Ti-mua và đồng đội.

  • Thread starter Thread starter TLV
  • Ngày gửi Ngày gửi
Len90 nói:
... Bác TLV ơi, nhà em cũng có quyển Timua và đồng đội của Cao Thụy dịch, nên khi nào cần chạy tiếp sức thì bác cứ thông báo nhé.

Cảm ơn bạn. Nếu lâu không thấy bài (do bận hoặc... quên) nhờ bạn trợ giúp, và tôi lại nối tiếp...

------

[color=darkblue:cdf4345b89]...Sáng dậy bà cụ bán sữa không thấy ba người khách mua thường xuyên đến lấy sữa. Giờ này ra chợ thì cũng đã muộn mất rồi. Nghĩ vậy nên cụ đành quàng cái bình sữa to tướng lên vai mang đến từng nhà một. Đi mãi, cuối cùng bà cụ dừng lại trước cửa nhà Ti-mua.

Ngay từ lúc còn đứng bên ngoài hàng rào bà cụ đã nghe thấy có tiếng người hát giọng trầm và ấm ở trong nhà. Như vậy là có chủ nhà ở nhà và có thể bán được ít nhiều sữa rồi.
Vừa bước qua cái cổng gỗ bà lão đã cất tiếng rao:

- Mua sữa không nào, trong nhà có mua sữa tươi không?

- Hai ca!- có tiếng trầm trầm trả lời ra.

Bà lão vừa buông cái bình sữa xuống khỏi vai và quay người lại thì chợt nhìn thấy một ông già què quần áo rách rưới, râu tóc bờm xờm đang bước ở bụi cây đi ra. Tay ông ta cầm khư khư một thanh kiếm tuốt trần.

- Cụ già ạ, tôi chỉ hỏi ở đây có cần sữa không thôi mà! - bà bán sữa dè dặt bước lùi lại phía sau, luôn miệng nói. - Gớm sao trông cụ dữ tợn thế? Cụ già định mang kiếm đi phát cỏ hả?

- Hai ca. Cái ca để ở trên bàn kia kìa, - ông già trả lời ngắn gọn rồi cắm phập mũi kiếm xuống đất.

- Sao cụ không đi mua cái lưỡi hái về mà dùng có hơn không? - bà lão tay luống cuống đong sữa, nhưng mắt vẫn sợ hãi nhìn ông già. - Bỏ quách cái kiếm ấy đi cho rảnh. Cứ cầm nó không, cũng đủ làm cho người trần mắt thịt chúng tôi phát khiếp lên rồi.

- Bao nhiêu tiền? - ông già thò tay vào túi quần thụng và cất tiếng hỏi.

- Như mọi người thôi, - bà bán sữa đáp, - một rúp tư một ca, vị chi là hai rúp tám. Tôi chả lấy hơn làm gì.

Ông già nọ lần túi rồi rút ra một khẩu súng lục to sụ đã có nhiều chỗ sây sát.

- Thôi, thế thì để lúc khác vậy, cụ ạ... - bà bán sữa cuống cuồng ôm vội lấy bình sữa vừa lủi ra cổng vừa khẩn khoản van nài. - Này, cụ già ơi, cụ đừng có nhỡ tay đấy! - Thế rồi chân vẫn rảo bước, bà lão còn cố ngoái cổ lại nói thêm. - Tôi chưa vội cần tiền làm gì đâu, cụ già quí hóa ạ.

Bà lão chạy vút ra ngoài đường đóng sập cổng lại và bắt đầu la lối om xòm:

-Đem mà quăng cái con quỷ già ấy vào nhà thương điên đi thôi. Phải cùm chặt chân vào chứ không thể thả rông như thế được đâu.Phải, phải! Cứ đem tống cổ vào nhà thương điên mà nhốt lại.

Ông lão so vai, nhét tờ giấy bạc trở lại túi, rồi vội vàng giấu khẩu súng lục ra sau lưng, vì nhác trông thấy ông già lịch thiệp bác sĩ Cô-lô-côn-tri-cốp đang đi vào vườn.

Ông ta chống gậy bước đi khoan thai trên con đường nhỏ. Dáng đi của ông thật cứng đơ đơ, còn vẻ mặt xem ra vừa có vẻ đăm chiêu, lại vừa nghiêm nghị.

Chợt thấy ông già kỳ quặc, con người lịch thiệp vội hắng giọng và sửa lại gọng kính:

- Cụ già làm ơn mách giúp ai là chủ cái ngôi nhà này.

- Chủ ngôi nhà này là tôi, - ông già kia trả lời.

- Nếu vậy thì, - con người lịch thiệp đưa tay lên nắn nắn vành mũ cói và nói tiếp, - xin cụ cho biết thằng bé Ti-mua có phải là bà con họ hàng với cụ không?

- Phải, nó có họ với tôi, - ông lão trả lời, - nó là cháu gọi tôi bằng chú.

- Tôi rất lấy làm đau xót, - con người lịch thiệp bật ho. Ông vừa đưa mắt e ngại nhìn thanh kiếm trên mặt đất, vừa bắt đầu câu chuyện. - Đứa cháu của cụ sáng tinh mơ hôm qua đã định ăn cướp nhà chúng tôi.

- Sao?! - Ông già kinh ngạc. - Thằng Ti-mua nhà tôi định cướp nhà cụ à?

- Vâng chính thế! - con người lịch thiệp liếc mắt nhìn ra sau lưng ông già nọ, trong lòng bắt đầu thấy lo sợ. Nhưng ông vẫn nói tiếp. - Nó đã lợi dụng lúc tôi còn đang ngủ say để cướp lấy cái chăn chiên mỏng mà tôi đang đắp trên người.

- Ai kia chứ? Thằng Ti-mua cướp của cụ thật à? Nó định đánh cắp cái chăn chiên à? - ông già đâm ra hoang mang. Khẩu súng lục ông vẫn giấu sau lưng bỗng nhiên rơi bộp xuống.
Mối lo sợ càng dội mạnh vào tim con người lịch thiệp đáng kính. Ông ta làm ra vẻ bình thản lủi dần về phía cổng. Rồi ông nói với vào:

- Dĩ nhiên tôi không khẳng định điều đó. Nhưng sự thực thì vẫn là... sự thực! Thưa ngài! Tôi yêu cầu ngài đừng có bước lại gần tôi. Lẽ tất nhiên tôi còn chưa biết nên xử lý thế nào... Nhưng cứ nhìn cái dáng dấp của ngài, cái hành vi kỳ quặc của ngài...

- Nhưng, cụ ạ, - ông lão vừa nói vừa chạy lại gần con người lịch thiệp, - có lẽ chuyện vừa rồi chỉ là một sự nhầm lẫn.

- Thưa ngài! - con người lịch thiệp không rời mắt khỏi khẩu súng lục, vẫn tiếp tục tìm lối rút lui và nói gần như quát lên. - Cuộc tiếp xúc giữa chúng ta đã bắt đầu có chiều hướng không thích hợp với tuổi tác của chúng ta.

Ông ta nhảy ra khỏi cổng vườn rồi co cẳng chạy, vừa la to:

- Không, không, đúng là có chiều hướng không thích hợp; không xứng đáng một tí nào hết...

Ông già què bước lại gần cổng đúng lúc Ôn-ga đang đi ra sông tắm và đang bước tới trước mặt con người lịch thiệp hốt hoảng kia.

Đột nhiên ông lão què trong vườn vung cao tay lên gọi Ôn-ga đứng lại. Nhưng con người lịch thiệp nhanh như con dê, đã nhảy qua rãnh cầm lấy tay Ôn-ga kéo đi. Lập tức cả hai người biến mất sau chỗ ngoặt. Ông già nọ thấy thế phá lên cười. Vừa say sưa, vừa thú vị, ông lão nện manh cái chân gỗ lên mặt đất mà nhảy, mà hát:

Trên đường bay mê mải
Anh nào thấy được em
Chờ anh, chờ anh mãi
Đến khi trời nắng lên,
Hỡi anh!


Thế là ông ta tháo cái dây da buộc ở đầu gối ra, vứt cái chân gỗ xuống cỏ, vừa chạy vào nhà vừa tháo nốt bộ râu tóc giả đi.

Mười phút sau đồng chí kỹ sư trẻvui tính Ghê-oóc-ghi Ga-ra-ép chạy xuống bậc thềm, dắt chiếc xe mô tô ở nhà kho ra. Anh gọi con chó Ri-ta lại bảo nó giữ nhà rồi dận ga, nhảy lên và phóng thẳng ra bờ sông tìm Ôn-ga vừa bị anh ta làm cho một mẻ sợ hãi.[/color]
 
Khoảng mười một giờ Gây-ca và Cô-li-a đến lấy trả lời tối hậu thư.

Cậu đi cho thẳng người lên một tí nào! – Gây-ca cằn nhằn bạn - Bước nhẹ, nhưng phải cho vững chãi. Cậu đi cái kiểu gì mà cứ như gà mổ giun ấy. Áo quần của cậu hẳn hoi tử tế thế này, mà sao trông cậu chẳng có tí tư thế nào cả. Cậu đừng giận tớ vì tớ nói thẳng. Đấy, cậu xem, tại sao vừa đi cậu lại vừa cứ liếm môi mãi như thế? Nhét tụt cái lưỡi vào mồm rồi cứ để yên nó ở trong ấy, - Chợt trông thấy Xima chạy ngang qua đường, Gây-ca vội hỏi: - Cậu ra đây làm gì?

- Timua cử tớ đi liên lạc – Xima nói liến thoắng - Cần phải như thế, cậu chẳng biết cóc gì hết. Các cậu có việc của các cậu, còn tớ vó việc của tớ, Cô-li-a, cho tớ thổi kèn một cái. Trông cậu hôm nay có vẻ oách ghê! Gây-ca , cậu ngốc lắm! Đi làm công việc nghiêm túc đáng lẽ phải mang giày hay bốt vào mới đúng! Đại sứ gì mà lại đi chân đất bao giờ? Thôi, các cậu đi về phía ấy, còn tớ thì phải rẽ sang phía này. Hấp, hấp! Tạm biết nhé!

Đúng là “Vua” ba hoa! – Gây-ca lắc đầu – Đáng lý chỉ cần nói có bón câu là đủ, đằng này lại làm một lúc hàng trăm câu. Bờ tường chắn đây rồi, kèn lên đi, Cô-li-a!

Bảo thằng Mi-sơ-ca lên đây! – Gây-ca ra lệnh cho thằng bé đang ló người ra ở phía bên kia đường.

- Đi vòng sang phía bên phải ấy! Có tiếng thằng Mi-sơ-ca nói vọng ra. Chỗ ấy có lối dành riêng cho bọn các cậu đấy!

- Đừng đi vội. – Cô-li-a giật mạnh tay áo Gây-ca lại, nói khẽ. – Chúng nó sẽ bắt cóc bọn chúng mình để đánh đấy.

Cả bọn chúng nó đánh hai đứa mình ấy à? Gây-ca ngạo mạn nói. Thổi nữa lên đi, Cô-li-a, thổi cho to lên. Đội chúng ta có mặt ở khắp các ngả đường.

Hai em bước qua cái cổng sắt gỉ tiến đến trước mặt một bọn con trai. Đứng đầu nhóm là “ Con bài hoa” và Mi-sơ-ca.

- Đưa thư trả lời ra đây! – Gây-ca nói, giọng chắc nịch và quả quyết.

Mi-sơ-ca mỉm cười, còn thằng “Con bài hoa” thì cau có.

- Hãy nói chuyện cái đã. – Mi-sơ-ca đề nghị - Nào ngồi xuống đây, ngồi một tí đã, đi đâu mà vội?

- Đưa thư trả lời ra đây! – Gây-ca lạnh lùng nhắc lại một lần nữa. – Còn việc nói chuyện với các cậu thì sau này sẽ hay.

Kể cũng lạ lùng và khó hiểu thật: không biết cái anh chàng lùn tịt mặc chiếc áo lót thuỷ quân nom rất vững chãi đang đứng cạnh anh lính kèn bé nhỏ với sắc mặt tái mét kia đùa, hay thật? Hay là sau khi nghiêm khắc nheo đôi mắt sáng lại, thằng vai rộng chân đất kia tự cho mình cái quyền bắt người khác phải trả lời. Đúng là đồ ngốc!

