đâu là trời đâu là đất nữa. Tất cả đều bị đảo lộn hết. Nhưng cháu ạ, trong mỗi cơn bão đều có một chỗ yên tĩnh. Người ta gọi đó là "mắt bão". Thành ra, nếu tàu bè mà tìm được cái "mắt bão" ấy cũng không có gì đáng sợ nữa. Trời lặng, nước yên. Thì con Taiphun của ta cũng phải có một cái mắt như thế. Cháu mà tìm thấy thì cưỡi nó tất được.
 
- Cụ ơi, để cháu đưa cỏ cho nó ăn nhé, được không? - Giamin hỏi.
- Vội vàng sẽ làm hỏng việc đấy cháu ạ. Phải thận trọng với nó mới được.
- Cháu đưa cỏ cho nó, cụ nhé - Giamin lại hỏi, trong đầu đã tưởng tủợng cảnh cậu sẽ nói với Gôga: " Còn mình thì đã dùng tay đưa cỏ cho con Taiphun đấy nhé" khi có mặt của cả lớp.
- Đây - cụ Cudia rút trong túi ra một miếng bánh mì đã khô cứng. Nhưng suy nghĩ một lúc, cụ lại bẻ đôi miếng bánh - Để phần con Tô đích một nửa. Nó thích ăn bánh mì với muối lắm - cụ giải thích.
Giamin cầm nửa miếng bánh mì kia đi lại gần con Taiphun.Ông lão coi ngựa mỉm cười, tuy thế, vẫn để cửa chuồng nửa đóng nửa mở. Con dê ngẩng đầu, ngạc nhiên nhìn GIami. Nó không hiểu tại sao con nguời bé nhỏ kia, đáng lẽ phải sợ bỏ chạy mà lại tự mình đi lại gần nó thế.
- Bánh mì, chìa bánh mì cho nó xem! - Giamin nghe có giọng nói ở đằng sau. Ông lão chăn ngựa đứng ở bên cậu.
- Này, lại đây, lại đây, Taiphun! - Giamin thì thầm.
Ngoài chuồng, mọi việc có vẻ như đơn giản hơn nhiều, và không có gì đáng sợ lắm. Bây giờ, khi mắt con Taiphun đổi sắc và đôi môi ướt như nhung của nó cong lên, thì lại là chuyện khác. Gimin nhận thấy nó có một cặp mắt đen rất đẹp, còn hai sừng thì hầu như dính vào nhau ở gốc, lông ở đấy lốm đốm như đã bắt đầu bạc.
- Lại đây, lại đây - Giamin gọi Taiphun, giọng run run.
Con dê đưa mắt quan sát nhanh người khách không mời mà đến một lần nữa rồi cong mình lấy thế, ruớn cổ thành vòng cung, sẵn sàng nhảy bổ vào húc Giamin. Giamin tái mặt, đang nói giữa chừng bỗng dừng lại. Những tưởng không còn gì có thể ngăn Taiphun được nữa.
- Taiphun, làm gì thế? Không thấy người ta mang bánh lại cho mày đấy à? - cụ Cudia quát.
Con Tai phun hạ chân xuống, quay người, kêu be be mấy tiếng rồi thong thả đi vào góc chuồng. Cụ Cudia lẩm bẩm nói theo:
- Thật chẳng biết điều một tý nào! - rồi cụ cầm lấy mẩu bánh mì từ tay Giamin đang đứng lặng người, đi lại gần con Taiphun - Này, ăn đi. Cậu ta mang cho mày đấy.
Con dê thận trọng ngoạm mẩu bánh khô trong tay người chăn ngựa. Còn ông cụ thì vẫn tiếp tục nhỏ nhẹ trách móc, đưa tay gãi mang tai cho nó.
Giamin nhìn mà không tin vào mắt mình. Con Taiphun cả Taiset phải sợ, bây giờ đang đứng trước cụ Cudia như một con bê hiền lành nhất.
Khi hai người ra khỏi chuồng, Giamin đã hoàn toàn bình tĩnh trở lại, cậu buồn rầu nói:
- Đáng lẽ cháu không nên nói khoác với Gôga như thế, cụ Cudia ạ. Cháu không làm bạn với con Taiphun được - Cậu thở dài và liền hỏi - Sao nó sợ cụ nhỉ? Giá nó sợ cháu như thế!
- Thì lão đã bảo là bất kỳ con vật nào cũng thích được đối xử tốt, thích được vuốt ve. Nhưng cũng cần nghiêm khắc nữa, cháu ạ - cụ Cudia ngồi xuống nói.
Giamin biết cụ Cudia từ ngày cậu bắt đầu biết nhớ. Và cậu tin chắc là ông lão coi ngựa bao giờ cũng tốt bụng và luôn có mặt quanh bầy ngựa như bây giờ. Nhưng hôm nay cậu còn biết thêm là cụ Cudia từng làm lính thủy pháo binh trên chiếc tàu tuần tiễu lừng danh "Người Triều Tiên" và đã tham gia các trận thủy chiến năm 1905.
- Năm ấy bọn Nhật làm quân ta điêu đứng - cụ Cudia nhớ lại - Đại bác của chúng bắn xa hơn, còn tàu thì nhiều hơn ta những ba lần, và lại chạy nhanh hơn. Còn Nga hoàng ấy à? Quỷ tha ma bắt hắn đi. Hắn chỉ biết suốt ngày nốc rượu và dạo chơi bơi, không đếm xỉa gì đến xương máu của thủy thủ. Ấy thế mà người thủy thủ Nga vẫn đứng vững, cháu ạ.
Bọn Nhật muốn bắt quân ta làm tù binh, muốn lắm. Nhưng chúng chẳng được quái gì cả. Chúng quên là chúng đang đánh nhau với ai. Sau này, người ta có kể lại là thằng cha đô đốc Nhật bực mình hai ngày liền không ăn, không uống, không muốn nhìn ai hết. Quân ta đã biết tay thế đấy! Tinh thần anh hùng của người thủy thủ Nga thời ấy được sử sách chép lại cho đời sau.
Cụ Cudia thong thả kể chuyện. Giọng cụ như trẻ lại, thậm chí các nếp nhăn trên trán cũng biến mất, toàn người cụ như tỏa sáng từ phía trong. Có lúc Giamin nghĩ bụng: bây giờ mà bỏ bộ ria trắng đi, khoác lên người bộ đồng phục hải quân thì lập tức cụ lại thành một chàng thủy thủ trẻ và khỏe mạnh.
 
