Tuyết bỏng!

[size=18:99f684ce58]TUYẾT BỎNG (YURI VASSILIEVITCH Bondarep) [/size]

Dịch giả Nguyễn Hải Hà
NXB Cầu Vồng Nga xuất bản



Không một cơ bắp nào trên khuôn mặt vàng xám, lãnh đạm của Xta-lin thể hiện sự đồng ý hay là sự phản đối và khi thì húng hắng ho, khi thì khục khặc vì ngứa họng, Người bắt đầu đi bách bộ trong phòng, trên tấm thảm dày không gây tiếng động, tay trái của Người không được mềm mại, co về phía khuỷu, hơi đưa về phía đằng trước, đặt trước bụng, đôi vai xuôi, hẹp, hơi gù xuống; nhưng trong giây phút đó Bét-xô-nốp bỗng tưởng như Xta-lin có điều gì đó băn khoăn, không hài lòng, có lẽ do việc nhắc tới năm bốn mốt hoặc do nhận xét về hoạt động chậm trễ của quân ta chống lại đám quân Đức của Pao-luýt-xơ bị bao vây và ông thấy khi Xta-lin lại gần, cặp mắt lạnh lùng chăm chú với vẻ cứng rắn bình thản chằm chằm nhìn ông.
-Nhiệm vụ và mục đích của người tướng cầm quân là gì,-Xta-lin nói, không phải hướng về Bét-xô-nốp nữa mà như nói với bản thân mình, suy nghĩ, cân nhắc chính xác từng lời.-Nhiệm vụ chủ yếu của người cầm quân là nhận mặt, nghiên cứu kẻ thù. Chuẩn bị và chờ đợi thời cơ. Rèn luyện gân bắp. Giáng đòn bất ngờ. Và giành thắng lợi.
Người dùng động tác nhấn mạnh mấy chữ “giành thắng lợi”, khuôn mặt ram ráp, đầy những vết rỗ hoa nhỏ xíu chợt tỏ ra hài lòng.
-Và tất cả những kẻ thiếu tin tưởng sẽ bị đào thải,-Xta-lin nói tiếp, lần thứ hai Tổng tư lệnh tối cao dùng động tác để nhấn mạnh lời nói.-Những kẻ hèn nhát và những kẻ hoài nghi non gan, đồng chí Bét-xô-nốp ạ. Tiếc thay những kẻ như thế vẫn hãy còn.
Và Xta-lin với vẻ mặt cau có của một con người giờ đây không muốn nghe, đi lại phía bàn viết ở cuối phòng làm việc, nhấc ống điện thoại lên nhưng vừa khục khặc, húng hăng ho vừa chậm rãi đặt nó xuống. Tiếp đó là hai phút Người đứng dửng dưng, nghiêng người về phía Bét-xô-nốp, y như đã quên mất sự có mặt của ông; rồi Người đưa bàn tay nhỏ nhắn rám nắng sẫm, phủ đầy lông tơ màu vàng vỗ vỗ vào chiếc tẩu đã tắt để hất tàn thuốc đi; Người mở hộp thuốc lá ở trên bàn, kẹp nó vào các ngón tay, giơ lên phía trên chiếc gạt tàn, xé rách các điếu thuốc để lấy sợi thuốc nhồi vào tẩu.
“Tổng tư lệnh tối cao đã tỏ ý cho biết là mình phải đi ra. Có lẽ Tổng tư lệnh tối cao cho triệu mình tới chỉ để xem mặt một tư lệnh mới và đã tỏ ra rất không hài lòng về mình-Bét-xô-nốp nghĩ.-Thì ra việc cử mình phụ trách tập đoàn quân theo lời khuyên của Rô-cốt-xốp-xki hình như có tính chất ngẫu nhiên…”
Xta-lin tiếp tục nhồi thuốc vụn vào tẩu, nén chặt và sau khi ngừng lời khá lâu, Người bắt đầu lên tiếng rất khẽ:
-Đồng chí Bét-xô-nốp này, đồng chí đã theo học và sau đó giảng dạy ở Viện hàn lâm quân sự phải không? Việc đó ai cũng biết. Đồng chí có quen với một tướng Vla-xốp nào đó không nhỉ?
“Tại sao Tổng tư lệnh tối cao lại hỏi mình về Vla-xốp nhỉ?-Bét-xô-nốp thoáng nghĩ.-Nhân chuyện gì mà Tổng tư lệnh tối cao nhớ tới vấn đề này?”.
-Tôi có biết,-Bét-xô-nốp trả lời, tim đập mạnh, ông đã nghe những người công tác ở Bộ Tổng tham mưu nói về những biến cố tháng Sáu trên mặt trận Vôn-khốp, về bi kịch của tập đoàn quân xung kích số Hai trong đó con trai ông phục vụ và bị mất tích.-Tôi có biết,-Bét-xô-nốp nhắc lại.-Chúng tôi cùng học với nha ở Viện hàn lâm…
-Riêng đồng chí có ý kiến gì về Vla-xốp trong những năm đó? Người ta nói rằng anh ra là kẻ hay tự ái và hay mếch lòng một cách quá quắt phải không?
-Thưa đồng chí Xta-lin, những cái đó không đập vào mắt mọi người, trong những năm đó ông ta không giao du mật thiết với ai cả, theo như tôi nhớ được.
-Người ta nói rằng ông tướng hay tự ái đã đầu hàng quân Đức là một kẻ hèn nhát, rất dút dát trong chiến đấu, giống như ông tướng nào đó của Ec-mô-lốp. Có đúng thế không?
-Tôi không thể nói về những nhận xét đó, thưa đồng chí Xta-lin. Tôi không gặp Vla-xốp ở ngoài mặt trận,-Bét-xô-nốp khẽ đáp.-Tuy nhiên tôi biết chắc một điều: lúc ở Viện hàn lâm ông ta không có gì nổi bật đặc biệt, đó là con người với những khả năng trung bình.
-Mọi người đều biết tên phiêu lưu chính trị khả năng trung bình đó đã đi hầu hạ bọn Đức,-Xta-lin giận dữ thốt lên.-Do tội lỗi của tên tướng hèn nhát đó, sáu nghìn người trong tập đoàn quân của hắn đã bị giết, tám nghìn người mất tích. Đồng chí Bét-xô-nốp, theo tôi thường thường những kẻ không kiên định về chính trị và đạo đức chịu để địch bắt làm tù binh. Trong một chừng mực nào đó chúng bất mãn với chế độ ta… Trừ một vài ngoại lệ. Đồng chí đồng ý chứ?
“Không có lẽ nào Vích-to nằm trong số tám nghìn người bị mất tích đó và đã bị bắt làm tù binh!… Tại sao Tổng tư lệnh tối cao lại nói về chuyện đó?”-Bét-xô-nốp lại suy nghĩ, ông cảm thấy chỗ đau ở chân nhói lên như một vết bỏng và ông có ý muốn không cưỡng được là lau mồ hôi nóng bỏng vã ra do cơn đau chảy từ thái dương xướng. Lúc ở Mát-xcơ-va, sau khi điều trị tại viện quân y, trước khi được cử ra mặt trận, Bét-xô-nốp thường xuyên nghĩ tới con trai, nghĩ tới tính mạn của con hoặc khả năng con bị chết; Bét-xô-nốp đã tìm hiểu mọi tin tức về tập đoàn quân xung kích số Hai, về những người chạy thoát khỏi vòng vây nhưng ông tránh nói chuyện đó ngay với vợ vì bà vẫn còn chưa mất hy vọng. Vích-to chết hay bị bắt làm tù binh, những đau khổ của anh đã chấm dứt cùng với cái chết hay chỉ mới bắt đầu trong trại tù binh, tất cả những cái đó được Bét-xô-nốp cảm nhận theo cách riêng của ông, được đánh giá bằng ý nghĩa của đời ông, ý nghĩa của tình thương muộn mằn của ông đối với con trai, ý nghĩa của vợ ông và niềm tin của ông. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi tại viện quân y gần Mát-xcơ-va trước khi Vích-to ra trận, sự trìu mến thiết tha của con trai đối với ông, những viên đạn súng ngắn rơi ra từ túi áo mưa sĩ quan mới tinh, cách hút thuốc lá vụng về, tiếng cười và khát vọng được đi chiến đấu với các bạn học-Bét-xô-nốp nhớ mãi những hình ảnh đó như một giấc mơ được lặp lại nhiều lần.
Bản thân Bét-xô-nốp cũng đã nhiều lần trải qua cái cảm giác về sự bất lực trong những tháng đầu tiên của năm bốn mốt, ông biết rõ thế nào là tâm trạng chán nản chung của mọi người khi bị bao vây, tâm trạng này nảy sinh như một bệnh dịch, nhưng ông cũng đã biết và đã trông thấy những anh chàng trung úy còn rất trẻ con, nhưng chỉ huy đại đội và tiểu đoàn không cạo râu bao giờ, do nhiều nguyên nhân bị đứt liên lạc, họ đã tập hợp được bộ đội trong những hoàn cảnh tưởng chừng như không lối thoát và với sự phẫn nộ cùng cực, tuyệt vọng họ đã phá được vòng vây siết chặt hoặc hy sinh ngay trước mũi xe tăng; ông hình dung những cái đó một cách rõ rệt và ông không nghi ngờ, tin chắc rằng Vích-to-mà ông mới nhìn thấy một cách mới mẻ-sẽ phá vòng vây như thế khi đơn vị của anh bị bao vây…
-Sao đồng chí lại im lặng thế, đồng chí Bét-xô-nốp?
Bét-xô-nốp trấn tĩnh lại, những nếp nhăn của tuổi già hằn sâu trên khuôn mặt hốc hác của ông,ông không thể giãn được cặp môi ra; còn cơn đau không gì chống lại được ở cẳng chân do đứng quá lâu ngày càng dai dẳng, mãnh liệt lan trên đùi ông như kẹp chặt lấy ông bằng những gọng kìm nung đỏ; ông sực nhớ tới cái gậy đã trao lại cho con người hói trán nhã nhặn ở phòng chờ, cảm thấy muốn ngồi xuống nhưng đồng thời biết rằng mình sẽ không ngồi. Sau cùng ông lên tiếng:
-Con trai tôi chỉ huy một đại đội trong tập đoàn quân xung kích số Hai. Tôi không biết rõ số phận của nó nhưng thưa đồng chí Xta-lin, là một người cha, tôi không có lý do gì để ngờ rằng nó phản bội nếu nó đã bị bắt làm tù binh.
Xta-lin ho khan, đặt mạnh chiếc tẩu xuống bàn, xem nó như một sinh vật quấy rầy, đẩy nó ra xa-đó là dấu hiệu của sự không hài lòng cố nén lại, điều mà Bét-xô-nốp không thể biết được,-Tổng tư lệnh tối cao đi bách bộ trong phòng, mí mắt ngăm ngăm, đùng đục của Người nhăn lại:
-Tôi không ám chỉ số phận con trai đồng chí. Theo như tôi được biết anh ta còn rất trẻ. Tôi không nghĩ về điều đồng chí đang nghĩ đâu, đồng chí Bét-xô-nốp. Tôi muốn nói về một nhân vật khác hẳn. Tôi nghĩ rằng sự phản bội bao giờ cũng có gốc rễ trong quá khứ. Thanh niên không có quá khứ,-Xta-lin.
Bét-xô-nốp cảm thấy cơn đau không chịu được ngày càng lan mạnh từ đầu gối lên đùi, lâm râm như lửa đốt, những dòng mồ hôi nóng bỏng chảy xuống nách, ông nghĩ thầm: “Lúc này giá được chống gậy thì hay quá”.
-Tên Vla-xốp này đã có một thời thậm chí được đánh giá tốt. Không ai biết rõ bản chất thối nát của hắn. Cả ở Viện hàn lâm cũng như trong quân đội,-Xta-lin thốt lên, cái nhìn lạnh lùng của Người xói vào mặt Bét-xô-nốp đến mức ông muốn đưa tay lên má để gạt cái giá lạnh như thép đó khỏi da thịt mình.-Không đúng thế sao, đồng chí Bét-xô-nốp?
-Tôi thấy khó trả lời câu hỏi này, thưa đồng chí Xta-lin. Cứ theo như cảnh ngộ Vla-xốp bị bắt làm tù binh mà tôi có thể hình dung được, tôi cắt nghĩa việc đó bằng khía cạnh súc vật trong sự sa đọa của con người. Còn như sự gần gũi với bọn Đức… thì đó, theo tôi, đã là một hành động có tính chất chính trị…
 
Trong giây phút đó Bét-xô-nốp cố gắng hiểu cho thật cặn kẽ ý nghĩa những lời nói của Tổng tư lệnh tối cao về tù binh, ông gạt bỏ, không chấp nhận tất cả những cái gì có thể gieo rắc bóng đen lên số phận con trai ông, ông không tin vào sự yếu đuối, sự nhát gan của anh. Không thấy có tên Vích-to trong danh sách mười sáu nghìn người thoát khỏi vòng vây. Đồng thời kinh nghiệm của Bét-xô-nốp phủ nhận lối nhìn ngây thơ, toàn một màu hồng, sự đinh ninh thiếu căn cứ cho rằng đối với con trai ông mọi việc đều trơn tru. Vẫn như trước đây, ông nghĩ rằng trong những hoàn cảnh đó Vích-to khó mà tránh không bị bắt làm tù binh, giống như những người khác khi lâm vào tình huống bi đát đó nhưng cho dù điều đó đau đớn đến thế nào đi nữa, Bét-xô-nốp ngày càng quả quyết rằng con trai ông đã chết trong những ngày tập đoàn quân xung kích số Hai mưu toan đánh phá. Điều đó gần với sự thật hơn.
Nhưng Bét-xô-nốp không thể biết được nguyên do dẫn tới cuộc trò chuyện này, cái gì thúc đẩy Xta-lin tò mò chú ý tới tướng Vla-xốp.
Trong cuộc chiến tranh nào chả xảy ra những sự phản bội, hèn nhát, sự phản trắc của cả một đạo quân, việc trao tài liệu mật cho quân thù. Sự phản bội của Vla-xốp vào tháng Sáu năm bốn mốt không phải là sự phản bội của cả đạo quân đã chiến đấu đến người cuối cùng ở gần làng Xpa-xcai-a Pô-li-xtơ. Tàn quân của các sư đoàn đã chiến đấu thoát khỏi vòng vây. Sự phản bội của Vla-xốp là sự phản bội hèn nhát của một tên tướng ban đêm đã bí mật rời bỏ bộ tham mưu của mình và đi tới làng Pi-at-nít-xa đã bị bọn Đức chiếm rồi nói lên những lời khiếp sự và sỉ nhục: “Các anh đừng bắn, tôi là tướng Vla-xốp đây”. Hắn đã cứu cái mạng hắn mà từ giờ phút đó đã chết rồi bởi vì bất kỳ sự phản bội nào cũng đều là cái chết vì tinh thần. Nhưng sự phản bội của Vla-xốp và thất bại của một tập đoàn quân trên một hướng không phải là chính yếu cố nhiên đã không thể làm thay đổi tình hình trên toàn bộ mặt trận Xô-Đức. Trong lúc nguy cơ nghiêm trọng nhất là ở phía Nam và Tổng tư lệnh tối cao lúc ấy đang bận tâm vào các mặt trận ở phía Nam, nơi quân Đức chuẩn bị giáng đòn chủ yếu, không muốn tập trung chú ý vào các biến cố ở Vôn-khốp. Nhưng trong những ngày ba phương diện quân đạt được thành tích lớn ban đầu ở Xta-lin, trong những ngày phản công tháng Mười một của chúng ta thì họ tên của tên tướng Vla-xốp lại thấp thoáng hiện lên trong các bản tin tình báo, điều ấy khiến cơn phẫn nộ trước đây lại bừng bừng lên trong người Xta-lin, đồng thời Người luôn luôn hình dung xem giờ đây, khi ngồi ở hậu phương của bọn Đức, liệu tên Vla-xốp cảm thấy thế nào lúc nghe tin chiến thắng của Hồng quân. Khi nghĩ về quá khứ theo các hồi tưởng ám ảnh mình, Xta-lin chờ đợi Bét-xô-nốp, người đã từng có lúc biết rõ kẻ nguyên là tư lệnh tập đoàn quân xung kích số Hai do cùng học với nhau ở Viện hàn lâm, một vị tướng đứng tuổi đã cống hiến nhiều năm trong quân đội, xác định cái gì nổi bật trong bụng dạ tên phản bội, những gốc rễ sâu xa từ những năm trước khả dĩ giải thích được hành động hiện tại của Vla-xốp. Và Xta-lin muốn biết chính xác về điều đó.
Sau khi nghe Bét-xô-nốp trả lời, theo thói quen đã luyện được nhiều năm, Xta-lin không trực tiếp để lộ sự không hài lòng của mình; với vẻ uể oải chậm rãi Người đi bách bộ dọc con đường trải thảm từ đầu phòng đến cuối phòng và từ chỗ đó Người nói bằng một giọng rất khó nghe rõ:
-Một hành động có tính chất chính trị? Đúng, đó là chính trị… Đồng chí Bét-xô-nốp này, người ta nói rằng đôi khi đồng chí phát biểu quan điểm riêng… của mình về nhiều biến cố khác nhau. Về những tù binh đó chẳng hạn. Dư luận về đồng chí có phù hợp với thực tế không?
Đang chờ nói chuyện tiếp về Vla-xốp, Bét-xô-nốp không dè câu hỏi này và ông hơi chuyển dịch cẳng chân đến tê dại trên tấm thảm, ông bỗng cảm thấy như có một làn gió thoảng thốc vào ngực và có cảm giác về một trạng thái khác thường đối với mình, mình sắp bị ngã lăn từ trên một bờ dốc cao dựng đứng xuống, như thể đã có ý thức chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận cái kết cục khốc liệt đó, ông chật vật thốt lên:
-Thưa đồng chí Xta-lin, có lẽ người ta còn nói cả những điều không hay về tôi nữa. Tôi biết có dư luận cho rằng tôi xấu tính. Và tôi chắc đã có những lời phàn nàn về tôi.
Xta-lin mở mí mắt nặng trĩu, ngạc nhiên chăm chú nhìn rồi lại khép ngay mi mắt xuống.
-Tại sao đồng chí không trả lời thẳng vào câu hỏi?-Xta-lin hỏi và bất chợt cười không thành tiếng và dùng ngón tay cái vuốt vuốt cái tẩu kẹp trong tay, vai khẽ động đậy, rồi lại bước tới bàn viết ở cuối phòng làm việc.-Đồng chí Bét-xô-nốp, là một người cộng sản, đồng chí háy trả lời tôi như một người cộng sản. Bao giờ đồng chí cũng có quan điểm riêng của mình về các biến cố khác nhau phải không?
-Tôi cố gắng như thế, thưa đồng chí Xta-lin. Nhưng không phải bao giờ tôi cũng bảo vệ được quan điểm đó đến cùng.
Xta-lin nheo mắt, nhìn ra ngoài bàn viết. Từ lâu đã quen với việc mọi người xung quanh tán thành ý kiến của mình, không bàn luận, xem ý kiến đó như là chuẩn mực, đôi khi Người cho phép một số rất ít người thân cận được bày tỏ ý kiến riêng biệt của họ và câu trả lời của Bét-xô-nốp gợi cho Người nhớ tới một trong những đại diện của Đại bản doanh, con người đôi khi vừa như chọc tức Người đồng thời lại cần thiết khi giải quyết các vấn đề tác chiến vì người đó vốn cương trực, không sợ hãi. Nhưng sự sáng suốt giàu kinh nghiệm khiến mọi người ngạc nhiên xem đó như là sự đánh giá tình hình một cách chắc chắn và chính xác đã khiến Xta-lin tin chắc rằng các phán đoán của mình không sai lầm và Người nêu những phán đoán đó lên không do dự.
-Tôi hiểu, đồng chí Bét-xô-nốp… Ý kiến của đồng chí hình như có liên quan tới số phận của một vài người chỉ huy quân sự mà chúng ta đã trừng phạt?
-Đó chỉ là quan điểm của tôi, thưa đồng chí Xta-lin-Bét-xô-nốp đáp, như thể ông nhích lại gần hơn làn gió lạnh đang thổi vào mặt, vào chân ông; và sau khi trả lời như thế, sau khi hiểu rằng Xta-lin buộc ông phải nói tới điều ông không định nói, ông nói thêm với thái độ bình tĩnh khiến chính ông cũng ngạc nhiên:
-Quan điểm này của tôi hình thành vì tôi phải cộng tác cùng với vài vị chỉ huy quân sự về sau đã trở thành nạn nhân của sự vu khống. Tôi tin chắc rằng, thưa đồng chí Xta-lin…
Xta-lin đặt chiếc tẩu xuống và gạt nó ra xa trên mặt bàn như gạt một vật xa lạ, cản trở Người rồi Người nói một cách lãnh đạm:
-Tôi biết rõ những hoài nghi kiểu đó. Đấu tranh là một việc gay go. Nhưng nhiều kẻ trong số những người hồi đó bị ta nghi ngờ đã có lòng dạ kiểu Vla-xốp. Những lệch lạc và sai lầm đã được sửa chữa từ lâu. Rô-cốt-xốp-xki và Tôn-bu-khin đã chiến đấu thắng lợi ở Xta-lin.
“Thế còn những người khác?”-Bét-xô-nốp nghĩ.
-… Nhưng nếu như tên Vla-xốp điên rồ đó tỉnh ra, đoạn tuyệt với bọn Đức, chúng ta cũng sẽ không bao giờ tha thứ cho hắn!…
Cuộc trò chuyện này hình như gợi cho Xta-lin nhớ lại những chuyện khó chịu, bực mình và sau khi húng hắng ho, Người lại nhẹ nhàng, không một tiếng động đi đến bên bản đồ, xem xét hồi lâu những chỉ dẫn chi tiết về tình hình bố trí sáng nay của ba phương diện quân và bây giờ, do muốn chuyển hướng suy nghĩ, Người nghĩ tới thắng lợi của ba phương diện quân này ở Xta-lin-grát và Người nói sau khi xua tay:
-Nhân tiện nói tới những chuyện đó thôi! Còn về con trai đồng chí, đồng chí Bét-xô-nốp, chúng ta sẽ không ghi tên anh ta vào danh sách tù binh mà sẽ coi như nó mất tích. Rồi đây chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết hơn. Và rồi chúng tôi sẽ thông báo cho đồng chí biết. Con trai cả của tôi là I-a-cốp cũng mất tích vào hồi đầu chiến tranh. Như thế chúng ta đều lâm vào một cảnh ngộ như nhau, đồng chí Bét-xô-nốp ạ.
Xta-lin còn toan nói thêm điều gì đó về người con trai cả của mình, nhưng Người trùng trình, xê dịch kính lúp trên bản đồ và thốt lên những điều khác hẳn:
-Đồng chí hãy đưa tập đoàn quân của mình vào hoạt động không trì hoãn. Tôi chúc đồng chí, đồng chí Bét-xô-nốp, trong biên chế chung với phương diện quân của Rô-cốt-xốp-xki, bao vây thắng lợi và tiêu diệt đạo quân của Pao-luýt-xơ. Sau những hoạt động tích cực của quân đoàn đồng chí ở cửa ngõ Mát-xcơ-va, tôi tin tưởng ở đồng chí, đồng chí Bét-xô-nốp. Tôi vẫn nhớ chuyện đó.
-Tôi sẽ không tiếc sức, thưa đồng chí Xta-lin. Đồng chí cho phép đi?
-Chính là đồng chí phải dè xẻn sức lực. Tôi không nghĩ rằng đồng chí là một lực sĩ.-Xta-lin dang rộng hai cánh tay ngang với khổ người của Bét-xô-nốp, đồng thời Người bất chợt mỉm cười, chòm ria mép rung rinh và trong giây phút đó-Bét-xô-nốp cảm thấy điều đó-vẻ lạnh lùng cứng nhắc tan biến trong đôi mắt của Người, khuôn mặt lấm tấm rỗ hoa của Người trở nên hiền dịu, thân mật, đôn hậu như Bét-xô-nốp quen nhìn thấy trong các bức chân dung.-Đồng chí gầy quá, đồng chí Bét-xô-nốp ạ. Đó là do đồng chí có cái chính kiến của mình phải không?… Vết thương không bị loét chứ? Chắc là đồng chí kém ăn. Và rồi đồng chí sẽ nuôi quân kém. Mà không được phép làm như thế dù rằng việc tiếp tế ở Xta-lin-grát không được khá cho lắm.
-Tôi vừa ở viện quân y ra, thưa đồng chí Xta-lin. Nhưng tôi vốn là tạng người gầy gò,-Bét-xô-nốp đáp, ông trông thấy nụ cười của Xta-lin-grát dường như khuyên ông quên hết tất cả những gì không liên quan đến công việc trong cuộc chuyện trò này.
Ba giờ sau máy bay liên lạc cất cánh từ sân bay quân sự đưa ông tới vùng Xta-lin-grát. Nhưng ngay lúc đã ngồi trên máy bay ông cũng vẫn không thể phân tích tường tận ấn tượng phức tạp về cuộc nói chuyện bốn mươi phút với Tổng tư lệnh tối cao.
 