- Này, cầm lấy. – Mi-sơ-ca chìa mảnh giấy ra.

Gây-ca giở ra xem và thấy mảnh giấy chỉ có hình vẽ một nắm đấm rất nguệch ngoạc kèm theo một câu chửi bậy ở dưới.

Gây-ca không chút thay đổi thái độ. Em bình tĩnh xé toạc tờ giấy đi. Lập tức cả em và Cô-li-a bị bọn kia ghì chặt lấy vai và tay.

Cả hai đều không hề chống cự lại.

Mi-sơ-ca bước lại trước mặt Gây-ca , nói:

- Đáng lẽ chúng tao phải nện cho tụi mày mấy cái về chuyện tối hậu thư mới đúng. Nhưng chúng tao vốn là người hiền hậu. Bây giờ thì chúng tao phải nhốt tụi mày vào đây tới đêm – nó chỉ tay vào miếu thờ - và đêm nay bọn tao sẽ dọn sạch nhẵn cái vườn táo ở nhà số ba mươi tư cho chúng mày biết tay.

- Không “dọn” nổi đau, Gây-ca bình thản trả lời.

- Dám thách tụi tao hả! - Thằng “Con bài hoa” hét len và đấm mạnh một cái vào mặt Gei.

- Có giỏi đấm thử một trăm quả liền đi! – Gây-ca nheo mắt vào rồi lại mở trừng mắt ra – Cô-li-a này - cậu quay lại khích lệ bạn – chớ có nhút nhát đấy. Mình đã cảm thấy là hôm nay thế nào đội ta cũng sẽ có lệnh tập trung khẩn cấp.


Hai tù binh bị bọn kia đẩy vào ngôi miếu thờ bé nhỏ có những cánh cửa chớp bằng sắt đóng chặt. Sau đó, chúng đóng sập cả hai cánh cửa ra vào và cài then cẩn thận. Đã thế chúng lại còn chèn thêm cả một khúc gỗ nữa.

- Thế nào? - Thằng “Con bài hoa” bước lại gần cửa, đặt tay lên mồm làm loa, kêu to – Bây giờ định sao đây: theo bọn tao hay nằm trong đó hết đêm?

Từ phía trong cánh cửa có tiếng trả lời, giọng khàn khàn :

- Không đâu, lũ ăn mày ơi, từ nay trở đi sẽ không bao giờ lại có cái chuyện làm theo ý bọn bay nữa đâu.

“ Con bài hoa” nhổ phì phì.

- Anh nó là thủy quân đấy! Thằng A-li-ô-sa trọc đầu càu xạu nói. Anh nó phục vụ trên tàu cùng với chú tớ đấy.

- Thì đã sao! “Con bài hoa” sẵng giọng. Còn mày là cái gì, thuyền trưởng chắc?

-Tay nó bị ghì chặt rồi, mày lại còn đánh nó. Như thế liệu có đáng không?

- Này thì cả mày nữa! – “Con bài hoa” nổi khùng và giáng luôn cho A-li-ô-sa một quả.
- Thế là hai đứa vật nhau ra bãi cỏ. Những đứa kia phải vội xông vào lôi taiy, lôi chân mà gỡ ra…

Không một đứa nào để ý tớ bộ mặt của Xima đang ló ra trong đám lá bồ đề rậm rạp gần bờ tường chắn.

Cậu ta tụt rất nhanh xuống đất rồi chạy thẳng một mạch tắt qua các khu vườn ra bờ sông để gặp Timua và các bạn.
 
Cảm ơn bạn Len90

----------

[color=darkblue:3c4bb7105a]Ôn-ga trùm đầu bằng chiếc khăn mặt và nằm dài trên bãi cát đọc sách.

Giê-nhi-a cũng đang tắm. Bỗng có người đến ôm lấy vai em.

Giê-nhi-a quay phắt lại.

- Chào bạn,- một cô bé cao, mắt đen láy nói, - Ti-mua cử tôi đến đây đấy. Tôi là Ta-nhi-a, cũng là người cùng đội với cậu ấy. Cậu ấy rất ân hận về việc chỉ vì cậu ấy mà chị bạn đã mắng bạn.Chị bạn ác lắm phải không?

- Bảo hộ cậu ấy cứ yên tâm, - Giê-nhi-a đỏ bừng mặt lên và nói ấp úng. - Chị Ôn-ga không ác tý nào đâu, tính chị ấy như vậy đấy thôi. - Rồi Giê-nhi-a khoát tay thất vọng nói thêm. - Hừm, chị ơi là chị! Cứ chờ đấy! Ba về sẽ hay!...

Đôi bạn gái cũng thôi tắm và cùng đi lên đoạn bờ phía bên trái bãi tắm. Đến đấy hai em bỗng gặp Nhu-rơ-ca.

- Này, cậu có nhận ra tôi không? - Nhu-rơ-ca lí nhí hỏi Giê-nhi-a. - Đúng rồi! Tôi nhận ra cậu ngay! Ti-mua kia kìa! - Cô bé cởi cái áo xuống rồi chỉ về phía bờ bên kia, chỗ có mấy cậu con trai đang đứng ở đó. - Tôi biết ai đã tìm hộ con dê, ai xếp củi, ai đã cho em tôi ăn dâu tây rồi. Tôi cũng biết cả chị cậu nữa, - cô bé quay về phía Ta-nhi-a. - Có lần thấy bạn ngồi khóc bên luống rau. Đừng khóc. Chả hay gì đâu!... Này, đứng im đấy, con quỷ kia, kẻo tao lại đem mày đi vứt xuống sông bây giờ! - cô bé quay lại quát con dê đang bị buộc vào bụi cây. - Nhảy xuống tắm nữa đi, các cậu!

Giê-nhi-a và Ta-nhi-a đưa mắt nhìn nhau. Trông cô bé Nhu-rơ-ca này thật là ngộ nghĩnh. Người bé nhỏ, da cháy nắng, chẳng khác nào một cô gái Xư-gan.

Tay cầm tay cả ba cô cùng chạy ùa xuống sông, đón làn sóng xanh đang vỗ dào dạt.

- Thế nào, nhảy chứ?

- Nhảy đi!

Thế là cả ba cô cùng nhảy ùa xuống nước.

Nhưng, các cô chưa kịp lặn thì bỗng có người thứ tư nhảy xuống theo.

Đó là Xi-ma. Cậu ta vội đến nỗi cứ để y nguyên cả quần áo, đi dép xăng-đan mà nhảy xuống nước. Cậu ta vừa hất tung mớ tóc dính nước, vừa phun phì phì để bơi từng sải rộng sang tới bờ bên kia cho thật nhanh.

- Nguy quá! Giê-nhi-a ơi! Nguy to rồi! - cậu ta quay về phía Giê-nhi-a kêu to. - Gây-ca và Cô-li-a bị bọn nó phục kích rồi!



...Ôn-ga vừa đọc sách vừa đi lững thững lên đồi. Đến chỗ con đường mòn thoai thoải chạy ra đường nhựa chị bỗng trông thấy anh Ghê-oóc-ghi đang đứng bên cạnh chiếc mô-tô. Hai người chào nhau.

- Tôi đang phóng, - anh giải thích, - thì trông thấy chị đi về. Tôi nghĩ, hay là ta đợi ở đây rồi đưa về, nếu cùng đi một đường.

- Nói dối! - Ôn-ga không tin. - Anh cố tình đứng đây đợi tôi.

- Vâng, đúng là như vậy đấy, - anh Ghê-oóc-ghi thú nhận, - định nói dối cũng không xong. Tôi định xin lỗi chị về chuyện vừa rồi đã làm chị sợ. Cái lão già thọt đứng cạnh cổng ấy chính là tôi. Tôi hoá trang để chuẩn bị cho một cuộc tổng duyệt đấy mà. Chị ngồi lên đây, tôi đưa chị về.

Ôn-ga lắc đầu từ chối.

Anh đặt lên cuốn sách của chị một bó hoa. Bó hoa khá đẹp. Ôn-ga đỏ mặt, lúng túng... ném bó hoa xuống đường.

Ghê-oóc-ghi quả là chưa ngờ được tới chuyện đó.

-Ôn-ga ạ! - anh buồn rầu nói. - Chị chơi đàn giỏi, hát lại hay, chị có đôi mắt nhìn rất thẳng thắn và rất sáng. Tôi chưa làm điều gì để chị phải phật ý. Nhưng tôi thiết nghĩ, chẳng có ai lại xử sự như chị bao giờ... Kể cả những người làm nghề bê tông cốt sắt.

-Không cần hoa! - hoảng hốt về hành vi của mình, Ôn-ga nhận lỗi. - Chẳng cần phải tặng hoa tôi cũng vẫn đi với anh được như thường.

Nói rồi chị ngồi lên chiếc đệm da. Và thế là chiếc mô tô chạy vút đi như bay trên đường cái.

Con đường đã đến chỗ rẽ đôi, nhưng chiếc mô tô đã lờ con đường rẽ vào khu trại nghỉ mát, lao thẳng ra phía cánh đồng.

- Anh đi sai đường, - Ôn-ga kêu to, - rẽ sang phải mới đúng.

- Đường này tốt hơn, - anh Ghê-oóc-ghi đáp, - ở đây đường vui hơn nhiều.
Lại một con đường rẽ nữa. Hai người phóng vút qua một khu rừng nhỏ rợp bóng mát, lá reo rì rào. Một con chó nhảy bổ ra khỏi đàn bò, cừu vừa cố sức đuổi theo mô tô, vừa sủa inh ỏi. Nhưng đuổi làm sao nổi! Xe chạy xa rồi!

Một chiếc xe tải chạy ngược đường rú ga y như tiếng đạn đại bác cỡ lớn.
Thế rồi khi hai người vượt được ra khỏi đám bụi vàng bốc cuộn lên cao thì bỗng thấy ở phía dưới chân đồi có khói, ống khói, tháp lọc nước, những khung cửa bằng kính và bằng sắt của một thành phố lạ.

- Xưởng máy của chúng tôi đấy! - anh Ghê-oóc-ghi nói to. - Ba năm về trước tôi còn đến quãng này để hái nấm và dâu rừng đấy.

Chiếc xe rẽ quặt rất mạnh mà không hề giảm tốc độ.

- Đi thẳng đi! -chị Ôn-ga cảnh giác. - Đi thẳng về nhà thôi.

Bỗng nhiên động cơ bị tắc và thế là xe phải dừng lại.

Anh Ghê-oóc-ghi vừa xuống xe vừa nói:

- Đợi tôi tý nhé. Xe bị mắc cái gì đó thôi.

Anh ngả xe ra bãi cỏ ngay dưới bóng cây bạch dương, lấy túi phụ tùng chữa xe ra và bắt đầu tháo, vặn.

- Anh sắm vai gì trong vở ca kịch của nhà máy thế? - Ôn-ga vừa ngồi xuống bãi cỏ vừa hỏi. - Tại sao trông anh hoá trang vừa kỳ quặc vừa dữ tợn như vậy?

- Tôi đóng vai một ông già tàn tật, - anh Ghê-oóc-ghi trả lời, tay vẫn không ngừng chữa xe, - trước kia ông lão là du kích, tính tình có phần... hơi không bình thường. Ông ta sống tại một vùng gần biên giới nên luôn có cảm giác như bọn địch giảo quyệt vẫn tìm cách đánh lừa ta. Ông ta già rồi nhưng tinh thần cảnh giác rất cao. Các chiến sĩ Hồng quân của chúng ta còn trẻ lắm, đi tuần tra về chỉ cười đùa, hay đi chơi bóng chuyền thôi. Anh em ở đấy quen biết đủ loại các cô.

Anh Ghê-oóc-ghi chau mày lại rồi khe khẽ hát:

Trăng lại khuất rồi sau đám mây đen tối
Ta ngồi đây lặng lẽ gác đã ba đêm
Đừng ngủ, đất nước ta ơi! Kẻ thù đang len lỏi
Ta yếu. Ta già. Ôi, sao chẳng ở yên!


Đến đây anh Ghê-oóc-ghi đổi giọng bắt chước cả một dàn đồng ca:

Cụ già hỡi cứ bình tâm... cứ bình tâm!

- "Cứ bình tâm" thế nào được? - Ôn-ga lấy khăn tay lau môi bị dính bụi, hỏi gặng.