Hôm ấy ông cụ đã kể cho Giamin nghe nhiều điều hay và bổ ích. Kể ra, phần lớn câu chuyện của cụ là nói về cuộc đời mình, và chức vụ không lấy gì làm vinh quang, như cụ vẫn hay nói, nhưng cũng không thuộc loại tồi nhất trong xã hội. Giamin hiểu được điều chủ yêu: cần phải sống trung thực. Cụ Cudia giải thích điều này như sau: phải kính trọng người khác, phải có tâm hồn cao thượng, phải biết quý và bảo vệ tình bạn, biết yêu ngôi nhà của mình, Tổ quốc của mình ngay cả trong những giờ phút thử thách gay go nhất. Tổ quốc cũng như người mẹ, thương yêu một cách nghiêm khắc, quở trách, nhưng không ruồng bỏ. Bao giờ cũng chân tình...Về nhà, Giamin kể hết với mẹ những gì cậu nghe từ miệng cụ Cudia. Các từ ngữ thủy thủ mà cụ Cudia vẫn thích dùng, thậm chí một số người lớn cho là kỳ quặc, hóa ra chúng ở ngay tâm hồn cụ. Thế đấy!
- Thế con có biết ông cụ từng là du kích không? - Mẹ cậu hỏi - Cùng một đội với chính ông Bisơ đấy, và hoạt động trong vùng ta. Người ta nói ông cụ kiên quyết lắm. Cả nhà cụ bị bọn Cônsác giết - chúng treo cổ ở chỗ cầu nổi, bây giờ các tàu chở than vẫn tới đổ ở đấy. Ông cụ sống một mình là thế. Và ông cụ từng là một người thợ nguội tài giỏi! Vì sức khỏe yếu mà phải tới trại ngựa thôi. Ông cụ cần không khí tốt. Phổi đau nặng, trước bị nhiễm hơi ga trong cuộc đại chiến thứ nhất. Ông cụ đã gặp nhiều điều không may. Được thưởng huân chương Ghê ooc ghi. Còn bây giờ con đã lớn gần bằng ông - Phải biết nhận ra người tốt, con ạ. Con lớn rồi, phải hiểu điều đó. Người tốt không bao giờ tự phô trương mình cho người khác thấy đâu... Bao giờ họ cũng khiêm tốn.
Sáng sớm hôm sau, GIamin vớ vội miếng bánh mì trên bàn rồi chạy thẳng ra trại ngựa. Chưa có người đánh xe nào đến. Những chiếc xe ngựa đứng thẳng dọc theo bờ giậu, càng xe trần trụi chĩa lên trời. Chú gà trống cổ trụi lông đang oai vệ đi lại giữa bầy gà mái. Mỗi lần tìm được hạt gạo trong bụi đất, nó lại kêu cục cục trong miệng, đạp đạp đôi chân có cựa sắt như giẫm phải lửa.
Đang quét cạnh chuồng ngựa, miệng lẩm bẩm hát lạc điệu bài " Trên núi đồi Mãn Châu Lý" cụ Cudia nhìn thấy Giamin
- À, đã đến rồi cơ à? - ông cụ mừng rỡ nói - Vậy mà lão cứ nghĩ là sau lần hôm qua, cháu không còn nghĩ tới việc cưỡi con Taiphun nữa. Thế nhưng hôm nay vẫn đến. Tốt lắm. Thôi đi lại với nó đi. Bây giờ nó vừa ngủ dậy, không hung dữ. Mà chớ vào chuồng nó đấy nhé!
- Này, Taiphun - Giamin gọi con dê và chìa mẩu bánh mì cho nó xem. Tai phun bước từng bước ngắn lại gần. Giamin nghe rõ cả tiếng móng chân tách làm đôi giống như cặp sừng cụt.
Tại sao con người nhỏ bé này lại cứ bám lấy mình thế nhỉ? Hắn không kêu như người khác mà nói khe khẽ, tay cầm mẩu bánh thơm phức, làm người cứ như ngứa ngáy. Muốn ăn quá. Còn ông lão bé nhỏ kia đâu rồi, cái ông già suốt ngày chỉ quẩn quanh với mấy con ngựa, và bao giờ cũng tốt với mình ấy.
Tai phun đi lại mép chuồng, chìa mõm qua khe hở thè lưỡi đỡ lấy mẩu bánh. Hai sừng mắc giữa các thanh chắn.
Giamin bẻ nhỏ mẩu bánh để lên lưỡi nó. Con dê lắc lắc đầu rồi chậm rãi nhai bánh.
Chẳng mấy chốc bánh hết. Đưa mẩu cuối cùng xong, Giamin lấy bàn tay vuốt nhanh cái bờm đầy lông cứng của nó.
Ở trường bây giờ ai cũng biết là Giamin đã làm bạn được với con Taiphun: có thể vào chuồng nó mà không sợ gì, dùng tay cho nó ăn, chải lông cho nó. Một số cậu công khai ghen tị với Giamin và xin được ra trại để xem Taiphun đón bạn mình như thế nào.
Được sự đồng ý của cụ Cudia, Giamin dẫn cả một đoàn ra trại. Nghe tiếng ầm ĩ, Taiphun lập tức đề phòng.
- Không được làm ầm lên thế, nó giận đấy - Giamin lấy từ chiếc túi vải sơn một chiếc bánh mì rồi bước vào chuồng.
Taiphun đón cậu một cách dè dặt, có lẽ nó cho là thổ lộ tình cảm bây giờ, trước mặt mọi người là quá sỗ sàng. Nó chỉ cà hông vào đầu gối Giamin, khép đôi mi cứng che mắt.
- Xem kìa, như chơi với mèo con của cậu ấy, nhé - các cậu bé ngạc nhiên kêu lên.
Tiếng ồn ào lại làm Taiphun cảnh giác.
- Nhưng cưỡi lên nó thì có thuê cậu ta cũng chẳng dám - Gôga nói chọc
"Một liều ba bảy cũng liều, mình sẽ thử" - Giamin quyết định rồi ném chiếc túi ra ngoài chuồng:
- Cầm hộ mình!
- Đừng, nó sẽ hất cậu ngã! Nó sẽ húc - các bạn khuyên Giamin
- Sợ rồi, mày sợ rồi! - Gô ga kêu lên. Cậu ta chạy lăng xăng giữa đám trẻ và thì thầm điều gì với chúng.
Không ai hiểu thật rõ ràng cái gì đã xảy ra. Các cậu chỉ thấy Giamin bỗng nhảy tót lên lưng con dê rổi lập tức cậu bị hất bay qua sừng nó, rơi xuống đống phân trong góc chuồng. Con dê giận dữ lao vào nạn nhân của mình, kẻ đã dám làm cái điều hỗn xược kia.
Gô ga là người đầu tiên kêu ré lên và chạy bổ tới chuồng ngựa
- Cụ Cudia ơi, con Taiphun húc Giamin
Ông lão hết sức ngạc nhiên khi chạy tới thì thấy bọn trẻ đứng lặng người, còn Giamin thì ngồi tái mặt trong chuồng, bên cạnh là Tai phun đang đứng cúi đầu, cái đuôi khe khẽ vẫy.
- Cháu làm lão sợ quá Gô ga ạ. Lão cứ nghĩ thôi chết rồi, cậu thủy thủ tý hon của lão bị bão tố thật rồi. Hóa ra không sao - ông cụ thật thà trách Gô ga.
- Tại vì cậu ấy cứ nói chọc Giamin là " đồ hèn, đồ hèn" mãi đấy - các cậu kia tranh nhau nói.
Cụ Cudia giấu nụ cười trong bộ ria của mình, rồi quay lại với công việc bị ngắt quãng, miệng lẩm bẩm hát bài :'" Trên núi đồi Mãn Châu Lý"
 