Ba ngày sau khi Bét-xô-nốp đến nhiệm sở, nơi triển khai của tập đoàn quân, tình hình ở vùng Tây Nam Xta-lin-grát đã thay đổi hoàn toàn.
Từ ngày 24 đến ngày 29 tháng Mười một, phương diện quân sông Đông và phương diện quân Xta-lin-grát phối hợp tổ chức tiến công liên tục vào đạo quân Đức đông đảo bị siết chặt trong vòng vây và kháng cự kịch liệt, có những lúc chuyển sang phản công trên một số khu vực nhất định. Nhưng vào những ngày đầu tháp Chạp, các khu vực do các đạo quân bao vây chiếm giữ đã thu hẹp lại một nửa, chiều dài từ Tây sang Đông không quá tám mươi-chín mươi ki-lô-mét và từ Bắc xuống Nam không quá ba mươi-bốn mươi ki-lô-mét. Tư lệnh tập đoàn quân dã chiến số 6, thượng tướng Pao-luýt-xơ đã gửi điện vô tuyến khẩn về đại bản doanh của Hít-le xin phép được đánh phá vây với điều kiện hội quân ở phía Tây Nam và tin vào sự đồng ý của Hít-le, hắn đã ra lệnh cho tập đoàn quân của mình cũng như cho tập đoàn quân xe tăng số 4 phối thuộc chuẩn bị để rút từ phía sông Vôn-ga về hướng Rô-xtốp. Trong vòng mấy ngày, hai tập đoàn quân này vội vã đốt bỏ tất cả những gì không thể sử dụng được khi đánh phá vây-trang bị dự trữ về mùa hè của sĩ quan, những xe kéo, những ô tô bị bỏ lại bì thiếu nhiên liệu-phá hủy các kho tàng chứa những tài sản làm cho quân đội thêm cồng kềnh, thiêu hủy những giấy tờ về công tác tham mưu.
Thông qua những phái viên do đích thân hắn cử đi, Hít-le am hiểu cặn kẽ tình hình quân đội ở đây, hắn dao động, do dự nhưng tin vào lời hứa của Gơ-rinh là sẽ lập cầu hàng không để tiếp tế cho Xta-lin mỗi ngày tới năm trăm tấn hàng, hắn đã gửi điện vô tuyến trả lời Pao-luýt-xơ ra lệnh không được rời bỏ Xta-lin-grát, giữ vững lối phòng ngự vòng tròn, đánh cho đến tên lính cuối cùng. Tiếp đó là một mệnh lệnh gửi tới bộ tham mưu của tập đoàn quân dã chiến số 6 nói về một chiến dịch với tên gọi bí mật là “Cơn dông mùa đông”, về việc chuẩn bị đánh giải vây, nghĩa là tập đoàn quân “Sông Đông” của chuẩn thống chế Man-sten sẽ đánh giải vây từ phía Cô-ten-ni-cô-vô và Toóc-mê-xin để ứng cứu đạo quân bị bao vây của Pao-luýt-xơ. Phối thuộc với tập đoàn quân của Man-sten giờ đây còn có tất cả các đơn vị đóng từ phía Nam trung lưu sông Đông tới các thảo nguyên ở A-xtơ-ra-khan, nghĩa là tới ba chục sư đoàn kể cả một sư đoàn cơ giới và sáu sư đoàn xe tăng được ném từ Đức, Pháp, Ba Lan và các khu vực khác của mặt trận tới.
Quyết định giữ cho được Xta-lin-grát bằng bất kỳ giá nào đó của Hít-le đồng thời còn nhằm một mục đích chiến lược là bảo đảm cho đạo quân Đức ở phía Bắc Cáp-ca-dơ đang bị đe dọa đánh vu hồi rút về phía Rô-xtốp.
Ngày 11 tháng Chạp, sau khi bàn bạc một lần nữa về tình hình ở vùng Xta-lin-grát, Hít-le đã hạ lệnh cho Man-sten đánh giải vây.
Rạng sáng ngày 12 tháng Chạp, sau khi đã tạo ra một ưu thế số lượng là ba chọi một trên một dải đất hẹp dọc tuyến đường sắt Ti-khô-rê-xcơ-Cô-ten-ni-cô-vô-Xta-lin-grát, tư lệnh đạo quân xung kích đánh giải vây, thượng tướng Gôt dùng hai sư đoàn xe tăng với sự yểm trợ dày đặc của không quân giáng một đòn vào chỗ tiếp giáp giữa hai tập đoàn quân của phương diện quân Xta-lin-grát. Xe tăng của chúng đã chọc thủng vòng vây và tới ngày 15 tháng Chạp đã tới bờ sông Ác-xai và sau khi cường tập dòng sông này, trong ba ngày tiến công liên tục chúng đã tiến được bốn mươi ki-lô-mét về hướng Xta-lin-grát. Tình báo của ta đã bắt được những bức điện vô tuyến không viết bằng mật mã của Gôt gửi cho bộ tham mưu của Pao-luýt-xơ: “Hãy giữ vững. Sắp được giải thoát rồi. Chúng tôi sẽ tới!”.
Tình hình ở phía Tây Nam trở nên cực kỳ phức tạp. Bị yếu sức đi do những trận đánh phòng ngự và tiến công trước đây, quân đội ta bị thương vong, khi rút lui đã ngoan cường bám giữ ác liệt từng điểm cao. Tất cả lực lượng dự trữ đã được đưa tới hướng chính, tuy nhiên điều đó cũng không thể thay đổi được tình hình một cách cơ bản đạo quân của thượng tướng Gôt được tăng cường them sư đoàn xe tăng số 17, tiếp tục tiến nhanh về phía Xta-lin-grát, về phía tập đoàn quân số 6 của Pao-luýt-xơ bị bao vây và đang từng giờ từng phút chờ đợi hiệu lệnh đánh phá vây để tiến ra hội quân với các sư đoàn xe tăng đến giải vây cho nó.
Khi tập đoàn quân vừa mới thành lập của Bét-xô-nốp vừa đổ xuống phía Tây Bắc Xta-lin-grát thì tin tức dồn dập đưa tới nói tỉ mỉ về việc quân Đức đã bắt đầu phản công trên hướng Cô-ten-ni-cô-vô, về những trận đánh đẫm máu trên bờ sông Ác-xai.
Cùng với tham mưu trưởng tập đoàn quân, thiếu tướng I-a-xen-cô, Bét-xô-nốp được triệu tập khẩn cấp tới dự cuộc họp Hội đồng quân sự phương diện quân, lúc ấy đại diện của Đại bản doanh cũng có mặt ở đây. Sau những báo cáo chi tiết của tư lệnh phương diện quân và các tư lệnh tập đoàn quân, ai cũng thấy rõ rằng không thể chối cãi được là số phận của phương diện quân Xta-lin-grát đang chịu đựng đòn tập kích chủ yếu, không đủ lực lượng để chống lại sức ép của Man-sten là kẻ có ưu thế về số lượng tại khu vực đột kích giải vây.
Khi nghe báo cáo. Bét-xô-nốp im lặng và nghĩ rằng lúc này mà đưa tập đoàn quân của ông vào khu vực của phương diện quân sông Đông với nhiệm vụ đánh quỵ đạo quân của Pao-luýt-xơ bị siết chặt trong vòng vây thì sẽ là một hành động thiếu tính toán, một bước phiêu lưu trong lúc có nguy cơ đe dọa ở phía Nam. Và khi đại diện Đại bản doanh đề nghị với ông về việc rút tập đoàn quân được trang bị rất tốt của ông ra khỏi phương diện quân sông Đông và tập kết tại Tây Nam để chống lại đạo quân xung kích của Man-sten, ở đây số phận của chiến dịch sẽ được quyết định, ông đã sẵn sàng tán thành đề nghị đó trong thâm tâm, trùng trình một lát rồi trả lời rằng cho đến lúc này ông thấy không có giải pháp này khác.
Nhưng sau khi trả lời như vậy, Bét-xô-nốp lập tức yêu cầu tăng cường cho tập đoàn quân còn chưa được thử lửa, chưa kinh qua chiến đấu của mình một quân đoàn xe tăng hoặc cơ giới. Thiếu tướng I-a-xen-cô thận trọng nhìn ông và Bét-xô-nốp nhận xét rằng tham mưu trưởng-mà ông còn ít hiểu biết-quá ư lo lắng trước nhiệm vụ mới mà tập đoàn quân phải đảm nhiệm, cái nhiệm vụ mà vị tư lệnh mới tới đã nhận một cách dễ dàng, dường như không thắc mắc gì.
“Biết làm sao được, anh ấy cũng có cái lý của anh ấy”,-Bét-xô-nốp nghĩ.
Đại diện Đại bản doanh trả lời rằng ông sẽ gọi điện ngay cho Xta-lin và hy vọng rằng đề nghị của Hội đồng quân sự về việc rút tập đoàn quân của Bét-xô-nốp ra khỏi phương diện quân sông Đông và chuyển nó tới khu vực Cô-ten-ni-cô-vô đang nguy kịch nhằm chặn đứng và đánh tan đạo quân của Man-sten đang trên đường tiến về phía Xta-lin-grát, sẽ được chấp nhận.
Nghe thấy tiếng “đánh tan” giục giã Bét-xô-nốp nghĩ rằng ở giai đoạn đầu, thậm chí làm được việc “chặn đứng” quân địch cũng đã có nghĩa là thắng lợi rồi.
Đại bản doanh đã tán thành ngay đề nghị đó và tập đoàn quân của Bét-xô-nốp hành quân cấp tốc, không dừng, không nghỉ từ phía Bắc xuống phía Nam, tới bờ sông Mư-scô-va-cái ranh giới tự nhiên cuối cùng, bên kia sông là những thảo nguyên phẳng lì chạy dài tới tận Xta-lin-grát mở rộng trước xe tăng của bọn Đức.
 
Ba ngày sau khi Bét-xô-nốp đến nhiệm sở, nơi triển khai của tập đoàn quân, tình hình ở vùng Tây Nam Xta-lin-grát đã thay đổi hoàn toàn.
Từ ngày 24 đến ngày 29 tháng Mười một, phương diện quân sông Đông và phương diện quân Xta-lin-grát phối hợp tổ chức tiến công liên tục vào đạo quân Đức đông đảo bị siết chặt trong vòng vây và kháng cự kịch liệt, có những lúc chuyển sang phản công trên một số khu vực nhất định. Nhưng vào những ngày đầu tháp Chạp, các khu vực do các đạo quân bao vây chiếm giữ đã thu hẹp lại một nửa, chiều dài từ Tây sang Đông không quá tám mươi-chín mươi ki-lô-mét và từ Bắc xuống Nam không quá ba mươi-bốn mươi ki-lô-mét. Tư lệnh tập đoàn quân dã chiến số 6, thượng tướng Pao-luýt-xơ đã gửi điện vô tuyến khẩn về đại bản doanh của Hít-le xin phép được đánh phá vây với điều kiện hội quân ở phía Tây Nam và tin vào sự đồng ý của Hít-le, hắn đã ra lệnh cho tập đoàn quân của mình cũng như cho tập đoàn quân xe tăng số 4 phối thuộc chuẩn bị để rút từ phía sông Vôn-ga về hướng Rô-xtốp. Trong vòng mấy ngày, hai tập đoàn quân này vội vã đốt bỏ tất cả những gì không thể sử dụng được khi đánh phá vây-trang bị dự trữ về mùa hè của sĩ quan, những xe kéo, những ô tô bị bỏ lại bì thiếu nhiên liệu-phá hủy các kho tàng chứa những tài sản làm cho quân đội thêm cồng kềnh, thiêu hủy những giấy tờ về công tác tham mưu.
Thông qua những phái viên do đích thân hắn cử đi, Hít-le am hiểu cặn kẽ tình hình quân đội ở đây, hắn dao động, do dự nhưng tin vào lời hứa của Gơ-rinh là sẽ lập cầu hàng không để tiếp tế cho Xta-lin mỗi ngày tới năm trăm tấn hàng, hắn đã gửi điện vô tuyến trả lời Pao-luýt-xơ ra lệnh không được rời bỏ Xta-lin-grát, giữ vững lối phòng ngự vòng tròn, đánh cho đến tên lính cuối cùng. Tiếp đó là một mệnh lệnh gửi tới bộ tham mưu của tập đoàn quân dã chiến số 6 nói về một chiến dịch với tên gọi bí mật là “Cơn dông mùa đông”, về việc chuẩn bị đánh giải vây, nghĩa là tập đoàn quân “Sông Đông” của chuẩn thống chế Man-sten sẽ đánh giải vây từ phía Cô-ten-ni-cô-vô và Toóc-mê-xin để ứng cứu đạo quân bị bao vây của Pao-luýt-xơ. Phối thuộc với tập đoàn quân của Man-sten giờ đây còn có tất cả các đơn vị đóng từ phía Nam trung lưu sông Đông tới các thảo nguyên ở A-xtơ-ra-khan, nghĩa là tới ba chục sư đoàn kể cả một sư đoàn cơ giới và sáu sư đoàn xe tăng được ném từ Đức, Pháp, Ba Lan và các khu vực khác của mặt trận tới.
Quyết định giữ cho được Xta-lin-grát bằng bất kỳ giá nào đó của Hít-le đồng thời còn nhằm một mục đích chiến lược là bảo đảm cho đạo quân Đức ở phía Bắc Cáp-ca-dơ đang bị đe dọa đánh vu hồi rút về phía Rô-xtốp.
Ngày 11 tháng Chạp, sau khi bàn bạc một lần nữa về tình hình ở vùng Xta-lin-grát, Hít-le đã hạ lệnh cho Man-sten đánh giải vây.
Rạng sáng ngày 12 tháng Chạp, sau khi đã tạo ra một ưu thế số lượng là ba chọi một trên một dải đất hẹp dọc tuyến đường sắt Ti-khô-rê-xcơ-Cô-ten-ni-cô-vô-Xta-lin-grát, tư lệnh đạo quân xung kích đánh giải vây, thượng tướng Gôt dùng hai sư đoàn xe tăng với sự yểm trợ dày đặc của không quân giáng một đòn vào chỗ tiếp giáp giữa hai tập đoàn quân của phương diện quân Xta-lin-grát. Xe tăng của chúng đã chọc thủng vòng vây và tới ngày 15 tháng Chạp đã tới bờ sông Ác-xai và sau khi cường tập dòng sông này, trong ba ngày tiến công liên tục chúng đã tiến được bốn mươi ki-lô-mét về hướng Xta-lin-grát. Tình báo của ta đã bắt được những bức điện vô tuyến không viết bằng mật mã của Gôt gửi cho bộ tham mưu của Pao-luýt-xơ: “Hãy giữ vững. Sắp được giải thoát rồi. Chúng tôi sẽ tới!”.
Tình hình ở phía Tây Nam trở nên cực kỳ phức tạp. Bị yếu sức đi do những trận đánh phòng ngự và tiến công trước đây, quân đội ta bị thương vong, khi rút lui đã ngoan cường bám giữ ác liệt từng điểm cao. Tất cả lực lượng dự trữ đã được đưa tới hướng chính, tuy nhiên điều đó cũng không thể thay đổi được tình hình một cách cơ bản đạo quân của thượng tướng Gôt được tăng cường them sư đoàn xe tăng số 17, tiếp tục tiến nhanh về phía Xta-lin-grát, về phía tập đoàn quân số 6 của Pao-luýt-xơ bị bao vây và đang từng giờ từng phút chờ đợi hiệu lệnh đánh phá vây để tiến ra hội quân với các sư đoàn xe tăng đến giải vây cho nó.
Khi tập đoàn quân vừa mới thành lập của Bét-xô-nốp vừa đổ xuống phía Tây Bắc Xta-lin-grát thì tin tức dồn dập đưa tới nói tỉ mỉ về việc quân Đức đã bắt đầu phản công trên hướng Cô-ten-ni-cô-vô, về những trận đánh đẫm máu trên bờ sông Ác-xai.
Cùng với tham mưu trưởng tập đoàn quân, thiếu tướng I-a-xen-cô, Bét-xô-nốp được triệu tập khẩn cấp tới dự cuộc họp Hội đồng quân sự phương diện quân, lúc ấy đại diện của Đại bản doanh cũng có mặt ở đây. Sau những báo cáo chi tiết của tư lệnh phương diện quân và các tư lệnh tập đoàn quân, ai cũng thấy rõ rằng không thể chối cãi được là số phận của phương diện quân Xta-lin-grát đang chịu đựng đòn tập kích chủ yếu, không đủ lực lượng để chống lại sức ép của Man-sten là kẻ có ưu thế về số lượng tại khu vực đột kích giải vây.
Khi nghe báo cáo. Bét-xô-nốp im lặng và nghĩ rằng lúc này mà đưa tập đoàn quân của ông vào khu vực của phương diện quân sông Đông với nhiệm vụ đánh quỵ đạo quân của Pao-luýt-xơ bị siết chặt trong vòng vây thì sẽ là một hành động thiếu tính toán, một bước phiêu lưu trong lúc có nguy cơ đe dọa ở phía Nam. Và khi đại diện Đại bản doanh đề nghị với ông về việc rút tập đoàn quân được trang bị rất tốt của ông ra khỏi phương diện quân sông Đông và tập kết tại Tây Nam để chống lại đạo quân xung kích của Man-sten, ở đây số phận của chiến dịch sẽ được quyết định, ông đã sẵn sàng tán thành đề nghị đó trong thâm tâm, trùng trình một lát rồi trả lời rằng cho đến lúc này ông thấy không có giải pháp này khác.
Nhưng sau khi trả lời như vậy, Bét-xô-nốp lập tức yêu cầu tăng cường cho tập đoàn quân còn chưa được thử lửa, chưa kinh qua chiến đấu của mình một quân đoàn xe tăng hoặc cơ giới. Thiếu tướng I-a-xen-cô thận trọng nhìn ông và Bét-xô-nốp nhận xét rằng tham mưu trưởng-mà ông còn ít hiểu biết-quá ư lo lắng trước nhiệm vụ mới mà tập đoàn quân phải đảm nhiệm, cái nhiệm vụ mà vị tư lệnh mới tới đã nhận một cách dễ dàng, dường như không thắc mắc gì.
“Biết làm sao được, anh ấy cũng có cái lý của anh ấy”,-Bét-xô-nốp nghĩ.
Đại diện Đại bản doanh trả lời rằng ông sẽ gọi điện ngay cho Xta-lin và hy vọng rằng đề nghị của Hội đồng quân sự về việc rút tập đoàn quân của Bét-xô-nốp ra khỏi phương diện quân sông Đông và chuyển nó tới khu vực Cô-ten-ni-cô-vô đang nguy kịch nhằm chặn đứng và đánh tan đạo quân của Man-sten đang trên đường tiến về phía Xta-lin-grát, sẽ được chấp nhận.
Nghe thấy tiếng “đánh tan” giục giã Bét-xô-nốp nghĩ rằng ở giai đoạn đầu, thậm chí làm được việc “chặn đứng” quân địch cũng đã có nghĩa là thắng lợi rồi.
Đại bản doanh đã tán thành ngay đề nghị đó và tập đoàn quân của Bét-xô-nốp hành quân cấp tốc, không dừng, không nghỉ từ phía Bắc xuống phía Nam, tới bờ sông Mư-scô-va-cái ranh giới tự nhiên cuối cùng, bên kia sông là những thảo nguyên phẳng lì chạy dài tới tận Xta-lin-grát mở rộng trước xe tăng của bọn Đức.
 
[size=18:162ec0b9da]Chương bảy[/size]

Vào lúc ba giờ đêm sau chuyến đi mệt mỏi trên những nẻo đường thảo nguyên lạnh giá, đầy ắp các hàng quân, xe của Bét-xô-nốp đi vào một làng không còn một ánh lửa, bị phá hủy đến một nửa, nằm trong khe sâu, nơi đặt sở chỉ huy của tập đoàn quân.
Tại ngã tư ở rìa làng, ánh đèn pin đỏ quạch chợt lóe lên, ba bóng đen tiến về phía trước, ra giữa đường. Đó là đội tuần tra.
Thiếu tá Bô-gi-scô ra khỏi xe, trao đổi ngắn gọn với đội trưởng đội tuần tra, báo cáo rồi lại ngồi lên xe:
-Ngôi nhà thứ tư ở bên phải. Đã thu xếp xong. Các bộ phận phục vụ đều đã ở đấy.
Bét-xô-nốp đứng trước thềm của bộ tham mưu, duỗi đôi chân tê dại, đi bách bộ một lát, hít thở làn không khí lạnh giá, chắc nịch hòa lẫn với mùi phân khô đăng đắng, ấm áp và ngửa mặt nhìn trời. Nền trời chi chít những ngôi sao sáng, những chùm sao rực rỡ, lóe sáng, run rẩy trong đêm tháng Chạp tối đen. Những bụi tuyết sắc nhọn chạy ngoằn ngoèo từ trên mái nhà xuống. Gió thổi vút qua những thân cây ngô trần trụi, tụm lại thành những khối sẫm nhô lên những đụn tuyết ở ngoài vườn. Xa xa về phía Nam, bên tay trái, tiếng súng ì ầm vọng lại, rồi lại tắt lặng đi.
Bét-xô-nốp nghe tiếng xe rú trên đường làng, những khẩu lệnh rời rạc, tiếng các chiến sĩ thông tin đang rải đường dây í ới gọi nhau ở trên đường, tiếng xe tải cót két trong đêm tối. Một giọng khàn khàn vì bị lạnh vọng từ nhà bên cạnh sang: có lẽ chuẩn úy phụ trách đại đội hậu cần đang xạc anh cấp dưỡng ngái ngủ lơ là. Tất cả đều quen thuộc, bề ngoài mọi việc đều giống như mọi khi, lúc sắp xếp vị trí cho một cơ quan tham mưu lớn. Nhưng đồng thời Bét-xô-nốp chợt nghĩ rằng lúc này nhiều người trong số những người đang ra lệnh, đang làm công việc thông thường của mình, chỉ băn khoăn sắp xếp chỗ ở sao cho được thuận tiện, hoàn toàn không ngờ tới mức độ của nỗi hiểm nguy đang đe dọa họ từ phía Nam ì ầm tiếng súng.
-Anh có nghe thấy không, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích?-Ve-xnin, thở ì ạch vì lạnh, dùng khăn mùi soa lau kính.-Đêm tối chúng cũng xông đến! Chúng đang rất vội mà! Theo tôi trời hơi sáng hơn ở phía đó. Tất cả đều rừng rực…
-Đúng là chúng đang vội vã,-Bét-xô-nốp đáp và ông đi ngang qua người lính gác bước lên bậc thêm tuyết trắng xóa.
Trong ngồi nhà của tham mưu trưởng đã được sưởi nóng đến ngột ngạt, phảng phất mùi da cừu, mùi gỗ và chả hiểu sao cả mùi dầu gai nữa. Những ngọn đèn nhỏ chạy bằng ắc quy sáng trắng lên trong gian phòng lớn, các cửa sổ đã được che cẩn thận. Thủ trưởng các ngành và đơn vị phục vụ, có lẽ do I-a-xen-cô triệu tập tới, ngồi trên những chiếc ghế bằng băng gỗ đặt ở cạnh bàn, gần tấm bản đồ. Và Bét-xô-nốp ngạc nhiên thấy họ mặc áo choàng ngắn, đội mũ lông, như thể để nhấn mạnh sự kích động nào đó, trạng thái tinh thần mà ông không muốn trông thấy ở sở chỉ huy của mình. Mọi người hút thuốc lá, những lớp khói xanh lơ lửng trên bàn, cuộc họp hình như sắp kết thúc. Thiếu tướng I-a-xen-cô phục phịch, mái đầu to cạo nhẵn thín, mặc dầu đang là mùa đông, nổi bật hẳn lên giữa mọi người do vẻ vững chắc oai vệ của ông. Trông thấy Bét-xô-nốp, ông cất giọng trầm hô khẩu lệnh. Mọi người đứng dậy, ưỡng thẳng người, giấu vội thuốc lá đi vì họ biết rằng tư lệnh mới không hút thuốc, không chịu được mùi khói thuốc lá.
Bét-xô-nốp chào hỏi, không bắt tay ai; ông cởi áo choàng ngắn, vẻ không hài lòng thốt lên:
-Tôi yêu cầu không hút thuốc là trong phòng này. Không nên làm nhức đầu. Và tôi mong muốn khi vào ban tham mưu, các đồng chí sĩ quan cởi áo choàng và áo khoác ngắn. Tôi tin như thế sẽ dễ chịu hơn… Nếu như tôi không ngăn trở cuộc họp, tôi yêu cầu mọi người lập tức bắt tay vào công việc của mình.
-Cứ như mấy cái đầu tàu nhả khói!-Ve-xnin nói, lau tay và đung đưa trên đôi chân dài của mình.-Khói mù mịt chả trông thấy gì!…
-Biết làm thế nào với cánh ấy được, lũ quỷ, họ nhả khói đến khiếp! Hay là ta thông gió, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích?-I-a-xen-cô nói giọng trầm khi mấy sĩ quan đã bước ra ngoài và ông quay mái đầu to cạo trọc về phía các cửa sổ che kín. Bản thân ông không hút thuốc, có một sức khỏe vững chắc, đáng ghen tị và lúc nào cũng vùi đầu vào những công việc không lúc nào ngơi của ban tham mưu, đối với cấp dưới ông thường nể nang chiếu cố, trong sinh hoạt hàng ngày ông như bậc cha chú khoan dung đối với họ, như đối với những đứa trẻ nghịch ngợm.
-Thôi, để lúc khác,-Bét-xô-nốp ngăn lại và đưa lòng bàn tay vuốt mái tóc bạc lưa thưa rẽ ngôi lệch rồi ông gật đầu nói:-Xin mời lại chỗ bản đồ. Tôi nghĩ ta nên ngồi tốt hơn.
Tất cả những người còn lại trong phòng ngồi gần bên tấm bản đồ. Bét-xô-nốp để cây gậy tựa vào mép bàn; mọi người không nhìn I-a-xen-cô đang chuẩn bị báo cáo với vẻ mặt trang trọng, cũng không nhìn bản đồ có ghi những tin tức mới nhất mà nhìn khuôn mặt ốm o, khô khan, không đỏ lên chút nào do lạnh giá của Bét-xô-nốp, bất giác họ so sánh khuôn mặt ông với khuôn mặt hồng tươi dễ chịu, như trẻ lại của Ve-xnin,-bề ngoài tư lệnh tập đoàn quân và ủy viên Hội đồng quân sự khác nhau nhiều quá.
-Xin mời,-Bét-xô-nốp nói.
-Vì cấm dùng liên lạc bằng vô tuyến nên việc liên lạc với các quân đoàn trở thành mơ ước của chúng ta. Các báo cáo chỉ có được thông qua các sĩ quan liên lạc, thưa đồng chí tư lệnh,-I-a-xen-cô bắt đầu nói và Bét-xô-nốp không nhận thấy trong cặp mắt nhỏ và thông minh của ông câu hỏi trước đây cũng như sự ngạc nhiên như khi ở Hội đồng quân sự phương diện quân. Giờ đây trong đôi mắt đó dường như chỉ phản ánh những gì liên quan tới những nỗ lực về tổ chức, với việc điều động khẩn trương bốn quân đoàn nguyên vẹn trên chặng đường hai trăm ki-lô-mét từ Bắc xuống Nam.-Hai giờ trước đây tập đoàn quân của chúng ta đã chiếm lĩnh các vị trí sau đây…
Tướng I-a-xen-cô đặt bàn tay trắng múp míp lên bản đồ, những móng tay phẳng, rộng được cắt cẩn thận, sạch sẽ; trông ông tề chỉnh, đã tắm rửa cẩn thận, cạo râu, với vẻ bảnh bao kiểu cách của một sĩ quan chuyên nghiệp. Báo cáo của ông cũng rành mạch kiểu cách, giọng nói sang sảng, cứ như thể ông lấy làm thú vị khi xướng lên số hiệu các quân đoàn và sư đoàn.
-Quân đoàn bộ binh cận vệ số 3 đã ra tới địa điểm triển khai trên bờ sông Mư-scô-va và bắt tay vào phòng ngự. Quân đoàn Bảy đang hành quân và tôi hy vọng rằng nếu không có gì trục trặc thì khoảng chiều tối nó sẽ tới vùng tập kết. Tình hình của quân đoàn cơ giới cực kỳ gay go, thưa đồng chí tư lệnh.-Và I-a-xen-cô dần dần đỏ mặt lên, tựa hồ như ông, một con người ưa thích việc thực hiện chính xác mọi mệnh lệnh, bây giờ thích việc thực hiện chính xác mọi mệnh lệnh, bây giờ cảm thấy khó chịu khi nghe báo cáo về tình hình hết sức gay go của quân đoàn cơ giới.-Đang hành quân thì hết nhiên liệu, các xe dùng để kéo và xe chở đạn dược bị mắc nghẽn tại cây số bốn mươi… Tôi đã gửi hai bức điện lên tư lệnh phương diện quân…
Không ngắc ngứ, biết nhấn mạnh một cách đầy ý nghĩa, I-a-xen-cô dựa theo trí nhớ nhắc lại nội dung hai bức điện đó, sau đấy ống liếc nhanh nhìn Bét-xô-nốp có ý dò hỏi, chờ đợi, cái nhìn quen thuộc đối với Bét-xô-nốp. Tuy nhiên Bét-xô-nốp không hỏi gì thêm, vẻ mặt hốc hác, bất động của ông không thay đổi, ông cũng không tỏ vẻ ngạc nhiên trước cái nội dung dứt khoát, đầy lo âu của các bức điện. Ông lơ đãng nhìn tấm bản đồ trải lên bàn. Cặp kính của Ve-xnin bỗng sáng lóe lên và ông gợi ý:
-Và còn khoản tiếp tế lương thực nữa, Xê-men I-Va-nha-nô-vích. Rét buốt khủng khiếp thế này mà không có chút cháo nóng và tí rượu thì rồi đến biến bộ đội thành búp tuyết cứng đơ không ngọ nguậy được mất.
-Tôi không nói về chuyện đó.-I-a-xen-cô bực tức nói.-Ở các sư đoàn đã có những trường hợp bị cóng…
-Rõ rồi.-Bét-xô-nốp nói.
 