- Thế có nghĩa là, - anh Ghê-oóc-ghi tiếp tục gõ cái lắc-lê vào ổ máy xe mô tô, giải thích - thế nghĩa là: hãy ngủ cho yên, lão già ngốc ơi, các chiến sĩ và các vị chỉ huy đều đã sẵn sàng ở vị trí chiến đấu từ lâu rồi... Chị Ôn-ga này, cô em gái của chị có nói gì về chuyện tôi gặp cô ấy không?

- Có, tôi đã mắng cho nó một trận.

- Không nên. Cô bé ấy rất hóm hỉnh. Tôi nói "A", nó liền trả lời tôi "B"!

- Tôi cũng đến khổ về cái con bé hóm hỉnh ấy. - Ôn-ga nhắc lại. - Có một thằng tên là Ti-mua gì đó suốt ngày cứ ám nó. Thằng này đồng bọn với thằng du côn Mi-sơ-ca. Tôi không có cách nào để cấm cửa nó được.

- Ti-mua à? Hừm... - Anh Ghê-oóc-ghi bối rối, gặng hỏi. - Chẳng lẽ nó cùng trong bọn ấy à? Có lẽ nó không phải là thằng.... nó không đến nỗi... Mà thôi! Chị đừng lo... Để tôi sẽ bắt nó không được bén mảng đến nhà chị. Chị Ôn-ga này, sao chị không theo học trường đại học âm nhạc? Kỹ sư có ra gì đâu. Chính tôi là kỹ sư đây, nhưng đã làm được gì?

- Có lẽ anh là một kỹ sư kém chăng?

- Sao lại kém? - anh Ghê-oóc-ghi nhích lại gần Ôn-ga. Lúc này anh đã bắt đầu gõ sang trục bánh trước. - Chẳng kém một tẹo nào, nhưng chị chơi đàn và hát rất hay.

- Anh Ghê-oóc-ghi này, - Ôn-ga e thẹn đứng lùi lại, - tôi không biết anh là kỹ sư tài giỏi đến mức nào, nhưng... xem anh chữa máy thì thật lạ làm sao.

Chị giơ tay bắt chước các động tác lúc thì gõ vào ổ máy, lúc thì gõ vào ổ bi, có lúc lại gõ cả vào vành xe nữa.

- Chả có gì cả. Cần làm như thế nào thì làm như thế thôi. - Anh đứng phắt dậy, cầm cái lắc-lê gõ mạnh vào khung xe. - Đấy, xong rồi đấy! Chị Ôn-ga này, ông cụ chị là chỉ huy à?

- Vâng.

- Thế thì tốt. Bản thân tôi cũng là chỉ huy đây.

- Ai hiểu nổi được anh nữa! - Ôn-ga nhún vai. - Lúc thì bảo là kỹ sư, lúc lại là diễn viên và bây giờ lại là chỉ huy. Có lẽ anh còn là phi công nữa đấy nhỉ?

- Không! - anh Ghê-oóc-ghi bật cười. - Phi công thì bay từ trên cao giội bom xuống còn tôi thì đánh thẳng vào tim qua bê tông cốt sắt ở ngay trên mặt đất này.

Thế rồi ruộng lúa, đồng cỏ, rừng cây, sông nước lại loang loáng hiện ra trước mắt họ. Cuối cùng họ đã về đến khu trại nghỉ.

Nghe thấy tiếng động cơ mô tô, Giê-nhi-a ở bao lơn vội chạy bổ ra. Thấy anh Ghê-oóc-ghi, em tỏ vẻ lúng túng, nhưng khi anh đã phóng xe đi thì em chỉ nhìn theo xe rồi chạy lại ôm lấy Ôn-ga, giọng đầy tị nạnh: "Gớm, sao hôm nay chị sướng thế!"[/color]
 
Lũ trẻ hẹn nhau tụ tập ở gần vườn ngôi nhà số ba mươi tư xong, liền chạy tản ra khỏi bờ tường chắn.

Duy có “Con bài hoa” là ở lại. Cái im lặng bên trong ngôi miếu thời làm cho nó ngạc nhiên và tức giận. Hai tù binh không hề kêu gào, đạp phá, cũng không thèm trả lời những câu hỏi của nó.

“Con bài hoa” thấy vậy bèn giở trò ranh mãnh. Nó mở cánh cửa sắt ở gian ngoài miếu thờ rồi lẻn vào bên trong đứng im thin thít như thể đã bỏ đi rồi.

Nó cứ đứng ép chặt người vào tường mãi cho đến khi tấm cánh cửa kêu đánh rầm một cái như có ai lấy gỗ nện vào vậy.

- Này, ai đấy? Nó lao về phía cửa, tức tối – Này, đừng có dùa dai. Ông lại bớp cho bây giờ!

Nhưng nào có tiếng ai trả lời. Ngoài ấy chỉ có tiếng xì xào lạ tai vọng vào mà thôi. Bỗng nó nghe thấy tiếng khóa kêu lách cách. Lại có cả tiếng ai ở ngoài chấn song nói chuyện với tù binh.

Bên trong miếu có tiếng cười phá lên. Nghe thấy tiếng cười ấy, “Con bài hoa” hết sức tức tối.

Cuối cùng, cánh cửa ngoài mở tung. Trước mặt “Con bài hoa” sừng sững hiện ra ba người : Ti-mua, Xima và La-di-ghin.

- Mở chốt cửa ra! – Timua ra lệnh. Em đứng im không hề nhúc nhích - Mở ra không có đừng trách đấy.

“Con bài hoa” buộc phải mở khóa. Cô-li-a và Gây-ca bước ra khỏi miếu thờ.

- Chui vào trong ấy thay! – Ti-mua ra lệnh. – Chui vào đi, con rắn độc! Nhanh! – Em nắm tay lại mà quát lớn – Tao không có thì giờ nói chuyện nhiều với mày đâu!

Khi “Con bài hoa” bước vào rồi, cả hai cánh cửa đóng sập lại. Các em cài thêm vào cửa một cái chốt ngoài nữa, rồi mới móc khóa.

Ti-mua lấy ra một tờ giấy viết mấy nét chì tím nguệch ngoạc :

“ Mi-sơ-ca, không cần canh làm gì. Tao khóa tụi nó lại và cầm chìa khóa đi rồi. Tối nay tao sẽ đến thẳng địa điểm gần vườn”.

Thế rồi cả nhóm chạy biến đi ngay. Năm phút sau Mi-sơ-ca chạy đến bờ tường chắn.

Nó đọc tờ giấy, sờ khóa, rồi cười khẩy, bỏ ra cổng giữa lúc “Con bài hoa” bị nhốt bên trong đang lấy chân và nắm tay nện vào cửa sắt một cách tuyệt vọng.
Mi-sơ-ca đứng ngoài cổng quay vào thờ ơ nói :

- Cứ nện đi! Gây-ca ạ, nện nữa đi! Không đời nào tao lại mở đâu, cứ việc nện cho đến tối, người anh em ạ!


Tiếp theo mọi việc đã diễn ra như sau:

Mặt trời chiều sắp lặn, Ti-mua và Xima rủ nhau chạy đến bãi chợ. Ở đây có một dãy quầy hàng bán hoa quả, nước giải khát, kèm và các loại hàng khô. Ở đầu dãy có một sạp giày.

Ti-mua và Xima dừng ở đó một lát. Xẩm tối hôm ấy, cái bánh lái tàu thuỷ trên gác xép căn nhà kho bắt đầu làm việc. Những đường dây điện thay nhau chạy, truyền những tín hiệu đến các nơi cần thiết.

Lực lượng tiếp viện đã đến. Có chừng hai ba chục cậu con trai đã tập trung khá đông đủ. Nhiều em khác cũng đến bằng cách lặng lẽ chui qua các kẽ rào.

Ta-nhi-a và Nhu-rơ-ca bị đuổi trở lại. Giê-nhi-a ngồi ở nhà. Em làm nhiệm vụ giữ chân, không cho chị Ôn-ga ra vườn.

Ti-mua đứng trên guồng lái ở gác xép.

- Đánh lại tín hiệu theo đường dây số 6! – Xima thò đầu qua cửa sổ lo lắng nói. Chẳng thấy có tiếng ai trả lời.

Phân đội của La-di-ghin đã có mặt và đang viết khẩu hiệu vào một mảnh gỗ dán.

Cuối cùng các trinh sát viên đều đã trở về. Bọn Mi-sơ-ca đã tụ tập trên bãi sông gần vườn nhà số ba mươi tư.

- Đến giờ rồi – Timua nói - Tất cả chuẩn bị!

Em buông guồng lái ra, nắm lấy dây cờ. Và lá cờ của đội được từ từ kéo lên cao trên mái nhà kho cũ, trong ánh trăng khi mờ khi tỏ của bầu trời vẩn mây. Lệnh chiến đấu đã được phát ra!
 
[color=darkblue:22e0df7a63]...Một lũ gần mười đứa bám vào nhau dò dẫm bước theo hàng rào nhà số hai mươi tư. Mi-sơ-ca dừng lại trong bóng tối, nó nói:

- Tất cả đều có mặt, thế mà thằng "Con bài hoa" vẫn chưa thấy đến.

- Nó khôn lỏi đấy, - có tiếng trả lời, - có lẽ nó đã ở trong vườn rồi. Bao giờ nó chẳng chuồn đi ăn mảnh trước.

Mi-sơ-ca gỡ hai mảnh ván đã được nậy đinh từ trước ra để chui vào. Những đứa khác lục tục chui theo. Chỉ còn lại mình thằng A-li-ô-sa trọc lốc phải ở lại để gác.

Ở cái rãnh bên kia đường lập tức có năm cái đầu ló ra khỏi bụi lá han và ngải cứu. Bốn cái đầu đã biến mất hút, còn lại cái thứ năm là đầu Cô-li-a vừa ló ra, liền bị một bàn tay chộp lấy kéo giật lại. Thế là cái đầu ấy biến mất ngay.

Tên lính gác A-li-ô-sa nghiêng nghiêng, ngó ngó. Bốn bề im lặng. Nó vội thò cái đầu trọc vào kẽ hàng rào lắng nghe xem đồng bọn đang làm gì trong ấy. Ba người ở bên rãnh bên kia tách ra. Và chỉ trong nháy mắt tên lính gác kia bỗng thấy có một sức mạnh gân guốc nào đó đến kéo chân, kéo tay nó ra. Và không kịp kêu, nó đã bị lôi ra khỏi hàng rào.

- Gây-ca! - nó ngửa mặt lên nhìn, miệng lẩm bẩm. - Cậu ở đâu chui ra thế?

- Ở chỗ ấy đấy! - Gây-ca rít răng lại. - Liệu mà câm mồm lại! Nếu không tao sẽ không đếm xỉa đến việc mày đã bênh vực tao đâu.

- Được rồi, - A-li-ô-sa nhận lời, - tớ sẽ im. - Nhưng bất thình lình nó huýt lên một tiếng sáo lanh lảnh.

Lập tức có ngay bàn tay to tướng của Gây-ca bịt lấy mồm nó. Rồi sau đó có tay ai nắm chặt lấy vai, lấy chân nó lôi đi.

Ở trong vườn, bọn kia đã nghe thấy tiếng sáo. Mi-sơ-ca quay lại. Không thấy tiếng sáo huýt nữa, nó chăm chú nhìn quanh. Bỗng nó có cảm giác như các bụi cây trong góc vườn đều lay động.

- Này "Con bài hoa"! - Mi-sơ-ca khẽ gọi. - Mày đang nấp đấy hả thằng ngốc?

- Mi-sơ-ca, có ánh đèn kia kìa! - có tiếng ai bỗng kêu lên. - Chủ nhà ra đấy!

Nhưng đâu có phải là chủ nhà ra vườn.

Từ phía sau có tới hàng chục ánh đèn pin loé lên trong đám lá cây. Những ánh đèn ấy cứ chiếu thẳng vào mắt bọn trộm vườn đang hoang mang kia mà lao tới.

- Đánh đến cùng! Không được lui! - thằng Mi-sơ-ca vừa móc túi lấy táo ném về phía những ngọn đèn, vừa hò hét. - Tước ngay đèn khỏi tay chúng nó! Thằng Ti-mua đấy!