[size=18:a43818ee9c][/size][color=red:a43818ee9c][/color]
CHƯƠNG V
BÁNH XÀ PHÒNG

Đã hai tuần nay có những người từ Matxcơva sơ tán đến ở nhà hàng xóm của Giamin. Đó là ba người phụ nữ, một cô bé mắt đen, khoảng mười bốn tuổi và một cậu bé mắt xanh là mỗi lần thấy bò đi dọc đường làng là khóc lên rồi chạy vào sân.
- Giamin, lại chỗ những người sơ tán đi - Gôga trèo qua giậu nói.
- Có gì đấy mà phải đi xem! - Giamin vừa trả lời, vừa tiếp tục bổ củi.
- Họ để rơi gàu nước xuống giếng, không làm thế nào mà lấy lên được - Gôga nói - Ta đi đi. Họ là dân thành phố mà.
- Tớ sẽ lấy lên. Thế cậu có giúp tớ không? - Giamin hỏi.
- Được - Gôga miễn cưỡng đáp.
Giamin vào nhà và một chốc sau đi ra với chiếc áo thể thao màu trắng, cổ xanh mà chỉ ngày lễ cậu mới mặc
- Làm gì mà diện thế? - Gôga ngạc nhiên hỏi.
- Chả là áo kia bẩn quá - Giamin ngượng nghịu đáp
Khi hai cậu bước vào sân, một phụ nữ xinh đẹp đi giày cao gót mỉm cười nói:
- À, bây giờ nam giới họ sẽ giúp bọn mình.
- Chào các chị - Giamin rụt rè nói rồi tò mò ngắm nhìn những người Matxcơva
- Trong nháy mắt là cậu ta lấy ngay lên thôi- Gôga lấy tay ẩy Giamin - Ở làng này chưa có giếng nào là cậu ta chưa trèo xuống - Gôga cảm thấy thoải mái.
" Chỉ giỏi cái nói khoác" - Giamin nghĩ bụng rồi hỏi:
- Cái móc ở đâu?
- Ở dưới ấy! - người phụ nữ xinh đẹp chỉ xuống giếng.
- Có lẽ nó mắc vào một cái gì đấy - một người đàn bà khác nói chen vào.
Giamin cúi đầu nhìn xuống. Nước trong lòng giếng lạnh, như một con mắt đen nhánh, đang nhìn cậu. Một mẩu gỗ rơi xuống và con mắt xanh kỳ lạ kia khép lại, tối dần và biến mất.
Giamin khẽ giật dây xích. Không thấy gàu. Cậu chao dây thừng từ bên này sang bên kia định mắc nhưng không được.
- Phải trèo xuống thôi.Nếu không, không thể lấy lên được - cậu kết luận.
- Nhưng ai xuống? Giếng sâu lắm - giọng người phụ nữ xinh đẹp run run.
Gôga vội lánh xa khỏi thành giếng.
Giamin buộc một nút thắt đầu dây xích, rồi như trên một chiếc đu quay khổng lồ, cậu cho chân vào đấy, nói:
- Cho xuống đi, đừng sợ! Gôga, cậu nghe chứ?
- Được, Gôga kéo dài giọng, không nhìn bạn.
- Này cậu bé, hay thôi đừng xuống nữa, giếng sâu lắm..
Giamin liếc nhìn những người đàn bà, suýt bật cười. Cậu không nhớ người ta gọi cậu là cậu bé lần cuối cùng là lần nào. Có lẽ lúc cậu còn học ở lớp bốn hay lớp năm gì đấy. Còn thì người ta gọi cậu là "anh thanh niên". Lâu nay mẹ cậu vẫn chẳng bảo " Con trai của mẹ, con đã lớn rồi đấy" và cụ Cudia thì nói: "Cháu đã là một thanh niên biết suy nghĩ". Thế mà chị ta lại cứ gọi mình là cậu bé.
- Có phải lần đầu tôi xuống giếng đâu - Giamin đáp rồi từ từ tụt xuống lòng giếng lạnh và tối.
Theo từng vòng quay, cái giếng như nuốt Giamin mỗi lúc một sâu vào lòng mình. Những mảnh rêu trơn như chân ếch lúc rơi xuống vai, lúc rơi xuống lưng lạnh buốt, thật dễ sợ.
...Giamin nhanh chóng gỡ chiếc móc ra. Với chiếc gàu nước thì khó hơn nhiều. Nó cắm sâu xuống đáy vì bị một khúc gỗ mục trên thành giếng rơi phải. Nhúng tay vào nước lạnh như cắt da, cắt thịt và lắc lắc quai gàu, Giamin biết là không dễ gì mà lấy ngay lên được. "Trước hết phải nhấc khúc gỗ đã", cậu quyết định. Cậu tựa lưng vào thành giếng cố kéo, nhưng như một con cá sộp, khúc gỗ cứ tuột khỏi tay cậu.
Những người phía trên thấy GIamin im lặng, lo lắng gọi vọng xuống:
- Này cậu bé, lên thôi! Kệ nó, gàu với chẳng gàu! Lạnh lắm hở? Tiếng họ nghe như những tràng pháo bập vào tai cậu nghe như từ thành giếng bay ra.
- Sắp xong rồi...Giamin ghì chặt một đầu khúc gỗ vào ngực và đáp.
Phải vất vả lắm khúc gỗ mới chịu chuyển. Dây xích cắm những chiếc răng cùn vào chân GIamin, làm cậu cử động rất khó khăn. Tay cậu bị cóng cứng đờ..Hơn nữa, cậu cũng không dám nhấc mạnh khúc gỗ, vì cậu cảm thấy dưới chân cậu mùn gỗ mục cũng đã rão lún lắm rồi.
- Này cậu bé, lên thôi, lên thôi! - Những người phía trên khẩn khoản
- Lên bây giờ đây...Giamin khẽ đáp
Cuối cùng, cố hết sức, cậu đã lôi được chiếc gàu lên và giọng khàn khàn cậu giục:
-Kéo lên!
- Ôi, cám ơn cậu nhé! Có điều áo bẩn thế thì làm thế nào bây giờ? _ người phụ nữ Matxcova xinh đẹp kêu lên khi nhìn thấy Giamin - Mà chúng ta cũng đáng trách thật, không biết đưa trước cho cậu ấy một cái áo khoác.
- Không sao, giặt sẽ sạch - Giamin cố nói với vẻ bàng quan nhất, tuy cậu thừa biết là rêu xanh mà bám vào cổ áo thì không thể nào tẩy sạch được, và mẹ cậu sẽ không thể để cậu yên về việc này.
Còn Gôga thì như không hề biết bạn mình sạch bẩn thế nào, đang say sưa nói chuyện gì đấy với cô bé mới đến. Còn chú bé kia thì nhìn như dán mắt vào cậu ta, miệng há to vì khâm phục.
" Mình thì suýt chết vì cái móc của nó, mà nó lại thế đấy.." Giamin bực mình nghĩ bụng. Thậm chí cậu không nghe thấy cả lời của mấy người phụ nữ Matxcowva đang bảo cậu đi tắm và nhận giặt hộ áo cho cậu.
- Có thật là anh đã cưỡi lên con dê không?- chú bé hỏi
Giamin không đáp, bỏ đi ra cổng
- Thì ít ra cũng cầm lấy bánh xà phòng này chứ - người phụ nữ xinh đẹp chạy theo ra tận ngõ, chìa cho cậu một bánh xà phòng còn nguyên, màu hổ phách.
Lâu lắm Giamin mới được thấy một bánh xà phòng như thế. Cậu vẫn phải dùng một thứ nước đen như dầu chưng thay xà phòng. Giặt bằng thứ nước này không sạch, tay xát nó dính như xát lên nhựa thông, mắt cay như gặp phải mùi hành. Bánh xà phòng này quả là một cám dỗ lớn. Có nó, có lẽ mẹ cậu sẽ tha cho không mắng vì tội làm bẩn áo. Nhưng rồi, không hiểu sao cậu thở dài nói:
- Có phải vì xà phòng mà tôi làm giúp đâu - Cậu biết là một bánh xà phòng như thế giá rất đắt..
" Một cậu bé hơi kỳ" - Người phụ nữ xinh đẹp nghĩ bụng, nhìn theo chiếc lưng hơi cúi với chiễc áo lấm rêu ướt của Giamin.
Bỗng có tiếng gì rơi đánh ầm một cái và tiếng nước sóng từ phía giếng nước vọng lại. Người đầu tiên chạy tới là cô bé có hai bím tóc nhỏ. Đôi mắt mở to của cô đầy vẻ lo lắng và ngạc nhiên. Trong giếng cô không còn thấy bầu trời sóng sánh, không thấy các đám mây trắng lờ bay - lòng giếng bốc mùi rêu và khí lạnh - phần dưới của giàn gỗ bị rơi xuống nước.
Những người sơ tán hồi lâu vẫn nhìn xuống lòng giếng, như không tin là đứa bé hàng xóm đã lên khỏi đó từ lâu.
 
CHƯƠNG VII[/color
Ở nông trang tập thể

Năm 1941, ở Xibêri mùa thu đến sớm. Mới cuối tháng tám mà trời đã bắt đầu lạnh. Người già nói là chẳng bao lâu nữa sẽ được thấy băng giá thực sự. Ở Taiset, người ta thu hoạch khoai tây, cà rốt, cải củ trong vườn sớm hơn thường lệ. Chỉ có bắp cải non bên cạnh các bờ giậu là mỗi ngày một xanh thêm - chúng còn đang ở độ phát triển. Đêm đêm có thể nghe tiếng chúng uốn bắp răng rắc như có ai đang đi trên tuyết. Ở một số mảnh vuờn bí ngô màu đồng thau, quả nào quả nấy trông như những mặt trăng. Người già bảo bí ngô có màu vàng là vì chúng mọc vào đêm trăng.
Bọn trẻ Xibêri đứa nào cũng biết từ bí ngô có thể làm được những món gì ngon.
Khi nấu các món ăn bằng bí ngô thì thường thường mọi người trong gia đình đều tham gia. Quả bí được bổ làm hai nửa bằng nhau. Nó tách ra một cách nhẹ nhàng nom thật ngon lành. Trong phần ruột dày màu vàng là những hạt trắng, tròn như những hạt đậu, long lanh như sương. Bọn trẻ lấy thìa gỗ múc hạt bí cho vào những chiếc bát lớn để sau này đem phơi khô và rang, còn bây giờ quả bí sẽ được cắt làm nhiều miếng nhỏ, cạo sạch vỏ và cho vào một chiếc chảo gang. Để bí ngô khỏi cháy, rót một ít nước vào chảo, đóng chặt nắp và cho vào chiếc lò sưởi vừa mới nhóm. Chẳng mấy chốc mùi thơm phức đã tỏa ra khắp nhà.
Người nội trợ có kinh nghiệm là người biết lôi chảo gang ra khỏi lò đúng lúc - những miếng bí xếp ngoài đỏ mọng, vỏ hơi bị xém vàng. Bí chín rồi, có thể lấy tiền xúc ăn, nhưng chỉ vào những ngày đầu mùa thôi. Sau này, mỗi người chỉ được ăn một miếng nhỏ, vì mùa đông kéo dài những bảy tháng và còn lâu mới đến ngày có rau quả ăn được.
Nhưng mùa thu năm nay bọn trẻ Taiset không được thưởng thức món quả của mùa hè XIbêri ngắn ngủi này ở nhà. Khai giảng vừa xong, chúng đã được báo là tất cả học sinh lớp 7, lớp 8 và lớp 9 đều sẽ đi tới làng Bairônôpca để giúp nông trang tập thể thu hoạch mùa màng. Còn học sinh lớp mười sẽ tập quân sự ở nhà.
_________________
 