Tất cả những điều tham mưu trưởng vừa báo cáo phù hợp với những gì ông đã trông thấy sáng và trưa nay trên đường di chuyển của tập đoàn quân. Nhưng không phải những sự rắc rối đó lúc này làm Bét-xô-nốp băn khoăn. Theo kinh nghiệm ông tin vào cái gọi là hơi thở thứ hai của quân đội khi phải cấp tốc di chuyển trên khoảng cách lớn. Điều ông băn khoăn nhiều hơn là tình hình rắc rối ở một trong những sư đoàn của tập đoàn quân bên cạnh, sư đoàn này đã phòng ngự quyết liệt ở phía trước trong mấy ngày đêm và cuối cùng đã bị tiêu hao vì những cuộc tiến công bằng xe tăng của bọn Đức. Ông được biết rõ tình hình ở đó không phải chỉ qua những câu trả lời “đầu Ngô mình Sở” của người lính xe tăng khiếp nhược. Sư đoàn đó đang đem hết sức mình ngăn chặn cuộc tiến công ồ ạt điên cuồng của bọn Đức, nó sẽ kiên cường trụ lại được hay sẽ bị tiêu diệt, cái thời gian cần thiết đối với Bét-xô-nốp trực tiếp lệ thuộc vào đó-cái thời gian cần thiết để ông kịp đưa quân tới và triển khai toàn bộ trên bờ sông Mư-scô-va, cái trở ngại cuối cùng trên đường đi của bọn Đức tới ứng cứu cho đạo quân bị bao vây ở vùng Xta-lin-grát. Sau khi cắt ngang báo cáo của I-a-xen-cô bằng một tiếng “rõ” ngắn ngủi, Bét-xô-nốp đưa mắt nhìn chủ nhiệm trinh sát, đại tá Đéc-ga-trép, một người còn khá trẻ có cặp lông mày hỏng trên tinh mũi khiến cho ông ta có cái vẻ tự chủ, khắc khổ, không hợp với tuổi tác. Và Bét-xô-nốp hỏi với cái giọng có ý chờ đợi những tin tức không hay:
-Có được tin tức tình báo gì mới không?
-Cho đến lúc chiều tối, tình hình là như sau, thưa đồng chí tư lệnh,-đại tá Đéc-ga-trép bắt đầu lên tiếng bằng cái giọng quả thực không hứa hẹn điều gì đáng phấn khởi cả.-Trên cánh phải của tập đoàn quân bên cạnh bọn Đức đã đưa vào trận đánh một sư đoàn xe tăng mới tinh trong đó có một tiểu đoàn xe tăng hạng nặng kiểu mới “Con Cọp”. Theo lời khai của tên sĩ quan tù binh bị bắt hồi chiều và theo những nguồn tin khác thì trong trận đánh phá vây này bọn Đức huy động tới trên một chục sư đoàn trong đó có hai sư đoàn xe tăng. Tập đoàn quân bên cạnh không đủ sức ngăn chặn cuộc công kích ồ ạt…
-Được,-Bét-xô-nốp lại nói.
-Tình hình của người hàng xóm bên phải cũng chả tốt đẹp hơn nếu như không muốn nói là tệ hơn, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích,-I-a-xen-cô thở hổn hển, nói thêm trong bầu không khí đã trở nên im lặng.-Quân đoàn kỵ binh bị tổn thất lớn và đã rút lui. Thưa đồng chí tư lệnh, người ta có cảm giác rằng bọn Đức sẽ giáng đòn chủ yếu vào cánh phải của tập đoàn quân chúng ta. Khoảng cách từ đây tới Xta-lin-grát ngắn nhất.
Bét-xô-nốp kín đáo nhìn I-a-xen-cô, tập trung chú ý vào cái đầu trọc theo kiểu cũ của ông ta-(kiểu tóc này phổ biến đối với các sĩ quan hồi trước chiến tranh)-Vị tướng phục phịch, chỉnh tề này thoạt mới nhìn hoàn toàn không gây được ấn tượng về một tham mưu trưởng sáng suốt và uyên bác, điều đó có lẽ do cái vẻ bề ngoài hơi thô kệch, do cái giọng trầm, sâu kiểu quản trị trưởng của ông ta. Ngoài ra Bét-xô-nốp còn khó chịu vì mùi nước thơm găn gắt toát ra từ người I-a-xen-cô.
“Đúng thế,-Bét-xô-nốp nghĩ, cố nén thái độ dè chừng đối với tham mưu trưởng.-Đúng là có nhiều khả năng chúng đánh vào cánh phải nhất”.
-Đúng, từ đây Man-sten chỉ còn chừng bốn chục ki-lô-mét nữa là gặp được đạo quân Đức bị bao vây,-Bét-xô-nốp nói to lên ý nghĩ của mình và tự nhủ: “Nếu như chúng đột phá được ở đây, chọc thủng một hành lang dẫn tới chỗ đạo quân bị bao vây thì sau hai ba ngày chiến đấu, tình hình ở vùng Xta-lin-grát sẽ thay đổi có lợi cho bọn Đức. Lúc ấy chúng ta sẽ làm gì đây?”
Nhưng ông không nói to ý nghĩ đó lên. Câu hỏi cuối cùng đó có lẽ lần đầu tiên ông nêu lên cho chính bản thân mình.
Mọi người ngồi bên bàn ra sức đoán định hành động của Bét-xô-nốp, như lệ thường, khi có một nhân vật mới đầy quyền uy xuất hiện tại một cơ quan tham mưu lớn, nhân vật này còn chưa gắn bó với ý kiến của một ai, còn chưa ai bị ràng buộc khi đưa ra quyết định của mình. Với vẻ mệt mỏi thấm sâu, Bét-xô-nốp nhìn tấm bản đồ cắm chi chít những dấu hiệu bố trí quân đội, được mấy ngọn đèn điện chạy ắc qui soi sáng rực, tiện lợi và sau khi nghe báo cáo của tham mưu trưởng, ông im lặng, tiếp tục su y nghĩ về tương quan lực lượng có thể xảy ra trên hướng công kích giả định của kẻ thù: “Nếu như ba bốn sư đoàn xe tăng Đức chọc thủng được tuyến phòng ngự trên sông Mư-scô-va trước khi chúng ta kịp tới đó và triển khai tập đoàn quân của mình trên bờ sông bên phải thì chúng sẽ đè bẹp ngay cả chúng ta. Điều đó cũng đã rõ ràng”.
Nhưng ông cũng không nói ý nghĩ đó ra bời vì thật là vô nghĩa khi nói ra điều có lẽ tất cả mọi người ngồi quanh bàn trong giây phút này đều đã hiểu rõ.
Bét-xô-nốp ngẩng đầu khỏi tấm bản đồ.
Căn phòng rộng rãi vẫn yên tĩnh như trước đây. Cửa kính rung lên nhè nhẹ vì những chiếc ô tô của bộ tham mưu chạy ngang qua phía dưới những cửa sổ che rèm. Gió từ thảo nguyên mênh mông rú lên lao qua mái nhà, những chiếc rèm ngụy trang ở cửa sổ khe khẽ lay động vì gió lùa.
Ở một góc phòng phía trên các ghế băng tấm ảnh thánh cổ kính và ám khói lấp lấnh như một kỷ niệm đau buồn của thời trước về những lầm lạc, những cuộc chiến tranh, những tìm tòi chân lý và những đau khổ của con người. Khuôn mặt trong tấm ảnh thánh này được đặt trên những chiếc khăn trắng thêu và treo lên như cây thánh giá, buồn bã liếc nhìn ánh sáng những ngọn đèn điện. Và Bét-xô-nốp khẽ nhếch mép cười, bất chợt nghĩ: “Thế còn Ngài thì biết được điều gì, vị thánh. Chân lý ở đâu? Ở trong điều thiện ư? À, ở trong điều thiện… Trong sự tha thứ và trong tình yêu tốt lành ư? Yêu thương ai? Ngài biết gì về tôi, về con trai tôi? Ngài biết gì về Man-sten? Về những đoàn xe tăng của hắn? Nếu như tôi mộ đạo, nhất định tôi sẽ cầu kinh. Tôi sẽ quỳ xuống xin được khuyên bảo và giúp đỡ. Nhưng tôi không tin Chúa và cũng chẳng tin những phép lạ. Bốn trăm xe tăng Đức-Đấy chân lý của Ngài đấy! Và cái chân lý này đã được đặt trên một đĩa cân, đó là một trọng lượng nguy hiểm trên chiếc cân Thiện và Ác. Lúc này nhiều cái phụthuộc vào đó: cuộc phòng ngự bốn tháng của Xta-lin-grát, cuộc phản công của chúng tôi, việc bao vây các đạo quân Đức ở đây. Và đó là sự thật, cũng như việc bọn Đức bắt đầu phản công từ bên ngoài vào là sự thật. Nhưng còn cần phải động vào chiếc cân. Liệu tôi có đủ sức làm việc đó không?…
Sự im lặng kéo dài đè nặng lên mọi người ngồi quanh bàn. Không ai định phá tan sự im lặng trước. Tham mưu trưởng I-a-xen-cô đưa mắt thắc mắc nhìn ra phía cửa ra vào ở nửa bên kia, từ đó vang lên những tiếng động cơ ô tô và chốc chốc lại nghe thấy tiếng các sĩ quan tùy tùng trả lời qua máy điện thoại. Tuy nhiên tướng I-a-xen-cô không đứng dậy, vẫn ngồi chễm chệ và thẳng đuỗn; sau đó ông lấy cái mùi soa trắng toát thơm ngát mùi nước hoa, lau mái đầu trọc rồi lại băn khoăn nhìn nghiêng ra phía cửa ra vào. Ve-xnin trầm ngâm mân mê hộp thuốc lá để trên bàn và khi bắt gặp cái nhìn kỳ lạ, linh hoạt của Bét-xô-nốp hướng về phía ảnh thánh, cái nhìn ngày càng trở nên khó chịu, cứng nhắc hơn; bị thói tò mò thôi thúc, ông nghĩ rằng chắc ông sẽ không tiếc gì để được biết giờ đây tư lệnh đang nghĩ gì. Về phần mình, khi bắt gặp sự chú ý của Ve-xnin, Bét-xô-nốp nghĩ rằng ủy viên Hội đồng quân sự còn khá trẻ và có khuôn mặt dễ thương này đã công khai chăm chú quan sát ông một cách quá mức. Và ông lên tiếng hỏi về điều ông không định hỏi trước tiên:
-Liên lạc với Bộ tham mưu Phương diện quân đã sẵn sàng chưa?
-Một giờ rưỡi nữa sẽ chuẩn bị xong. Tôi muốn nói tới liên lạc bằng đường dây,-I-a-xen-cô quả quyết và sờ tay lên chiếc đồng hồ đeo tay.-Mọi việc sẽ đâu vào đấy, thưa đồng chí tư lệnh. Chủ nhiệm thông tin của chúng ta là một con người rất tỉ mỉ.
-Tôi cần sự chính xác kia, đồng chí tham mưu trưởng ạ.-Bét-xô-nốp đứng lên.-Chỉ cần sự chính xác.-Chỉ cần…
Dựa trên chiếc gậy ông đi vài bước trong phòng và trong giây phút đó ông sự nhớ tới những bước đi chậm rãi, tự tin, hơi đu đưa của xln trên tấm thảm đỏ gần chiếc bàn lớn trong căn phòng làm việc lớn, tiếng khục khặc khẽ khẽ, tiếng húng hắng ho của Người và toàn bộ cuộc nói chuyện bốn mươi phút ở Đại bản doanh. Thái dương vã mồ hôi, Bét-xô-nốp dừng lại ở góc phòng. “Cái gì thế nhỉ? Cứ như là thôi miên, mình không thể nào rời mắt khỏi nó được”,-ông nghĩ, bực bội với mình và ông đứng như thế một lát, quay lưng về phía mọi người, nhìn chằm chằm vào những tấm khăn thêu treo bên dưới ảnh thánh.

-Như thế này nhé,-Bét-xô-nốp quay ngoắt người lại, từ góc nhà thốt lên khi bắt gặp ánh mắt của I-a-xen-cô và ông cố nói một cách bình thản.-Đồng chí hãy truyền đạt ngay mệnh lệnh gửi tư lệnh quân đoàn cơ giới.-Không chờ đợi nhiên liệu một giây phút nào cả, chuyển các trang bị lên những chiếc ô tô và những chiếc xe tăng còn có thể đi được. Đưa ngay mọi ô tô rỗi việc của chúng ta-ở Bộ tham mưu, ở hậu cứ-tới chỗ quân đoàn cơ giới. Truyền đạt cho chủ nhiệm hậu cần của pháo binh và tư lệnh quân đoàn cơ giới biết: nếu sau hai giờ nữa các lữ đoàn với đầy đủ trang bị không tới được khu vực đã quy định, tôi sẽ coi như họ không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mình!
“Phải rồi, mình cũng cho là như thế. Anh ấy bắt đầu nắm lấy tập đoàn quân trong tay,-Ve-xnin nghĩ khi nghe thấy giọng nói rin rít của Bét-xô-nốp.-Thế là anh ấy làm ngay…”.
-Hai là…-Bét-xô-nốp nói tiếp và đi về phía bàn, nhìn tướng Lô-mít-dê, tư lệnh pháo binh, toan nói một câu ám ảnh ông từ lâu: “Tiếc thay, cả về không quân cũng như xe tăng ở khu vực chúng ta lúc này ta đều không có ưu thế, ta sẽ hài lòng sung sướng nếu như nhờ trời có đủ pháo binh”. Nhưng ông đã nói khác:-Tôi nghĩ rằng cần phải thay đổi kế hoạch phòng ngự ban đầu của pháo binh. Tôi muốn đặt toàn bộ pháo binh, trừ pháo binh của quân đoàn, ở vị trí bắn trực tiếp. Ngay ở tuyến chiến đấu của bộ binh. Để tiêu diệt xe tăng. Chủ yếu là để tiêu diệt xe tăng của chúng nó. Chúng ta sẽ chỉ đưa xe tăng vào trận khi khẩn cấp. Còn trước đó chúng ta sẽ gìn giữ xe tăng như giữ gìn tròng mắt.
-Tôi hiểu, thưa đồng chí tư lệnh,-I-a-xen-cô nói.
-Còn đồng chí thế nào thiếu tướng?
Tư lệnh pháo binh, thiếu tướng Lô-mít-dê, một người đẹp trai, tóc đen, trạc bốn mươi tuổi đang lén vẽ trong sổ tay những hình phụ nữ trông nghiêng với đôi môi hơi hé mở, mũi hếch, gấp ngay sổ tay lại, ngước đôi mắt linh lợi, nóng bỏng nhìn Bét-xô-nốp, nói:
-Thưa đồng chí tư lệnh… như thế liệu chúng ta có mất pháo binh không? Ngay sau trận đầu tiên. Tôi muốn lưu ý là lựu pháo chống xe tăng không có hiệu quả lắm. Về tấm bắn nhanh cố nhiên nó thua đại bác chống tăng. Đã có mệnh lệnh đặt các khẩu đội pháo 76 mi-li-mét ở vị trí bắn thẳng.
Bét-xô-nốp nhìn Lô-mít-dê chăm chú, hơi ngạc nhiên trước sự phản đối ấy.
-Tôi biết chúng ta phải liều mất cái gì. Nhưng thà không còn một khẩu pháo còn hơn là đánh bài chuồn, thiếu tướng Lô-mít-dê ạ!-ông cố ý dùng thứ tiếng lóng đó của binh lính.-Còn hơn là cùng với pháo binh chuồn đến tận Xta-lin-grát. Bởi thế tôi nhắc lại: đánh bằng mọi phương tiện, tiêu diệt xe tăng, lực lượng đột kích chủ yếu của bọn Đức! Không cho một chiếc nào thọc được tới Xta-lin-grát. Không cho chúng ngóc đầu lên! Đồng chí có biết bọn Đức hí hửng mừng rỡ như thế nào trong lòng chảo sau khi biết tin Man-sten đã chuyển sang phản công không? Ở đó chúng đang chờ đợi… chờ đợi từng giờ từng phút việc phá vỡ vòng vây. Chúng ta cũng phải ghi nhớ từng giây từng phút rằng hắn không phải là một anh tân binh mà là một tên tướng rất lọc lõi. Tôi yêu cầu tất cả các đồng chí nắm chắc điều này: tôi coi nhiệm vụ chủ yếu của tập đoàn quân là tiêu diệt xe tăng địch ngay trong giai đoạn chiến đấu đầu tiên. Có ai hỏi gì không?
Không ai hỏi gì cả.
-Tất cả đều rõ, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích,-Ve-xnin nói hơi xoa dịu cách giải thích căng thẳng của Bét-xô-nốp.
-Bọn Đức không như trước đâu,-Lô-mít-dê lầu bầu.-Chúng không chọc thủng được vòng vây đâu, thưa đồng chí tư lệnh.
-Bọn Đức vẫn như trước,-Bét-xô-nốp phản đối-Thiếu tướng ạ, yêu cầu đồng chí bỏ cái thói chủ quan khinh địch đó đi. Và xin phép nói rằng, cái thuyết đó đã lỗi thời từ lâu rồi.
Lô-mít-dê lại giở sổ tay ra, rầu rĩ vạch nét bút chì sắc trên đó. Ve-xnin ngồi bên cạnh vui lên, khi nhìn thấy: tư lệnh pháo binh vẽ thêm vào hình người phụ nữ bộ ria mép rậm, rồi đến bộ râu, và một điếu thuốc lá dài khói bay nghi ngút, sau đó an viết bằng chữ to dưới hình vẽ: “Tôi biết rằng đồng chí nói đúng nhưng… Đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự, đồng chí hãy nói cho biết tại sao tư lệnh lại làm khổ chúng ta? Đồng chí ấy không hút thuốc, không cho phép người khác hút. Đây là tu viện dành cho nữ à?”.
Ve-xnin mỉm cười, kéo cuốn sổ tay của Lô-mít-dê về phía mình, viết lên rìa tờ giấy nét chữ đứng, nhỏ li ti: rồi sẽ quen đi. Chính tôi cũng muốn hút đến chết đi được. Và lập tức Lô-mít-dê trả lời ngay bằng mấy chữ ngoằn ngoèo bằng chì nhọn: “Không được! Thánh thật!”.
Bét-xô-nốp hơi khập khiễng đi bách bộ trong phòng, làm bộ như không để ý thấy việc trao đổi đó. “Mình muốn biết liệu rồi cuối cùng chúng ta có hiểu được nhau không?”-Ông tự hỏi và chống chiếc gậy xuống sàn, ông dừng lại trước đại tá Ô-xin, trưởng phòng phản gián của tập đoàn quân, con người to vóc, tóc nâu, xoăn, khuôn mặt tròn trĩnh, nghiêm chỉnh, kính cẩn, đang ngồi khiêm tốn ở góc phòng chứ không ngồi bên cạnh bàn. Bắt chân chữ ngũ, Ô-xin cũng đang ghi chép gì đó vào sổ tay để trên đầu gối căng trong cái quần bó ống. Không lần nào ông ngẩng đầu lên khỏi số tay, không thốt ra một lời nào, không thay đổi tư thế và Bét-xô-nốp nghĩ: “Còn đồng chí đại tá này là người như thế nào?”.
-Thiếu tá Bô-gi-scô.-Bét-xô-nốp gọi.
Cửa ra vào nửa căn nhà bên kia, nơi các máy điện thoại đang kêu vo vo, mở ra và Bô-gi-scô hăng hái bước vào; tiếng cười do vừa nghe kể một giai thoại phòng bên hãy còn chưa tắt hẳn trong mắt anh. Thiếu tá dập gót ủng vào nhau trên ngưỡng cửa:
-Có tôi, thưa đồng chí tư lệnh.
-Cho xe.
-Thưa đồng chí trung tướng,-Bô-gi-scô nói một cách khẩn khoảng, thấy mình có quyền phải săn sóc sức khỏe của tư lệnh-Bữa ăn đã sẵn sàng! Món mì nấu mà đồng chí đặt. Độ mười phút thôi.
-A, thiếu tá nghĩ hay đấy,-Ve-xnin nói và nhanh nhẹn đứng dậy, khuôn mặt hồng hào linh hoạt, dễ chịu quay về phía Bô-gi-scô.-Tôi tán thành đấy. Có lẽ tôi sẽ không từ chối một ly rượu để chống lạnh. Ý nghĩ hay đấy chứ, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích!
Bằng sự lịch thiệp khô khan, Bét-xô-nốp đã khước từ đề nghị đó.
-Cảm ơn anh, Vi-ta-li I-xa-ê-vich. Nếu đói tôi sẽ ăn không khách khí gì ở sư đoàn của Đê-ép.
Chuyển gậy từ tay này sang tay kia, ông mặc chiếc áo choàng ngắn do sĩ quan tùy tùng đưa vào vừa gài khuy vừa nói với I-a-xen-cô:
-Tôi tán thành ý kiến đồng chí cho rằng địch sẽ giáng đòn chủ yếu trên cánh phải. Điều đó không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi đến đài quan sát của Đê-ép. Tôi yêu cầu báo cáo tới đó cho tôi biết tất cả những gì quan trọng.
Mọi người tiễn tư lệnh ra cửa, chỉ có tướng I-a-xen-cô vượt qua ngưỡng cửa của buồng hiên lạnh lẽo, tối tăm. Ở đây không nhìn rõ mặt ông nhưng mùi nước hoa vẫn thoang thoảng trong không khí lạnh giá và Bét-xô-nốp tưởng như khi chia tay, tham mưu trưởng muốn bắt tay ông để tỏ tình đoàn kết nhưng không dám.
-Chúng ta hy vọng mọi việc đều tốt,-Bét-xô-nốp nói, bắt tay I-a-xen-cô thật nhanh rồi bước ra ngoài đường.
 
Màn đêm tháng Chạp lộng gió lên xóm làng và thảo nguyên, những chùm sao rải rác khắp bầu trời. Khi đã bước lại gần chiếc xe con trên đường tối om, Bét-xô-nốp nghe thấy tiếng sập cửa ở sau lưng, rồi tiếng tuyết lạo xạo ở gần thềm và ông hơi quay người lại, tưởng trông thấy tham mưu trưởng còn có điều gì đó chưa nói được hết. Nhưng đó là Ve-xnin. Bước trên đôi chân dài như chân sếu, ông tiến lại gần Bét-xô-nốp, nói với vẻ hơi bối rối:
-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích, thôi kệ đời cái món mì nấu ấy! Anh cho phép đi cùng với anh nhé! Anh không phản đối nếu như tôi đi cùng với anh đến đài quan sát chứ?
-Tôi không rõ. ủy viên Hội đồng quân sự, theo như tôi được biết, không nhất thiết phải xin phép tư lệnh khi muốn đi đâu. Tự mình có quyền quyết định.
Ve-xnin cả cười.
-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích, xin lỗi, tôi ngạc nhiên về sự thẳng thắn của anh đấy. Tôi phải trả lời thế nào nhỉ?
-Trả lời như thế này…-Bét-xô-nốp kéo Ve-xnin ra xe.-Tôi còn muốn nêu lên một câu hỏi thẳng thắn nữa. Như một người cộng với một người cộng sản… Vi-ta-li I-xa-ê-vich, nếu như có ai khuyên anh trông nom tư lệnh mới như một đứa trẻ, đặc biệt là khi người đó mới nhận trách nhiệm thì quan hệ của chúng ta chắc chắn là sẽ rất rắc rối. Chúng ta sẽ khó mà chịu đựng được nhau.-Ông im lặng và Ve-xnin không ngắt lời ông.-Nếu không phải như thế, tôi xin anh tha lỗi cho về những điều vừa nói.
-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích!-Ve-xnin thậm chí tháo kính ra, nhìn bằng đôi mắt cận thị với vẻ chăm chú buồn bã.-Cám ơn sự cởi mở của anh. Nhưng tôi cũng tuyên bố hết sức thẳng thắn: Nếu như có kẻ nào mưu toan xúi giục tôi theo dõi anh thì tôi sẽ cho thằng ngốc ngếch đó cút mẹ nó đi! Tôi không thể nói thêm gì được nữa.
-Cám ơn anh,-Bét-xô-nốp nhếch mép cười.-Xin lỗi anh vì đã khơi ra chuyện này.
-Trái lại.-Ve-xnin nói,-tôi muốn chúng ta có thì giờ trò chuyện cặn kẽ hơn. Chỉ có điều không phải là ở trên xe, cố nhiên.
-Tới sư đoàn chúng ta sẽ nói chuyện,-Bét-xô-nốp hứa. Và ông nói thêm một cách khô khan:-Nếu bọn Đức cho phép…
Thiếu tá Bô-gi-scô mở cửa xe cho hai người.
 