- Đấy là Ti-mua, còn đây là Xi-ma! - Xi-ma lao người ra khỏi lùm cây quát to.

Và khoảng chừng mươi em khác cũng lao khỏi các vị trí chiến đấu và các tuyến phòng thủ.

- Ái chà! - Mi-sơ-ca gào to. - Bọn nó đông quá! Trèo qua rào mà rút thôi, chúng mày ơi!
Bị sa vào vòng vây, cả lũ điên cuồng tìm cách tẩu thoát.

Chúng vừa chen đẩy, vừa vấp ngã sưng cả trán, vừa cố lao qua hàng rào ra đường, nhưng lại bị rơi ngay vào tay La-đư-ghin và Gây-ca.

Mặt trăng đã bị lấp hẳn sau những đám mây đen. Người ta chỉ còn nghe thấy những tiếng kêu:

- Bỏ ra!

- Buông ra!

- Không được động đậy!

- Tất cả im lặng! - tiếng Ti-mua bật lên trong bóng tối. - Không được đánh tù binh! Gây-ca đâu rồi?

- Đây!

- Dẫn tất cả về vị trí tập trung.

- Nhỡ có thằng không chịu đi thì sao?

- Giữ tay, lôi chân, kéo đi long trọng như rước tượng thánh ấy.

- Buông ra, đồ quỷ sứ! - có giọng lè nhè của một thằng nào đó.

- Thằng nào lè nhè đấy? - Ti-mua giận dữ hỏi. - Có gan ăn trộm mà không có gan chịu đòn hả? Gây-ca đâu, cho lệnh tiến đi!

Bọn tù binh bị dẫn đến cái lều trống ở đầu chợ. Chúng lần lượt bị đẩy vào trong lều.

Ti-mua yêu cầu:

- Cho Mi-sơ-ca đến gặp tôi!

Mi-sơ-ca được dẫn đến.

- Xong cả chưa? - Ti-mua hỏi.

- Xong hết cả rồi!

Tên tù binh cuối cùng vừa bị đẩy vào lều thì cánh cửa được đóng vào, cài then và khoá lại bằng một cái khoá to sù.

- Cút đi! - Ti-mua nói với Mi-sơ-ca. - Trông mày buồn cười lắm! Chẳng ai cần mày và cũng chẳng ai còn sợ mày nữa đâu.

Mi-sơ-ca cúi đầu chưa rõ đầu đuôi ra sao. Nó vẫn đinh ninh rằng thế nào cũng bị đánh.

- Cút đi! - Ti-mua nhắc lại. - Cầm lấy cái chìa khóa này đến mà mở cửa nhà thờ ra, thằng "Con bài hoa" bạn mày đang ở đấy đấy.

Mi-sơ-ca vẫn không đi.

- Thả hết tất cả bọn chúng nó ra! - nó nhăn nhó nói. - Nếu không hãy giam cả tao cùng với bọn nó.

- Không được. - Ti-mua từ chối. - Giờ đây mọi chuyện đều kết thúc cả rồi. Chẳng có việc gì mày cần phải làm với chúng nó và chúng nó cũng chẳng cần đến mày nữa đâu.

Mi-sơ-ca đành cúi đầu lùi lũi bước đi giữa tiếng còi mồm chế giễu, tiếng hò reo nhạo báng. Đi được khoảng chục bước, nó quay lại rướn thẳng người lên.

- Tao sẽ quật chết mày! - nó quay lại thét vào mặt Ti-mua. - Tao sẽ quật một mình mày thôi. Một chọi một. Chết thì thôi. - Nói rồi nó nhảy chồm lên và lẩn vào trong bóng tối.

- La-đư-ghin và năm người của cậu được tự do. - Ti-mua nói. - Công việc cậu là gì nhỉ?

- Nhà số hai mươi hai, chuyển củi phố Bôn-sai-a Va-xi-li-ép-xcai-a.

- Được rồi. Tiến hành đi!

Có tiếng còi vang lên ở ga. Tàu chở khách đi nghỉ mát đã đến. Hành khách trên tàu đổ xuống. Ti-mua vội vã.

- Xi-ma và năm người của cậu làm việc gì nhỉ?

- Số nhà ba mươi tám ở phố Ma-lai-a Pê-tơ-ra-cốp-xcai-a. - Cậu ta cười vang lên, rồi nói thêm: - Việc của bọn chúng tớ vẫn là gàu, thùng và nước... Có vậy thôi, xin chào!

- Được rồi, làm đi! Thôi bây giờ mọi người sắp đi qua đây đấy. Các cậu khác cũng về nhà cả đi... Nhanh lên![/color]
 
[color=darkblue:21b7dabffd]... Có tiếng ầm ầm đập phá vang lên trên bãi chợ. Những hành khách từ trên tàu xuống ngơ ngác dừng cả lại. Tiếng đập phá và gào thét lại náo lên. Đèn ở các nhà nghỉ gần đó đã loé sáng trong các ô cửa sổ. Có người nào đó bật đèn cái lều trống. Và ai nấy đều ngạc nhiên khi nhìn thấy một bảng yết thị:

KHÁCH QUA ĐƯỜNG XIN CHỚ CÓ THƯƠNG!

Bọn người bị giam ở đây là những kẻ hèn nhát
đêm nào cũng mò đi càn quét vườn cây của những
người dân lương thiện.
Chìa khóa lều này treo ở ngay phía sau bảng yết thị.
Nếu có ai mở cửa cho bọn bị giam ở đây thì trước hết
hãy xem kỹ trong số này có đứa nào là người nhà
hay quen thuộc không?


Đêm đã khuya. Ngôi sao đỏ có viền đen ở trước cổng nhà tuy không nhìn rõ nữa, nhưng nó vẫn còn nguyên đấy.

Đây là vườn của gia đình em gái nhỏ xinh xinh. có nhiều sợi dây mảnh được buông xuống từ các cành cây cao. Tiếp ngay sau đó là một chú bé tụt từ trên cây xuống theo cái thân cây sần sùi. Chú bé đặt một tấm ván lên dây đu rồi ngồi xuống, lá cây rì rào reo theo. Có con chim hốt hoảng kêu ré lên và bay đi mất. Khuya rồi. Chị Ôn-ga và Giê-nhi-a đã ngủ từ lâu. Những người bạn của chú bé đó cũng đã ngủ êm rồi. Đó là Xi-ma vui tính; là La-đư-ghin lầm lì; là Cô-li-a ngộ nghĩnh. Riêng Gây-ca dũng cảm thì hẳn là giờ này đang trằn trọc và lẩm bẩm trong giấc mơ.

Chiếc đồng hồ trên tháp canh điểm giờ dõng dạc: "Ban ngày bận việc! Bính...boong... Bính... Boong... một... hai!..."

Đúng, muộn thật rồi!

Chú bé đứng dậy, đưa tay lần lần trên mặt cỏ nhặt lên một bó hoa đồng to.
Bó hoa ấy là do Giê-nhi-a hái về.

Cố thận trọng để không đánh thức, không làm giật mình những người đang ngủ, chú bé bước lại gần hiên nhà tràn ngập ánh trăng và lẹ làng, nâng niu đặt bó hoa lên bậc thềm trên cùng. Chú bé ấy chính là Ti-mua.

*

Buổi sáng ngày nghỉ. Để chào mừng một năm ngày chiến thắng của Hồng quân bên hồ Kha-xan, các đoàn viên thanh nhiên cộng sản ở khu nghỉ mát có tổ chức tại vườn hoa một ngày hội hóa trang lớn - có cả hòa nhạc lẫn vui chơi.

Các em gái đã có mặt tại bãi rừng thưa ngay lúc còn sớm tinh sương. Chị Ôn-ga vội là nốt chiếc áo khoác. Trong lúc tìm chiếc váy, chị giũ luôn cả cái áo của Giê-nhi-a.
Vô tình chị bắt được mảnh giấy ở túi áo rơi ra.

Ôn-ga nhặt lên đọc:

"Cô bạn. Ở nhà đừng có sợ gì ai. Mọi việc đâu đã vào đấy cả rồi. Tôi sẽ không nói chuyện với ai đâu. Ti-mua".

"Không nói chuyện với ai. Tại sao lại không sợ? Con bé bí ẩn và ranh mãnh này có chuyện gì bí mật vậy? Không, nhất định phải kết thúc chuyện này ngay. Ba đi vắng, ba đã dặn kỹ rồi... Phải hành động kiên quyết và mau lẹ mới được".

Anh Ghê-oóc-ghi gõ cửa sổ.

- Chị Ôn-ga ơi, - anh khẩn khoản, - chị giúp tôi với! Có một đoàn đại biểu đến chỗ tôi yêu cầu tôi phải hát một bài. Giữa ngày vui như hôm nay mà lại đi từ chối thì thật là không nên. Chị đệm đàn phong cầm cho tôi nhé!

- Vâng... nhưng chị chơi đàn dương cầm có thể giúp anh làm việc ấy chứ! - Ôn-ga ngạc nhiên. - Sao lại cứ phải đệm bằng phong cầm mới được?

- Chị Ôn-ga ạ, tôi không muốn đệm bằng dương cầm. Tôi muốn chị đệm đàn cơ! Ta cùng biểu diễn thú hơn nhiều! Tôi nhảy qua cửa sổ vào được chứ? Chị hãy bỏ bàn là xuống, lấy phong cầm ra đi! Đây, tôi tự lấy ra hộ chị rồi đây này. Chị chỉ còn có việc bấm phím và tôi lấy giọng hát lên là xong.

- Này, Ghê-oóc-ghi này, - Ôn-ga hơi bực, - nói thực ra thì nhà tôi còn có cả cửa, và anh có thể không phải nhảy qua cửa sổ...[/color]
 
Vườn hoa bắt đầu ồn ào. Xe chở khách đi nghỉ kéo nhau đến từng đoàn dài. Những chuyến xe tải chuyển đến đây nào là bánh mì, bánh kẹp thịt, kẹp xúc xích, nào là nước chanh, nước cam với kẹo và bánh ngọt.

Những bà bán kem xách tay hoặc đẩy xe mặc toàn quần áo màu xanh trông đến là đẹp mắt.

Máy hát quay tay trên bãi rộng thi nhau ca đủ giọng. Những người vừa đến và những người vốn sinh sống ở đây ăn bánh, uống nước quanh các máy hát.

Nhạc đã cử lên. Ông cụ bảo vệ đứng bên cổng ra vào rạp hát ngoài trời đang quát tháo anh thợ điện vì anh ta đòi mang cả lắc lê lẫn móc leo cột vào nhà hát.

- Này , ông bạn thân mến, không ai cho đem những thứ dụng cụ ấy vào đây đâu. Hôm nay là ngày hội. Trước hết anh bạn hãy về nhà rửa mặt đi rồi mặc quần áo cho tử tế vào.

- Người vào xem có cần vé đâu, bố già ?

- Cũng không được. Đây là nơi ca hát. Hay là anh bạn lại còn định đem cả cột dây điện thoại vào nữa? Còn ông kia, khoan đã! – Ông cụ giữ người khác lại – Đây là chỗ người ta ca hát, đàn nhạc. Vậy mà túi ông lại để thò ra cái chai quái quỉ kia là sao?

- Nhưng thưa với bố - Người kia ấp úng nói - tôi cần tới nó… bản thân tôi là danh ca giọng nam cao đây.

- Thôi, đi ngay đi, ông “giọng nam cao” - Ông cụ chỉ tay vào anh thợ điện nói - đến ông “ giọng nam trầm” này còn không phản kháng được thì ông, ông bạn “giọng nam cao” cũng chẳng nên chống đối làm gì.

Giê-nhi-a được các bạn trai báo cho biết là chị Olga sẽ lên sân khấu chơi đàn, nên em cứ nhấp nha , nhấp nhổm ngồi không yên chỗ.

Thế rồi chị Olga và anh Ghê-oóc-ghi bước ra. Giê-nhi-a rất lo. Em có cảm giác là thế nào người ta cũng cười chị Olga.

Nhưng không ai cười cả.

Anh Ghê-oóc-ghi và chị Olga đứng trên bục cao với dáng điệu bình thường, trẻ trung và vui vẻ đến nỗi Giê-nhi-a chỉ muốn chạy lên ôm chặt lấy cả hai người.

Chị Olga mắc dây đàn qua vai.