Các cậu tới làng vào ban đêm. Bầy chó to như những con chó sói đón đoàn học sinh ầm ĩ bằng những tràng sủa giận dữ. Không một ai trong làng ra khỏi nhà. Rõ ràng là ở đây người ta đã quen nghe tiếng chó sủa như vậy. Ephim Grigôriêvich, thầy giáo chủ nhiệm lớp 7A, lau lau đôi mắt kính mờ hơi nước, dày như mặt đèn pin, rồi gọi lớp trưởng Côlia Xôcôlôp lại.
- Ở đây, em là trưởng lớp, Côlia nhé. Các em đứng gần lại với nhau đừng để chó cắn. Bây giờ thầy đi tìm đồng chí chủ tịch nông trường.
- Thầy Ephim Grigôriêvich, cầm lấy cái này! - Côlia đưa cho ông một cành cây làm gậy - Trong tối dễ tìm đường hơn..
- Em thật là một người biết lo xa - ông giáo khen. Ông vẫn chưa hết ngạc nhiên vì các cậu bé Xibêri biết lo xa, tỉnh táo và biết nhìn đời bằng con mắt người lớn như vậy.
- Đây là chiếc gậy Giamin nhặt dọc đường, nó bảo đề phòng khi gặp chó.
- Dù sao thì thầy cũng cảm ơn em.
Thầy chủ nhiệm bước đi mấy bước rồi biến mất trong bóng tối. CHó sủa ran theo ông.
Với đàn chó chạy theo sau, Ephim Grigôêvich gõ vào cửa sổ ngôi nhà ông gặp đầu tiên. Chó im tiếng.
- Ai thế?vào đi, cửa mở đấy. Thì cứ vào ngay có được không, cần gì phải đánh thức người ta dậy - từ trong cửa sổ có tiếng nói còn ngái ngủ vọng ra, vẻ bực tức.
Ephim Grigôriêvích bước vào sân. Bầy chó ở lại gầm gừ ngoài cổng, nhảy lên ngồi bên bực cửa. Ông giáo chần chừ rồi đứng lại.
- Kìa, sao đứng một chỗ, không tìm thấy cửa à? - vẫn giọng nói lúc nãy, nhưng lúc này từ phòng ngoài vọng ra.
- Thưa không...Có con chó..
- Anh cứ đi, đi thẳng. Nó sẽ tránh. Người xấu mới không dám làm thế. Con chó ấy khôn lắm..
Mà thật vậy, chỉ cần Ephim Grigôêvich mạnh dạn bước lên mấy bước về phía cửa là con chó đã vội tránh sang một bên. Trong nhà một que diêm bật sáng, soi rõ bộ râu của một người nào đấy.
- Xin mời vào nhà, ông khách quý.
Chỉ lúc vào hẳn trong nhà ông giáo mới nhận thấy là ngoài đường rất lạnh.
- Tôi và các em học sinh đến đây giúp nông trang tập thể thu hoạch - Ephim Griôgêvich băt đầu - tôi muốn gặp đồng chí chủ tịch.
-Chính ở đây là nhà của chủ tịch. Bây giờ không có ở nhà, đang ở chỗ chiếc máy nghiền bột bị hỏng. Đàn ông còn ai nữa đâu, chỉ rặt đàn bà là đàn bà. Việc thì nhiều mà người thì ít - ông già than phiền, chậm rãi đi lại giữa ngôi nhà rộng.
Cụ châm đèn, ngạc nhiên hỏi:
- Thế học sinh ở đâu, ông giáo?
- Đang đứng ở ngoài đường
-Ấy chết, chắc rét cóng hết cả rồi. Đêm chả buốt thế này mà - chủ nhà nói rồi vội vàng xỏ đôi chân không tất vào đôi ủng dạ.
- Nhưng các em đông lắm ạ..
- Không sao, rồi cũng tìm cách chứa hết. Thầy giáo ở đây một tý cho ấm. Lão đi về ngay bây giờ.
Xong ông lão vụt biến ngay sau cửa.
- Này, các cháu ơi, lại đây! Thày giáo ở đây, ở nhà lão - ông lão kêu vang phố.
Một lúc sau toàn lớp 7A đã ngồi chật cả căn nhà ấm áp. Ông lão lăng xăng đi lại, đề nghị mọi người ngủ một giấc đến sáng.
Lúc đầu bọn trẻ con còn ngần ngại từ chối, nhưng sau tất cả đều ngồi choãi ra, đứa trên ghế, đứa trên sàn nhà dọc bờ tường và nửa giờ sau, đứa nào đứa nấy lăn ra ngủ.
Đang thiu thiu ngủ, Giamin nghĩ là cụ chủ nhà có một cái gì đấy giống cụ Cudia. Nhưng cái gì thì cậu không biết. Cụ này cao hơn cụ Cudia nhiều. Tóc cụ dài, mượt, còn râu và ria mép thì đen một cách lạ lùng. Lạ nhỉ, sao lại như vậy? Cụ muốn hỏi Vichia và Côlia đang ngủ ngay cạnh, nhưng lười không muốn động lưỡi nên lại thôi. "Thôi, sáng mai sẽ hỏi vậy" - Giamin thầm nghĩ.
Sáng hôm sau, người dậy đầu tiên là Ephim Grigôêvich. Đang ngủ ông nghe chủ nhà thì thầm nói với một người nào đấy:
- Ấy khẽ chứ! Để chúng ngủ thêm một giờ nữa! Trông thì biết, những người giúp việc của con đi đường mệt lắm. Mà con cũng nên nằm chợp mắt một chút - ông lão dịu dàng nói - chắc con thức suốt đêm bây giờ mệt lắm, leo lên lò sưởi mà nằm cho ấm.
- Giờ con hết buồn ngủ rồi, bố ạ. Lúc gần năm giờ con buồn ngủ gần chết, lúc ngáy ngủ sợ bị máy cuốn.
Đó là giọng phụ nữ hơi khàn.
Thầy giáo khẽ ho, cốt để báo cho họ là ông đã thức giấc.
Ông lão từ sau là sưởi bước ra. Sau ông là một người phụ nữ còn trẻ, cao không kém.
- Đã dậy rồi à? Sao không chợp mắt thêm tý nữa hả ông giáo? - ông lão lên tiếng - Đây là Ép đôkia Gavrilôpna, con gái tôi, hiện đang thay chồng làm chủ tịch nông trang - ông lão nói tất cả những điều này với một niềm tự hào rõ rệt. - Nó là con gái út của tôi, đứa thứ mười một...
- Bố rõ khéo, người phụ nữ ngắt lời ông lão rồi chìa bàn tay của mình ra và tự giới thiệu: - Epđôkia Gvrinôpna.
- Ephim Grigôêvich, giáo viên dạy toán - bàn tay của ông lão chủ nhiệm lọt thỏm trong bàn tay to lớn và khỏe mạnh của chị chủ tịch.
Bỗng chốc cả hai đều thấy lúng túng. Nhưng chị chủ nhà đã vội mỉm cười, hỏi:
- Nghĩa là đồng chí đã đem những người giúp việc đến đây cho chúng tôi? Thế thì còn gì bằng. Vì nam giới bây giờ còn ai nữa đâu. Người làm thiếu lắm, mà mùa thu lại đến sớm.