[size=18:95a8117338]Chương tám [/size]

Vào hồi ba giờ đêm, sư đoàn của đại tá Đê-ép sau khi hành quân trên chặng đường hai trăm ki-lô-mét đã đến địa điểm quy định-bờ phía bắc con sông Mư-scô-va-và không hề nghỉ ngơi bắt tay ngay vào công việc phòng ngự, đào đất đóng băng cứng như sắt. Lúc này mọi người đều biết mục đích việc chiếm lĩnh dải bờ sông này, trở ngại cuối cùng của địch trên đường tới Xta-lin-grát.
Tiếng ì ầm rên rỉ của trận đánh ở xa luôn luôn vọng tới phía trước mặt, rộ to lên vào lúc bốn giờ sáng. Bầu trời ở phía Nam hơi sáng lên, một dải màu hồng bị bóng đêm ép sát xuống chân trời và trong những khoảnh khắc lặng đi ngắn ngủi ở phía đó, nơi đang có một cái gì vô hình, chưa rõ rệt nhích lại gần, nghe rõ trên khắp bờ sông, tiếng xẻng bập chan chát vào nền đất cứng như đá, tiếng choòng lịch kịch, tiếng hô khẩu lệnh, tiếng ngựa hí. Hai tiểu đoàn bộ binh, ba khẩu đội thụoc trung đoàn pháo và một tiểu đoàn chống tăng độc lập được điều qua sông trên chiếc cầu duy nhất nối liền một làng sang bờ sông bên này, đào công sự ở đây và chốt lại ở phía trước lực lượng chính của sư đoàn. Bị kích động trước công việc mới mẻ, chốc chốc mọi người lại văng tục, nhìn về phía chân trời rực cháy, sau đó quay nhìn lại bờ phía Bắc, những ngôi nhà lấm chấm trên đồi, chiếc cầu gỗ trên đó người ta đang kéo những khẩu pháo đến muộn của trung đoàn pháo sang sông.
Còn con sông Mư-scô-va ngăn đôi làng này, nằm ở phía dưới, ánh lên màu xanh dưới trời sao. Từ trên những bờ cao con sông bụi tuyết cuốn mù mịt, cơn gió thốc thổi là là mặt đất, xoắn xuýt, lướt trên mặt băng, cuốn xung quanh những cọc mố cầu đóng trên băng.
Khẩu đội pháo của trung úy Đrô-dơ-đốp-xki được đặt ở vị trí bắn trực tiếp, phía sau đội cảnh giới chiến đấu. Anh em đào công sự ngay trên bờ sông và sau ba giờ lao động mệt bã người, các khẩu pháo đã được đặt sâu xuống lòng đất đến một cán xẻng rưỡi.
Trung úy Cu-dơ-nét-xốp người nóng bừng, đẫm mồ hôi, thoạt đầu cũng cảm thấy hăng say trước công việc gấp rút, như tất cả mọi người. Nghe tiếng súng ì ầm nhỏ dần vì khoảng cách ở phía khoảng trời rực sáng ai cũng hiểu rằng trận đánh đang nhích lại gần, nhất định sẽ lan tới đây và nếu như không đào công sự, không được đất che đỡ thì sẽ phơi mình trên bờ sông tuyết phủ. Nhưng xẻng không bập được xuống đất lạnh cứng, chỉ có những nhát choòng thật mạnh mới khoan được những cái lỗ, gặm từng tí đất, làm tung những mảnh vụn cứng như đá lửa.
Cơn gió thốc là là thổi khắp bờ sông, hình bóng các chiến sĩ pháo binh và anh em bộ binh ở bên cạnh động đậy trong màn sương trắng đục; những lá chắn thẫm đen của các khẩu pháo rải rác giữa họ.
Đêm càng khuya, băng giá tăng thêm đến mức khó thở, không thể trò chuyện được: mọi người vừa khụt khịt vừa thở, sương giá thoắt bám một lớp dày trên những khuôn mặt đẫm mồ hôi, băng đọng trên mi mắt nếu ai ngừng tay làm việc trong giây phút. Khát nước ghê gớm, anh em vốc những nắm tuyết cứng, bẩn vì lẫn đất vụn trên bờ công ự để nhai; chất nước nhạt nhẽo làm lạnh cuống họng, lạo xạo trong hàm răng. Người đẫm mồ hôi, trung úy Cu-dơ-nét-xốp liên tục nện choòng xuống đất, anh không thể nào dừng lại để lấy lại hơi sức được. Cái ớn lạnh bò ngoằn ngoèo trên thân mình ẩm ướt, dưới chiếc áo va rơi dính chặt vào lưng. Cũng như mọi người, Cu-dơ-nét-xốp nhai tuyết nhưng miệng anh khô khốc và anh bị ám ảnh bởi ý nghĩ không dứt về thứ nước giếng trong vắt, thơm thơm mà anh muốn vục cả cằm vào xô uống cho mát.
-Đồng chí nhai quá nhiều tuyết rồi đấy, trung úy-Tri-bi-xốp rụt rè nhắc nhở, bác vụng về dùng xẻng xúc đất do choòng của Cu-dơ-nét-xốp đào lên.-Phải làm sao để ngực đừng bị lạnh. Tuyết chỉ đánh lừa mình thôi. Được độc có cái mẽ ngoài!…
-Việc quái gì!-Cu-dơ-nét-xốp thở phào và gọi:-U-kha-nốp!
Thượng sĩ U-kha-nốp không mặc áo choàng, chỉ vận có chiếc áo bông, vừa hắng giọng vừa đào những rãnh nhỏ cùng với trắc thủ Nết-trai-ép, nghe gọi, vứt cái choòng xuống, nhảy ngay tới vị trí đặt pháo hãy còn nông,
-Công việc thế nào, đồng chí trung úy? Cánh mình có dễ dàng chui vào lòng đất không?
Anh thở hổn hển, nóng bừng vì làm việc, mồ hôi toát ra nồng nặc, khuôn mặt ẩm ướt bóng nhẫy.
-Có lẽ không tồi lắm,-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên-cử ai ra sông đi… Tìm hố nước trên băng. Và đem hai cặp lồng nước về đây.
-Ý hay đấy,-U-kha-nốp, đồng ý, đưa tay lau mồ hôi trên má.-Chứ không có thì lũ quỷ chúng nó nốc hết tuyết xung quanh công sự. Sẽ chẳng biết lấy gì mà ngụy trang… Nào có chàng trai nông thôn nào thạo cái món tìm hố nước trên băng không nào? Tri-bi-xốp, anh đi được không? Xuống dưới sông, mang theo chiếc choòng nhỏ!
-Được, được tôi đi được… Chứ ở sát bên sông thế này mà lại không có nước uống à? Tôi đi ngay, rồi mọi người sẽ được uống thỏa thuê, đồng chí trung úy ạ,-Tri-bi-xốp cất tiếng nói dồn dập như hát và mọi người đều thấy ở bác vẻ sốt sắng đặc biệt.
-Tại sao lại là Tri-bi-xốp? Bác ta còn chưa phới sang bên kia đâu!-Có người nói, cười hềnh hệch vẻ ngờ vực.-Bác ấy biết phương hướng rõ đấy chứ?
-Ê-mi-li-a, cậu nói nhảm rồi! Nghĩ vớ vẩn!
-Không, tôi đã nói: người ta chỉ nghe rõ mệnh lệnh lúc ở hậu phương thôi!
Tuy vậy Tri-bi-xốp vẫn cầm lấy cái choòng nhỏ, leo lên bờ lũy, lặng lẽ đi tập tễnh đến chỗ khẩu pháo để lấy cặp lồng.
-Lão nông dân này láu tôm láu cá lắm,-lại có tiếng cười hềnh hệch.-Ngốn như hùm beo, làm như mèo mửa!
-Tại sao anh lại công kích bác ấy? Anh không muốn uống nước à? Hay là Tri-bi-xốp đã quyến rũ mất vợ của anh? Bác ấy là nông dân cần cù, hiền như đất. Thế mà anh cứ tru tréo lên!
-Thôi đi, anh em! U-kha-nốp quát lên.-Không được động đến Tri-bi-xốp! Còn cậu, Ru-bin, tốt hơn là cậu hãy lo trông nom ngựa, việc đó liên quan đến cậu nhiều hơn. Không được nghỉ hút thuốc! Cậu hãy đào đất đi, nếu không chúng ta sẽ bị đè bẹp gí ở đây như những con rệp! Hay tôi còn phải nhắc lại, hả?
Mọi người lại bắt tay đào đắp công sự, tiếng xẻng rít ken két, tiếng choòng đập thình thịch đơn điệu vào nền đất cứng. Cu-dơ-nét-xốp nhặt cái choòng của mình ở đất lên nhưng lại buông nó ra rồi leo lên lũy đất nhìn về phía đám cháy rực sáng ở phía bên trái những ngôi nhà thưa thớt, đen sẫm của ngôi làng hoang vắng đông cứng trong bóng đêm xanh mờ
 
-Lại đây U-kha-nốp,-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Cậu có nghe thấy gì không?
-Gì thế trung úy?
-Cậu nghe xem…
Phía trời rực sáng bỗng im lìm kỳ lạ, như chết lặng đi, từ đó không thấy vẳng lại một tiếng ồn, tiếng súng nào cả. Trong cảnh im lìm khó hiểu đó càng nghe rõ và nổi bật hơn tiếng xẻng, tiếng choòng ở phía đằng trước, tiếng nói xa xa của anh em bộ binh trong đội cảnh giới chiến đấu, tiếng ô tô, pháo binh rồ máy trên những điểm cao phía sau, ở bờ sông bên kia, nơi sư đoàn phòng ngự.
-Hình như lắng dịu đi,-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên.-Hoặc là ta đã chặn được quân địch lại hoặc là bọn Đức đã đột phá được…
-Còn về phía bên phải?…-U-kha-nốp hỏi.-Cũng có cái gì ấy.
Xa xa ở phía chân trời, mé bên phải chỗ rực sáng, ngay sát trên các mái nhà trong làng ở bờ phía Nam, một quầng sáng thứ hai xuyên lên trời và những tin sáng đo đỏ lặng lẽ bùng lên, tỏa ra như những vòng tròn sáng, trườn vào những đám mây bay là là phía dưới. Nhưng cả ở phía đó cũng im lìm nặng trĩu.
-Giống như tên lửa,-Cu-dơ-nét-xốp nói.
-Giống lắm,-U-kha-nốp đồng tình.-Như thể chúng đã đột phá được. Bên mé phải ấy. Ngay trước mắt bọn mình. Chúng ráng hết sức lao tới Xta-lin-grát, hả trung úy? Thế là rõ rồi. Chúng muốn cứu đồng bọn thoát khỏi vòng vây. Để rồi lại dang rộng cánh.
-Có lẽ thế.
Có người nói ở sau lưng, giọng ngạc nhiên vui vẻ:
-Anh em ơi, sao im lìm thế nhỉ? Hình như bọn Đức đã rút chạy. Trời sáng rực thế mà lại im lìm! Có lẽ chúng đã nghĩ lại, không định phá vây nữa chăng? Cậu có hiểu không hả?
-“Chúng đã rút chạy”, nói dễ nghe gớm…
-Láo toét! Có lẽ bọn tướng tá Hít-le đã suy nghĩ nát óc và chúng quyết định: đã đến lúc phải hủy bỏ lệnh cũ!
-Này chúng sẽ cho cậu “nát óc” đến nỗi không còn một chiếc khuy áo đâu!-Một giọng nói hằn học móc máy kết luận.-Đến cái khuy quần cũng chả còn đâu!
-Làm đi, anh em ơi, đào đất đi, dùng cả răng mà giũi đất!… Na… ào!…
Cu-dơ-nét-xốp và U-kha-nốp im lặng nghe mọi người trò chuyện ở sau lưng, tiếng thở phì phò; trong cái im lặng mênh mông bao trùm khắp bầu trời phương Nam nghe rõ tiếng choòng sắc nhọn nện choang choang vào đất rắn như sắt. U-kha-nốp trầm ngâm hỏi như có ý dò đoán:
-Chúng còn xa không nhỉ? Thế nào, trung úy? Một giờ? Hai giờ? Hả?
-Ai mà biết được!-Cu-dơ-nét-xốp đáp và bẻ cổ áo choàng xuống cái cổ ướt đẫm: chưa hết ớn lạnh, nó vẫn ấp vào lưng anh một tấm mạng nhện lạnh ngắt, mồm anh vẫn khô và nóng như trước.-Cần phải đào công sự như điên! Đằng nào chả thế! Một giờ hay hai giờ nữa thì cũng thế thôi!
Họ lại im lặng. Sự im lặng dường như cảm thấy được, lan nhanh trên thảo nguyên và từ phía hai khoảng trời rực sáng trong đêm tối đen ngòm len lách tới khẩu đội một cách gở lạ. Tiếng nói của anh em chiến sĩ ở các vị trí đặt pháo bắt đầu mất hứng thú, đứt quãng rồi lặng đi. Sự im lặng đè nặng lên mọi người…
-Có lẽ… còn một việc nữa…-U-kha-nốp nhìn Cu-dơ-nét-xốp, cài lại khuy áo bông.-Lẽ ra còn một việc nữa phải làm: xé xác anh chàng chuẩn úy với cấp dưỡng ra. Cơm nước đâu? Một anh em pháo thủ nào thử tụt lại sau một ngày đêm xem-người ta sẽ đưa ngay ra tòa án binh xét xử như một tên đào ngũ! Ấy thế mà bọn cấp dưỡng và ông chuẩn úy ấy vẫn cứ nhởn nhơ như không.-Rồi U-kha-nốp lắc lư người trên đôi chân vòng kiềng, đi tới chỗ mặt bằng để pháo, ở đó trong bóng tối các chiến sĩ vừa khụt khịt, thở dốc, vừa dùng choòng giũi đất và ném đất vụn lên bờ công sự.
-Công việc của người lính cũng như cái bánh xe ấy anh em ạ, không đầu, không cuối!-Tiếng U-kha-nốp vang lên ở bên dưới.-Quay bánh xe đi anh em, ta sẽ tới thiên đàng đấy!
-Tri-bi-xốp đâu? Tri-bi-xốp đã mang nước về chưa?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi, mệt mỏi vì miệng khô khốc, kinh sợ nghĩ rằng rồi lại phải nuốt thứ tuyết nhạt nhẽo, làm cho cổ họng lạnh toát một cách khó chịu.
-Hay là thằng cha tù binh ấy vù về hậu phương rồi?-Anh coi ngựa Ru-bin từ dưới lòng chiếc hố thốt lên một cách cay độc.-Lão ấy chuồn về đằng sau và ném cặp lồng xuống rìa đường. Chú còn gì nữa! Cậu làm sao mà thở phì phò thế Xec-gu-nen-cốp? Lại muốn khóc hả?
-Này đồ ngốc, đừng có nói điêu!-Chiến sĩ coi ngựa Xec-gu-nen-cốp bực tức gào lên, hình như chưa quên và vẫn chưa thể tha thứ cho hành động độc ác của Ru-bin lúc anh ta được gọi tới để bắn chết con ngựa bị quỵ trên đường hành quân.
-Ru-bin,-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên nghiêm khắc,-Phải suy nghĩ trước khi nói. Anh nói toàn những chuyện chẳng đâu vào đâu.
-Ôi, tôi phát chán anh rồi đấy, Ru-bin ạ!-U-kha-nốp lên tiếng bằng một giọng không hứa hẹn điều gì tốt lành.-Tôi báo trước: tôi chán ngấy rồi!
Cu-dơ-nét-xốp rút bao tay ra, đưa tay chộp lấy một nắm tuyết sắc như thủy tinh vụn, đưa vào mồm nhai lạo xạo rồi nuốt. Trong giây lát anh tưởng như đỡ khát, cảm thấy toàn thân như tỉnh táo dễ chịu hơn,
-Nào!-anh nói.-Đào thêm một cán xẻng nữa…
Rồi anh nhảy từ trên bờ công sự xuống mặt bằng để pháo, vớ lấy cái choòng dùng hết sức thọc mũi choòng xuống đất, mạnh đến nỗi đầu anh rung lên, máu dồn lên thái dương. Cu-dơ-nét-xốp bập choòng hết lần này đến lần khác, đứng choãi chân ra để khi vung choòng lên không bị lảo đảo vì mệt mỏi. Năm phút sau cơn khát trước đây, bị nắm tuyết đánh lừa, lại bắt đầu thiêu đốt anh và anh nghĩ: “Tri-bi-xốp… Nhanh lên đi Tri-bi-xốp… Bác ấy làm gì ở đằng ấy nhỉ? Giá có nước ngay bây giờ… Mình làm sao thế nhỉ? Miễn sao đừng ốm?”.
Qua tiếng xẻng chan chát anh nghe thấy mẩu chuyện rời rạc về người chuẩn úy, về chuyện nhà bếp nhưng chỉ mới nghe đến thức ăn, tới mùi thơm của món cháo kê anh đã thấy lợm giọng.
Vào quãng bốn giờ sáng thì xe nhà bếp tới, lúc ấy toàn tiểu đoàn đã kiệt sức trên những mặt bằng để pháo nhưng cũng đã đào được những hầm đất trong bờ sông dốc đứng. Xe nhà bếp dừng lại ở gần nơi đặt pháo của trung đội hai. Chiếc xe nhô lên như một vết đen thẫm trên nền tuyết trắng, tỏa mùi thơm ngào ngạt, ống thông gió đỏ rực, nóng hổi. Không tụt khỏi ghế ngồi, chuẩn úy Xcô-rích gào lên một cách hú họa: “Có ai đấy không?”-Nhưng không thấy trả lời bèn nhảy xuống đất và người sĩ quan đầu tiên mà anh gặp tại các vị trí hỏa lực này là trung úy Đa-vla-chi-an. Liếc nhìn hai khoảng sáng lờm cờm đang lan rộng ở chân trời, chuẩn úy hỏi bằng giọng trịch thượng liến thoắng:
-Đại đội trưởng đâu, đồng chí trung úy?… Tôi cần gặp Đrô-dơ-đốp-xki. Ở đâu?
-Hãy nghe đây… chuẩn úy-Đa-vla-chi-an bắt đầu nói, thậm chí hơi líu lưỡi vì phẫn nộ.-Sao anh không biết xấu hổ hả? Các anh làm sao thế, điên rồ cả rồi à? Từ bấy đến giờ các anh ở đâu? Tại sao lại chậm trễ thế?
-Xấu hồ gì mới được chứ?-Xcô-rích hầm hầm đáp lại có ý công kích một cách ngạo mạn vì từ lâu anh ta đã hiểu rằng vị trí vững chắc của mình không phụ thuộc vào các trung đội trưởng mặc dầu họ mang quân hàm trung úy.-Vì sao mà xấu hổ nào? Kho hàng tụt lại tận đâu ấy.. Rồi lại còn phải đi lĩnh các khẩu phần, và rượu… Không phải chỉ có mình đồng chí chiến đấu đâu, trung úy! Nghe mà tức cười. Cứ làm như người ta là quân tốt đen không bằng!
Xcô-rích nguyên là một khẩu đội trưởng, người duy nhất trong tiểu đoàn đã được thưởng huy chương “Vì lòng dũng cảm” quý giá đối với người lính, hồi năm ngoái trong các trận chiến đấu ở gần Mát-xcơ-va và do phần thưởng đó cũng như do mẽ ngoài hấp dẫn, anh đã được đề bạt lên làm chuẩn úy và rất hài lòng nhận trách nhiệm này. Cố nhiên anh đã sinh ra để làm nhiệm vụ của người chuẩn úy. Trong thâm tâm anh coi mình cao hơn các trung đội trưởng, đặc biệt là anh chàng Đa-vla-chi-an xanh lướt, mũi nhọn và gầy gò này, viên trung úy nhãi nhép chưa ngửi mùi thuốc súng trong quãng đời còn ngắn ngủi của mình, chỉ cần hắt hơi một cái cũng đủ xẻ anh ta ra làm đôi. Đáp lại sự phẫn nộ của anh ta, chuẩn úy chỉ cười khẩy. Tay trung úy nhãi nhép này chả có gì đáng chú ý, hoàn toàn không xứng đáng, thế mà cũng lên mặt ta đây, làm như ngực mình đầy huân chương, có nhiều quyền hành lắm đấy… Với lại không ai trong khẩu đội có quyền trách móc Xcô-rích điều gì vì anh có thể làm như vô tình phanh áo choàng ra, phô trương tấm huy chương, rút chiếc bật lửa ra không phải từ túi quần mà từ túi ngực trên áo khoác. Chỉ có đối với Đrô-dơ-đốp-xki, đại đội trưởng, Xcô-rích mới tỏ ra kính cẩn đặc biệt và hơi e dè.
-Chả lẽ anh không xấu hổ à, chuẩn úy!-Đa-vla-chi-an nhắc lại, hơi bối rối vì cái giọng trâng tráo và nụ cười ngạo mạn của Xcô-rích.-Anh cười gì như tay hề ở rạp xiếc thế? Thế mà còn cười được! Anh thấy mình đúng à? Anh có thể dềnh dàng suốt ngày đêm ở hậu phương ư?
Lúc này ở gần trung đội của Đa-vla-chi-an không có một pháo thủ nào cả ngoài người chiến sĩ gác là trắc thủ Ca-xư-mốp. Như để kiểm tra, Ca-xư-mốp đã đi mấy vòng trong bóng tối xung quanh xe nhà bếp ấm áp, sực nức mùi thức ăn ngào ngạt, xuất hiện bất ngờ tại các vị trí đặt pháo này cùng với người cấp dưỡng ngồi nấp ở trên xe như người có lỗi. Và đột nhiên, anh điên cuồng rít lên, lên đạn lách cách, chĩa khẩu súng các-bin vào người cấp dưỡng:
-Đi đi! Cút!… Không phải là bếp của chúng tôi! Đây không thể là bếp của chúng tôi được! Mày là ma quỷ! Và chuẩn úy cũng là ma quỷ! Đi đi! Mày là quân Đức chứ không phải một người Xô-viết! Mọi người không có đến một mảnh bánh mì để cho vào bụng!… Mày ngủ ở đâu, đồ khốn kiếp! Cả tiểu đoàn đói mềm!… Tao giết mày!…
-chính phủ!-Đa-vla-chi-an hét lên giọng the thé.-Anh làm gì thế?
-Tôi sẽ bắn chết đồ khốn này!…
 