Một nếp nhăn sâu hoắm vạch dài ngang trán anh Ghê-oóc-ghi . Anh cúi lom khom, khẽ nghiêng đầu sang một bên. Giờ đây anh đã trở thành một ông già và cất tiếng trầm trầm:

“ Đã ba đêm rồi ta không ngủ. Ta vẫn tưởng như có có chuyện gì bí bẩn trong vắng lặng đây đó đang rình mò.

Súng xiết cháy tay. Tim lo đè nặng.

Như hai mươi năm trước trong chiến tranh đêm lắng.

Hỡi tên giặc trong đội lính đánh thuê,

Nếu giờ đây ta gặp bay một lần nữa,

Thì lão già đầu bạc này vẫn sẵn sàng hăm hở xông lên.

Như hai mươi năm về trước, bình tĩnh, ngoan cường, lão vẫn chưa quên”.

- Úi trời ơi, hay quá! Thật tội ngiệp cho ông già thọt can đảm quá chừng! Giỏi quá! Cừ quá! – Giê-nhi-a cứ lẩm bẩm một mình – Được đấy, được đấy. Chơi đàn nữa đi, chị Olga ơi! Chỉ tiếc là ba không được nghe chị chơi đàn thôi!

Sau buổi hòa nhạc, anh Ghê-oóc-ghi và chị Olga thân mật khoác tay nhau đi trong vườn hoa.

- Thế là xong! Olga nói. Nhưng em không biết Giê-nhi-a đã biến đâu mất rồi.

- Cô bé đứng ngay trên ghế băng - Anh Ghê-oóc-ghi đáp – và kêu to “Hoan hô! Hoan hô!”. Sau đó có một chú bé đến gần… - Nói đến đây anh bỗng ngừng lại – không rõ là đứa bé nào và cả hai đều biến mất.

- Đứa nào nhỉ? - Olga lo lắng - Anh Ghe , anh lớn tuổi hơn, anh hãy bảo xem em nên xử sự với em gái mình như thế nào bây giờ? Anh xem này, sáng nay em tìm thấy mảnh giấy này của nó.

Anh Ghê-oóc-ghi đọc. Bây giờ đến lượt anh đắn đo, suy nghĩ.

- Đừng sợ, ở đây có nghĩa là đừng nghe lời ai cả.

-Hừm, cái thằng bé ấy mà rơi vào tay em, em sẽ cho nói một trận! - Olga nói.

Chị cất mảnh giấy đi. Hai người cùng im lặng hồi lâu. Nhưng tiếng nhạc vẫn reo vui. Chung quanh mọi người vẫn cười vang và thế là họ lại khoác tay nhau đi trong vườn hoa.

Đến ngã tư, bất chợt họ chạm trán với một cặp khác, khiến cả hai đều sững lại. Cặp kia cũng tay cầm tay thân ái bước thẳng tới chỗ họ. Đó chính là Ti-mua và Giê-nhi-a.

Sau giấy phút ngỡ ngàng cả hai cặp đều lịch sự cúi đầu chào nhau rồi lại đi tiếp.

- Thằng ấy đấy! – Olga thất vọng kéo tay anh Ghê-oóc-ghi nói – Chính cái thằng ranh ấy đấy, anh ạ.

- Ồ - anh GheGhê-oóc-ghi tỏ vẻ ngượng nghịu – nhưng điều quan trọng lại ở chỗ nó chính là thằng cháu trai táo bạo của anh.

- Vậy là cả anh… cũng biết chuyện rồi! – Olga bực bội - Thế mà anh không thèm nói gì hết.

- Chị giãy tay anh ra rồi chạy đi. Nhưng Ti-mua và Giê-nhi-a đã không còn ở đấy nữa. Chị quặt sang con đường kẹp chạy ngoằn ngeòe. Đến đấy chị bắt bặp Ti-mua đang đứng với thằng “Con bài hoa” và Mi-sơ-ca.

- Này - Chị Olga sấn sổ bước tới trước mặt Ti-mua – Các cậu chuyên trèo vào vườn nhà người ta, làm gãy cây quả nhà người ta, bất chấp cả bà già và trẻ mồ côi còn chưa đủ hay sao? Chó nó trông thấy các cậu cũng phải khiếp sợ bỏ chạy, thế mà các cậu còn xúi giục em tôi về cãi lại tôi. Cổ các cậu đeo khăn quàng đỏ thật, nhưng thực ra các cậu chỉ là … những kẻ hư hỏng.

Ti-mua tái người đi.

- Không phải như vậy đâu ạ! – Chú bé kêu lên - Chị không biết gì hết.

Chị Olga phẩy tay rồi chạy bổ đi tìm Giê-nhi-a.

Ti-mua lặng người đứng đó.

Cả “Con bài hoa” và Mi-sơ-ca cũng bị bối rối nên đứng im.

- Thế nào, chính ủy? – Mi-sơ-ca bỗng hỏi – Xem ra thì cũng có lúc cuộc đời của ngài gặp những phút không vui nhỉ?

- Đúng thế, thủ lĩnh ạ - Ti-mua từ từ ngước mắt lên nhìn nó, đáp - Lúc này không những không vui và còn đau đớn nữa. Giá như bị bọn mày bắt, đánh, nện… thì có lẽ còn thấy dễ chịu hơn là chỉ vì bọn mày mà phải nghe những lời như vậy…

- Thế sao mày lại lặng im? – Mi-sơ-ca cười khẩy – Sao mày không nói toạc ra rằng : đấy không phải là em, là là tụi nó. Chúng tao đứng ngay đây, ngay bên cạnh mày mà!.

- Phải đấy! Cứ nói như thế đi rồi chúng tao sẽ “thưởng” cho về câu nói ấy – “Con bài hoa” mừng rỡ đế vào.

Nhưng Mi-sơ-ca hoàn toàn không có ý chờ đợi sự ủng hộ này. Nó im lặng và lạnh lùng nhìn tên đồng bọn của mình. Còn Ti-mua thì đưa tay sờ những thân cây bên đường, lẳng lặng bỏ đi.

- Kiêu kỳ ghê! – Mi-sơ-ca khẽ nói – Nó muốn khóc lắm mà vẫn cố nén.

- Thì cứ nện ngay cho nó một quả là nó bật lên khóc thôi mà - thằng “Con bài hoa” nói chưa dứt câu đã vội nhặt một quả thông ném theo Ti-mua.

- Nó …kiêu kỳ ..- Mi-sơ-ca khàn khàn nhắc lại – còn mày thì …đốn mạt! – Và thế là nó dang tay nện luôn cho “ Con bài hoa “ một quả vào trán.

“Con bài hoa” bị châng hẩng một lúc mới kêu lên và bỏ chạy. Mi-sơ-ca còn cố đuổi theo thụi thêm cho nó hai quả nữa vào lưng.

Cuối cùng Mi-sơ-ca dừng lại, nhặt cái mũ vải bị rơi lên, đập mạnh vào đầu gối phủi bụi rồi bước đến quầy bán kem mua một chiếc, tựa lưng vào gốc cây ăn. Nó vừa thở gấp, vừa vội vàng ngoạm từng miếng thật to.
 
Timua tìm đến gặp Xima và Gây-ca ở chỗ bắn súng, ngay trong sân hội.

- Timua này – Xima báo cho bạn biết – Chú cậu đang tìm cậu đấy, trông chú ấy có vẻ bực tức lắm.

- Tớ về đây, biết rồi.

- Cậu có quay lại nữa không?

- Chẳng biết nữa!

- Timua - Bỗng Gây-ca nắm lấy tay bạn nhẹ giọng nói – Sao thế? Chúng mình có làm điều gì xấu cho ai đâu! Cậu biết đấy, khi con người có lẽ phải…

- Thì chẳng sợ bất cứ điều gì trên trái đất này.

- Tớ cũng biết vậy nhưng dẫu sao cũng vẫn thấy đau đớn – Timua buồn rầu nói và bước đi.

Giê-nhi-a chạy lại gặp Olga giữa lúc chị đang xách đàn về nhà.

- Chị Olga!

- Cút đi! – Olga trả lời, không nhìn em – Tôi không thèm nói chuyện với cô nữa.Tôi sẽ về Moskva ngay tức khắc. Còn cô có thể cứ ở lại đây muốn đi chơi với đứa nào thì đi, đi đến sáng cũng mặc.

- Nhưng, chị Olga ạ…

- Tôi không nói chuyện với cô. Ngày mai sẽ dọn tất cả về Moskva. Sẽ đợi ba ở đấy.

- Đúng rồi, phải có ba, chứ không phải là chị. Ba sẽ hiểu tất cả! – Giê-nhi-a giận dữ kêu lên. Em khóc và lao đi tìm Timua.

Giê-nhi-a tìm hỏi Gây-ca và Xima, xem Timua ở đâu.

- Cậu ấy bị gọi về nhà rồi. Gây-xa nói. Chú cậu ấy tức tối về chuyện gì giữa các cậu lắm đấy.

- Giê-nhi-a giậm chân đến điên lên. Em nắm chặt tay lại, rồi kêu:

- Thế đấy…chẳng có gì mà cũng làm khổ người ta.

- Em ôm lấy thân cây bạch dương. Vừa lúc đó thì Ta-nhi-a và Ni-u-rơ-ca chạy đến.

- Giê-nhi-a! – Ta-nhi-a gọi - cậu làm sao thế? Lại đằng kia đi, mau lên! Có người đệm đàn rồi, mọi người bắt đầu nhảy rồi. Bọn con gái cũng đến nhảy cả đấy.

Hai cô bạn nhỏ nắm lấy tay Giê-nhi-a kéo đến một vòng người đang nhảy múa. Trong đó những chiếc váy màu và những chiếc áo hoa rực rỡ đang xoay loang loáng.

- Giê-nhi-a đừng khóc nữa! – Niurca vẫn giọng liến thoắng. – Bà tôi vẫn kí vào đầu tôi mà tôi cũng chẳng khóc nữa là! Này , các cậu ơi! Chúng mình vào nhảy đi!…Nhảy đi!…

- Nhảy-ảy-đi-i! – Giê-nhi-a lặp lại giọng Niurca.

Và thế là các cô bé lọt qua vòng ngoài chạy vào trong nắm vai nhau nhảy say sưa và phấn khởi.

Timua vừa về đến nhà đã bị chú gọi vào hỏi chuyện.

- Chú chán ngấy những chuyện đêm đêm đi rình mò của cháu lắm rồi đấy. – Anh Ghê-oóc-ghi nói – Chú chán cả những hiệu lệnh, những chuông điện thoại và cả những mớ dây dợ nữa. Câu chuyện kỳ quặc về cái chăn chiên là như thế nào hả?

- Đó là sự hiểu lầm.

- Một sự hiểu lầm thú vị đấy! Cháu đừng có bén mảng gần cái cô bé Giê-nhi-a đấy nữa. Chị cô ta chẳng ưa gì cháu đâu.

- Tại sao?

- Chú không biết. Như vậy cũng là đáng thôi. Cháu viết giấy, viết tờ gì mà lạ vậy? Những cuộc hẹn hò kỳ quặc vào lúc tờ mờ sáng ấy là như thế nào? Chị Olga bảo là cháu dạy cho nó toàn là những trò du côn thôi.

- Chị ấy nói sai! – Timua tức giận - Thế mà cũng gọi là đoàn viên. Nếu có điều gì chưa hiểu , ít nhất là chị ấy cũng có thể gọi cháu đến để mà hỏi chứ. Tất nhiên, cháu sẽ trả lời đầy đủ để chị ấy rõ.

- Được, nhưng chừng nào cháu còn chưa trả lời cho người ta rõ thì chú cấm cháu không được bén mảng đến cái vườn nhà đó, còn nếu cháu cứ tự tiện thì chú sẽ gửi ngay cháu về với mẹ cháu!

Thấy chú định bỏ đi, Timua ngăn lại:

- Chú ạ, hồi còn bé chú hay làm gì? Chơi trò gì?

- Chú ấy à?…Chạy, nhảy, trèo nóc nhà, cũng có khi đánh nhau. Nhưng mọi trò chơi đều đơn giản và dễ hiểu.
 
Để chứng minh cho Giê-nhi-a thấy mình đã nói là làm, ngay chiều hôm đó Olga bỏ về Moskva, không thèm nói với em nửa lời.