Trong khi học sinh đang ngủ, chị chủ tịch và ông giáo đã quyết định là các em trai sẽ chuyển các bó lúa mì mới gặt về kho. Công việc này, theo chị chủ tịch, cần sức khỏe và nhanh nhẹn, vì dùng nạng mà lấy từng bó lúa từ đồng lúa bị đóng băng đâu phải là chuyện đơn giản, sau còn phải xếp chúng lên xe làm sao để khỏi tung ra từng bông, đấy là chưa kể việc phải biết điều khiển ngựa nữa. Còn các em gái sẽ dỡ khoai tây. Sẽ có bốn em trai giúp đỡ các em vì mặt đất đã bị đóng băng, không thể không cần sức nam giới được.
Gần mười giờ sáng, những tia nắng đầu tiên dọi vào cửa sổ làm khô dần mặt kính đẫm nước trong đêm.
Trên bàn là một chiếc chảo gang lớn, hơi nghi ngút như khói bốc từ miệng núi lửa ra. Mùi khoai tây và thịt rán chín tới thơm ngậy. Chính cái mùi này đã làm các cô cậu học sinh tỉnh dậy.
- Thế nào, các bạn giúp việc của tôi, ngủ tốt chứ? Tinh thần phấn khởi chứ? - chị chủ tịch niềm nở hỏi.
- Dạ, phấn khởi lắm ạ! _ Nhu ra Mennhicôva, một cô bé tóc vàng, má đỏ trả lời thay các bạn.
- Còn các cậu trai sao lại im lặng thế? - chị vừa hỏi vừa bê từ phía lò sưởi ra một chồng bát gỗ lớn nhỏ.
- Nhưng các cậu ấy khi làm việc thì hăng lắm đấy - Ephim Grigôriêvich trả lời.
Khi ăn người ngồi cạnh bàn, người cạnh cửa sổ, bỗng ông già đêm qua bước vào, vóc người to lớn, đầu trắng xóa như một cọng bồ công anh. Các em cảm thấy ngôi nhà bỗng chật chội hẳn đi. Mùi tỏi bay ra nồng nặc.
- Này, các cháu, có hành muối để ăn với khoai tây đấy. Chữa bệnh sưng chân răng thì hay hêt chỗ nói.
Các em ăn chung hai ba người một bát. Khoai tây nấu dừ ăn với thịt ngon tuyệt. Gôga cắm cúi ăn. Vừa nhồm nhoàm nhai một miếng thịt cậu vừa nói:
- Như thế là họ đã mổ một con bê non để đón bọn mình đấy nhé!
- Bê non nào? - Côlia chậm rãi hỏi, ngoáy ngoáy chiếc thìa - Thịt bê non mà thế này à?
- Thịt nào mà chẳng giống thịt nào. Giá được thêm ít nữa..
- Thịt bê non trắng hơn. Còn đây thịt màu sẫm. Bê non mà xương sườn thế này? - Côlia chỉ cho bạn xem một đoạn sườn to, hai đầu đập nát như bị đem dần.
Dù hai cậu nói khẽ thế mà cụ Gavrin vẫn nghe được.
- Có ngon không? - cụ hỏi
- Ngon lắm ạ! - cả bọn đồng thanh đáp.
- Thế thì được. Nghĩa là lão đã cố gắng không vô ích. Thịt gấu đấy các cháu ạ. Cậu ta mò lại đây nhé, chắc đoán được là thợ săn bây giờ không ở nhà mà. Trong vòng một tuần, cậu ta bắt mất hai con bò, tệ thật. Một con bắt ngay trước mặt người chăn bò, và anh ta cũng may lắm mới thoát được. Trước chiến tranh, một việc như thế này có bao giờ xảy ra đâu...Và rồi, lão đứng rình cậu ta ở một chỗ cách đây hai dặm. Cậu ta lấy cành khô phủ kín mồi của mình, lại còn lấy các khúc gỗ nặng đè lên trên nữa, để không ai đi được mà! Con vật này khôn thật. Lão chờ cậu ấy ba ngày, sáng ngày thứ tư thì cậu ta mò tới, to lắm, đồ quỷ. Cậu ta đứng phơi ngực ra rồi đảo mắt nhìn quanh xem thử có ai biết đến kho báu của mình không. Và lão nổ súng..Kể ra bắn thế cũng tiếc...nhưng biết làm thế nào. Một khi cậu ta đã tự mò vào làng thì thế cũng đáng. Cậu ta lảo đảo. Cách đây ba năm, lão cùng Andrrukha, chồng con gái và là rể lão, đi săn chồn gần làng Bratxcơ..
- Thôi bố - chị con gái hiền lành ngắt lời cụ - Chiều về hãy kể. Rồi bọn chúng sẽ tha hồ mà nghe chuyện bố. Bây giờ đã đến lúc ra đồng, phải không Ephim Grigôêvich?
- Tất nhiên, tất nhiên rồi! ông giáo vội đáp. Chính ông cũng mải nghe chuyện của cụ Gavrin.
- Còn xương, các cháu ạ, hãy mang cho con chó Benca - ông lão bảo. Để nó không còn sợ hơi gấu nữa.
 
Ngay sau bãi chăn súc vật được ngăn bằng những cành thông thẳng đã là cánh đồng của nông trang tập thể. Những cánh đồng giống như những hòn đảo nhỏ mọc giữa đại dương rừng taiga. Mỗi lần mùa xuân đến, nông trang lại phải cho người chặt bỏ các cây non không cho rừng lấn ra đồng. Việc này đòi hỏi nhiều công sức và thời gian. Thành ra đất thì nhiều mà đồng ruộng thì chẳng là bao.
Chị chủ tịch dẫn các em ra một cánh đồng làm khoai tây không rộng lắm. Còn các em trai thì được cô đội trưởng Pasa, một phụ nữ có đôi mắt buồn, dùng xe ngựa chở tới những đồng lúa đã gặt trông như những ngôi nhà cũ kỹ đen xạm vì thời gian.
Bọn con trai mang theo xẻng và nạng, bọn con gái thì mang giỏ và thùng.
- Đây là cánh đồng nơi các em sẽ làm việc, rộng một hecta rưỡi. Tôi nghĩ không cần phải dạy các em cách làm việc nữa. Các em đã lớn. Ai sẽ là trưởng nhóm ở đây?
- Các em nhìn nhau rồi trỏ vào Gimin, nói:
- Cậu này
- Tên em là gì?
- Gimin.
- Tên gì nghe kỳ quá. Tên lóng à?- chị chủ tịch hỏi
- Không, tên em là thế..- Không hiểu sao Giamin bỗng cảm thấy lúng túng, còn các cô bé thì cười khúc khích.
- Thôi được, Gimin, phải làm sao cho ở đây mọi việc đều tốt cả...- Giọng chị chủ tịch trở nên khô khan - Để tôi còn đi lo việc ăn uống, nghỉ đêm - vừa nhìn cánh đồng ảm đạm, chị chủ tịch vừa nghĩ thành tiếng - Giamin, đây là cánh đồng thứ nhất. Có mười một cánh đồng như vậy tất cả. Từ nay đến lúc tuyết rơi sẽ phải dỡ hết. Trưa nay tôi sẽ cho mang thức ăn và xe ngựa đến. Chở khoai đi đâu thì tôi sẽ báo sau.
Khi các em bắt tay vào dỡ khoai thì mặt đất đã bắt đầu bốc hơi, những vũng nước nhỏ bị đóng băng ở các rãnh đã lấp lánh những giọt nước chảy. Tuy thế, ngón tay các em vẫn còn tê buốt. Thấy các cô bé sơ tán xoa xoa đôi tay tê dại, Giamin nói:
- Côlia, đốt lửa sưởi lên cậu. Không thấy mọi người lạnh cóng à?
Côlia thành thạo nhóm lửa. Cái nghệ thuật nhóm lửa này cậu đã học được trong những lần đi câu cá. Bất kỳ thời tiết nào chỉ với một que diêm thôi, cậu cũng nhóm được lửa. Như bây giờ chẳng hạn cậu thong thả lấy hai cành thông khô nhỏ, vò vò những mảnh vỏ bạch mỏng như giấy quấn thuốc lá, lấy que đóm từ thân một cây thông bị sét đánh. Khi ngọn lửa đã cháy mạnh, cậu xếp chéo các cành cây lớn lên trên.
- Này, các cô bé, lại hơ tay đi - Côlia gọi.
Bây giờ thì công việc trở nên nhộn nhịp hơn. Các cô bé dỡ khoai tây nhanh hơn, và khoảng hai giờ sau mặt đất đã không còn lạnh nữa. Cậu Côlia giỏi giang đã đổ vào đống than rực hồng một thùng khoai tây.
- Trưa đến sẽ có khoai nướng để ăn - cậu giải thích
Mọi người hăng hái làm việc, cởi bỏ dần áo ấm. Đằng sau đã mọc lên hai đống củ khoai lớn. Dây khoai đỏ cạch nằm ngổn ngang giữa các luống. Vui mừng vì một ngày ấm áp, một con chim gõ kiến bắt đầu gõ cốc cốc vào một cây ở một nơi nào gần đấy. Từng đàn ngỗng trời bay là là trên cánh đồng, miệng kêu "cạc cạc". Và sau đó một con gà rừng mắt đỏ nặng nề vỗ cánh bay sà xuống thấp như nó bị một người nào đó ném từ trên cây tùng lá rụng xuống.
- Chà, được một con như thế mà thịt nhỉ! - Gôga vừa nói vừa đưa mắt nhìn theo con chim. Và bỗng nhiên tất cả đều thấy đói bụng.
- Sao không ai mang cơm trưa ra nhỉ? - Nhu ra hỏi Giamin
- Có lẽ người ta đang bận. Cậu thấy đấy, cả xe ngựa để chở khoai cũng không tới - Giamin đáp - Ta cố đào thêm ba sọt nữa, có lẽ lúc ấy người ta sẽ mang đến.
Bây giờ thì mọi người làm việc uể oải. Đã thấm mệt. Các em cảm thấy lòng bàn tay nóng ran như bốc lửa, vì cọ xát nhiều với cán xẻng. Càng đào, càng thấy đất chắc hơn, rắn hơn. Các cô bé, thậm chí cả những cô bé Xibêri, nghỉ tay càng thường xuyên hơn. Chỉ có một mình Gôga là vung xẻng đào lia lịa và vượt xa hẳn mọi người. Theo sau cậu là Cachia lính thủy ( chả là cô bé ước mơ trở thành thuyền trưởng, và học thuộc lòng tên gọi tất cả các loại tàu và thiết bị của chúng). Giamin thấy cô bé cứ loay hoay một cách vất vả nhặt củ khoai ở từng hố đào.
- - Cachia, sao cậu tụt lại đằng sau thế? - Giamin hỏi, tay xách một thùng khoai ra đống đổ.
- Thì cậu lại đây mà làm thử xem - cô bé trả lời, vẫn hí hoáy dùng gậy moi các dây khoai.
Giamin lại gần và thấy Gôga đào nông, nhiều củ còn nằm sót dưới đất.
- Cậu làm ăn như thế à? - Giamin quay về phía Gôga - Làm việc như thế này thì ai cần đến cậu?
Nghe tiếng, Vichia, Côlia và một vài cô bé nữa đi lại.
- Các cậu xem cậu ta đã làm gì này! Giamin chỉ vào một vũng đất nông choèn Gôga vừa dùng xẻng đào lên.
- Thì đã sao! Bao giờ chẳng phải để sót lại một nửa! - Gôga cau có đáp lại - Mà cậu không được ra bộ chỉ huy với mình như thế!
- Giả sử trong vườn nhà cậu, cậu có đào thế này không? Cậu lại chẳng nhặt hết dây rễ cho bò ăn mùa đông đấy à!- Vichia vung nắm đấm trước mặt Gôga. Chẳng trách bác Xtêphan vẫn gọi nhà cậu là đồ khốn.
- Có mày mới là đồ khốn - Gôga xông vào Vichia.
Thường thì Vichia vẫn sợ Gôga vì cậu ta to, khỏe hơn và bao giờ Vichia cũng nhượng bộ. Nhưng hôm nay cậu co người, lao đầu vào ngực Gôga. Cả hai đều ngã xuống đất.
- Tao sẽ cho mày biết tay, đồ khốn! - Gôga vừa hùng hổ nói, vừa cố giãy khỏi vòng tay nắm chắc của Vichia.
- Thôi đi các cậu - Nhura kêu to. Cô bé dùng nắm tay khi thì đấm vào Vichia, khi thì đấm vào Gôga.
- Thế là đủ rồi đấy! Giamin nghiêm khắc nói - Cần phải làm việc. Gôga, bây giờ cậu sẽ đào với Côlia.
Như những chú gà trống hiếu chiến, hai cậu bỏ đi một cách miễn cưỡng. Mặt trời mùa thu đã xuống sau chân trời phía Tây. Cây cối bao bọc dày đặc quanh đồng đã ngả bóng dài xuống mặt đất. Trời bắt đầu trở lạnh. Các em lại mặc áo ấm. Vẫn chưa thấy xe ngựa và thức ăn tới.
 