Nghe tiếng thét ở gần, trung úy Cu-dơ-nét-xốp chạy tới chỗ các khẩu pháo của mình tới các hỏa điểm của Đa-vla-chi-an, nơi xe nhà bếp đứng giữa sương mù trăng trắng phớt xanh. Lập tức anh trông thấy con ngựa sợ hãi khi thấy Ca-xư-mốp vung súng các-bin lên, nó lồng sang một bên, làm cái nồi kêu loảng xoảng, anh cấp dưỡng dáng người thấp bé từ trên ghế rơi bịch xuống đất, cắm mình trong tuyết. Ngồi trên mặt đất anh rền rĩ thảm hại bằng cái giọng nam cao có ý van xin:
-Gì đấy?… Vì sao? Cậu điên à?…-Và anh chồm dậy, lao tứi chỗ con ngựa túm lấy dây cương nói: “Pru, đồ khốn kiếp, mày làm sao thế…”
-Có chuyện gì thế, Đa-vla-chi-an?-Cu-dơ-nét-xốp hét to.-Vì sao ầm ĩm lên thế? Ca-xư-mốp!…
-Cậu nhìn kia kìa… bây giờ các ngài ấy mới hạ cố tới đây,-Đa-vla-chi-an đáp, nói lắp bắp vì xúc động.-Cậu biết đấy, Cu-dơ-nét-xốp suốt một ngày đêm không thấy tăm hơi nó đâu, suốt cả ngày đêm! Chúng nó ì ra ở phía sau!
Ca-xư-mốp tụt xuống bờ công sự, đặt khẩu các-bin trên đầu gối, đu đưa người và nói như hát:
-Tệ lắm, trung úy ạ, tệ lắm… Chúng nó không còn là người nữa… Lũ người này sẽ bảo vệ Tổ quốc một cách tồi tệ lắm. Chúng không biết yêu thương những người khác…
-À, rõ rồi, các ngài quý tộc ở hậu phương đã tới,-Cu-dơ-nét-xốp nói một cách chế giễu.-Thế nào, tình hình hậu phương ra sao? Địch có bắn không? Sao lại đứng đờ ra thế, chuẩn úy? Hãy kể cho anh em nghe đi: các anh đào công sự phòng ngự cho nhà bếp ở đó như thế nào? Lâu lắm không được gặp các anh! Dễ thường từ đầu cuộc hành quân cơ đấy nhỉ?
Xcô-rích nhếch mép cười, cặp mắt nheo sát xuống tận tinh mũi, vẻ nanh ác nhìn Cu-dơ-nét-xốp long xòng xọc.
-Đồng chí giáo dục chính trị cho các chiến sĩ kém đấy, trung úy ạ, như thế là không theo đúng điều lệnh, để cho các chiến sĩ chống lại chuẩn úy à? Tôi sẽ khiếu nại lên tiểu đoàn trưởng Đrô-dơ-đốp-xki. Kia kìa, Ca-xư-mốp đã dùng súng dọa nạt tôi.
-Anh muốn khiếu nại ai tùy thích, khiếu nại với quỷ cũng được!-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên, không còn giữ được giọng bình tĩnh như trước.-Bây giờ đi ngay xuống mé dưới, tới chỗ anh em pháo thủ! Cho anh em trong tiểu đoàn ăn, nhanh lên!
-Đừng ra lệnh tôi quá quắt như thế, đồng chí trung úy. Tôi không phải là chiến sĩ trong trung đội đồng chí… Tôi trực thuộc Đrô-dơ-đốp-xki, trực thuộc tiểu đoàn trưởng chứ không phải đồng chí. Đồng chí có thể cứ việc nhận khẩu phần của mình, tôi không phản đối, còn như bêu riếu tôi và làm ầm ỹ lên thì không được đâu, tôi cũng là người biết tự trọng và thuộc điều lệnh. Xê-mê-nu-khin!-Xcô-rích oang oang gọi cấp dưỡng đúng như điều lệnh.-Phát khẩu phần cho trung úy!
-Tôi đã nói: đi xuống mé dưới, cho anh em trong tiểu đoàn ăn! Đồng chí có hiểu không? Hay là không hiểu?-Cu-dơ-nét-xốp sôi sùng sục.-Nhanh lên, đồng chí… con người am hiểu điều lệnh.
-Đồng chí không được quát tháo tôi như vậy! Trước tiên tôi có trách nhiệm đưa thức ăn cho tiểu đoàn trưởng. Đài quan sát ở đâu?
-Ở mé dưới, tôi đã nói rồi! Đến đó đồng chí sẽ biết rõ ngọn ngành! Đưa cả bếp xuống dưới đó. Đường xuống dốc ở gần cầu. Trung úy Đa-vla-chi-an! Anh hãy chỉ cho đồng chí ấy biết tiểu đoàn ở đâu. Kẻo không đồng chí ấy lại lạc mất một ngày đêm nữa!
Sau khi thấy chuẩn úy rất chững chạc đường hoàng đi theo Đa-vla-chi-an tới bờ sông, ngồi trên càng pháo đã căng ra, cố trấn tĩnh. Anh cảm thấy lo âu lạ lùng như thể còn có gì đó chưa trọn vẹn, chưa làm xong. Sau nhiều giờ đào đắp công sự, các bắp thịt và cánh tay nhức nhối, cổ như muốn gãy, chai tay rộp lên trong lòng bàn tay. Trên làn da lưng mà anh tưởng đã bong ra khỏi người mình, cơn ớn lạnh vẫn luồn vào châm như kiến đốt và anh không muốn nhúc nhích.
“Hay là mình ốm?”-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ và anh tìm thấy ở dưới càng súng cặp lồng nước do Tri-bi-xốp lấy từ ngoài sông về, khoan khoái đưa lên môi.
Trước bóng tối, những mảnh băng vô hình, mảnh như những cái kim, va vào thành cặp lồng đựng nước sông có mùi gỉ sắt, chúng lờ mờ gợi cho anh nhớ tới ngày tết xa xưa của tuổi thơ, tiếng lanh canh dịu dàng vô cùng của những đồ chơi bằng bạc, tiếng lách tách êm dịu của giấy trang kim trên cây thông, ngày tết vui nhất về mùa đông giữa hương thơm của cành thông và cây quít, giữa những ngọn nến sáng rực trong căn phòng ấm áp giờ đây đã xa xắc la lơ… Cu-dơ-nét-xốp uống mãi và khi nước lạnh ngắt thiêu đốt lồng ngực anh, anh tự nhủ sự uể oải lúc này rồi sẽ qua đi và mọi việc sẽ trở nên trong sáng và thật.
Ở chỗ anh em bộ binh-phía bên phải và bên trái các khẩu pháo-yên tĩnh.
Trên thảo nguyên phía trước mặt, những quầng sáng vẫn rực lên trên những khoảng trời rộng như trước đây. Ánh hồng trên bầu trời càng làm cho những mái nhà thấp và những cây liễu đông cứng của xóm làng lặng lẽ thẫm đen lại. Gió lộng là là thổi sát thành công sự, tuyết vung vãi làm trắng những hòn đất ngổn ngang.
-Đồng chí trung úy!… Ca-xư-mốp lên tiếng ở bên cạnh.
Anh rời khỏi quầng sáng trên trời, nhìn Ca-xư-mốp đang ngồi trên càng súng, khẩu các-bin kẹp giữa hai chân. Dưới ánh lửa đáng lo ngại ở chân trời xa, bộ mặt nhẵn nhụi không râu ria ngăm ngăm đen trông có vẻ ảm đạm.
-Tôi chả hiểu tại sao tôi lại làm như thế… Vì sao chuẩn úy xúc phạm mọi người như vậy? Đồng chí ấy không yêu tiểu đoàn. Con người hoàn toàn xa lạ, dửng dưng.
-Đồng chí đã làm đúng,-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Thôi đừng nghĩ tới chuyện đó nữa. Đồng chí hãy ra chỗ bếp, ăn uống đi. Tôi ngồi đây một lát.
-Không.-Ca-xư-mốp lắc đầu.-Tôi còn phải gác hai giờ nữa. Có thể chịu đựng được. Ở miền Nam Ca-dắc-xtan cũng có tuyết. Trên núi tuyết phủ đầy. Nhưng tôi không bị cóng.
-Chắc tuyết ở đó khác chứ?-Chẳng hiểu vì sao Cu-dơ-nét-xốp hỏi, bất chợt anh muốn hình dung cuộc sống hạnh phúc yên tĩnh, chói trang ánh mặt trời mà anh chưa hề biết ở miền đất xa xôi phía Nam Ca-dắc-xtan huyền ảo như ở đầu bên kia của địa cầu, nơi không thể có thứ băng giá tàn nhẫn, cóng lạnh, gió thổi ào ào trên thành công sự, đất lạnh cứng như xi măng và những quầng sáng mênh mông rực lên ở chân trời.-Quê đồng chí ấm áp lắm nhỉ? Nhiều nắng chứ?-Anh lại hỏi tuy biết rằng Ca-xư-mốp sẽ xác nhận, xem đó như một niềm vui xa xôi đang tồn tại ở một nơi nào đó trên thế giới.
-Ấm áp lắm. Nắng chói chang. Thảo nguyên. Núi đồi-Ca-xư-mốp nói và bẽn lẽn mỉm cười với chính mình.-Về mùa xuân cỏ mọc xanh um. Nhiều hoa lắm. Một đại dương xanh rờn. Sáng sáng không khí trong veo… Hít thở rất nhẹ nhõm. Những dòng sông bắt nguồn từ núi trong suốt… Với tay ra cũng bắt được cá…-Anh im bặt, trầm ngâm đu đưa người trên càng khẩu pháo. Có lẽ anh tưởng rượng rõ rệt và thả hồn mình về đất quê hương nằm giữa các rặng núi, nơi suốt ngày ánh nắng chói trang tỏa trên những lùm cỏ xanh mượt mà, những dòng sông trong vắt như thủy tinh, bắt nguồn từ trong núi chảy xiết, đầy tôm cá.
-Ánh nắng và những dòng sông bắt nguồn từ trong núi,-Cu-dơ-nét-xốp nhắc lại, anh cũng hình dung ra cảnh tượng đó.-Giá tôi được nhìn ngắm cảnh đó thì hay quá.
-Đồng chí mà đến thăm quê tôi thì sẽ mê miền núi, không dứt ra về được đâu,-Ca-xư-mốp nói.-Thiên nhiên phong phú lắm. Mọi người đều tốt bụng… Tôi có thể chết vì quê hương tươi đẹp của mình. Hồi đầu chiến tranh tôi cứ nghĩ: có lẽ nào bọn Đức lại mò được tới vùng mình? Tôi vội vã gia nhập quân đội. Tôi nói ở phòng tuyển quân: hãy ghi tên tôi, tôi xin đi chiến đấu… Còn đồng chí sống ở Mát-xcơ-va?
-Phải, ở khu Da-mô-scơ-vô-rét-si-ê, Cu-dơ-nét-xốp đáp và khi xướng lên tên gọi đó anh hình dung rõ rệt những ngõ hẹp yên tĩnh, những cây cổ thụ rườm rà cạnh cửa sổ trong các sân, bầu trời hoàng hôn tháng Tư màu xanh ngắt với những ngôi sao đầu tiên dịu dàng lấp lánh trên thành phố ấm áp, cuộc chơi bóng chuyền muộn màng, bóng va vào hàng rào, ánh đèn xe đạp nhấp nháy trên hè phố,-anh tưởng như trông thấy rõ tất cả những cái đó đến nỗi anh nghẹn ngào vì những hồi ức xô nhau tới và anh nói to lên:-cả lớp tôi đã tòng quân năm bốn mốt…
-Gia đình anh còn ai ở nhà không?
-Còn mẹ và em gái.
-Ông cụ mất rồi à?
-Bố tôi bị cảm chết trên công trường xây dựng nhà máy Ma-gơ-nhi-tơ-goóc-xcơ. Ông là kỹ sư.
-Ái dà, không có bố thì gay lắm! Còn tôi thì đủ cả bố, mẹ, bốn chị em gái. Một gia đình lớn. Phải đến cả một trung đội ngồi quanh bàn ăn. Hết chiến tranh, mời đồng chí đến thăm chúng tôi, trung úy. Đồng chí sẽ phải mê phong cảnh vùng tôi. Và rồi đồng chí muốn ở hẳn lại đó.
-Không, tôi sẽ không đánh đổi Da-mô-scơ-vô-rét-si-ê của tôi lấy bất cứ cái gì, Ca-xư-mốp ạ,-Cu-dơ-nét-xốp phản đối.-Cậu biết không, mỗi tối mùa đông ngồi trong căn phòng ấm ấp, chiếc lò sưởi kiểu Hà Lan cháy rực, tuyết rơi ngoài cửa sổ. Còn mình ngồi đọc sách dưới đèn trong lúc mẹ mình đang làm gì đó trong bếp… Chẳng hiểu sao mình thích như thế.
-Tuyệt quá,-Ca-xư-mốp mơ mộng lắc lắc đầu.-Thật là tuyệt khi có một gia đình êm ấm.
Họ im lặng. Phía đằng trước và phía bên phải các khẩu pháo lại vang lên tiếng cuốc xẻng đào đất bình bịch của anh em bộ binh. Ở phía đó không ai đi trên thảo nguyên nữa và không nghe thấy một tiếng động nào từ các khẩu đội bên cạnh.
chỉ có ở mé bên dưới, từ phía bờ sông nơi khẩu đội một đào hầm đất trên sườn dốc bờ sông cho anh pháo thủ, thỉnh thoảng bay tới những giọng nói đứt quãng của anh em chiến sĩ và tiếng cặp lồng khẽ loảng xoảng. Còn ở phía bên kia sông, chiếc ô tô vẫn đơn độc kéo ở sân bên trong phía Bắc khu làng, nhưng tất cả những tiếng động đó dường như bị chìm lút trong cái im lặng mênh mông đang tỏa rộng từ phía Nam thảo nguyên.
-Im lặng kỳ lạ…-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Tôi không thích cảnh im lặng này từ năm bốn mốt.
-Tại sao chúng nó không bắn nhỉ? Quân Đức lặng lẽ tiến tới đây à?
-Đúng, chúng không bắn.
 
Cu-dơ-nét-xốp đứng dậy, vươn thẳng tấm lưng, ê ẩm vì lao động và anh lập tức nhớ tới cặp lồng nước. Anh không muốn uống nữa tuy miện vẫn khô như trước. Anh bị cóng lạnh nhiều vì gió thổi lồng lộng trên bờ sông cao. Giá lạnh xuyên thấu quần áo lót ẩm ướt, chiếc áo va rơi mặc trên người và anh thoáng rùng mình. “Mình mệt mỏi đến thế sao? Hay là mình đã bị cóng. Có lẽ phải làm tí Vốt ca cho ấm người!”-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ và anh bước đi trên những mô đất đông cứng tạo lạo xạo về phía bờ sông, nơi có những bậc lên xuống trổ vào bờ dốc.
Xe nhà bếp đậu ngay trên mặt băng trên sông, món đậu nghiền tỏa hương thơm ngào ngạt; dưới cái nồi mở vung, hơi bốc mù mịt, ngọn lửa vẫn khẽ bập bùng cháy đỏ. Tiếng gáo va vào cặp lồng loảng xoảng. Anh em pháo thủ túm tụm xung quanh bếp, hòa thành một đám đen thẫm, vây quanh người cấp dưỡng đang múc thức ăn. Có tiếng của những người lính không hài lòng nhưng đã ấm bụng và phấn chấn lên nhờ chút rượu Vốt ca, trò chuyện với nhau.
-Lại cái món đậu nghiền, chán ngắt! Họ không nghĩ ra được món gì khác cả!
-Nào múc đi, múc đi, hay lại tơ tưởng đến bà xã? Anh em này, vì sao mà mọi tay cấp dưỡng đều bủn xỉn thế nhỉ?
-Chết nghẹn vì đậu! Cậu có biết nếu ngốn nhiều đậu quá thì sẽ xảy ra chuyện gì không?
-Thuộc ngành sản xuất có độc hại phải được uống sữa chứ!
-Ba hoa vừa vừa chứ, đồ lưỡi không xương… Lại còn khôn ngoan tưởng tượng ra cả sữa nữa.-anh cấp dưỡng hằn học trả lời tứ phía.-Vì sao các anh trách móc nào? Đối với các anh, tôi là con bò sữa chăng?
Cu-dơ-nét-xốp hít thở không khí lạnh giá trong lành của dòng sông đóng băng cùng với mùi xúp đậu bén lửa và anh cảm thấy buồn nôn. Anh quay người tránh xa xe nhà bếp, trong bóng tối dưới chân bờ dốc, anh vấp phải cuốc xẻng để ngổn ngang. Một khe sáng hẹp thẳng đứng chợt lóe lên trước mắt anh, từ chỗ có ánh sáng vọng ra tiếng cười nói. Anh đưa tay sờ soạng, gạt tấm vải bạt ra và nước vào căn hầm đầy mùi đất sét ẩm và lại thấy cả mùi thức ăn nữa.
Trong căn hầm đào sâu ngập đầu người, ngọn đèn làm bằng vỏ đạn đại bác đặt trên đáy thùng tỏa ra ánh sáng trắng bập bùng. Những cái cặp lồng đựng xúp bốc khói đặt bên cạnh những ca rượu trên tấm vải bạt trải rộng. Trung úy Đa-vla-chi-an và hạ sĩ Nết-trai-ép nằm quay đầu về phía đèn. Đầu gối thu vào dưới tấm áo choàng ngắn, Dôi-a ngồi hơi nghiêng, gặm miếng lương khô, thận trọng xem quyển an bom nhỏ nào đó đóng bằng thứ da mềm màu đen, có chiếc khuy bấm tròn vàng chóe như kiểu an bom-ví đựng tiền.
-Cu-dơ-nét-xốp!… Thế là rốt cuộc cậu đã tới…-Đa-vla-chi-an kêu to, mặt đỏ lên sau khi ăn uống. Mặt anh như gầy hơn sau công việc mệt mỏi lúc ban đêm còn chiếc mũi nhọn và cặp mắt anh lóng lánh như mắt chuột nhìn lửa.-Cậu mất hút ở đâu thế hả? Ngồi với bọn mình đi! Cặp lồng của cậu đây. Bác Tri-bi-xốp tận tâm của cậu mang tới đấy!
-Cám ơn.-Cu-dơ-nét-xốp đáp và sau khi sửa lại cổ áo choàng, ghé nằm cạnh Đa-vla-chi-an vừa nhích ra nhường chỗ. Từ bóng tối ở ngoài trời bước vào, anh thấy nhức mắt khi nhìn vào ngọn đèn thấp bằng dầu xăng.-Có cái ca nào bỏ không không?
-Lấy ca cả ai chả được,-Nết-trai-ép nói và nhát cặp mắt nâu về phía Dôi-a.-Mọi người đều khỏe mạnh cả.
-Ca của mình đây, Cu-dơ-nét-xốp,-Đa-vla-chi-an mời và cũng nhìn về phí Dôi-a, những ngón tay nhỏ nhắn, lấm đất cầm cái ca đầy rượu chia cho bạn.-Cậu biết không, lúc này mình chẳng thích uống gì cả, chắc là rượu bị pha, có mùi quái quỷ gì ấy. Thậm chí hình như có cả mùi dầu hỏa.
-Đúng thế,-Nết-trai-ép nói, nụ cười khẩy rung rung dưới làn ria mép.-món hỗn hợp. Rượu pha với nước hoa. Chỉ giành cho con gái thôi.
Cố giữ cho tay khỏi run. Cu-dơ-nét-xốp đưa cái ca lên miệng, ngửi thấy mùi rượu nhưng anh cố gượng, nghĩ rằng tí nữa cơn ớn lạnh sẽ qua, rượu Vốt ca sẽ làm cho cơ thể nóng lên, nhẹ nhõm, anh nói một cách gượng gạo.
-Nào thì uống… Cầu cho bọn Đức xâm lược chết quách đi!
Anh cố gượng uống thứ nước cháy bỏng có pha mùi gỉ sắt và ho sặc sụa. Anh căm ghét rượu Vốt ca, không tài nào làm quen được với khẩu phần rượu hàng ngày ở ngoài mặt trận.
-Thứ nước kinh khủng thật!-Đa-vla-chi-an kêu lên.-Không thể uống nổi. Khác nào tự sát! Tôi đã bảo mà…
-Nhắm món xúp đậu đi, đồng chí trung úy.-Nết-trai-ép nhếch mép cười, đậy nắp cặp lồng lại.-Rồi khắc quen. Sẽ không thấy rát họng.
-Có lẽ thế,-Cu-dơ-nét-xốp đáp hầu như rất khẽ nhưng anh không đụng tới cặp lồng thức ăn, với lấy mẩu lương khô làm bằng bột mì đen trên tấm vải bạt và tựa lưng vào vách hầm, bắt đầu nhai.
Dôi-a không ngửng đầu lên, nói:
-Anh Nết-trai-ép này, anh lấy quyển an bom này ở đâu thế? Anh giữ nó làm gì? Một quyển an bom kỳ lạ…
“Tại sao cô ấy lại ở đây chứ không đi với Đrô-dơ-đốp-xki nhỉ?-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ, tựa hồ như anh nghe thấy tiếng Dôi-a từ xa, cảm thấy bụng ấm dần lên.-Mình chả hiểu những chuyện này”.
-Dôi-e-sca, hình như cô không tin tôi dẫu cô rất khó chịu vì không tin. Chắc cô nghĩ tôi là tay công tử bột ngoài vỉa hè. Một tay ba hoa láo toét,-Nết-trai-ép nói bằng giọng vui vẻ đáng tin cậy.-Cô hãy cho phép tôi trình bày chi tiết. Lúc đang thành lập trung đoàn tôi đã đổi một bó thuốc lá cho một anh ở mặt trận về lấy quyển an bom này. Anh ta bảo anh ta đã lấy được ở một con mẹ Đức bị giết gần Vô-rô-ne-giơ trong chiếc xe tham mưu. Kể ra cũng thú vị thật. Tôi thích nên giữ lại. Không phải là con mụ Đức mà là người đàn bà to như cái bồ sứt cạp. Cô giở tiếp mà xem.
-Kỳ lạ,-cô nói, trầm ngâm giở quyển an bom.-Rất kỳ lạ…
-Kỳ lạ cái gì, Dôi-e-sca?-Nết-trai-ép chống khuỷu tay nhích lại gần Dôi-a.-Rất thú vị.
-Người đàn bà Đức đẹp thật! Khuôn mặt, vóc dáng… Cái ảnh này, lúc mụ ta vận bộ đồ tắm. Mụ ta có cấp bậc gì không?-Dôi-a nhìn tấm ảnh và hỏi.-Anh nhìn xem, mụ ấy mặc quân phục trông kiêu căng làm sao. Căng ra như thể mặc mỗi chiếc áo con vậy.
-Lính SS đấy,-Nết-trai-ép quả quyết.-Có tư thế gớm, ngực ưỡn thẳng! Bộ ngực ghê chưa, Dôi-e-sca!
-Anh thích hở?
-Không thích lắm. Nhưng chẳng sao. Một mẫu người.
Trung úy Đa-vla-chi-an có những vết tàn nhang nổi bật trên má nghển cổ, nghếch đôi mắt màu mận chín nhìn vào an bom. Cu-dơ-nét-xốp tựa lưng vào vách hầm, từ trong bóng tối nhìn Dôi-a, khuôn mặt nghiêng xuống dưới ánh sáng ngọn đèn dầu và ký ức của anh căng thẳng một cách kỳ lạ cố sức tìm trên hàng mi dài của cô, trong đôi mắt nhìn xuống của cô, trong quyển an bom đóng bằng da mềm đó một cái gì quen thuộc đã qua, không nắm bắt được, tựa hồ như anh đã có lúc nào đó trông thấy rõ, Dôi-a, trong cảnh tĩnh mịch ấm áp vô chừng, vào lúc tuyết rơi buổi chiều ngoài cửa sổ, trong căn nhà được sưởi nóng thuận tiện để nghỉ đêm, cạnh cái bàn phủ khăn sạch sẽ trắng tinh để đón ngày lễ, quyển an bom của gia đình mở rộng trên khăn giải bàn và ngọn đèn bàn soi sáng những khuôn mặt nào đó thân thương, còn ở đằng sau, ở ngoài vòng ánh sáng là khoảng tranh tối tranh sáng mịn như nhung của căn phòng, là sàn nhà bốc lên mùi xà phòng cọ rửa, giá gương cũ với chiếc khung chữ nhật sẫm màu phản chiếu cái giường mạ kền và giá gương cổ kính đó là những vật đặt trong một căn hộ ở Mát-xcơ-va, trên phố Pi-at-nit-xcai-a, anh chỉ có thể được nhìn thấy mẹ và em gái anh một cách gần gũi như thế, thân thuộc như thế, thanh bình như thế chưa chưa bao giờ anh có thể nhìn thấy trong căn phòng này, khuôn mặt nghiêng xuống của Dôi-a ngồi bên bàn cạnh mẹ anh và em gái anh, cạnh giá gương hào nhoáng, cổ kính và khôi hài đã ố vàng vì thời gian, niềm kiêu hãnh duy nhất của mẹ là kỷ niệm về bố anh: ông đã mua giá gương này trong ngày cưới, hình như của một anh giàu nào đó phất lên trong thời kỳ chính sách kinh tế mới và ông cực kỳ hài lòng về món quà tặng cồng kềnh của mình…
 
-Có lẽ mụ này thuộc một gia đình giàu có. Anh nghĩ thế nào, Cu-dơ-nét-xốp? Sao anh lại im lặng thế?
-Không, tôi không im lặng đâu.-Cu-dơ-nét-xốp rũ bỏ cơn mơ màng nhẹ nhõm làm anh đờ đẫn. Dôi-a nhìn anh với nụ cười dò hỏi,-Cô muốn nói… về mục Đức này ấy à?-Anh hỏi.
-Đúng thế.
Anh đã trông thấy những tấm ảnh của mụ Đức bị giết này từ trước đấy, khi đang hành quân, quyển an bom được truyền tay, vì không có việc gì làm, Nết-trai-ép đã đưa cho cả trung đội xem. Và bây giờ khi nghe Dôi-a hỏi, Cu-dơ-nét-xốp nhích người khỏi vách hầm, nhìn vào những tấm ảnh, không có hứng thú gì đặc biệt. Người đàn bà Đức tóc vàng, vận bộ quân phục bó sát người, cười trong ống kính, sung sướng một cách trêu ngươi giữa những người trong gia đình đang mỉm cười, ngồi thành hình vòng cung trên những chiếc ghế bành bằng mây, cạnh cái bàn nhỏ thấp đặt giữa một bãi cỏ xanh tươm tất. Trên cái ảnh khác là một bãi biển vàng chóe, những cánh buồm trắng lóa giữa biển xanh, những cái lều trắng trên bờ biển và người đàn bà Đức nước da rám nắng màu sô cô la vận áo tắm đứng theo tư thế kiêu hãnh và hơi có vẻ kịch, choàng lấy vai người bạn gái có khuôn mặt nhỏ, dịu dàng như búp bê, tấm khăn tắm sặc sỡ phủ tấm thân trần, mớ tóc bồng xõa trên vai. Tiếp đó là hàng loạt những khuôn mặt đàn bà căng thẳng và nghiêm nghị, nhiều kẻ ưỡn ngực trong những bộ quân phục đứng trước trại lính. Rồi đến vài tấm ảnh nữa chụp trên biển; một cánh buồm no gió trên chiếc thuyền buồm lệch hẳn đi; người đàn bà Đức tóc vàng đó với bộ hông nở nang bị những tia nước làm cho ướt át, mụ ta táo bạo kéo chiếc dây chão trên đầu người bạn gái có mớ tóc bồng, bị con sóng xô tới tóe nước lên, sợ hãi ôm chặt lấy đôi chân rám nắng tròn trĩnh của mụ.
-Người đàn bà tóc vàng này… chắc là được đàn ông ưa thích,-Dôi-a nói, không rời mắt khỏi quyển an bom.-Dẫu sao trông cũng đẹp… Còn anh có thích không, Đa-vla-chi-an?
-Trung úy Đa-vla-chi-an đang mải ăn xúp, không dè bị hỏi, nuốt vội và bực tức thốt lên:
-Xúp của vị cấp dưỡng đáng kính của chúng ta nhạt như nước ốc! Nuốt không nổi. Đến nghẹn mất… Một bộ mặt kinh tởm!-Anh liếc nhìn tấm ảnh và phát biểu.-Có gì ở đây có thể làm cho thích thú? Trông cũng biết ngay đây là một con mẹ SS ngốc nghếch. Mụ ta cười như con mèo cái. Tôi căm thù những cái mõm phát xít ấy! Sao mụ ta có thể cười được nhỉ?
”Phải rồi, cậy ấy nói đúng,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ.-Tại sao mình cũng vậy, hễ trông thấy một cái gì đó của bọn Đức là lập tức cổ họng thấy nghèn nghẹn?”
-Không thể tranh cãi về thị hiếu được, Dôi-e-sca ạ!-Nết-trai-ép cười khanh khách, nói.-Tôi đã xé bỏ trang cuối cùng. Giá các anh trông thấy những tấm ảnh đó của mụ ta thì có thể chết được! Đủ kiểu trụy lạc khác nhau, đặc biệt là của nữ giới. Các cậu có biết nữ thi sĩ Xa-phô không? Ở Rô-ma ấy mà…
-Thế thì sao?-Dôi-a ngạc nhiên dướn cặp lông mày lá liễu nhìn anh.-Chỉ có điều không phải ở Rô-ma mà ở Hy Lạp cơ. Rồi thế nào nữa?
-Anh lại bắt đầu giở trò à? Anh nói với Dôi-a về sự trụy lạc nào hả, Nết-trai-ép?-Đa-vla-chi-an đỏ mặt chỉnh.-Anh có cái thói kỳ quặc thật! Hay là anh đã uống quá một trăm gam rượu?
-Tôi chỉ uống suất của tôi thôi, đồng chí trung úy ạ. Và tỉnh táo như một nữ tu sĩ.
-Đa-vla-chi-an, anh bảo vệ tội đấy à?-Dôi-a nói một cách âu yếm và đặt lòng bàn tay lên vai anh, khẽ vuốt ve.-Anh là chú bé kỳ diệu thật! Anh không biết gì về tất cả những chuyện đó ư?… Còn tôi đã trông thấy cái trò bẩn thỉu đó trên một chiếc xe bọc thép của Đức ở gần Khác-cốp… khi chúng tôi thoát được ra khỏi vòng vây. Khắp thành xe đều dán kín những tranh ảnh kiểu đó.
Đa-vla-chi-an bối rối nhoài lưng ra khỏi những ngón tay vuốt ve dịu dàng và hạ cố của Dôi-a rồi anh đỏ mặt, đầu tóc bù xù, buông sõng:
-Xin hãy bỏ ngay những nhận xét không đúng chỗ của mình đi, nữ đồng chí cứu thương! Tôi không phải là một chú bé. Và xin đừng vuốt be tôi. Tôi không thích…
-Thôi được, được. Thế là tôi biết rõ rồi,-Dôi-a nói.
“Không, cậu ấy quả thực là một chàng trai tuyệt vời, cái anh chàng Đa-vla-chi-an ấy,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ, cảm thấy hơi ấm do uống chút rượu Vốt ca lan khắp cơ thể một cách dễ chịu và anh không tham gia vào câu chuyện.-Bao giờ mình cũng ưa thích cậu ấy”.
-Dôi-e-sca!-Nết-trai-ép nói và bỏ cái mũ lông ra, mỉm cười mân mê, nghiêng mái đầu to đẹp, tóc đen của mình.-Trung úy Đa-vla-chi-an đã có vợ chưa cưới, còn tôi thì lẻ loi một mình. Chỉ có bà mẹ ở Vla-đi-vô-xtốc. Trai chưa vợ. Cô cứ vuốt ve đi, tôi sẽ chịu đựng được tôi thích chịu đựng như thế.
-Vớ vẩn, cái anh Nết-trai-ép này,-Dôi-a nhún vai đùa cợt đáp.-Vuốt ve thì có ích gì cho anh nào? Anh vẫn cứ không hiểu đúng mọi chuyện. Với lại ở Vla-đi-vô-xtốc anh được các nữ hoàng và vũ nữ ba lê vây quanh cơ mà… Không, Đa-vla-chi-an này, chả lẽ anh có vợ chưa cưới thật à?-Cô lại hỏi một cách âu yếm.-Thế mà tôi không biết.
-Dôi-e-sca thân mến, tôi sẽ hiền như cục đất,-Nết-trai-ép cầu xin một cách khá nghiêm chỉnh tuy với một giọng say mê quấy rầy, đầu cúi xuống.-Cô hãy chạm đầu ngón tay vào đi… Hay là cô ghê sợ? Nếu không ngày mai tôi có thể bị giết mà không được biết những ngón tay của cô dịu dàng như thế nào?
-Sao lại nói như vậy ở đây… Ngốc nghếch thật!-Đa-vla-chi-an phẫn nộ, nháy mắt lia lịa nhìn Nết-trai-ép.-Anh hãy chấm dứt những trò đê tiện vỉa hè không hợp thời của mình đi hạ sĩ! Đó là cái trò gì vậy? Chả lẽ anh không dùng đầu óc mình vào việc gì khác được à? Kỳ quặc thật! Ở vào địa vị Dôi-a có lẽ tôi sẽ cho anh ấy cái bạt tai! Chúng mình… là những thằng ngốc thế nào ấy, chả hiểu mô tê gì cả. Đúng thế!
-Cám ơn trung úy…
Dôi-a cười vang đồng thời cô ghìm tiếng cười, cắn môi, đôi mắt rực sáng của cô nheo lại chằm chằm nhìn Đa-vla-chi-an đang bối rối.
Nết-trai-ép đội mũ lên đầu, rõ ràng là bực bội vì người ta ngăn cản trò chơi giải trí thú vị của mình, khuôn mặt công tử bột lấm chấm mấy cái bớt mượt mà của anh ta lộ vẻ bực bội, anh nói:
-Uổng công vô ích, đồng chí trung úy ạ. Tôi muốn thử Dôi-e-sca, thế mà đồng chí lại sinh chuyện!… Cô ấy đóng đủ các vài: nào là đã có chồng, nào là đã ba mươi tuổi, nào là cái gì cũng biết còn bản thân cô ta… là một bó hoa bồ công anh!…
Nhưng bắt gặp tia mắt của cô, anh chợt im bặt.
-Những gì tôi đã trải qua anh còn chưa được nếm trải đâu, anh Nết-trai-ép ạ!-Dôi-a mạnh bạo nói.-Anh hãy đổ hộ rượu Vốt ca vào tay tôi.-Cô ra lệnh bằng cái giọng như thể cô có quyền ra lệnh cho Nết-trai-ép.-Sau khi xem quyển an bom của anh, ngón tay tôi nhớp nháp kinh khủng. Anh hãy giấu quyển an bom đi. Và khi nào muốn thử thách mình, anh hãy nhìn vào con mẹ Đức trần truồng này vào giây phút khó khăn!
Nết-trai-ép cười khanh khách có ý tự vệ, chống khuỷu tay nhổm dậy, tìm chiếc ca của cô và với vẻ độ lượng có ý báo thù, anh đổ tất cả chỗ rượu Vốt ca cho đến giọt cuối cùng lền lòng bàn tay Dôi-a khum lại làm gáo.
-Tất nhiên là tôi tiếc số rượu này nhưng vì cô, Dôi-e-sca.
-Vì tôi thì không cần phải làm gì cả. Cám ơn.-Dôi-a chụm đầu gối lại, tà áo choàng ngắn tỏa tròn quanh đầu gối, đưa tay về phía ngọn đèn dầu bập bùng rồi ngoái nhìn Cu-dơ-nét-xốp.-Hình như anh ngủ phải không, trung úy? Thật kỳ lạ khi một con người im lặng. Như người tỉnh táo giữa đám say rượu. Anh không muốn ăn à?
-Tôi có ngủ đâu,-Cu-dơ-nét-xốp lên tiếng, ngồi im trong bóng tối, tựa lưng vào vách hầm.-Chẳng qua là tôi ngồi hưởng cái ấm áp…
Quả thực sau khi uống chút rượu Vốt ca, anh cảm thấy khoan khoái vì cái ấm áp dễ chịu của căn hầm đất, hơi ẩm ngột ngạt của nó, ánh sáng lung linh của ngọn đèn tự làm lấy, tiếng trò chuyện, những bóng người xiêu vẹo trên vách hầm ươn ướt. Cơn ớn lạnh bên trong đã qua. Tuy mồ hôi nhễ nhại vì dùng choòng đào đất anh vẫn cứ bị cóng lạnh hết cả người bên bờ sông lộng gió, cái lạnh vẫn luồn vào tận xương bả vai nhưng anh không muốn thay đổi tư thế, không có sức để đụng đậy. “Cô ấy đã bị bao vây ở Khác-cốp? Cô ấy đã chiến đấu? Khuôn mặt của cô ấy kỳ lạ thật.-anh lờ mờ nghĩ đến khi nhìn Dôi-a.-Nói chung không đẹp. Chỉ được đôi mắt. Và nét mặt hay thay đổi. Nhưng cả Nết-trai-ép, cả U-kha-nốp cũng như mình đều ưa cô ấy… Giữa cô ấy với Đrô-dơ-đốp-xki có chuyện gì nhỉ? Tất cả những cái đó thật lạ lùng…”.
Đa-vla-chi-an cắt ngang dòng suy nghĩ thanh thản của anh:
-Này, Cu-dơ-nét-xốp! Tại sao cậu không ăn? Xúp nguội hết cả rồi!
-Ai bảo xúp nguội?-Một giọng trầm oai nghiêm vang lên ngoài tấm vải bạt che căn hầm.-Xúp nóng bỏng ấy chứ! Có vào được không?
-Được chứ, xin mời chui!-Giọng U-kha-nốp vang lên ở bên ngoài. Vào đi!
 