Chẳng có việc gì cần phải làm ở Moskva nên Olga không về ngay mà tạt qua nhà bạn gái ngồi chơi cho đến chín giờ tối mới về tới nhà. Chị mở cửa phòng, bật đèn điện lên và giật mình thấy tờ điện báo ngay ở cửa.

Olga xé ra đọc. Đó là bức điện của ba.

Không hề biết chuyện đó, đến chiều, khi những chiếc xe tải rời vườn hoa chạy tỏa đi khắp nơi thì Giê-nhi-a và Ta-nhi-a mới chạy về nhà. Các em lại rủ nhau chơi bóng chuyền. Giê-nhi-a phải vào nhà để thay dép.

Lúc Giê-nhi-a đang buộc dây giày thì người đàn bà - mẹ em bé tóc sáng - bước vào. Em bé đang ngủ gật trên tay mẹ.

Nghe nói chị Olga vắng nhà, mặt bà xịu xuống:

- Cô định sang gửi em bé ở bên này. Cô không biết là chị cháu đã đi vắng. Đêm nay tàu sẽ đến Moskva mà cô thì phải cấp tốc đi đón mẹ của cô…

- Cô cứ để em ở đây – Giê-nhi-a nói - Cần gì phải chị Olga… Cháu không phải là người hay sao? Cô cứ đặt em vào giường cháu, cháu sẽ nằm sang chỗ khác.

- Em mói ngủ rất ngoan, đến sáng mới thức giấc. Bà mẹ mừng rỡ. Chỉ họa hoằn lắm mới phải sửa lại gối cho em một tí thôi.

Cô bé được thay quần áo và đặt vào giường. Bà mẹ đi khỏi. Giê-nhi-a vén bức rèm cửa sổ lên để đứng ngoài sân có thể nhìn được rõ cái giường em gái nhỏ đó ngủ. Em đóng cửa hành lang lại rồi chạy ra chơi bóng chuyền với Ta-nhi-a. Hai em hẹn nhau là cứ chơi một “séc” lại thay nhau vào xem em bé ngủ có ngoan không.

Các em vừa chạy đi khỏi thì bác đưa thư già đến. Bác ta gõ cửa khá lâu mà vẫn không thấy trả lời, đành phải sang bên hàng xóm hỏi thăm xem có phải chủ nhà này đã bỏ về thành phố cả rồi không.

- Không – Ông hàng xóm trả lời – Tôi vừa mới thấy cô em ở nhà mà. Bác đưa tôi nhận điện cho.

Ông ký nhận điện rồi bỏ túi và ngồi xuống chiếc ghế kê ở trong vườn, nhồi thuốc vào tẩu hút. Ông đợi Giê-nhi-a khá lâu.

Một tiếng rưỡi đồng hồ trôi qua. Bác đưa thư già lại đến gặp ông hàng xóm.

- Đây nữa này. Ông nói. Chẳng hiểu có cháy nhà hay sao mà vội vã thế không biết? Bác nhận giúp cho bức điện nữa đây.

Ông hàng xóm lại ký nhận. Trời đã tối hẳn. Ông đi vào cổng , bước lên bậc thềm rồi nhìn qua cửa sổ vào trong nhà. Đứa bé gái đang ngon giấc. Con mèo sắc hung nằm cuộn tròn bên chiếc gối của nó. Như vậy tức là chủ nhà vẫn chỉ quanh quẩn đâu đây. Ông ta mở cánh cửa sổ con ra bỏ hai bức điện báo vào đấy. Hai bức điện nằm gọn gàng trên bậu cửa sổ. Như vậy là khi trở về thế nào Giê-nhi-a cũng phải trông thấy ngay.

Nhưng Giê-nhi-a không thấy. Trở về nhà trong ánh sáng trăng, em chỉ sửa lại gối cho em bé, đẩy con mèo ra chỗ khác rồi cởi quần áo và đi ngủ.

Em nằm một lúc lâu suy nghĩ, mới thấy hóa ra cuộc đời lại là như vậy. Em chẳng có lỗi gì và hình như cả chị Olga cũng vậy. Thế mà lần đầu tiên hai chị em lại sinh sự giận nhau ghê gớm.
 
Thật bực mình, không sao chợp mắt ngủ được nữa. Tự nhiên, Giê-nhi-a muốn ăn bánh phết mứt. Em nhỏm dậy, bước lại tủ, bật đèn. Và mãi tới lúc này em mới chợt trông thấy hai bức điện trên bậu cửa sổ.

Em hoảng hốt. Đôi tay run run bóc điện ra đọc.

Bức thứ nhất viết:

“Sẽ qua nhà đêm nay từ mười hai giờ đến ba giờ sáng, đợi ở nhà trong thành phố. Ba”.

Bức điện thứ hai :

“Có mặt ở Moskva ngay đêm nay, ba về. Olga”.

Giê-nhi-a hoảng hốt nhìn đồng hồ. Đã mười một giờ mười lăm . Em mặc vội áo vào, bế xốc đứa bé đang ngủ lên, chạy thốc ra cửa như người mất trí. Sực tỉnh, em lại đặt em bé trở lại giường. Em lao ra phố và chạy thẳng tới nhà bà lão bán sữa. Em đấm tay, đạp chân vào cửa, mãi cho tới khi bà hàng xóm ló đầu ra cửa sổ:

- Đập cái gì thế? – Bà ta hỏi, giọng ngái ngủ - Làm gì mà hét lên thế?

- Cháu không hét đâu. – Giê-nh-a khẩn khoản – Cháu cần gặp bác bán sữa, bác Masha ấy mà. Cháu nhờ bác ấy trông giúp cháu đứa bé.

- Nói năng gì mà vớ vẩn thế? – Bà hàng xóm vừa trả lời vừa đóng sập cửa lại – Bà ấy sang thăm người em ở thôn bên từ sáng sớm rồi.

Có tiếng còi tàu vọng lại từ phía ga. Giê-nhi-a vừa chạy ra đường thì va ngay phải ông già lịch thiệp tóc hoa râm. Đó là ông bác sĩ.

- Cháu xin lỗi cụ ạ! – Em lúng túng nói - Cụ có biết đó là tiếng còi tàu nào không ?

Ông già lịch thiệp rút đồng hồ túi ra xem.


- Hai mươi ba giờ năm lăm phút – Ông cụ trả lời – đó là chuyến tàu cuối cùng đi Moskva trong ngày.

- Sao lại cuối cùng ạ? – Giê-nhi-a nuốt nước mắt nói không ra lời - Thế chuyến sau thì vào lúc mấy giờ ạ?

- Chuyến sau vào buổi sáng, ba giờ bốn mươi . Cô bé có chuyện gì thế? – Ông nắm lấy đôi vai đang run lên của Giê-nhi-a lo lắng hỏi – Cháu khóc à? Liệu lão có thể giúp được cháu việc gì không?

- Khong đâu ạ. – Giê-nhi-a cố kiềm chế để không bật lên tiếng khóc rồi vừa bỏ chạy, vừa trả lời – Bây giờ thì chẳng một ai trên đời này có thể giúp cháu được nữa rồi!

Về nhà em gục đầu xuống gối, nhưng lại bật dậy, chạy đến chỗ đứa bé đang ngủ, nhìn nó đầy căm tức. Sực tỉnh ra em bèn sửa lại chăn cho em bé, đẩy con mèo sắc hung ra khỏi gối.
Em bật đèn hành lang, trong bếp, trong phòng rồi ngồi xuống đi-văng lắc đầu lia lịa. Em cứ ngồi như thế một lúc lâu, nhưng có lẽ đầu óc không nghĩ nổi một việc gì. Bất giác em khoác cây đàn phong cầm lên một cách máy móc và đưa tay lần phím đàn. Một điệu nhạc khe khẽ vang lên trang nghiêm và buồn buồn. Giê-nhi-a đặt đàn xuống, bước lại gần cửa sổ. Đôi vai em rung lên.

Không! Em không tài nào có đủ sức để chịu đựng nổi sự đau khổ một mình như thế này. Em đốt nến rồi chạy qua vườn đến nhà kho.

Đây là gác xép. Dây, bản đồ, bao tải, cờ. Em bật đèn hiệu, bước lại gần buồng lái, tìm sợi dây cần thiết mắc vào tay quay quay thật mạnh.

…Timua đang ngủ ngon thì con chó Rita chạy đến lấy chân đạp nhẹ vào vai cậu. Câu chẳng hề hay biết gì. Rita thấy vậy bèn lấy răng cắn mép chăn lôi tụt xuống sàn.

Timua choàng dậy.

- Mày đấy à, Rita – Timua sửng sốt hỏi – Có chuyện gì thế?

Con chó nhìn thẳng vào mặt cậu, ve vẩy đuôi, mấp máy cái mõm. Timua chợt nghe tiếng chuông đồng rung lên ở phía ngoài.

Cậu chạy ra hàng lang, chưa thể hiểu là ai lại cần đến mình giữa đêm hôm khuya khoắt này. Timua nhắc ống nghe lên.

- Phải rồi, tôi Timua đang đứng bên máy đây. Ai đấy ? Bạn…bạn đấy à, Giê-nhi-a đấy à ?

Thoạt đầu Timua còn nghe có vẻ bình tĩnh, nhưng sau bỗng môi cậu run lên. Trên mặt cậu những vết đỏ mỗi lúc một hằn rõ. Cậu thở gấp không đều nhịp.

- Chỉ có ba tiếng đồng hồ thôi à? – Timua lo lắng hỏi Giê-nhi-a - Giê-nhi-a ơi, bạn khóc đấy à? Mình nghe thấy tiếng nấc của bạn đấy. Không được thế! Không nên đâu! Mình sẽ đến ngay bây giờ đây.

Timua mắc ống nghe trở lại, giật vội bảng giờ tàu ở trên giá xuống.

- Phải rồi, chuyến tàu cuối cùng chạy vào lúc hai mươi ba giờ năm mươi lăm. Chuyến sau sẽ chạy vào lúc ba giờ bốn mươi phút sáng - Cậu cắn môi đứng im - Muộn rồi! Chẳng lẽ không còn cách nào khác nữa hay sao? Không! Chậm mất rồi!

Nhưng ngôi sao đỏ ngày và đêm vẫn đang rực cháy trên cánh cổng nhà Giê-nh-a. Chính cậu đã đốt lên ngôi sao ấy bằng đôi tay mình. Và những ánh sao vừa thẳng thắn, vừa nhọn ấy vẫn sáng rực, nhấp nháy trước mắt Timua.

Con gái của vị chỉ huy gặp chuyện không may. Con gái của vị chỉ huy bất ngờ bị rơi vào vòng phong tỏa. Đó là trách nhiệm mà cậu và đội của cậu đặt ra cho mình bấy lâu nay. Vị chỉ huy đang chiến đấu ngoài mặt trận không có điều kiện chăm sóc cho con gái thì chính cậu và các bạn sẽ thay ông chăm sóc cho cô. Nhất là bây giờ ông cần gặp con gái của mình thì bằng mọi cách cậu sẽ phải làm được điều đó.Bằng mọi cách.

Vừa nghĩ, Timua vừa mặc quần áo chạy và ra đường. Chỉ vài phút sau cậu đã có mặt trên thềm nhà của con người lịch thiệp có mái tóc hoa râm. Trong phòng làm việc của bác sĩ vẫn còn ánh đèn. Timua gõ cửa. Có tiếng mở cửa và bác sĩ ló đầu ra.

- Cậu cần gặp ai? – Con người lịch thiệp hỏi, giọng khô khan.

- Cháu xin gặp ông ạ - Ti mua trả lời.

- Gặp lão à? – Ông già suy nghĩ rồi đưa tay đẩy rộng cửa ra, nói - Nếu vậy thì…xin mời vào!

Hai người gặp nhau chóng vánh.

- Đó là tất cả những việc mà chúng cháu đã làm - mắt Timua long lanh, em kết thúc câu chuyện – chúng cháy đã làm như một trò chơi và đó là lý do vì sao cháu lại cần được gặp Cô-li-a của ông lúc này.

Ông lão im lặng đứng dậy. Cụ đưa tay nhanh nhẹn nắm lấy cằm Timau, nâng mặt cậu lên mà nhìn thẳng vào tận mắt, rồi đi ra.