- Hay ta ăn khoai nướng lót dạ đã? - Côlia đề nghị
- Đúng đấy- Giamin tán thưởng- Chén đi!
Côlia nhanh nhẹn dùng que khều từ đống lửa ra những củ khoai đã được nướng chín, Phủi phủi qua những chỗ cháy xém, mọi người ăn khoai một cách ngon lành.
Gôga ngồi im không nói chuyện với ai. Vichia vốn bao giờ cũng chịu nhượng bộ Gôga, thế mà hôm nay , trước mặt các cô bé lại dũng cảm như vậy. Mà kể ra cũng có cớ để dũng cảm lắm chứ. Xe ngựa thì mãi vẫn không thấy đến, khoai tây để suốt đêm thế này sẽ bị đóng băng hết. Thế mà cậu ta lại còn sinh chuyện đánh nhau...
Gôga rất muốn nói một điều gì đấy, nhưng lòng tự ái thầm bảo:" Thôi, kệ, cứ cho khoai tây đóng băng, mai mình sẽ nói với chúng hết mọi chuyện"
- Nếu họ không đến thì thế nào nhỉ? - Nhura bỗng hỏi, thậm chí ngừng cả ăn.
- Thì khoai sẽ hỏng hết - Côlia thở dài - Ta đi bẻ thêm cành thông che khoai đi!
- Và có thể sưởi khoai bằng khói nữa - Gôga lúng búng, miệng đang ngậm một củ khoai
- Đúng đấy. Nhura và các bạn gái lo dọn dây và rễ khoai. Bọn mình sẽ đi lấy củi đêm đốt và bẻ lá thông che khoai - Giamin nói
Các cô bé tản đi khắp cánh đồng, hồ hởi nhặt dây khoai như đi tìm những bông hoa mùa xuân đầu tiên. Mọi ngừoi mải làm việc không nhận thấy Epđôkia Gavri lôpna tới từ lúc nào. Các cô bé quay lại khi giọng nói khàn khàn của chị vang lên giữa trời chiều.
- Này các em, các bạn trai đâu rồi?
- Các bạn ấy đi bẻ lá thông che khoai, Nhura đáp
- Tốt lắm! Các em có mệt không? Chắc đói lắm rồi nhỉ - chị chủ tịch dồn dập hỏi
- Chúng em chờ lâu quá..
Các cậu bé ôm những bó lá thông từ trong rừng đi ra
- Giỏi lắm! - Chị chủ tịch khen - Còn tôi thì đã không giữ đúng lời hứa. Thế là không tốt. Cứ phải chạy suốt hết chỗ này đến chỗ nọ. Chả là một dây cua roa của máy đập lúa bị đứt, đập vào đầu cô Đunhia Egrôva, mạnh đến nỗi chảy máu..Đưa cô ấy tới y sĩ, chữa lại dây cua roa, cử người khác cho lúa vào máy thay cô ấy, chừng ấy việc cũng mất bao nhiêu thời gian rồi. Các em đừng giận cô nhé. Còn các em làm việc, thì theo cô thấy, tốt lắm.
Che xong khoai và dây khoai bằng lá thông, các em lấy các cây gỗ mục, củi khô bị ướt và cả những cành tươi nữa, nhóm các đống lửa xung quanh. Một làn khói dày đặc, khet lẹt, màu vàng nhạt trùm lên đống khoai.
Khi mọi người vừa mệt vừa đói bước ra trên con đường về làng, trên trời sao đã lấp lánh như những mảnh băng nhỏ, và sau rặng núi xa xa là mặt trăng màu vàng da cam với một vầng sáng bao quanh.
- Trời sẽ băng giá - Côlia nói
- Bây giờ thì không sợ nữa - Epđôkia Gavriôpna đáp, lòng mừng thầm vì có được những người giúp việc như vậy.
 
Trên Forum 3N chăm chỉ và lặng lẽ
Ngồi bên Bờ Hồ ít nói, chỉ ngồi im
Ngỡ Cá Măng thích tôm và cá bé
Nào ngờ Cá Măng thích ăn kem :lol:
 
Trên Forum 3N chăm chỉ và lặng lẽ
Ngồi bên Bờ Hồ ít nói, chỉ ngồi im
Ngỡ Cá Măng thích tôm và cá bé
Nào ngờ Cá Măng thích ăn kem

Hi hi, cứ lặng lẽ chờ thời vận rồi cũng có ngày sếp để ý đến roài đây! :lol:
 
CHƯƠNG VII

[size=18:f60098eb01]"Món quà của cụ Gavrin"[/size]