Có tiếng chân bước nặng nề ở gần cửa hầm, tiếng hòn đất lăn xuống mé dưới, có người lần sờ tấm vải bạt che cửa hầm, tìm thấy mép tấm bạt, khuôn mặt hẹp của anh mọng lên, rát bỏng vì sương giá, cặp mắt như mắt chim, hơi nanh ác; cái mũ lông anh đội trên đầu cách lông mày hai đốt ngón tay đúng như điều lệnh.
-Anh không lạc đấy chứ, chuẩn úy?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi, chỉ trông thấy chiếc mũ mới trên đầu Xcô-rích cũng đã nhớ ngay tới sự chậm trễ của viên chuẩn úy.-Anh cần gì?
-Đồng chí nghiêm khắc quá đấy, trung úy. Có thể nói nghiêm khắc hơn cả tiểu đoàn trưởng!-Chuẩn úy lên tiếng với giọng châm chọc xứng với địa vị vững chãi của mình và nói thêm:-Đây, các anh hãy nhận khẩu phần phụ đi, và có lệnh triệu anh và trung úy Đa-vla-chi-an tới gặp đại đội trưởng… Cả cô nữ cứu thương nữa. Tôi từ chỗ đại đội trưởng…
-Anh hãy để khẩu phần phụ lại đây rồi đi đi.
-Tôi không thể để ba lô lại được. Sau rồi đó có tìm được vết tích. Mà người khác thì không lăn lộn trên đất.
-Anh vào đây nhanh nhanh lên và tháo ba lô ra!
Chuẩn úy lách người chui vào hầm đất, mang theo cái lạnh ở bên ngoài vào, đặt ba lô thực phẩm trên tấm vải bạt và cố ra vẻ đàng hoàng rút bánh lương khô, bơ, đường, thuốc lá-cả một kho báu mà giờ đây Cu-dơ-nét-xốp dửng dưng. Sau khi uống một chút rượu Vốt ca và ăn miếng bánh lương khô, anh lầm tưởng là mình đã no.
-Của hai người đấy!-Chuẩn úy nhắc.-Của trung úy Đa-vla-chi-an và anh.
-Anh đi đi,-Cu-dơ-nét-xốp ra lệnh.-Chúng tôi sẽ liệu cho nhau. Hay anh còn muốn nói gì nữa?
-Rõ…
chuẩn úy gấp ba lô lại, ôm chặt nó vào ngực, đi giật lùi ra khỏi hầm đất, đầu cúi xuống, liếc cặp mắt như mắt chim bất mãn nhìn Dôi-a lúc đó ngồi im, giận dữ gạt tấm vải bạt ra, tỏ cho mọi người thấy rõ rằng anh ta không muốn Dôi-a có mặt ở đây. Tiếp đó lại nghe thấy giọng nói của U-kha-nốp vang lên ở gần cửa hầm:
-Ôi tôi yêu cả anh nữa, chuẩn úy ạ! Tôi không biết vì sao tôi mê anh lắm, anh như bố đẻ của chúng tôi, người trông nom việc hậu cần cho chúng tôi. Tôi kính trọng anh vì sự cần mẫn và vì thái độ dịu dàng của anh với toàn khẩu đội.
-Anh ba hoa cái gì thế, thượng sĩ?-Giọng nam trầm của chuẩn úy vang lên ngoài cửa hầm.-Sao anh lại ăn nói như thế? Anh cười cái gì? Nghiêm!
-Khẽ khẽ chứ chuẩn úy!-U-kha-nốp cười vang.-Sao lại ầm ĩ lên thế! Đứng nghiêm ở chỗ nào được?
-Các trung đội trưởng đã buông lỏng các hạ sĩ quan, không còn thể thống gì nữa! Rồi tôi sẽ cho anh biết tay, thượng sĩ!-Chuẩn úy gầm lên ở phía ngoài tấm vải bạt và rõ ràng là anh nói điều đó không chỉ với U-kha-nốp mà cả với hai vị trung úy hẳn là ngồi trong hầm cũng nghe thấy.-Rồi các anh sẽ phải phục tùng!… Tôi đã trừng trị những tay cứng đầu cứng cổ hơn thế cơ! Tôi không chấp nhận thói quân hồi vô phèng như vậy trong khẩu đội!…
-Chỉ có điều đừng gào lên như thế, chuẩn úy ạ, chừng nào tôi còn chưa ngẫu nhiên đụng đến anh!-U-kha-nốp vui vẻ khuyên nhủ.-Vì sự quan tâm như của người cha, chuẩn úy ạ… con người vàng ngọc của chúng tôi ạ, anh hãy lo giáo dục các cấp dưỡng của mình. Họ sẽ hiểu ngay. Tôi đã nói hết.
Một phút sau, U-kha-nốp vén tấm vải bạt loạt xoạt bước vào trong hầm, nét mặt hầu như hoàn toàn bình thản. Anh tháo đôi bao tay bám đầy đất, xoa tay trên ngọn đèn, nhìn khắp lượt mọi người bằng cặp mắt táo bợn, dường như lúc nào cũng chống đối. Chiếc răng cửa bịt bạc lóe sáng một cách lạnh lùng khi thượng sĩ nói hoặc mỉm cười làm cho vẻ mặt của anh đặc biệt có vẻ táo tợn.
-Công việc đã xong, trung úy ạ, còn lại hai giờ nữa,-nhân tiện anh báo cáo với Cu-dơ-nét-xốp.-Thế nào, ăn sáng, ăn trưa và ăn tối cùng một lúc à? Hay đấy nhỉ! Nếu các anh tưởng là tôi no thì nhầm to đấy. Cái cặp lồng kếch xù của mình đâu nhỉ, Nết-trai-ép?
Căn hầm đất trở nên chật chội ngay vì vóc người to lớn, lực lưỡng của U-kha-nốp, vì giọng nói oang oang của anh, vì bóng anh choán mất nửa vách hầm, vì mùi sương giá hăng hắc thấm vào từng sợi trên chiếc áo choàng của anh, từ lúc bắt đầu công việc đến giờ anh chưa hề được sưởi ấm.
-Thượng sĩ, cái chính là anh em lạnh cóng cả.-Nết-trai-ép rót rượu Vốt ca từ cặp lồng vào ca một cách hậu hĩ.-Mọi người chờ đợi mãi.
-Tôi đi đây, các bạn nhé,-Dôi-a vừa nói vừa cài khuy móc áo choàng ngắn.
-Dôi-a này…-U-kha-nốp ngồi gần Dôi-a ở chỗ thuận tiện trước những to để trên tấm vải bạt.-Dôi-a hãy bỏ tất cả mọi thứ đi và chuyển sang đây với chúng tôi. Tôi xin hứa sẽ không để ai xúc phạm đến Dôi-a. Anh em ở chỗ tôi dễ chịu lắm. Chúng tôi sẽ đào cho Dôi-a một hầm đất riêng.
-Tôi không phản đối,-Cu-dơ-nét-xốp nói và nhổm ngay dậy. Anh không biết vì sao lại nói như vậy, vì sao câu đó buột ra khỏi miệng anh và để che giấu sự lúng túng trước Dôi-a, anh chỉnh lại bao súng ngắn đeo trên dây lưng và hỏi:-Cô đi tới chỗ tiểu đoàn trưởng đấy à, Dôi-a?
Cô ngạc nhiên nhìn cả hai người.
-Anh muốn bảo vệ tôi chống lại ai? Chống bọn Đức à? Tự tôi có thể làm được. Thậm chí không cần vũ khí. Đây này, móng tay tôi sắc lắm!-Và cô mỉm cười gượng gạo, dùng móng tay gãi tay U-kha-nốp. Anh không rụt tay lại, chỉ thấy cái răng bạc của anh sáng lóe lên. Cô hỏi:-Thế nào, tự vệ tốt chứ?
-Những móng tay tốt đối với người làm nghề trang điểm móng tay,-U-kha-nốp kết luận.-Cô sẽ dùng móng tay đó để làm gì?
-Để rồi xem!
-Chà, Dôi-e-sca, cô rất dũng cảm,-Nết-trai-ép ngọt ngào nói chen vào, dường như từ lúc U-kha-nốp tới anh bị mờ đi rõ rệt.-Móng tay của cô thì ăn thua gì nếu như có kẻ nghĩ tới chuyện ám muội? Cô sẽ cào cấu à? Cắn xé à? Chắc trông sẽ buồn cười lắm!
-Lại sinh chuyện đấy hả?-Đa-vla-chi-an không chịu nổi nữa thét lên.-Anh lại nói chuyện vớ vẩn gì thế! Thật khó nghe! Dôi-a, xin mời…
Anh vén tám vải bạt ở cửa hầm, nhường cho Dôi-a ra trước.






[size=18:92d20cc916]Chương chín [/size]

Họ đi trong bóng đêm tràn đầy tiếng cuốc xẻng lục cục và tiếng đất rơi rào rào. Chiếc xe nhà bếp vẫn còn in bóng đen thẫm trên mặt băng ở bờ sông, nhưng lò lửa của nó đã tắt và chiếc muôi của anh cấp dưỡng không còn khua lên lanh canh nữa, xung quanh bếp chẳng còn ai. Đứng lâu bị cóng, con ngựa duỗi chân, thở phì phì và nhai thức ăn để trong cái rọ đeo ở mõm.
Bầu trời phía trên bờ để rực lên vì những quầng sáng. Ánh hồi quang màu trắng trải dài trên đầu các đụn tuyết. Một lần nữa Cu-dơ-nét-xốp lại cảm thấy khó chịu vì sự yên tĩnh trên thảo nguyên cứ loang sâu mãi trong bóng đêm, vì sự câm lặng bí ẩn ở phía bọn Đức. Anh im lặng. Đa-vla-chi-an và Dôi-a cũng im lặng. Nghe rõ tiếng băng vỡ khẽ lạo xạo dưới đế ủng.
“Thế ra Dôi-a cũng được lệnh tới gặp đại đội trưởng”,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ. Anh biết rõ trách nhiệm cứu thương độc lập của Dôi-a trong đại đội, tình trạng thoải mái của cô khiến cô có thể tới bất cứ trung đội nào và anh cảm thấy buồn bực vì dẫu sao giờ đây, cô vẫn đang ngoan ngoãn đi tới căn hầm đất của Đrô-dơ-đốp-xki, con người hình như có quyền đặc biệt bắt cô phải phục tùng. Thật không thể hiểu được.
-Dôi-a này, chắc lúc ấy cô nói đàu đấy chứ?-Cu-dơ-nét-xốp không chịu được lên tiếng hỏi.-Cô bảo rằng cô đã có chồng.
Họ leo trên mặt bang ở sườn dốc tối thẫm của bờ đê trắng xanh màu tuyết dưới ánh sao, lúc này họ đi gần bên nhau trên con đường mòn do nhiều bước chan binh sĩ tạo thành dọc bờ đê.
-Nghiêm chỉnh đấy chứ!-Giọng cô run lên như thể cô bị vấp chân trên bờ dốc trơn, nhưng cô lập tức giữ thăng bằng:-Tôi không nói đùa đâu…
-Tại sao cô lại lừa dối chúng tôi? Hoàn toàn không phải như thế!-Đa-vla-chi-an tuyên bố và bước chậm ở phía sau Dôi-a, anh kêu lên:-Cu-dơ-nét-xốp này, dòng sông ở đây y như cái rãnh chống tăng ấy. Tuyệt thật! Nếu xe tăng địch xông đến đây chúng nó sẽ bị tắc nghẽn ngay. Chúng có nhiều pháo mà đi trên băng thì không được vì băng sẽ sụt lở! Lúc này Xta-lin-grát ở phía nào nhỉ? Ở phía Bắc?
-Khoảng bốn mươi lăm ki-lô-mét về phía Đông Bắc,-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Nếu như chúng xông đến bờ sông bên kia thì như thế là quá xa… mình không thích như thế.
Dôi-a dừng lại. Chiếc áo choàng ngắn màu trắng của cô, khuôn mặt cô hòa lẫn trong bóng đêm với tuyết màu trắng xanh trên bờ dốc đứng, chỉ có đôi mắt cô hình như quá thẫm màu, dướn lên nhìn dải quầng sáng trên bờ sông.
-Nếu chúng xông được đến đó…-cô nhắc lại và đợi Đa-vla-chi-an tiến lên kịp, cô hỏi một câu chẳng có liên quan gì lứm với câu chuyện đang nói:-Thế còn anh, Đa-vla-chi-an, anh không sợ chết tí nào chứ?
-Tại sao tôi lại sợ chết?
-Anh có vợ chưa cưới. Và chắc anh giống cô vợ chưa cưới của mình. Cô ấy cũng dễ thương như anh chứ? Một con mèo đáng yêu phải không?
-Điều ấy chẳng quan trọng!-Đa-vla-chi-an cau mày đáp.-Hoàn toàn không quan trọng… Tại sao cô lại nói là tôi dễ thương? Tôi chả dễ thương đâu… với lại nói chuyện mèo ở đây để làm gì? Tôi không thích mèo. Nhà tôi không nuôi mèo bao giờ cả.
-Thế anh sống ở đâu, ở Ác-mê-ni à? Anh đi học ở đấy chứ?
-Tôi học ở Xvéc-lốp-xcơ. Bố tôi là người Ác-mê-ni, còn mẹ tôi là người Nga. Rất tiếc là tôi chưa đến Ác-mê-ni lần nào cả. Thậm chí đến tiếng cũng không biết.
-Đa-vla-chi-an này, nếu có thể được, anh hãy nói tên cô vợ chưa cưới của anh xem nào? Chắc là Na-ta-sa hoặc Di-na. Tôi đoán có đúng không?
-Mua-rơ-ca. Con mèo Mua-rơ-ca. Meo-meo-meo… Đấy, tất cả chỉ có thế.
-Sao anh lại cáu, Đa-vla-chi-an? Thật tình tôi không muốn làm anh phiền lòng.-Cô buồn bã mỉm cười.-Chẳng qua là tôi chỉ muốn bắt chuyện với anh. Trông kìa, Cu-dơ-nét-xốp cũnh cứ nhìn tôi lạ lùng thế nào ấy. Tại sao các anh lại nhìn tôi một cách ủ dột như thế? Chả lẽ tôi đáng bị như vậy à?
-Đó là cô tưởng tượng ra đấy thôi, Dôi-a ạ.-Đa-vla-chi-an đấu dịu.-Chúng tôi không nhìn cô một cách ủ dột đâu!
-Hình như bọn mình đến nơi rồi,-Cu-dơ-nét-xốp ngắt câu chuyện.-Các cậu có ngửi thấy mùi khói không? Hình như họ đốt lò sưởi. Họ đào đâu ra lò sưởi nhỉ?
-Ai, đứng lại!-Có tiếng hô uể oải ở phía trước, đằng sau lũy đất và từ trong bóng đêm người lính gác nhô ra cách họ chừng ba bước.-Hình như cô cứu thương phải không?
-Các trung đội trưởng và cô cứu thương,-Cu-dơ-nét-xốp đáp.- Đại đội trưởng có đây không?
-Đồng chí ấy đang chờ. Các đồng chí đi lối này. Cửa ra vào đây.

Căn hầm ngầm đã đào xong hoàn toàn, cuốc xẻng cắm trên bờ đất, choòng nằm vương vãi. Một ống khuỷu của cái lò sưởi bằng sắt tây nhô ra ở bức vách cạnh cửa ra vào bằng gỗ, phả ra một làn khói thơm ngát, ấm cúng. Chắc anh em trinh sát và thông tin đã kiếm được chiếc lò thuận tiện này ở trong làng.
“Chà, lại có cả lò sưởi nữa”,-Cu-dơ-nét-xốp ngạc nhiên nghĩ.
Cánh cửa nhỏ cọt kẹt y như ở làng quê và họ bước vào một căn hầm trú ẩn rất rộng, cao ngang đầu người, đầy mùi ẩm ướt ngột ngạt, mùi sắt cháy khét-chiếc lò sưởi để ở góc bị nung đến đỏ lừ lên-với ngọn đèn dầu to, những bệ nằm phủ vải bạt,-tất cả trông sạch sẽ, dễ chịu, và thuận tiện khác kiểu ngoài mặt trận. Ở góc hầm cạnh lò sưởi, anh chiến sĩ thông tin đang mắc máy trên chiếc hòm đựng đạn, miệng thổi phù phù vào ống nghe.
Trung úy Đrô-dơ-đốp-xki mặc áo choàng phanh cúc đang ngồi xem bản đồ giữa ba chiến sĩ trinh sát ở cạnh bàn. Mái tóc màu rơm sáng của anh đã được chải cẩn thận như sau khi tắm vậy. Ngọn đèn đặt rất gần soi rõ khuôn mặt đẹp, nghiêm khắc của anh, hàng mi rậm và dài như hàng mi phụ nữ tỏa bóng phía dưới đôi mắt đang nhìn bản đồ.
-Trung đội trưởng trung đội một đã tới theo lệnh đồng chí.-Cu-dơ-nét-xốp báo cáo, giữ đúng giọng như điều lệnh, sau cuộc hành quân anh đã quyết định nói chuyện với Đrô-dơ-đốp-xki bằng cái giọng đó: như thế sẽ thuận tiện và dễ chịu hơn đối với cả hai người.
-Trung đội trưởng trung đội hai đã tới theo lệnh đồng chí!-Đa-vla-chi-an sung sướng hét lên và ngạc nhiên vì cách bài trí hào nhoáng của căn hầm, anh cười vang:-Hầm của anh cứ như cung điện ấy, đồng chí trung úy ạ, có thể chứa cả tiểu đoàn đấy!
-Ở đây đã có sẵn một cái hầm, giống như một cái hang… chúng tôi đã mở rộng thêm chút ít,-một chiến sĩ trinh sát giải thích.-Không nên để mất phía Bắc.
Đrô-dơ-đốp-xki ngước đôi mắt sáng xanh trong veo như cục băng khỏi tấm bản đồ. Thậm chí anh cũng không nhìn Dôi-a ngồi gần lò sưởi, tựa hồ như không có mặt cô ở trong căn hầm, anh đưa mắt nhìn Cu-dơ-nét-xốp từ đầu đến chân và nói:
-Nừa giờ trước đây tôi đã đi kiểm tra các hỏa điểm. Đường dây liên lạc giữa các khẩu pháo được trang bị qua quít. Tại sao các anh lại tung tất cả mọi người ra đào hầm trú ẩn? Ngồi trong hầm thì không trông thấy xe tăng được. Có lẽ U-kha-nốp chỉ huy trung đội chứ không phải anh, có đúng thế không?
-Hầm trú ẩn cũng cần thiết,-Cu-dơ-nét-xốp phản đối.-Tiện thể cũng xin nói rằng nhất định là U-kha-nốp cũng có thể chỉ huy được một trung đội không kém gì những người khác. Anh ấy cũng đã tốt nghiệp trường pháo binh như chúng ta. Chỉ có điều là anh ấy không được phong hàm sĩ quan.
-Cũng may mà anh ta không được phong sĩ quan,-Đrô-dơ-đốp-xki nói tiếp.-Tôi biết, Cu-dơ-nét-xốp ạ. Tôi biết quan hệ thân tình của anh với thượng sĩ U-kha-nốp!
-Anh ám chỉ cái gì?
Dôi-a ngồi bên chiếc lò sưởi đang phụt ra những tia hoa cà hoa cải vì bị nung cháy bỏng, cô bỏ mũ lông ra, giũ mái tóc, tóc xõa trên cái cổ trắng của chiếc áo choàng lông ngắn, lặng lẽ mỉm cười với anh chiến sĩ thông tin đang nhìn cô và anh này cũng lập tức mỉm cười với cô. Đrô-dơ-đốp-xki vẫn không thay đổi nét mặt nghiêm khắc, anh chú ý đến Dôi-a trong giây lát rồi nhắc lại:
-Tôi biết hết, trung úy Cu-dơ-nét-xốp ạ.
-Nói đến chuyện thân tình ở đây để làm gì?-Đa-vla-chi-an nhún vai, chiếc mũi nhọn của anh càng nhọn thêm, dường như nó hung hăng chĩa về phía Đrô-dơ-đốp-xki.-Xin đồng chí thứ lỗ cho, Đại đội trưởng ạ, như tôi đây chẳng hạn, chắc tôi sẽ lấy làm vui mừng nếu như trong trung đội của tôi có được một khẩu đội trưởng như thế. Vả chăng tất cả chúng ta đều được đào tạo từ cùng một trường pháo binh cả.
Đrô-dơ-đốp-xki nhăn trán lại tỏ ý không muốn nghe Đa-vla-chi-an nói lúc này và không để cho anh nói hết đã lên tiếng.
-Về U-kha-nốp rồi chúng ta sẽ nói sau. Tôi yêu cầu các đồng chí lại gần bàn và giở bản đồ ra!
“Thế nghĩa là có tin mới đây,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ,-Chắc anh ấy đã được biết tin gì đó”.
Họ bước lại bên bàn, rút bản đồ từ túi dã chiến ra, trải chúng lên mặt bàn dưới ánh sáng ngọn đèn dầu nhấp nháy. Im lặng, Cu-dơ-nét-xốp nhìn lên bản đồ, thái dương anh cảm thấy chiếc thông phong nóng bỏng. Lúc ấy anh nhìn Đrô-dơ-đốp-xki thật gần và thấy rất rõ, tưởng như anh chưa nhìn thấy bao giờ: khóe miệng thẳng, đầy vẻ tự tin, hàng lông tơ thanh xuân mịn màng trên má, đôi tai nhỏ, tròng mắt cứng đơ trong mắt không bao giờ mỉm cười của anh, đôi mắt xanh trong veo như nước hồ khiến người ta không thể không nhìn ngắm.
-Một giờ trước đây sở chỉ huy trung đoàn đã gọi điện cho tôi,-Đrô-dơ-đốp-xki lên tiếng rành rọt.-Như các đồng chí đã biết, tình hình phía trước mặt chúng ta hoàn toàn không ổn định. Theo như tôi hiểu có lẽ bọn Đức đã đột nhập được tới vùng ven đường cái lớn. Ở chỗ này, phía bên phải làng này, con đường dẫn tới Xta-lin-grát.-Anh chỉ lên bản đồ, đôi bàn tay của anh chưa được kỳ cọ sạch sẽ cho lắm, có những vết xước đã mang vẩy ở đầy những móng tay hẹp.-Nhưng cho đến nay chưa có tin tức chính xác. Bốn giờ trước đây sư đoàn bộ binh đã cử một đội trinh sát đi. Rõ chưa.
-Hầu như đã rõ,-Cu-dơ-nét-xốp đáp, không rời mắt khỏi đầu móng tay bị xước măng rô của Đrô-dơ-đốp-xki.
-“Hầu như”-đó là cách nói hào nhoáng trong thơ cả của Chi-út-trép hay Phi-ét (Các nhà thơ trữ tình Nga cuối thế kỷ XIX),-Đrô-dơ-đốp-xki nói.-Các đồng chí hãy nghe tiếp. Nếu mọi việc ổn thỏa thì đến rạng sáng đội trinh sát sẽ quay về. Họ sẽ nhắm chiếc cầu làm chuẩn để rút về. Đây, dọc theo cái khe này, ở về phía Đông làng này. Đó là khu vực của tiểu đoàn ta. Tôi xin báo trước: quan sát nhưng không được nổ súng vào khu vực này ngay cả trong trường hợp bọn Đức bắt đầu bắn. Bây giờ rõ chưa?
-Rõ.-Đa-vla-chi-an thì thào lên tiếng.
-Rõ cả.-Cu-dơ-nét-xốp đáp.-Chỉ xin hỏi một điều: bọn Đức có thể nổ súng bằng cách nào khi mà chúng còn chưa có mặt ở trong làng phía trước?
Đôi mắt xanh lạnh ngắt của Đrô-dơ-đốp-xki chằm chằm nhìn Cu-dơ-nét-xốp.
-Lúc này thì không có chúng, nhưng năm phút sau chúng có thể có mặt,-anh thốt lên với vẻ hoài nghi như thể anh muốn đánh giá xem câu hỏi này của Cu-dơ-nét-xốp là sự chống đối lại mệnh lệnh của anh hay chỉ là một câu hỏi tự nhiên nhằm rõ thêm.-Rõ chưa, Cu-dơ-nét-xốp? Hay còn điều gì chưa rõ nữa nào?
-Bây giờ thì rõ.-Cu-dơ-nét-xốp cuộn bản đồ lại.
-Còn anh thế nào, Đa-vla-chi-an?
-Rất rõ, thưa đồng chí đại đội trưởng.
-Các anh có thể đi-Đrô-dơ-đốp-xki đứng thẳng người lên bên cạnh bàn.-Một giờ sau tôi sẽ tới các khẩu đội kiểm tra tất cả.
Các trung đội trưởng bước ra khỏi hầm. Ba chiến sĩ trinh sát trong trung đội chỉ huy đứng gần bàn đưa mắt nhìn nhau, dường như họ cảm thấy sau lưng mình là Dôi-a và họ hiểu rằng lúc này sự có mặt của họ trong căn hầm là thừa, đã đến lúc nên đi ra đài quan sát. Nhưng trái với lệ thường, Đrô-dơ-đốp-xki không giục giã họ, lặng lẽ nhìn chằm chằm vào một điểm vô hình ở trước mặt.
-Xin phép cho chúng tôi ra đài quan sát, đồng chí trung úy.
-Các anh đi đi. Cả anh nữa.-Anh hất đầu ra hiệu cho chiến sĩ thông tin.-Bảo Gô-lô-va-nốp là phải đào rãnh thật nghiêng. Anh đi đi. Khi tôi có mặt ở đây thì không cần phải trực máy điện thoại. Lúc nào cần tôi sẽ gọi.