Cụ vào phòng Cô-li-a lay vai cháu:

- Dậy, cháu ơi! – Ông cụ nói – Có người đến tìm cháu đấy.

- Nhưng cháu có biết gì đâu ạ. – Cô-li-a hoảng hốt mở mắt ra, nói với ông – Ông ơi, cháu chẳng biết chuyện gì đâu. Thật đấy, ông ạ.

- Dậy đi cháu – Con người lịch thiệp nhắc lại với giọng khô khan, bạn cháu nó đến tìm cháu đấy.

Giê-nhi-a ngồi bó gối trên đống rơm ở gác xép nhà kho. Em đang đợi Timua đến. Nhưng bỗng em lại thấy cái đầu bù của Cô-li-a thò vào qua khe hở tren cửa sổ, chứ khong phải là Ti-mua.

- Cậu đấy à, Cô-li-a – Giê-nhi-a ngạc nhiên - Cậu cần gì thế?

- Tớ cũng chẳng biết nữa. – Cô-li-a khẽ trả lời - Tớ đã đi ngủ rồi. Thấy cậu ấy đến gọi. Tớ tỉnh dậy. Cậu ấy bảo tớ đến gặp cậu và dẫn cậu đi ra cổng.

- Để làm gì?

- Tớ cũng chẳng biết nữa. Đầu tớ đang kêu o o lên đây này. Giê-nhi-a à, tớ chả biết quái gì đâu.

Không có ai ở nhà để xin phép. Chú Ghê-oóc-ghi đêm này về Moskva và ngủ lại đó. Timua bèn đốt đèn lên, lấy rìu và gọi con chó Rita cùng đi ra vườn. Cậu hết nhìn cái rìu trên tay lại nhìn cái khóa treo trên cửa. Gay go thật! Timua hiểu rằng làm như thế là không nên, nhưng không còn cách nào khác. Cậu vung mạnh tay chặt băng cái khóa, dắt chiếc xe môtô ra.

- Rita! – Timua quỳ xuống hôn vào mõm con chó và đau khổ nói với nó – Mày đừng giận tao nhé! Tao không còn cách nào khác cả.

Giê-nhi-a và Cô-li-a đứng bên cổng vườn. Xa xa có ánh đèn đang lao vun vút. Ánh đèn phóng thẳng tới cho hai em cùng với tiếng môtô nổ giòn. Hai em bị lóa mắt vội lùi lại sts hàng rào. Vừa lúc đó ánh đèn phụt tắt, tiếng máy nổ cũng bặt đi. Timua hiện ngay ra trước mắt hai đứa.
- Cô-li-a – Timua không chào không hỏi, đi ngay vào việc - Cậu sẽ ở lại đây trông đứa bé con đang ngủ. Cậu phải chịu trách nhiệm về em bé ấy trước toàn đội ta. Giê-nhi-a, ngồi lên xe! Thẳng hướng Moskva. Tiến lên!

Giê-nhi-a sung sướng kêu lên. Em lấy hết sức ôm chặt lấy Timua mà hôn lên má bạn.

- Ngồi lên, Giê-nhi-a, ngồi lên – Timua hét to, cố tỏ ra minh vốn là một con người nghiêm khắc – Bám cho chặt vào! Nào, tiến lên! Tiến lên thôi!

Môtô nổ máy, tiếng còi vang lên. Và chẳng mấy chốc ánh đèn đỏ sau xe đã biến đi trước đôi mắt còn ngơ ngác của Cô-li-a.

Cậu ta đứng đó, đưa cây gậy lên ngang thắt lưng, như thể cầm súng, rồi bước đi chung quanh ngôi nhà nghỉ rực sáng ánh đèn.

- Đúng thế đấy - vừa bước những bước ra vẻ quan trọng, cậu ta vừa lẩm bẩm – công việc của người chiến sĩ mới vất vả làm sao! Ngày , đêm chẳng lúc nào được yên tĩnh.
 
Sắp ba giờ sáng rồi. Đại tá A-léc-xan-đơ-rốp ngồi bên bàn. Ấm trà để bên những mẩu xúc xích, phó mát và những lát bánh mì trên mặt bàn đã nguội từ lâu.

- Nửa tiếng nữa ba sẽ đi, - ông nói với Ôn-ga, - rất tiếc là ba không được gặp em Giê-nhi-a. Ôn-ga, con khóc đấy à?

- Con chả biết tại sao em ấy lại không về. Con thương nó lắm. Em ấy đợi ba suốt ngày. Thế này thì khéo em ấy phát điên lên mất. Cứ nguyên như hiện nay nó cũng đã điên rồi.

- Ôn-ga, - người cha đứng dậy, - ba không rõ lắm, nhưng ba không tin là em Giê-nhi-a lại có thể rơi vào một nhóm trẻ xấu, lại có thể bị chúng làm cho hư hỏng, hoặc có thể bị chúng điều khiển. Không, tính tình của nó không phải vậy đâu!

- Đấy! - Ôn-ga giận hơn. - Ba cứ nói thử với em ấy câu đó xem. Xưa nay nó vẫn tự hào rằng tính nó giống hệt tính ba. Giống cái gì? Nó leo lên mái nhà, ròng dây qua ông khói. Con định lấy bàn là ra là thì tự nhiên cái bàn là bị rút nhảy bật lên. Ba ạ, lúc ba đi ở nhà em ấy có tất cả bốn cái áo. Bây giờ có hai cái đã biến thành giẻ rách rồi. Còn cái thứ ba nó lớn quá, mặc không vừa, cái thứ tư thì con chưa cho mặc. Con đã khâu cho nó ba cái mới. Nhưng nó mặc như phá ấy. Suốt ngày, con chỉ thấy em ấy bị xước, bị bầm tím. Lúc nào bị gọi về môi em ấy cũng bặm im thin thít như cái nơ hồng vậy. Còn đôi mắt xanh biếc thì cứ trố ra. Thật, ai cũng bảo rằng em ấy là hoa chứ không phải là đứa con gái nữa. Cứ đợi đấy rồi xem! Gớm thật! Hoa! Động vào là sầy tay ra cho mà xem. Ba ạ. Ba đừng nghĩ là tính em ấy giống tính ba nữa. Ba cứ thử nói câu ấy với em mà xem! Em ấy sẽ múa suốt ba ngày liền trên ống khói đấy chứ chẳng đùa đâu.

- Thôi được rồi, - người cha ôm lấy Ôn-ga, đồng tình, - ba sẽ bảo em. Ba sẽ viết thư cho em ấy. Còn con, Ôn-ga ạ, con cũng đừng quá khắt khe với em làm gì. Con bảo với em là ba rất yêu và nhớ nó, ba sẽ sớm trở về và đừng có khóc khi nhớ ba, vì em ấy là con gái của một người chỉ huy.

Chị Ôn-ga ôm chặt lấy bố, nói:

- Thế nào em ấy cũng khóc. Con cũng là con gái của người chỉ huy. Nhưng rồi cả con cũng sẽ phải khóc.

Người cha xem đồng hồ, bước lại trước gương, thắt dây lưng và sửa lại áo. Bỗng cánh cửa phía ngoài mở toang, làm chiếc rèm cửa tung lên và Giê-nhi-a xuất hiện với đôi vai nhô cao lên như chuẩn bị lao tới.

Lẽ ra thì em đã kêu ầm lên mà chạy ùa tới gặp bố, nhưng lần này em lại nhẹ nhàng bước đến, im lặng nép đầu vào ngực ông. Trán em nhọ nhem. Chiếc váy liền áo nhàu nát và đầy những vết bẩn. Ôn-ga sợ hãi hỏi em:

- Giê-nhi-a, em ở đâu đến đây? Em làm cách nào mà về đây được?

Giê-nhi-a không ngoái cổ lại, chỉ đưa cánh tay ra khẽ hất hàm làm hiệu như muốn nói rằng: "Khoan đã!... Để yên!... Đừng hỏi gì vội!..."

Người cha cầm lấy tay Giê-nhi-a, ngồi xuống đi-văng và đặt con lên lòng. Ông nhìn thẳng vào mặt con và lấy lòng bàn tay mình lau vết bẩn trên trán con.

- Tốt lắm, thật đấy! Giê-nhi-a! Con là một con người cừ lắm.

- Nhưng người em bẩn thỉu quá, mặt mũi nhem nhuốc đến thế kia kìa! Em về đây bằng cách nào vậy? - Chị Ôn-ga lại hỏi gặng.

Giê-nhi-a chỉ cho chị ra phía rèm cửa. Và thế là chị Ôn-ga nhận ra được ngay người đứng đó là Ti-mua.

Em đang tháo đôi găng da đi mô tô. Trên thái dương em còn vương một vết dầu máy mầu vàng. Mặt em ướt và mệt mỏi như một người công nhân vừa hoàn thành tích cực công việc của mình. Em cúi đầu chào mọi người.

- Ba à! - Giê-nhi-a nhảy ra khỏi lòng bố, chạy lại gần Ti-mua. - Ba đừng có vội tin ai! Họ chẳng biết tí gì đâu. Đây là Ti-mua - người bạn rất tốt của con!

Ông bố đứng dậy và không nghĩ ngơi, nắm chặt tay Ti-mua. Một nụ cười chiến thắng thoáng hiện trên khuôn mặt Giê-nhi-a. Em đưa mắt nhìn sang chị Ôn-ga như thách thức. Chị Ôn-ga bước lại gần Ti-mua mà trong lòng vẫn còn bỡ ngỡ và nghi ngờ:

- Nào... nếu vậy thì chào em...

*

Lát sau đồng hồ điểm ba tiếng.

- Ba ơi! - Giê-nhi-a hoảng hốt, - ba đã đứng dậy rồi đấy à? Đồng hồ nhà mình chạy nhanh đấy, ba ạ!

- Không, con ạ, nó chạy chính xác đấy!

- Ba ơi, cả đồng hồ của ba cũng nhanh đấy. - Em chạy lại máy điện thoại, quay số hỏi giờ và trong ống nghe vang lên một giọng nói như máy:

- Ba giờ bốn phút!

Giê-nhi-a nhìn lên tường, thở dài nói:

- Đồng hồ nhà mình chạy nhanh, nhưng chỉ có một phút thôi. Ba ơi, ba cho chúng con ra ga với. Chúng con sẽ tiễn ba ra tận tàu.

- Không, Giê-nhi-a ạ. Không cần. Ở ngoài đó ba bận nhiều việc lắm!

- Tại sao thế ạ? Ba ơi, chắc ba đã có vé rồi đấy chứ?

- Có rồi.

- Toa mềm hả ba?

- Toa mềm, con ạ.

- Úi trời ơi, sao con muốn được đi toa mềm với ba đến tận nơi nào xa, thật xa thế không biết!...

*
 
Và đây đâu phải là một nhà ga. Nó chỉ là một trạm phụ mới làm để bốc dỡ hàng ở ngoại ô Mát-xco-va. Ở đây chỉ có đường tàu, cột ghi, mũi tên chỉ đường, toa hàng và đầu máy. Không có lấy một bóng người đi lại. Trên đường ray có một đoàn xe bọc thép. Cánh cửa sắt toa đầu hé mở làm rạng lên khuôn mặt hồng ánh lửa của người thợ máy lúc ẩn, lúc hiện. Bố Giê-nhi-a, đại tá A-léc-xan-đơ-rốp, mặc áo da đứng trên bậc thềm trong sân ga. Một thiếu úy quân đội bước tới chào và đề nghị:

- Đồng chí chỉ huy! Xin đồng chí cho lệnh xuất phát.

- Đồng ý! - Đại tá nhìn đồng hồ: ba giờ năm mươi ba phút. - Lệnh xuất phát vào đúng ba giờ năm mươi ba phút.

Đại tá A-léc-xan-đơ-rốp đến toa và thấy trời bắt đầu hửng sáng, nhưng nhiều mây đen. Ông nắm lấy tay vịn ướt sương nơi cửa toa. Cánh cửa từ từ mở ra. Ông đặt chân lên bậc, mỉm cười, và tự hỏi:

- Toa mềm hả ba?

- Ừ, toa mềm!

Cánh cửa sắt lại rầm rầm đóng vào. Cả đoàn tàu bọc thép khổng lồ chuyển bánh. Tàu từ từ tăng tốc độ. Đầu máy lướt qua. Những đại bác lướt qua. Mát-xco-va lùi dần lại phía sau. Sương mù. Những ngôi sao vụt tắt. Trời sáng.