Hai tuần nay thời tiết tốt. Tuy thế đêm vẫn rét kinh khủng. Gió thổi rít qua bờ giậu, trong vườn cành khô đập vào nhau nghe não ruột, và bên cạnh là rừng taiga đang rên rỉ. Dân làng Baironopca ngủ say sau một ngày làm việc mệt nhọc. Thêm một ngày nữa của cuộc chiến tranh, ngày thứ 99.
Ở đây, tuy cách mặt trận năm nghìn kilômet, và người dân Baironopca không nghe thấy tiếng súng, nhưng họ biết là chồng con, anh em họ đang hy sinh ở vùng ngoại ô Matxcova, Lêningrat. Ở đó làng mạc đang bốc cháy, và hàng nghìn người tỵ nạn đang đổ về miền Đông.
Cạnh làng chiếc máy đập lúa đang chạy không nghỉ, tiếng máy nghe cô đơn, buồn bã, khác hẳn trước chiến tranh. Mà cũng có thể chỉ là cảm giác, điều đó thì ai biết được. Mặc dù mọi người vẫn ngủ rất say, tuy vậy, đêm ở đây vẫn là những đêm lo lắng, hồi hộp...Thường vẫn thế...
Khi mặt trời bắt đầu chiếu những tia nắng đầu tiên thì cả làng đã tỉnh dạy. Bò cái thò những chiếc mõm ướt vào những ô cửa nhỏ và rống lên gọi đàn. Từ các cổng, những con chó còn ngái ngủ, chạy ra vươn dài mình như mèo, đứng ngáp một cách lười biếng rồi cất tiếng sủa vu vơ. Những con bê ghếch mõm vào nhau, lim dim đôi mắt xinh đẹp một cách lạ lùng của mình, đứng sưởi dưới nắng ấm, một vài con thổi thổi vào những vũng nước nhỏ bị đóng băng rồi nhốp nhoáp uống một cách ngon lành.
Các em học sinh đã ra đồng từ lâu, cứ dỡ xong một gốc khoai tây lại chạy đến hơ tay trên ngọn lửa - đất rất lạnh và ẩm ướt. Bây giờ không còn như những ngày đầu, chẳng còn lúc nào mà nói đùa nữa. Thời tiết chẳng chờ ai - không phải là lúc cười đùa nữa, mà phải làm việc gấp. Cụ Gavrin chở khoai từ đồng về, những ngày gần đây thường nói với ông giáo:
- Chà, Ephim Grigôêvich ạ, học trò của thầy thật lớn lên trông thấy. Mới đến, có thể nói, chúng còn nhóc lắm, thế mà bây giờ, thầy xem, chúng rắn lên bao nhiêu. Chúng hiểu mà..Thậm chí cả cô bé Tamara, người Matxcova, có lẽ hai tay đã ứa máu hết, thế mà ngày nào cũng ra đồng. Đôi mắt đen cứ ánh lên như muốn nói:"Sao cháu phải thua kém người khác? cháu cũng sẽ ra đồng!" Đấy, cứ xem cô ta thì biết...
Hôm nay các em làm việc đặc biệt hăng hái. Một phần vì hôm qua chị chủ tịch về nhà sớm hơn thường lệ, tới ngưỡng cửa, chưa kịp cởi xong đôi ủng lấm bẩn, nói:
- Tôi biết là các em mệt lắm. Nhưng dù sao thì các em hãy cố gắng hơn nữa...Chúng ta không được để tuyết vùi lấp lương thực, các em ạ. Chúng ta không có quyền làm thế. Các em đã lớn và hiểu điều đó..
Nhưng dù các em có cố bao nhiêu, các bì khoai vẫn đầy lên một cách chậm chạp. Ngay việc đổ khoai từ giỏ vốn nặng vì đất bám cũng trở nên khó khăn hơn, như đổ hắc ín nấu quánh từ thùng ra vậy.
Cánh đồng có những cây cổ thụ cao vút trở nên xám xịt. Các em thấy rét lạnh. Các em có cảm giác như đang làm việc dưới đáy một chiếc giếng khổng lồ.Ai cũng co rúm lại vì lạnh và thỉnh thoảng lại đưa mắt buồn bã liếc nhìn những tia nắng như đang đọng trên các tháp nhọn của rừng thông và cây tùng lá rụng. Sức ấm của mặt trời chậm chạp xuyên qua các kẽ cây. Qua một đêm dài bị đóng băng, đất từ từ nhũn ra thành bùn nhão bám vào chân..
Tamara thậm chí cảm thấy xấu hổ nhớ lại cách đây không lâu cô còn là người sợ lạnh và sợ bẩn nhất. Ngay từ những ngày đầu mới đến, đôi giày màu nâu của cô trông đã giống nhưu mọt đôi dép rơm bện vụng về, luôn bị đất dính kéo tụt. Giấu không cho các bạn biết, cô bé lấy rơm lót dưới đế và dùng dây buộc chặt lại. Nhưng một chiều nọ, Cachia lính thủy đã trông thấy:
- Giày thế này mà cậu còn đi ư? Cậu sẽ ốm đấy! Quẳng đi! Này các cậu ơi, lại đây mà xem! - Cachia chỉ cho các bạn mình xem đôi giày rách bươm của cô bé Matxcova.
Tối ấy mọi người suy nghĩ rất lâu tìm cách giúp Tamara. Có người đề nghị cho Tamara trông coi việc nội trợ ở nhà. Nhưng Tamara, không hiểu sao mặt ửng đỏ, nói:
- Không, các bạn ạ, mình có lạnh tí nào đâu..
Và cuối cùng, để kết luận, Ephim Grigôêvich nói:
- Tamara, ngày mai em sẽ trở lại Taiset. Chân đất thì ở đây không làm được gì cả. Hơn nữa cũng chẳng được nhiều việc. Thiếu em các bạn cũng sẽ làm xong. Dĩ nhiên là tiếc đấy, nhưng... - ông giáo đưa tay sửa lại cặp kính.
- Em sẽ không đi đâu cả..- Tamara nói như thì thầm.
Nhưng ngày hôm sau, cụ Gavrin đến gặp cô bé Matxcova, ôm ngang vai, nói:
- Thế nào cháu, sao buồn vậy? Không muốn về nhà một mình à?
Cô bé gật đầu.
- Thế là đúng. Cháu cứ ở đây. Ông đã tìm được cho cháu đôi giày này. Kể ra có hơi rộng một tý, nhưng lấy vải quấn vào chân đi cũng vừa. Đi nó sẽ ấm như nằm trên lò sưởi ấy, chẳng thua giày lông một tý nào.
Bày cho Tamara quấn vải vào chân xong, cụ Gavrin giúp cô bé xỏ giày, rồi lấy một sợi dây mềm quấn chặt ở bàn và ống chân.
- Trông cháu như một cô gái địa phương - cụ nói, một mắt nhíu mày lại, còn mắt kia nheo nhìn.
Từ hôm đó, Tamara đi đôi giày cụ Gavrin tặng, và chân không còn biết lạnh là gì nữa. Khi các bạn gái hơ những đôi giày sũng nước của mình bên ngọn lửa, cô bé Matxcova nói:
- Các bạn cứ sưởi đi để mình làm nốt chỗ này.
Giamin thấy Tamara làm việc tích cực, không hiểu sao bỗng mỉm cười.
- Còn khoảng ba ngày nữa là có thể ta sẽ v ề.
- Mà ba ngày này phải làm căng lắm! - Vi chi a tì người lên cán xẻng, nói.
Khi các cô bé đã bỏ đi dỡ khoai, Giamin lại ngồi gần đống lửa, cởi giày, giũ những cọng rơm ứớt vào ngọn lửa, nhưng vừa thấy Tamara bước lại, đã vội vàng quấn lại mảnh dẻ bọc chân mà cậu mới bắt đầu cởi ra. Tuy giày khá rộng, nhưng cho được chân vào cũng khá vất vả.
- Ngón tay mình cóng hết cả rồi- cô bé nói và chìa đôi tay bám đầy đất về phía ngọn lửa.
" Sao cậu ấy im lặng thế nhỉ - Tamara ngạc nhiên nhìn Giamin đang định vội vàng bỏ đi - Hay cậu ấy ganh tị? Hãy xem cậu ấy nhìn vào đôi chân của mình kìa. Mà sao có thể ganh tị được cơ chứ?"
 