Cánh cửa cọt kẹt mở vào bóng đêm, tiếng bước chân của các chiến sĩ trinh sát và thông tin trên đường bờ sông ngày xa dần căn hầm và chìm vào đêm tối hoang vắng, câm lặng.
-Sao im lặng quá!-Dôi-a nói và thở dài.-Anh có nghe tiếng bấc nổ lép bép không?…
Giờ đây chỉ còn lại hai người trong căn hầm lặng lẽ, chìm sâu trong lòng đất, giữa bầu không khí ấm áp được sưởi nóng, với tiếng bấc nổ lép bép của ngọn đèn nóng bỏng. Đrô-dơ-đốp-xki không đáp, anh vẫn nhìn chằm chằm vào một điểm vô hình trước mặt và khuôn mặt tái nhợt của anh trở nên chăm chú và hung hãn. Anh bỗng thốt lên, dằn từng tiếng một cách khó chịu:
-Tôi muốn biết việc này rồi sẽ kết thúc như thế nào đây!
-Anh nói việc gì cơ?-Dôi-a hỏi một cách thận trọng và ngả đầu ra đằng sau.-Lại bắt đầu đấy phải không, Vô-lô-đi-a.
Dôi-a ngồi trên chiếc hòm đạn rỗng quay nghiêng về phía anh, tay hơ trên lò sưởi sắt đỏ rừng rực, áp đôi bàn tay nóng ấm vào má, từ trong bóng tối lờ mờ của căn hầm cô dịu dàng mỉm cười với anh như thể báo cho anh biết trước rằng cô biết anh sắp nói chuyện gì.
-Tôi muốn biết suốt từ bấy đến giờ cô ở đâu?-Đrô-dơ-đốp-xki hỏi bằng giọng ghen tuông và nghiêm khắc của một người có quyền được hỏi cô như thế, còn cô thì không có quyền phản đối. Khi thấy cô hơi nhún vai thay cho câu trả lời, anh nói tiếp:-Đúng, tôi muốn cô đừng đem quan hệ của chúng ta ra khoe với anh em trong đại đội nhưng cô đã làm việc đó một cách quá quắt! Tôi không hề ghen nhưng tôi không thích quan hệ của cô với trung đội của cái tay Cu-dơ-nét-xốp ấy. Vạn bất đắc dĩ, cô có thể chọn Đa-vla-chi-an!
-Vô-lô-đi-a…
-Tôi thử hình dung xem nếu như không phải là tôi mà Cu-dơ-nét-xốp chỉ huy đại đội này thì tình hình sẽ như thế nào? Tôi hình dung rất rõ!…
Anh đứng lên vẻ nhanh nhẹn, linh hoạt, bước lại gần Dôi-a, dáng người thẳng, cân đối như một nhà thể thao, tuy không cao lớn: chiếc áo choàng ôm khít lấy người, mái tóc màu rơm vàng óng chải lật trên vầng trán bóng lồ lộ, được màu tóc làm cho dịu dàng. Hai tay đút túi, anh dò tìm trên khuôn mặt căng thẳng đang ngẩng lên của cô, trong nụ cười như hơi có vẻ nhận lỗi của cô cái điều khiến anh cảnh giác nghi ngờ. Cô hiểu và hất chiếc áo choàng ngắn khoác trên vai ra, cô vươn dậy bước tới bên anh, ôm lấy anh trong tấm áo choàng phanh ra, cọ má vào những chiếc khuy đồng lành lạnh trên ngực anh. Anh đứng đó, không rút tay ra khỏi túi áo và cô áp má vào ngực anh, nghe rõ tim anh đập thình thịch, ngửi thấy mùi mồ hôi từ chiếc áo khoác của anh. Sợ rằng tóc anh có mùi khói, cô khẽ ngửa đầu ra đằng sau.
-Em với anh giống nhau.-Dôi-a nói.-Anh không thấy em trong ba giờ qua chứ gì? Và em cũng không thấy anh… Nhưng chúng ta không giống nhau ở một phương diện khác, Vô-lô-đi-a ạ. Và anh biết rõ điều ấy.
Cô nói không có ý định chống đối, phê phán, đôi mắt dịu hiền, như vâng theo ý chí của anh, nhìn vào vầng trán trong trắng, không một nếp nhăn, lấp lóa dưới mái tóc vàng của anh. Cô tưởng như vầng tráng thanh xuân trong trắng đó có cái gì yếu đuối như trẻ thơ.
-Về phương diện nào nhỉ? À, tôi hiểu rồi!… Tôi có gây ra chiến tranh đâu. Và tôi cũng chả biết làm thế nào trước tình hình này. Tôi không thể ôm hôn co trước mặt anh em trong toàn đại đội! Cô muốn để tất cả mọi người biết mối quan hệ của chúng ta à?
Đrô-dơ-đốp-xki gỡ tay cô ra, dùng sức hơi quá để đẩy cô rồi vừa cài qua loa khuy áo choàng anh vừa bước lùi lại một bước, môi dẩu lên. Cô ngạc nhiên nói:
-Mặt anh nhắn nhó khiếp chưa kìa! Anh làm sao, cảm thấy khó chịu hả? Tại sao anh nắm tay em đau thế?
-Thôi đi: Cô biết quá rõ tất cả những chuyện đó,-Đrô-dơ-đốp-xki nói và bực bội đi đi lại lại trong hầm đất, bóng anh trượt dài và xuệch xoạc trên vách hầm.-Không một ai trong đại đội nên biết tới quan hệ của tôi với cô. Có lẽ cô lấy thế làm khó chịu, nhưng tôi thì không muốn để người ta đồn đại về tôi! Một vài tay sẽ tỏ ra hí hửng, chúng chỉ chờ đợi tôi bước hụt! Tại sao những thằng thò lò mũi ấy cứ quấn quít xung quanh cô?
-Anh sợ à?-Dôi-a hỏi.-Tại sao anh lại sợ người ta nghĩ về anh thế này thế nọ! Thế tại sao em không sợ!
-Thôi đi! Tôi chả sợ gì cả! Nhưng cô phải biết mọi chuyện đó ở đây sẽ hóa ra như thế nào chứ! Cô tưởng ở đại đội này ít bọn ngồi lê mách lẻo, những kẻ sẽ hể hả thóc mách về tôi với trung đoàn hoặc sư đoàn ư?… Thật là tuyệt!-Anh cười một cách khó chịu.-Chiến tranh-còn chúng nó thì nằm lăn lóc rên những tấm sạp! Đám chim câu yêu quý! Những anh chàng nhân tình ngoài hỏa tuyến!…
-Em không muốn lăn lóc cùng với anh trên tấm sạp như anh nói.-Dôi-a đấu dịu và hất chiếc áo choàng lông ngắn lên vai dường như cô cảm thấy cô cảm thấy lạnh.-Nhưng em không xấu hổ và em cũng chả sợ nếu như có người thích tọc mạch chuyện này và đem nói chuyện của chúng mình với trung đoàn trưởng và sư đoàn trưởng…-Cô nhắc lại lời anh, không có ý định chọc tức anh.-Đó không phải là điều chủ yếu, Vô-lô-đi-a ạ. Chẳng qua là anh ít yêu em và cung cách của anh kỳ quặc thế nào ấy. Em không hiểu vì sao anh cứ thích đem mối nghi hoặc nào đấy ra giày vò em. Anh không để ý chứ ngay cả khi hôn em anh cũng có vẻ đau lòng thế nào ấy. Vì sao anh trả thù em như thế?
Đrô-dơ-đốp-xki thôi không đi bách bộ nữa, dừng lại trước mặt cô, chiếc áo choàng của anh toát ra mùi ẩm ướt lạnh lẽo, môi anh nhăn nhúm lại.
-Tôi giày vò cô ư?-Đrô-dơ-đốp-xki thốt lên, giọng gây sự.-Cô coi thế nào là giày vò? Chớ có chế nhạo tôi! Sao tôi lại có thể báo thù cô nhỉ? Tôi hôn cô không đúng cách à? Thế nghĩa là tôi chưa học được cách hôn, người ta chưa dạy cho tôi làm cách khác!
-Có thật là em cũng không thể dạy được cho anh không?-Dôi-a lại nói đấu dịu và mỉm cười với anh.-Bản thân em cũng không biết cách. Nhưng phải chăng đó là điều chủ yếu? Anh hãy tha thứ cho em, Vô-lô-đi-a.
-Chuyện vớ vẩn!-Anh đi lại phía bàn và đứng ở đó nói lên bằng giọng chế giễu hằn học.-Nếu cô muốn thì đây: một mụ già ngu ngốc và điên rồ đã dạy cho tôi biết những chiếc hôn đầu tiên năm tôi mười ba tuổi? Cho đến bây giờ khi nhớ tới cái thần xác núc ních của mụ ta, tôi vẫn còn thấy lợm giọng!
-Mụ đàn bà nào?-Dôi-a hỏi bằng giọng thì thào lịm đi và cô cúi đầu xuống để anh không trông rõ mặt cô.-Anh nói chuyện đó để làm gì? Mụ ta là ai?
-Điều đó không quan trọng! Một người bà con xa, tôi đã trọ học ở nhà mụ ta hai năm tại Ta-sken, khi bố tôi hy sinh ở Tây Ban Nha… Tôi không vào nhà nuôi trẻ mồ côi và đã sống năm năm ở nhà những người quen, nằm ngủ trên những rương hòm như một con chó cún. Cứ thế cho đến khi học xong trung học! Tôi sẽ không bao giờ quên chuyện đó.
-Bố hy sinh ở Tây Ban Nha, còn mẹ lúc ấy cũng đã mất rồi hở anh Vô-lô-đi-a?
Cô lịm người đi, cặp mắt chan chứa yêu thương và xót xa nhìn vầng trán trắng hiền dịu của anh, mái tóc của anh không dám nhìn vào đôi mắt xanh thăm thẳm của anh.
-Ừ.-Anh đưa mắt liếc nhìn Dôi-a.-Phải rồi, cả hai người đều đã mất! Tôi yêu bố mẹ tôi lắm… Và các cụ đã để cho tôi bơ vơ… Cô có hiểu không? Bỗng nhiên còn lại một mình trong căn nhà trống trải ở Mát-xcơ-va cho đến lúc người từ Ta-sken tới tìm tôi. Tôi sợ rằng một ngày nào đó rồi cô sẽ phản bội tôi!… Để đi với một thằng cha thò lò mũi nào đó!…
-Anh thật ngốc nghếch, Vô-lô-đi-a ạ. Em yêu anh. Và sẽ không bao giờ phản bội anh. Anh đã biết em từ hơn một tháng nay. Đúng thế không?
Dôi-a không hiểu anh lắm vào những giây phút anh nghi ngờ vô cớ hoặc nổi cơn ghen kinh khủng lúc họ ngồi bên nhau, tuy chẳng có lý do gì mà nói tới chuyện ghen tuông, mặc dầu rằng từng giây, từng phút lúc nào cô cũng cảm thấy, nhìn thấy sự chú ý của cả tiểu đoàn đối với mình và để đáp lại họ cô đã chọn một biện pháp dùng trong mọi trò chơi mà cô xem là một hình thức tự vệ. Cũng có thể là anh biết rõ như thế nhưng trong những cơn ngờ vực của anh có cái gì đó do bất lực, do thường xuyên không tin vào cô, cứ như thể cô sẵn sàng phản bội anh để đi với bất kỳ ai trong đơn vị.
-Không! Không đúng như thế!-Đrô-dơ-đốp-xki không đồng ý.-Tôi không tin cô!…
Và Dôi-a bỗng sợ hãi nghĩ rằng lúc này cô không thể chứng minh gì được, không thể bào chữa được. Cô không đủ sức, cô không muốn bào chữa và để ngăn ngừa những lời phản bác bướng bỉnh của anh, cô đứng ngay trước mặt anh, nhìn vào vầng trán lồ lộ, phẳng lì, yếu đuối của anh mà cô muốn vuốt ve.
-Không, em yêu anh,-cô nói.-Anh không tưởng tượng nổi em yêu anh như thế nào đâu. Tại sao anh không tin em?
Anh bước về phía cô, rút tay ra khỏi túi áo.
-Cô hãy chứng tỏ, hãy chứng tỏ đi là cô yêu tôi! Cô không muốn chứng tỏ như thế!-Anh nói và với vẻ kích động, trìu mến, anh hùng hổ kéo vai Dôi-a lại phía mình.-Cần phải như vậy! Một tháng rưỡi rồi còn gì!… Cô hãy chứng tỏ rằng cô yêu tôi!
Đrô-dơ-đốp-xki ôm choàng lấy tấm lưng tròn lẳn, mềm mại của Dôi-a siết chặt cứng, hôn tới tấp lên miệng cô đến ngạt thở. Cô rên lên, nheo mắt lại như bị đau, ngoan ngoãn ôm lấy anh trong tám áo choàng không cài cúc, áp đầu gối vào anh, đồng thời cố dứt môi ra khỏi miệng anh đang làm cô ngạt thở.
Anh gạt đầu cô ra, tách mình khỏi cô.
-Anh sẽ tắt đèn ngay,-anh nói giọng khàn khàn.-Sẽ không có ai vào đây. Em đừng sợ. Sẽ chỉ có hai chúng mình thôi…
-Không, không, em không muốn… Hãy tha lỗi cho em, Vô-lô-đi-a.-Cô thốt lên, mắt nhằm nghiền và ngạt thở.-Chúng mình không nên làm như thế. Lúc này chúng mình không nên làm như thế…
-Anh không thể chịu nổi!… Em hiểu không, anh không chịu nổi!
-Nhưng mà em yêu anh, em yêu anh lắm,-cô cưỡng lại, hàm răng lập cập, thì thào vào ngực anh.-Chỉ có điều là không nên… Nếu không rồi chúng mình sẽ khinh ghét nhau. Em yêu anh mà!… Em không muốn chúng mình khinh ghét nhau…
Anh lại đột ngột kéo vai cô về phía mình.
-Tại sao? Tại sao?
-Em đã nói với anh rồi. Chúng mình đã thế một lần… Sau đó chúng mình không thể nhìn vào mắt nhau, Vô-lô-đi-a ạ. Em còn nhớ lúc đó anh cau có và hút thuốc liên miên… Anh hiểu cho em, Vô-lô-đi-a, lúc này không nên thế. Em xin anh. Giờ đây không thể, anh hiểu không? Thôi, hãy tha thứ cho em…
-Và vừa khẩn cầu bằng giọng nói, bằng mắt, cô vừa òa khóc, chả hiể vì sao mình khóc và như để xin anh tha thứ, như người có lỗi, cô vội vã run run hôn lên cằm anh, cổ anh.
-Ngớ ngẩn!… Tôi căm ghét cô! Cô nói láo chứ gì?… Tôi chán ngấy cô! Chán ngấy!
Vẻ mặt hằn học, Đrô-dơ-đốp-xki gạt cô ra và đội mũ lông vào, bước ra khỏi hầm, sập cánh cửa mạnh đến nỗi ngọn đèn dầu rung lên dưới chiếc thông phong ám khói.




Chương mười



Đrô-dơ-đốp-xki trèo lên các bậc ở sườn dốc leo lên mặt đường, cảm thấy có phần dịu đi do cơn gió lạnh buốt quất vào mặt, anh lẩm bẩm nhắc lại qua kẽ răng:
-Con ngốc, con ngốc! Ngớ ngẩn!
Anh vừa cảm thấy kinh tởm và căm ghét sự bất lực của mình, sự sợt sệt ngu ngốc của cô, việc cô phản đối không gần gũi anh như trong những ngày thành lập tập đoàn quân lúc cô trực một mình ở trạm cứu thương, anh vừa cảm thấy tức giận, hầu như muốn lăng nhục cô, muốn quay trở lại đánh cô để trả thù. Vừa khinh bỉ mình đồng thời anh vừa cảm thấy bị giày vò vì không đủ sức xóa bỏ tất cả trong tâm hồn mình: đôi cánh tay anh, thể xác anh có trí nhớ riêng của chúng-sau những cái vuốt ve của cô ở trạm cứu thương, đôi mắt nhắm nghiền, đầu gối run rẩy, những cử động của tấm thân mềm mại của cô, chẳng hiểu sao ký ức đó lúc này sẵn sàng đón nhận bất kỳ sự âu yếm nào có thể hạ thấp anh, miễn là có cô ở đây…
“Không, thế là hết, hết cả rồi!-Đrô-dơ-đốp-xki thuyết phục mình bằng cách nhớ lại tất cả những gì có thể làm tăng thêm ghê tởm, kích động lòng ghê tởm của anh đối với cô-miệng cô ta rộng, vẻ mặt sợ sệt, ngực bé quá và bắp chân quá to, cứ như thế nó bị nong chặt vào thân ủng hẹp; anh muốn tìm ở cô những gì khiến cho hai người tưởng như không thể hòa giải được.-Ừ, mình đã tìm thấy ở cô ta cái gì? Nào cô ta có đẹp đẽ gì cho cam… Chả có cái gì hết? Quan hệ ngu ngốc của mình với cô ta là cái gì? Phải chấm dứt, tất cả một lần cho xong. Chấm dứt luôn!”. Và anh nổi cáu lên, thở phì phò; giá lạnh thiêu đốt lồng ngực anh, hơi thở đọng lại như sương giá trên cổ lông chiếc áo choàng của anh.
Một lát sau Đrô-dơ-đốp-xki nhận ra rằng không khí và tuyết đã sáng lên, có cái vẻ khô khan lạnh lẽo, những chòm sao tháng Chạp đã hơi đổi chỗ trong hành trình vĩnh viễn của mình, rực sáng uy nghi, di chuyển trên trời cao lạnh giá như ánh sáng cuối cùng trước lúc rạng đông. Còn trên mặt đất, các mái nhà trong làng nhích sát lại nhau, nổi bật như những khối đen trên tuyết; hai quầng sáng ở phía trên làng mờ nhạt đi, chụm lại thành hình vòng cung, trùm lên khoảng trời phía Nam ở sau làng.
Tưởng chừng như ở hai đầu của vòng cung đó, ở đằng sau khe, đằng sau những điểm cao, có những tia sáng nào đó, có những dải sáng mờ mờ nào đó giống như hồi quang của những đèn pha ở xa đang di động ở chân trời. Tiếp đó anh tưởng như gió cuốn âm thanh hỗn hợp của các động cơ ô tô, xe tăng, xe kéo từ đó lại đây,-chả lẽ tập đoàn quân Đức đang di chuyển, đột kích vào đấy, vào làng này, vào tiểu đoàn của anh?…
Đrô-dơ-đốp-xki say sưa hút thuốc, rít liền vài hơi, giỏng tai nghe. Gió lùa và xua bụi tuyết bay mù mịt trên đường bờ sông vào các vị trí của tiểu đoàn; ở trên cao, những cành liễu trần trụi quấn quít lấy nhau như dây thép gai, ngả bóng trên mép bờ sông dựng đứng. Tiếng động cơ, tiếng rậm rịch của cuộc chuyển quân vô hình này đột nhiên ắng đi, biến mất.
“Ảo giác thôi!”,-anh nghĩ và đi về phía đài quan sát lúc này đã hiện rõ ở phía tay phải, trên khoảng đất nhô cao trong bầu không khí loãng dần.
Anh lần theo hào giao thông sâu đến đầu gối để đi tới điểm cao đó, nơi tiếng cuốc xẻng và choòng vẫn thình thịch, lục cục, nghe như tiếng chim gõ kiến, vẻ mặt anh lại kiên quyết đến lạnh lùng. Chuẩn úy Gô-lô-va-nốp, trung đội trưởng trung đội chỉ huy, con người to lớn, bộ ngực nở nang đang đặt ống nhòm lập thể trên thành công sự. Là người đầu tiên nhận ra Đrô-dơ-đốp-xki trong hào giao thông, chuẩn úy chạy hết sức nhẹ nhàng tới gần anh và báo cáo:
-Đồng chí trung úy, tôi vừa gọi điện cho đồng chí. Cô cứu thương nói: đồng chí đã ra khỏi hầm! Năm phút trước đây xe của sư đoàn trưởng đã đến khu vực quanh cầu. Có chuyện không ổn… Đội trinh sát của sư đoàn chưa thấy trở về…
-Tại sao anh báo cáo chậm thế?-Đrô-dơ-đốp-xki tức giận lên tiếng.-Tại sao anh không gọi điện từ năm phút trước đây?
-Tôi đã gọi điện rồi,-Gô-lô-va-nốp nói như lệnh vỡ.-Đúng là tôi đã gọi rồi. Đồng chí trung úy, vợ đồng chí… nghĩa là cô cứu thương đã trả lời rằng…
-Im ngay, Gô-lô-va-nốp! Anh không điên đấy chứ? Vợ nào?…-Đrô-dơ-đốp-xki nổi xung, anh hiểu rất rõ tính bộc trực của Gô-lô-va-nốp, hiểu rõ vì sao lúc này ba chiến sĩ trinh sát vẫn đào đất ở hào giao thông bên cạnh, giả đò như không nghe thấy gì.-Kẻ nào phao lên những lời đồn đại về tôi?-Đrô-dơ-đốp-xki hạ giọng nói.-Anh hả, Gô-lô-va-nốp? Hay là ai? Được rồi, đằng nào rồi tôi cũng sẽ biết, chuẩn úy ạ!-Ai ở sư đoàn tới thế?
-Ba chiếc xe con, đồng chí trung úy. Tôi nhận ra một chiếc của đại tá Đê-ép.
-Phải biết hết cả chứ, thế mà cũng đòi là trinh sát!
Đrô-dơ-đốp-xki sải bước đi về phía các khẩu pháo, ngang qua chỗ các chiến sĩ trinh sát cầm xẻng nép mình vào vách hào giao thông, đầu anh vẫn cứ ong ong lên mấy tiếng: “Vợ đồng chí… vợ đồng chí”,-và bỗng nhiên anh nhăn mặt khi nghĩ rằng có lẽ giờ đây cả đại đội đã biết rõ hết chuyện này.
Sau khi đã đi từ trên điểm cao xuống và chạy đến chỗ các khẩu pháo được bố trí ở bên trái sở chỉ huy, ngay trên mặt đường bờ sông, Đrô-dơ-đốp-xki vẫn còn trông thấy qua bầu không khí ban mai trong suốt ba chiếc con đậu cách chỗ họ khoảng ba trăm mét, và một đám người tụ tập xung quanh hỏa điểm của khẩu pháo thứ nhất. Anh em chiến sĩ đang dùng choòng đào hào giao thông nối giữa các hỏa điểm cùng nhìn về phía đó và một người trong bọn họ, bác Tri-bi-xốp nhỏ nhắn, mặc chiếc áo choàng cũn cỡn, cái mũ lót ướt đẫm mồ hôi trễ xuống tận mũi, ngoảnh khuôn mặt lưỡi cày râu ria tua tủa, giống như mặt con thú con bị săn bắt, về phía Đrô-dơ-đốp-xki đang chạy, bác báo tin:
-Đồng chí trung úy, đại tá và một vị tướng chống gậy… Họ đang đợi gì đấy. Hình như trận đánh bắt đầu rồi!
-Mũ lót của anh ướt đẫm cả rồi! Hãy chỉnh đốn lại đi.. Trông mà xấu hổ. Cứ như con gà bị nước mưa ấy!-Đrô-dơ-đốp-xki thốt lên.-Cu-dơ-nét-xốp đâu? Đa-vla-chi-an đâu?
-Ở đằng ấy cả,-Tri-bi-xốp làu bàu, khụt khịt mũi.
 