*

Sáng hôm sau, khi đi làm trở về anh Ghê-Oóc-ghi không thấy cả Ti-mua lẫn mô tô đâu cả. Anh nhất định gửi trả Ti-mua về cho mẹ em. Anh đang ngồi viết thư thì thấy có một chiến sĩ Hồng quân đi tới.

Đồng chí Hồng quân rút một phong thư ra đưa cho anh và hỏi:

- Đồng chí là Ga-ra-ép Ghê-oóc-ghi phải không?

- Vâng.

- Xin đồng chí nhận thư này và ký giùm vào đây.

Đồng chí Hồng quân đi khỏi.

Anh Ghê-oóc-ghi nhìn phong bì rồi huýt gió rõ to như một người thành thạo.

Phải rồi! Đây chính là điều mà từ lâu anh vẫn hằng mong đợi. Anh bóc thư ra đọc và vò nhàu bức thư anh vừa viết được mấy dòng kia đi. Bây giờ không phải là trả Ti-mua về cho mẹ nó nữa mà là gửi điện gọi mẹ nó đến đây, đến khu trại nghỉ mát này.

Ti-mua bước vào phòng, lập tức chú Ghê-oóc-ghi nổi giận, đập tay xuống bàn. Nhưng tiếp ngay sau đó Ôn-ga và Giê-nhi-a cũng bước vào.

- Khẽ chứ! - Ôn-ga nói. - Không nên quát mắng và đập bàn. Ti-mua không có lỗi gì cả. Người có lỗi là anh và cả tôi nữa.

- Đúng đấy, - Giê-nhi-a tiếp vào ngay. - Anh đừng quát bạn ấy. Chị Ôn-ga, chị đừng động vào bàn. Khẩu súng lục ở đây nổ to lắm đấy.

Anh Ghê-oóc-ghi nhìn Giê-nhi-a, rồi nhìn khẩu súng rồi lại nhìn cái quai gạt tàn thuốc lá bằng đất nung bị gãy. Anh hình như đã bắt đầu hiểu ra được một điều gì, anh thầm đoán và hỏi:

- Thế ra đêm hôm đó em đã ở lại đây đấy à, Giê-nhi-a?

- Vâng, chính em. Chị Ôn-ga, chị hãy kể lại đầu đuôi cho anh ấy nghe để chúng em đi lấy dầu hỏa và giẻ lau lau lại cái xe đã.

*

Hôm sau, khi Ôn-ga đang ngồi ngoài hành lang thì có một người chỉ huy bước qua cổng vườn vào nhà chị. Anh ta bước những bước chắc nịch và quả quyết tựa như đi về nhà mình vậy. Ôn-ga ngạc nhiên chạy ra đón. Trước mặt chị lúc này chính là anh Ghê-oóc-ghi. Anh bận bộ đồ đại úy binh chủng xe tăng.

- Thế này là thế nào? - chị Ôn-ga khẽ hỏi. - Lại... một vai mới trong vở ca kịch à?

- Không, - anh Ghê-oóc-ghi đáp, - tôi đến đây để chia tay với chị trong giây lát. Đây không phải là một vai kịch mới mà là một bộ đồ mới.

- Thế còn cái này? - chị Ôn-ga chỉ vào phù hiệu. Mặt chị ửng đỏ. - Có phải là... "chúng tôi xuyên qua bê-tông và cốt sắt đánh thẳng vào tim" đấy phải không?

- Phải, chính thế đấy. Chị Ôn-ga, chị hãy hát và đệm đàn cho tôi nghe một bài gì để tiễn tôi lên đường xa đi.

Anh ngồi xuống. Ôn-ga đi lấy đàn:

...Chàng phi công! Súng đạn
Tung cánh bay xa vời
Đến khi nào trở lại?
Biết làm sao anh ơi,
Miễn là anh trở lại
Một lần thôi... đủ rồi.

Ôi! Dù anh ở nơi nao
Bầu trời hay mặt đất
Dù anh ở nước nào
Đôi cánh
Đôi cánh bay cao ngất
Sao đỏ - yêu tuyệt vời
Vẫn như xưa, anh ơi
Em vẫn đợi.

- Thế đó, -chị Ôn-ga nói, - nhưng đây lại là những lời hát về các chàng lái máy bay, còn bài hát hay như vậy về các chàng lái xe tăng thì tôi còn chưa được biết.

- Không sao! - anh Ghê-oóc-ghi nói. - Chị sẽ tìm cho tôi những lời nói hay mà không cần điệu hát cũng được.

Chị Ôn-ga suy nghĩ và khi tìm ra được lời nói hay cần thiết rồi thì chị im bặt nhìn vào đôi mắt màu xám đã thôi cười của anh.

*

Giê-nhi-a, Ti-mua và Ta-nhi-a đang ở trong vườn.

Giê-nhi-a đề nghị:

-Các cậu này. Anh Ghê-oóc-ghi sắp đi rồi. Chúng mình triệu tập cả đội lại rồi cùng đi tiễn anh lên đường đi. Ta ra lệnh tập trung khẩn cấp đi. Tất cả rồi sẽ huyên náo cả lên cho mà xem.

- Không nên đâu, - Ti-mua phản đối.

- Tại sao?

- Không nên! Chúng ta từ trước đến nay chưa tiễn ai đi như thế cả.

- Thì thôi, không nên thì không nên, - Giê-nhi-a đồng ý như vậy, - các cậu ngồi đây, mình đi uống nước một cái đã.

Em bỏ đi, còn Ta-nhi-a thì tự nhiên phá lên cười.

- Cậu làm sao thế? - Ti-mua không hiểu.

Ta-nhi-a lại càng cười to hơn.

- Giỏi thật đấy! Giê-nhi-a khôn thật! "Mình đi uống nước một cái đã".

- Chú ý! - giọng của Giê-nhi-a trong vắt và nghiêm trang vang lên trên gác xép ngôi nhà kho. - Tôi phát lệnh tập trung khẩn cấp.

- Cậu điên à? - Ti-mua đứng chồm ngay dậy. - Hàng trăm người sẽ kéo đến đây bây giờ. Cậu làm trò gì thế?

Song cái guồng lái nặng nề đã quay tít và kêu ken két lên. Những đường dây tỏa đi khắp nơi đã rung lên! Và thế là tất cả những chuông, những hộp kẽm, những chai lọ, ống bơ dưới các mái nhà kho, nhà ngang, trong các chuồng gà đều rung lên. Trăm thì chả đủ trăm nhưng ít nhất phải có tới năm chục em lao vội đến nơi đã phát ra cái hiệu lệnh quen thuộc ấy.

- Chị Ôn-ga ơi! -Giê-nhi-a chạy vào hành lang. -Chúng em cũng đi tiễn đây! Bọn em đông lắm, chị nhìn ra cửa sổ mà xem.

- Ái chà! - anh Ghê-oóc-ghi vén rèm cửa sổ lên, ngạc nhiên. - Ồ, đội của các em đông thật. Có thể chật một toa tàu ra mặt trận đấy.

- Không nên! - Giê-nhi-a thở dài nhắc lại lời Ti-mua... - Tất cả các thủ trưởng và các chỉ huy đã được lệnh là phải nghiêm ngặt tống cổ những người anh em đó ra khỏi mặt trận rồi. Tiếc thật! Nếu không thì chính em cũng sẽ có mặt ở nơi đó rồi... Xung phong! Tiến lên! Các loại súng máy hãy vượt lên tuyến đầu!... Có tôi lên đầu tiên đây!

-Em là con bé thủ lĩnh ba hoa đầu tiên trên thế giới này thì có! - chị Ôn-ga nhại lại em rồi mắc dây đeo đàn phong cầm qua vai, nói: - Thôi được, đã là tiễn thì phải có nhạc cử lên hẳn hoi.

*

Tất cả đổ ra đường. Chị Ôn-ga chơi đàn. Còn các em người thì gõ vào lọ, vào chai, người thì gõ ống bơ, hoặc cầm những thanh gỗ gõ vào nhau. Đội âm nhạc nghiệp dư tiến lên hàng đầu, cất cao tiếng hát.

Mọi người đi dọc theo những đường rợp bóng cây xanh. Họ thu hút mỗi lúc mỗi thêm nhiều người đi tiễn.

Thoạt đầu người ta chẳng hiểu làm sao lại có chuyện ồn ào, huyên náo như vậy. Có chuyện gì mà lại hát vang lên như thế? Nhưng khi biết chuyện thì ai nấy đều mỉm cười. Có người thầm thì, có người nói to chúc anh Ghê-oóc-ghi lên đường may mắn.

Khi đã tiến đến sân ga thì có một đoàn tàu quân sự lao qua. Tàu không dừng lại ở ga này.
Ở những toa đầu cũng có các chiến sĩ Hồng quân. Những người đi tiễn ở ga đều giơ tay vẫy chào. Tiếp đến những toa trống chở xe ngựa kéo pháo với cả một rừng càng màu xanh chổng lên. Sau nữa đến toa chở ngựa. Đàn ngựa chiến đang nhai cỏ. Chúng cũng được mọi người ở dưới ga "hoan hô". Cuối cùng là những toa chở những gói gì vừa vuông lại vừa to, có bọc loại vải bạt màu xám rất cẩn thận. Cuối đoàn tàu có một chiến sĩ đứng gác đang lắc lư theo nhịp chuyển động của tàu.

Tàu hành khách đã đến. Ti-mua từ biệt người chú thân yêu.

Rồi đến lượt Ôn-ga bước lại bên anh Ghê-oóc-ghi.

- Thôi, tạm biệt anh! - chị nói. - Có lẽ sẽ còn lâu đấy nhỉ?

Anh lắc đầu và nắm lấy tay chị:

- Cũng chẳng biết được... còn tùy theo số phận!

Tiếng còi tàu, tiếng ồn ào, tiếng nhạc váng tai. Đoàn tàu chuyển bánh.

Chị Ôn-ga bỗng trở nên trầm lặng hẳn đi. Trước mắt Giê-nhi-a vụt hiện ra một niềm hạnh phúc lớn lao mà bản thân em chưa thể nào hiểu nổi.

Ti-mua rất xúc động, nhưng em cố ghìm lại.

- Thế đấy, - em hơi đổi giọng nói, - thế là từ nay tôi chỉ còn lại có một mình thôi. - Nhưng ngay sau đó em vươn người thẳng lên, nói thêm: - Nhưng ngày mai mẹ tôi sẽ đến.

- Thế tôi? - Giê-nhi-a nói to, - thế các bạn còn cả đấy thì sao? - Em chỉ tay vào các bạn. - Còn cái này nữa? - Em đưa ngón tay nhẹ đặt lên ngôi sao đỏ.

- Cứ yên tâm! - chị Ôn-ga ngừng suy nghĩ, nói với Ti-mua. - Em vẫn thường hay nghĩ đến mọi người thì mọi người cũng sẽ trả ơn em như vậy.

Ti-mua ngẩng cao đầu.

Phải rồi, ngay cả ở đây em cũng không thể trả lời thế nào khác được. Em là một chú bé thật giản dị và đáng yêu!

Em đưa mắt nhìn các bạn, mỉm cười và nói:

- Tôi đứng đây... Tôi nhìn. Mọi người đều tốt đẹp! Tất cả đều yên tâm. Như thế nghĩa là tôi cũng yên tâm.

1940

-------

Chuyện Ti-mua và đồng đội đã kết thúc.
Cảm ơn mọi người đã theo dõi.
Cảm ơn bạn Len90 đã tiếp sức.
 
Vâng, và em thay mặt các độc giả cám ơn bác TLV và bạn Len90 đã giúp mọi người được trở về thời xa xưa qua những trang sách của A.Gaidar!
 
Nina nói:
Vâng, và em thay mặt các độc giả cám ơn bác TLV và bạn Len90 đã giúp mọi người được trở về thời xa xưa qua những trang sách của A.Gaidar!

Ôi, hai bác lôi em vào cảm ơn làm em ngại quá. Em chỉ là " Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình " thôi ạ. :)

Chả hiểu sao em cứ tưởng tượng bác Putin hồi bé chắc cũng điềm đạm, thủ lĩnh giống bạn / bác Timua này.
 
Back
Top