- Chân cóng rồi à? - Tamara hỏi
- Khô -ô-ô. Mình đi lại đôi giày. Giày mình tốt lắm - Gimin nói, vẫn không ngước lên.
- Giày của mình cũng tốt lắm. Bây giờ mình hoàn toàn không thấy rét nữa. Chỉ có tay là buốt cứng mà thôi.
- Vâng, các bạn vất vả hơn. Bọn mình chỉ có việc đào thôi. Tamara, sưởi đi, sưởi cho ấm. Không thì, như người ta nói, có thể bị tê thấp đấy - Gimin nói với vẻ thông thạo. Cậu cạo sạch đất bám ở lưỡi xẻng rồi lại lao vào làm việc.
Dưới chân, đôi giày kêu ọp ẹp, nghe đến phát ngán, nhưng Giamin vẫn như không nghe thấy gì.
Giami, vốn bao giờ cũng ăn ngon miệng, nhưng bỗng dưng bỏ ăn tối.
- Để mình ăn thay cho cậu nhé? - Gôga nói ngay.
- Nhưng ít ra cũng phải chừa bánh mì lại, sáng mai cậu ấy sẽ ăn - Vichia giật áo Gôga
- Cứ để cậu ấy ăn - Giamin uể oải nó rồi ngồi xuống chiếc ghế cạnh lò sưởi
- Cậu không ốm đấy chứ? - Côlia hỏi
- Không, chỉ hơi lạnh một tí
- Thì sưởi đi, sưởi đi, còn bọn mình sẽ sưởi bằng thìa - Gôga vừa nói vừa khoái trí cười vì câu pha trò của mình. Bọn trẻ nghiêm khắc nhìn về phía cậu.
- À, mà người cậu nóng bừng lên thế này cơ mà - đặt lòng bàn tay khô của mình lên má của Giamin, Ephim Grigôvich nói- Em ốm rồi!
Theo lời dặn bảo của ông giáo, Giamin leo lên lò sưởi nằm, bọc mình trong chiếc áo ấm ngắn, cũ kỹ, sặc mùi hành và ngủ thiếp liền ngay lúc đó. Cậu có cảm giác như bị nâng lên,rất cao, rồi lại lao nhanh xuống đất. Cậu muốn kêu to nhưng không được..
Sau khi đã kể cho cụ Gavrin vừa từ đồng về nhà việc Giamin ốm, ông giáo khoa tay một cách ngạc nhiên, nói:
- Lạ thật, người khỏe nhất lớp lại bị gục. Mà cậu ta không hề than phiền một lần nào.
Để không đánh thức các em, ông cụ lặng lẽ cởi chiếc áo khoác dày không thấm nước và chiếc áo ấm mặc trong ra.
- Tội nghiệp cậu ấy - ông cụ nói rồi đứng lên ghế, với tay về phía nguời bệnh. - Đang sốt! Đúng là bị cảm. Được, bây giờ lão sẽ chữa khỏi ngay thôi, cháu ạ.
- Nhưng tại sao cậu ta lại ốm được?- ông giáo hỏi, vẻ không hiểu - Giày của cậu ta ấm hơn giày người khác. Ngay cả Tamara mà tôi lo nhất cũng không sao nữa là, thế mà, đùng một cái, cậu ta lại..
Ông cụ nhếch mép cười, lẩm bẩm một câu gì đấy trong chòm râu.
- Cụ có cần tôi giúp chứ? - ông giáo hỏi.
- Có, bây giờ để lão xuống hầm lấy ít củ cải đã. Ông giáo soi đường cho lão nhé?
- Trong khi ông giáo xát nhỏ củ cải không cạo vỏ thì ông cụ lấy quả mâm xôi cho vào ấm để pha đặc.
- Bây giờ thì có thể đánh thức cậu ấy dậy được rồi - cụ chủ nhà nói.
Hồi lâu, Giamin không sao hiểu nổi ông lão rậm râu, giống ông già Tuyết và người đàn ông đeo kính kia muốn gì ở cậu.
- Này cháu, lão đây, cụ Gavrin đây - ông lão nói, giọng ngọt ngào
- Cháu khát, khát quá cụ ạ..
- Tốt lắm, bây giờ lão sẽ cho cháu uống nước chè nấu với phúc bồn tử nhé!
- Nóng quá! - Giamin ẩy chiếc cốc ra
- Không sao!Không sao! Cháu uống đi, uống đi! - ông cụ nói như dỗ một đứa bé, tay vẫn giữ cốc thuốc trước mặt.
Giamin chậm rãi uống, người nóng bừng vì cốc thuốc đang bốc mùi thơm. Xong cốc thứ nhất, ông cụ lại đưa tiếp cốc thứ hai rồi khẩn khoản nói:
- Cháu ạ, bây giờ sẽ trị bệnh ho cháu đây. Sáng mai bệnh cháu sẽ biến mất. Để lão lấy củ cải đắp vào người cháu.
Ngọn lửa trên mẩu nến trong tay ông giáo lung linh, nhảy nhót tỏa khói,lúc thì soi sáng khuôn mặt đỏ bừng nhễ nhại mồ hôi của Giamin, lúc thì soi tỏ ông già đang lấy những ngón tay to và cong cong đắp bã củ cải lên lưng và ngực người bệnh.
 
- Nóng quá! - Giamin khẽ rên
- Thế là tốt, xem này, cái lạnh đang ra khỏi người cháu đấy - ông cụ lấy lòng bàn tay vuốt những giọt mồ hôi lớn trên trán người bệnh.
- Cháu có thấy là tấm kính từ lạnh vào chỗ ấm thì khóc không? Hay như chiếc rìu cũng thế. Cháu biết không? Chúng tuy không có hồn nhưng biết ghét băng giá đấy
- Nóng quá! - Giamin lại khẽ nói.
- Có lẽ bây giờ thế là đủ - ông cụ nói và cởi bỏ miếng gạc
Giamin có cảm giác như vừa ở nhà tắm hơi ra, người nhẹ nhàng và dễ chịu hẳn lên. Có điều cậu thấy bải hoải khắp toàn thân.
Trong khi cụ Gavrin đang loay hoay lấy một chiếc áo sạch từ hòm ra cho cậu mặc thì cậu đã ngủ thiếp đi rồi. Tiếng thở đều và nhẹ của cậu làm ông lão yên tâm. Thậm chí Giamin cũng không tỉnh dậy cả khi người ta cởi chiếc áo đẫm mồ hôi và mặc cho cậu chiếc áo của ông cụ.
- Thầy giáo ở lại ăn cơm với lão nhé? - vừa ngồi xuống bàn, ông cụ vừa nói - Cậu ta cảm cũng khá nặng đấy.
- Nhưng sao lại thế được nhỉ, cậu ta là người Xibêri cơ mà?
- Bây giờ lão sẽ kể cho thầy giáo nghe vì sao cậu ấy bị cảm...
Và ông cụ kể như sau:
- Vào đúng ngày mọi người muốn để Tamara về Taiset, Giamin đứng chờ cụ ở phòng ngoài, ấp úng nói:
- Cụ không được cho ai biết, cụ nhé. Cụ lấy giày của cháu đây đưa cho cô bé Matxcova, cái cô có đôi bím tóc ấy..Giày của bạn ấy thủng, chân lúc nào cũng sũng nước..Thầy giáo bắt về nhưng cô ấy không muốn, nhất định không chịu thua ai. Cụ đưa đôi giày này của cháu cho bạn ấy, giày còn tốt lắm..
- Thế còn cháu? - cụ Gavrin nghi ngờ nhìn Giamin
- Cháu sẽ tự lo lấy...Cháu thấy trong thùng đựng dụng cụ của cụ có một đôi giày cũ. Nếu cụ cho phép...
- Nhưng đôi giày ấy thì còn đi thế nào được nữa! Cháu làm lão khó nghĩ đấy, cháu ạ- ông cụ khẽ vuốt bộ râu rậm - Thôi ra ngoài cửa ta bàn thêm.
Con chó Benca phấn khởi đón họ bằng những tiếng sủa ăng ẳng. Nó không ngớt nhảy nhảy như muốn liếm vào mặt Giamin. Còn đối với ông cụ thì nó có vẻ từ tốn hơn. Nó cà mình vào chân, rúc chiếc mõm đen vào tay cụ, kiên nhẫn chờ chủ vuốt lên người nó. Trong chuồng, bầy cừu kêu be be, con bò sữa chậm rãi nhai cỏ. Trên trời, trăng thuợng tuần như chiếc câu liêm đang bơi giữa những tầng mây nhấp nhô như sóng.
- Đôi giày đã tã lắm rồi, cháu làm thế nào mà đi được? Khéo không lại ốm.
- Cháu sẽ vá lại. Miễn chỉ bền là được - Giamin nói, vẻ cuơng quyết - Cụ Cudia đã dạy cháu. Cháu khỏe lắm, không sợ gì đâu. Còn cô bé kia chưa quen..có thể ốm..
- Được, cháu đã quyết thế thì ta làm thế, có điều phải cẩn thận. Không được ốm đấy nhé! - cụ giơ ngón tay lên dọa- Hôm nay lão sẽ chữa lại. Không biết có đi được lâu không.

Trời sắp tối hẳn, Giamin không nhìn thấy đôi mắt của cụ đang lấp lánh và tay cụ đang xoa xoa đầu con Benca, làm nó sung sướng đến nỗi không dám ngọ nguậy đôi tai nữa...
- Thế mà thầy giáo còn bảo - người Xibêiri- ông cụ kết thúc câu chuyện của mình.
- Vâng, ra thế ...Ephim Grigôêvich kéo dài giọng, hai cùi tay tì lên bàn
- Người ta hay nói tâm hồn trẻ con là chiêc gương, trong đấy có thể soi thấy tất cả. Thì đấy, hãy thử nhìn vào chiếc gương này, thấy một cái gì đó...
 
Back
Top