Theo thói quen, Đrô-dơ-đốp-xki lướt các ngón tay kiểm tra khuy áo choàng, chạy về phía khẩu pháo thứ nhất và đưa mắt tìm các vị chỉ huy cao cấp trong nhóm người đứng đó, nhận ra trong đó những người quen đại tá Đê-ép và Bét-xô-nốp, anh đưa tay lên thái dương, chào. Cố nén cơn thở hổn hển, anh nói:
-Báo cáo trung tướng, đại đội trưởng đại đội một, trung úy Đrô-dơ-đốp-xki có mặt!…
Bét-xô-nốp mặc áo choàng ngắn, không đeo quân hàm, quay người lại. Vóc người tầm thước, gầy gò, trông ông chẳng có vẻ gì là tướng cả. Đôi mắt sắc sảo, cứng đờ với mi mắt hơi mọng lên của ông nhìn xoáy vào khuôn mặt nhợt nhạt sững sờ của Đrô-dơ-đốp-xki có ý dò hỏi. Đại tá Đê-ép đội cái mũ choàng lông của lính, thắt dây lưng, đầy sức vóc trẻ trung, mặt đỏ au, hơi dướn cặp lông mày hung hăng một cách bực bội, thốt lên bằng giọng nam trầm:
-Đồng chí mất hút ở đâu thế, đại đội trưởng?
-Thưa đại tá, tôi ở đài quan sát.-Đrô-dơ-đốp-xki đáp rành rọt từng tiếng.-Chúng tôi đang cố đào cho xong các hào giao thông.
“Họ đến đây vì lý do gì nhỉ?-anh lo lắng nghĩ.-Họ đang chờ đội trinh sát à? Hay là tới kiểm tra đại đội! Nhưng đích thân tư lệnh tập đoàn quân tới kia mà!”.
-Đrô-dơ-đốp-xki à?-Bét-xô-nốp nhắc lại bằng giọng rin rít.-Một cái họ quen thuộc tựa hồ như tôi đã nghe nói đến rồi.
Vẻ mặt lơ đãng, ông nhìn Đrô-dơ-đốp-xki chằm chằm, cố nắm bắt một hồi ức nào đó đã lướt qua đi nhưng hình như ông sực nhớ lại điều mà ông không muốn nhớ, ông chau mày, không nhìn Đrô-dơ-đốp-xki nữa, quay sang nói với Đê-ép:
-Vậy thì rốt cuộc đội trinh sát của đồng chí đang ở đâu, đại tá?
Tất cả mọi người đứng ở đây cùng với Bét-xô-nốp,-vị đại tá mệt mỏi, chủ nhiệm trinh sát của sư đoàn với tấm bản đồ gập lại để trong cặp và ủy viên Hội đồng quân sự Ve-xnin cao lớn, chân dài, đeo kính và thiếu tá Trê-rê-pa-nốp, một người còn rất trẻ, mũi hếch, mặt đầy tàn nhang trông buồn cuời, trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh đang phòng ngự ở quãng bờ sông này,-tất cả đều nhìn Đrô-dơ-đốp-xki khi Bét-xô-nốp nói với anh và đều rời ngay mắt khỏi anh khi tư lệnh hỏi về đội trinh sát. Mọi người đều nhìn về phía chân trời rực cháy nơi gió cuốn những tiếng ầm ì mơ hồ tới như những làn sóng, khi thì lộ rộ lên, có lúc lại lắng dịu.
-Ngay như không có tin tức của đội trinh sát ta cũng có thể thấy rõ đôi điều rồi đấy,-Bét-xô-nốp nói.-Anh nghĩ thế nào, Vi-ta-li I-xa-ê-vich?
-Tôi cũng nghĩ như vậy,-Ve-xnin đáp.-Ít nhiều đã rõ.
-Thật khó tin là họ thất bại, thưa đồng chí tư lệnh-đại tá Đê-ép nói nhỏ.-Đội trinh sát gồm toàn những chiến sĩ rất từng trải.
Đrô-dơ-đốp-xki đứng thẳng chờ đợi, răng nghiến chặt đến ê ẩm cả quai hàm. Anh hầu như tin chắc rằng trung tướng đã phục vụ trong quân đội từ trước chiến tranh không thể không biết tới họ của anh, nhưng hình như ông thấy đây không phải là lúc để hỏi xem Đrô-dơ-đốp-xki có quan hệ gì với một vị chỉ huy quân sự mà ông quen biết trước đây, cũng mang họ Đrô-dơ-đốp-xki. Ông đang mải bận tâm đến chuyện khác. Còn các trung úy Cu-dơ-nét-xốp và Đa-vla-chi-an đều đứng thẳng người, giờ đây họ gắn bó với nhau do trách nhiệm chung của những người chỉ huy trong cùng một đại đội, họ đưa mắt nhìn do một cách gắn bó, thông cảm. Lúc này linh cảm về trận đánh đang tới gần đã làm cho họ bình đẳng, gần gũi nhau. Trong những giây phút đó, Đrô-dơ-đốp-xki suy nghĩ, cân nhắc mọi lý do khiến tư lệnh tập đoàn quân và sư đoàn trưởng đến đại đội của anh, anh không để ý tới Cu-dơ-nét-xốp cũng như Đa-vla-chi-an, đồng thời anh cũng tự nhủ giống như họ: “Đúng rồi, chắc là sắp bắt đầu, có lẽ ngay lúc này đây… chỉ cốt sao chong chóng lên!”…
-Thưa trung tướng!-Đrô-dơ-đốp-xki bất chợt thốt lên bằng cái giọng quân nhân đặc biệt rành rọt trong đó thể hiện tinh thần sẵn sàng kiên quyết hoàn thành bất cứ mệnh lệnh nào.-Đồng chí cho phép báo cáo?
Vẫn với vẻ mặt đang cố nhớ lại điều gì như lúc này, Bét-xô-nốp đưa mắt nhìn vóc dáng cân đối, đứng thẳng theo điều lệnh, sẵn sàng hành động của người trung úy trẻ trung rồi quyết định một cách thờ ơ:
-Tôi nghe đây.
-Thưa trung tướng, đại đội sẵn sàng chiến đấu!
-Sẵn sàng chiến đấu?-Bét-xô-nốp hỏi lại, không rời đôi mắt chăm chú khỏi Đrô-dơ-đốp-xki.-Trung úy tin vào vận may à?
-Tôi không tin vào số phận, thưa trung tướng.
-Có thật thể không?-Bét-xô-nốp nói, lời nói cả ông chứa đựng cái ý nghĩa khó hiểu khiến Đrô-dơ-đốp-xki bối rối.-Vào tuổi anh tôi còn tin cả vào sự bất tử cơ… Trung úy ạ, anh có biết rằng đại đội của anh nằm trên hướng tiến công của xe tăng địch và sau lưng các anh là Xta-lin-grát không?
-Chúng tôi sẽ trụ ở đây cho tới người cuối cùng, thưa trung tướng!-Đrô-dơ-đốp-xki tin tưởng thốt lên.-Tôi biết đây là hướng tiến công nguy hiểm của xe tăng địch. Tôi muốn đoan chắc với đồng chí rằng, các chiến sĩ pháo binh của đại đội một sẽ không tiếc tính mạng mình và sẽ xứng đáng với lòng tin cậy của các đồng chí! Chúng tôi sẵn sàng chết, thưa trung tướng, ngay trên bờ sông này!…
-Tại sao lại chết?-Bét-xô-nốp cau mày.-Tôi muốn đáng lẽ dùng chữ “chết” anh nên dùng chữ “đứng vững” hay hơn. Không nên một mực kiên quyết chuẩn bị hy sinh như vậy, trung úy ạ. Đồng chí nghỉ.
Đrô-dơ-đốp-xki đã trả lời Bét-xô-nốp bằng một giọng quá ư kiên quyết, nhìn thẳng vào mắt ông một cách trung thành như các học viên sĩ quan ở nhà trường thường nhìn vào mắt vị chỉ huy yêu quý của mình khi báo cáo. Nhưng khi quay người lại để dịch ra xa, anh chợt cảm thấy sự trống trải lặng lẽ ở quanh mình và anh hiểu rằng hình như trung tướng có điều gì không vừa lòng khi nghe anh tuyên bố sẵn sàng kiên quyết chiến đấu, tựa như lời tuyên bố đó là khiên cưỡng, không hoàn toàn tự nhiên. Tuy nhiên đại tá Đê-ép dẫu sao cũng nháy mắt với anh tỏ vẻ hể hả, khuyến khích, khiến đôi hàng lông mày hung hung của ông nhích lại sát nhau, ủy viên Hội đồng quân sự Ve-xnin nhìn Đrô-dơ-đốp-xki qua mắt kính lấp lóa với vẻ quan tâm.
-Vì sao các đồng chí định chết, trung úy?-Ve-xnin hỏi, ông chưa đoán được đúng lắm nguyên nhân khiến người chỉ huy đại đội có tác phong như một học viên sĩ quan này tỏ ra kiên quyết một cách hào hứng như thế. Đời người chỉ sống có một lần, chẳng ai sống đến lần thứ hai. Đúng không nào? Vậy thì tốt hơn hết là dẫu sao ta cũng chỉ nên tính toán sắp xếp cho một cuộc sống thôi. Theo tôi, đồng chí trung úy ạ, ý nghĩa của mỗi một cuộc chiến đấu không phải là ở chỗ đem thân mình ra làm mồi cho giun dế ở dưới mồ vì muốn thế thì chả cần chiến đấu cũng có thể đạt được. Nói nghe có vẻ ngược đời đấy nhưng chiến đấu là để chống lại cái chết. Đó chẳng phải là chân lý hay sao?
Nhưng trung úy Đrô-dơ-đốp-xki không dối trá và không giả vờ. Từ lâu anh đã đinh ninh rằng, trận đánh đầu tiên mà anh chờ đợi sẽ có ý nghĩa đối với số phận anh hoặc là trận đánh đó đối với anh cũng là trận cuối cùng. Anh không tin là mình có thể chết cũng như không có ai tìn vào điều đó cả khi còn chưa nằm ở giới hạn tận cùng của cuộc sống, chưa ý thức được cái chết của một người nào đó như cái chết của chính bản thân mình phản ánh trong một người khác. Và Đrô-dơ-đốp-xki đáp:
-Thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự, tôi sẽ chết không đắn đo gì cả…
-Anh là đoàn viên thanh niên cộng sản?-Ve-xnin hỏi.-Chắc tôi không lầm?
-Không phải chỉ có mình tôi, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự. Tất cả các trung đội trưởng và quá nửa anh em trong đại đội là đoàn viên. Bí thư liên chi đoàn của đại đội là trung úy Đa-vla-chi-an…
-Thế thì càng tốt,-Ve-xnin, mỉm cười gật đầu với trung úy Đa-vla-chi-an như nói với một người quen biết, anh cũng mỉm một nụ cười rạng rỡ như trẻ thơ để đáp lại ông.-Toàn bộ cuộc đời của các anh ở phía trước. Chỉ có thể ghen tị với các anh thôi. Chiến tranh không kéo dài vĩnh viễn.-Rồi ông đi tới bờ công sự nơi chủ nhiệm trinh sát và sư đoàn trưởng đang đứng lặng lẽ
 
Lúc này không ai chú ý tới Đrô-dơ-đốp-xki nữa. Đại tá Đê-ép như thể không kiễn nhân được nữa, ngọ nguậy đôi vai chắc nịch, xem đồng hồ đeo tay rồi nhìn về phía nam ngôi làng, đưa đôi mắt cảnh giác nhìn về phía Bét-xô-nốp.

Bét-xô-nốp ngồi trên các hòm đạn, tay vịn trên gậy, mắt mệt mỏi lim dim dường như ông đang chăm chú lắng nghe tiếng ì ầm không đều, khi xa khi gần do cơn giớ ban mai cuốn theo trên thảo nguyên đã bừng sáng đó và trên trán ông hằn sâu hai nếp nhăn khiến Đê-ép sợ hãi coi đó là biểu hiện của sự không hài lòng.

-Vậy thì đội trinh sát của đồng chí ở đâu, đại tá?-Bét-xô-nốp hỏi.

-Tôi nghĩ rằng cần phải trở về đài quan sát,-Đê-ép đáp, cố hạ thấp giọng nam trung du dương của mình.-Rõ ràng là đội trinh sát đã gặp chuyện gì không ổn rồi, thưa đồng chí tư lệnh. Tôi thật khó giải thích…

-Đồng chí bảo sao?

Qua giọng nói của tư lệnh có thể biết chắc rằng câu hỏi của ông không hứa hẹn điều gì tốt đẹp cả, nhưng Đê-ép vẫn nói tiếp:

-Thưa đồng chí tư lệnh, chờ đợi đội trinh sát ở đây thật vô nghĩa.

-Thì tôi có chờ đợi nó đâu,-Bét-xô-nốp nói một cách bực dọc.-Rồi người ta sẽ chịu trách nhiệm về đội trinh sát đó, đại tá ạ, và rồi đồng chí sẽ biết rõ tin tức về nó!
-Sáng rồi,-Ve-xnin nói.

Nhấc cái ống nhòm của chủ nhiệm trinh sát sư đoàn đã đứng tuổi, trung tá Cu-ru-sép, ông tò mò giơ lên nhìn về phía những đám cháy ở chân trời và ngôi làng phía trước mặt lúc này đã trông thấy rất rõ. Nhưng dù không có ống nhòm thì tất cả mọi vật cũng đều đã có hình khối đen sẫm. Ở phía đại đội pháo, xa cũng như gần, nhô lên nào là những khuôn mặt dẹt, xam xám vì mất ngủ, trông như những cái mặt nạ, nào là những khẩu pháo, nào là những mô đất trên bờ công sự, nào là những bụi cây trên tuyết, cành khô trần trụi bị gió bẻ gẫy răng rắc. Rạng đông mong manh của tháng Chạp đã chuyển dần sang buổi ban mai và ở phương Đông, trời đã ửng hồng.

Và bỗng nhiên tất cả rung lên rõ rệt, tiếng ì ầm rung chuyển ngày càng tăng thêm ở khắp phía chân trời, tựa hồ như một quả cầu bằng gang khổng lồ đang lăn đi trên thảo nguyên. Ngay lúc đó từ giữa những quầng sáng vọt lên phía trên làng hàng loạt những trái hỏa tiễn hai màu, quả nọ bay tiếp quả kia thành hình vòng cung trông như một dòng thác ánh sáng xanh đỏ.

“Đó là điều chúng ta chờ đợi!… Đrô-dơ-đốp-xki kích động nghĩ.-Đó là pháo hiệu của bọn Đức… Chả lẽ chúng đến gần thế rồi ư? Tại sao chúng lại đến gần như thế? Và đây là tiếng ì ầm gì vậy?…”.

Tiếng ì ầm mới mẻ đó cứ loang dần, tràn ngập cả khoảng không gian giữa trời và đất. Tiếng ì ầm lúc này không còn giống tiếng quả gang lăn đi nữa mà khi thì giống như tiếng sấm nổ liền sát nhau từ xa, khi thì lịm tắt đi như những hồi âm mãnh liệt trên dòng sông sâu thẳm ở sau lưng, từ đâu đó tiếng ì ầm ấy vẫn cứ nhích dần lên phía trước một cách đáng sợ, không cưỡng lại được.

Tưởng chừng mặt đất rung lên như một cơ thể sống và những loạt hỏa tiễn xanh đỏ vẫn vun vút lao đi thành hình vòng cung phía trên ngôi làng như thể để làm hiệu cho tiếng ì ầm đó.

“Cái gì thế nhỉ-xe tăng hay máy bay? Lúc này bắt đầu rồi chăng… Hay là đã bắt đầu rồi? Phải ra lệnh “sẵn sàng chiến đấu” chứ nhỉ? Mình phải hành động ngay mới được!…”.
Vẫn cố gắng giữ bình tĩnh, chưa ra lệnh vội, Đrô-dơ-đốp-xki thấy tướng Bét-xô-nốp rầu rĩ đưa mắt nhìn lên trời, đại tá Đê-ép nhíu lông mày, chiếc ống nhòm sững lại trên tay Ve-xnin lúc ông đang hướng nó về phía ánh hồng ở chân trời. Sau đó Ve-xnin đưa trả ống nhòm cho chủ nhiệm trinh sát, gỡ kính mắt chẳng hiểu để làm gì và khi ông quay về phía Bét-xô-nốp, khuôn mặt không đeo kính của ông trông ngớ ra rất lạ lùng, có cái vẻ vội vã, vui vẻ của con người đang loan báo một tin tức chắc chắn:

-Chúng nó đang tiến, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích ạ. Bè lũ chúng nó…

Ở phía đó, có một vật gì đó màu hồng, đậm đặc lóe lên giữa quầng sáng, trông như một đám mây ở trên trời. Đám mây đó nhích lại gần, tiến thẳng đến đây, đến làng này, giữa tiếng ầm ầm vang động của động cơ và đường nét của những chiếc máy bay “Gioong-ke” chở nặng hiện rõ trong đám mây đó. Chúng bay từ phía Nam tới, thành từng bầy lớn kéo dài, bay qua và che khuất ánh hồng ở chân trời. Chúng nhiều đến nỗi Đrô-dơ-đốp-xki không thể đếm hết ngay được. Và càng thấy những chiếc máy bay đó rõ ràng và dứt khoát đang bay tới đây, tới làng này, tới đại đội này, càng thấy chúng nhích sát lại gần hơn, khuôn mặt Bét-xô-nốp càng đanh cứng hơn, quyết liệt hơn, hầu như sững lại thành đá. Đôi mắt cận thị của ủy viên Hội đồng quân sự Ve-xnin không chăm chú và thăm dò nhìn bầu trời nữa mà nhìn tư lệnh, những ngón tay để trần của ông-ông quên không đi găng tay, đôi găng thò ra trên miệng túi áo choàng ngắn-chùi và cọ vào mắt kính vào cổ áo lông.

Đrô-dơ-đốp-xki lại nghĩ: “Tại sao các đồng chí ấy đứng đó và không ra lệnh? Mình phải làm gì trước mặt họ?”.

Vừa lúc ấy thiếu tá Bô-gi-scô mặc áo choàng bảnh bao của sĩ quan tùy tùng lướt trên bãi đặt pháo, trên bờ công sự y như người trượt tuyết, chắc hẳn anh chạy từ chỗ để xe tới-và thét gọi Bét-xô-nốp với vẻ khẩn khoản kiên quyết của người sĩ quan tùy tùng cho phép mình, không như điều lệnh ghi, nhắc nhở và đôi khi yêu cầu nữa:

-Đồng chí tư lệnh, đưa xe lại đây chứ? Phải đi ngay, thưa đồng chí tư lệnh!

-Có lẽ ta chờ cho qua trận ném bom ở đây, thưa đồng chí trung tướng,-Đê-ép lên tiếng, từ dưới cặp lông mày hung hung đôi mắt anh theo dõi đường bay của máy bay địch.-Tôi e rằng chúng ta không kịp về đài quan sát trước khi…

-Tôi tin là chúng ta kịp đi, thưa đồng chí tư lệnh.-Bô-gi-scô thuyết phục, hứa hẹn và giải thích cho Đê-ép: chỉ có ba ki-lô-mét thôi mà. Chúng ta sẽ phóng nhanh…

-Cố nhiên ta sẽ phóng nhanh!-Ve-xnin sôi nổi lên, đeo kính vào mắt, ước lượng khoảng cách từ chỗ ánh hồng bị đám máy bay che khuất đến điểm cao nhô ra tròn xoe ở phía bên kia sông, nơi đặt đài quan sát của sư đoàn.-Chỉ độ bốn ki-lô-mét thôi, Bô-gi-scô ạ,-ông sửa lại cho đúng và xúc động hướng về phía Đê-ép:-đồng chí tin chắc là chúng sẽ bỏ bom ở đây à, đại tá? Không loại trừ khả năng chúng sẽ bay tới Xta-lin-grát à?
-Tôi không tin, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự…

Bét-xô-nốp nhếch mép cười, nói một cách chắc chắn:

-Chúng sẽ bỏ bom ở đây. Chính ở chỗ này. Hỏa tuyến. Dứt khoát như vậy. Bọn Đức không thích liều lĩnh. Không có máy bay yểm trợ chúng không tiến công. Thôi ta đi. Ba hay bốn ki-lô-mét thì đằng nào chả thế.-Và chỉ đến lúc này ông mới lại chừng như sực nhớ tới Đrô-dơ-đốp-xki đang đứng trong tư thế chờ đợi.-Thế nào nhỉ… cho mọi người vào trong hầm trú ẩn, trung úy. Sống cho qua trận ném bom, như người ta thường nói! Còn sau đó điều chủ yếu là: xe tăng địch sẽ tới. Thế nghĩa là họ của đồng chí là Đrô-dơ-đốp-xki, phải không trung úy?-Ông hỏi và lại cố lục lọi điều gi trong ký ức.-Một cái họ quen thuộc. Tôi nhớ ra rồi. Và tôi mong rằng còn được nghe nói về đồng chí, trung úy Đrô-dơ-đốp-xki! Không lùi một bước! Và tiêu diệt xe tăng địch. Đứng vững và hãy quên đi cái chết! Đừng nghĩ tới nó trong bất cứ hoàn cảnh nào! Đại đội của đồng chí có thể làm được nhiều việc ở đây, trung úy ạ. Tôi rất hy vọng…

Và vươn mình bước lên thành công sự, hơi khập khiễng, Bét-xô-nốp đi lại phía những chiếc xe con, theo sau ông là sĩ quan tùy tùng Bô-gi-scô, đại tá Đê-ép. Chủ nhiệm trinh sát của sư đoàn lưu lại hỏa điểm. Ông thong thả đặt một chân lên mép công sự, không rút tấm bản đồ đeo ở trong cặp ra, không buông ống nhòm khỏi tay, giơ lên soi khoảng trời trống trải ở phía trên làng. Ông không muốn rời khỏi đây một cách giản đơn, thoải mái như thế khi chưa chờ đợi để biết được tin tức về số phận đội trinh sát của mình. Lúc ấy Ve-xnin tỏ ra am hiểu và khẽ hích vào vai ông, nói với ông điều gì đó. Mãi đến lúc ấy vị trung tá mới lặng lẽ lê mình đến hào giao thông. Lúc đã đi cách khẩu pháo khoảng năm mét, trèo lên mô đất trên đường bờ sông, Ve-xnin dừng lại nói với Đrô-dơ-đốp-xki bằng giọng phấn chấn bị át đi trong tiếng gầm rú của máy bay:

-Này, tiểu đoàn trưởng, hình như sắp đến lúc ác liệt rồi đấy! Mới lần đầu có sợ không?
-Không, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự.
-Thế thì tuyệt! Chỉ huy đi, đại đội trưởng!…

Đrô-dơ-đốp-xki ghìm mình thêm mấy giây nữa sững người lại, toàn thân căng thẳng, nhưng các vị chỉ huy cấp trên vừa khuất sau lũy đất, anh dường như bị lóa mắt, nhìn lên bầu trời đen ngòm trong đó máy bay địch đang lồng lộn, gào rú và bỗng nhiên anh thét lên ra lệnh bằng một giọng đặc biệt vang, đứt quãng…
-Toàn khẩu đô-ội, xuống hầm trú ẩn!

Rồi anh chạy về đài quan sát của trung đoàn, lướt ngang qua những khuôn mặt trắng thấp thoáng bên các khẩu pháo, qua những cái lưng lom khom của anh em chiến sĩ như thể bị bầu trời náo động đè ép xuống.
 
Ặc ặc ặc! Bác tieuboingoan là ai thế nhẩy? Kinh quá. Bác cho em bít mặt cái. Chứ bản word của quyển Tuyết bỏng này em chỉ support cho 2 người và được gửi ở vnthuquan thui mà! Ke ke ke 8). Thôi, bác đã gửi thì gửi cho trót! Em té!
 
katysha nói:
Ặc ặc ặc! Bác tieuboingoan là ai thế nhẩy? Kinh quá. Bác cho em bít mặt cái. Chứ bản word của quyển Tuyết bỏng này em chỉ support cho 2 người và được gửi ở vnthuquan thui mà! Ke ke ke 8). Thôi, bác đã gửi thì gửi cho trót! Em té!

Xin lỗi nếu làm bạn phật ý, chẳng qua ngồi buồn chẳng bít làm gì nên post chơi vài chương thôi, chứ TBN ko có ý định tranh phần của bạn đâu! Bạn cứ cùng post cho rôm rả nha!

Bây giờ TBN hết buồn rồi nên tạm dừng post bài, đến lượt bạn đó!

Còn bản text này thì thật đơn giản, mình có người nhà làm ở NXB, mình xin bản text mà, mình cũng thấy bên Vnthuquan có nhưng của họ chẳng hiểu vì lý do gì mà hơi bị nhiều lỗi chính tả đó.


Chào thân ái,
TBN
 
Chương mười một

Tiếng động cơ gào rú mãnh liệt ở trên đầu, át hết mọi âm thanh trên mặt đất, rung lên, xói vào tai. Bầy máy bay đầu tiên đã thay đổi đội hình rõ rệt, vươn dài ra, xếp thành hình vòng tròn và Cu-dơ-nét-xốp trông thấy những trái hỏa tiễn của bọn Đức phụt ra những chùm ánh sáng xanh đỏ ở đằng sau những ngồi nhà trong làng. Rồi như để đáp lại, một trái hỏa tiễn phụt ra từ chiếc máy bay đi đầu, bùng lên đỏ lòe, để lại sau lưng một vệt khói, nhạt màu dần đi, rơi nhanh và tắt lụi trong không trung đang ửng hồng. Bọn Đức bắn pháo hiệu từ mặt đất và trên không xuống để xác định khu vực bỏ bom nhưng lúc này Cu-dơ-nét-xốp không còn phải tính toán xác định xem chúng sẽ bỏ bom ở đâu vì việc này đã rõ ràng. Những chiếc “Gioong-ke” lần lượt xếp thành một vòng tròn lớn, vòng quanh khu làng, toàn bộ khu bờ sông, các hào giao thông của bộ binh, các khẩu đội pháo ở bên cạnh,-tất cả các vị trí tiền tiêu của ta đã bị siết chặt trong cái vòng đai trên không trung đó, tưởng chừng như giờ đây không có thể nào thoát được ra khỏi vòng đai đó, trong khi ấy ở bờ sông bên kia thảo nguyên mênh mông đã sáng lóe lên dưới ánh mặt trời mới mọc, các điểm cao bình thản bắt nắng lúc sớm mai…
-Báo động!… Báo động!…-Người ta thét lên một cách vô nghĩa và đứt quãng trong tiểu đoàn và ở đâu đó mé dưới bờ sông.

Cu-dơ-nét-xốp đứng ở bên trái khẩu pháo, trong hào giao thông vùng với U-kha-nốp và Tri-bi-xốp, cái hào này chật chội đối với ba người. Họ cảm thấy đất rung lên ở dưới chân, tiếng gào rú của động cơ máy bay làm rung chuyển không trung, những mảnh đất cứng rơi lả tả từ thành công sự. Cu-dơ-nét-xốp nhìn thấy rất gần cặp mắt khiếp đảm đen như chì trên khuôn mặt lưỡi cày của Tri-bi-xốp đang ngẩng lên trời với vẻ nặng nề choáng váng, anh trông thấy sát cạnh mình cái cằm nghển lên, đôi mắt sáng hung dữ của U-kha-nốp đang đảo lia lịa đếm máy bay địch. Toàn thân anh co dúm lại thật chặt như trong một giấc mơ nặng nề khi người ta không thể nào nhúc nhắc rời khỏi chỗ trong khi có mối nguy cơ lớn lao, không tránh được đổ ập lên đầu. Chẳng hiểu sao anh sực nhớ tới chiếc cặp lồng đựng thứ nước thơm thơm lạnh buốt răng do Tri-bi-xốp lấy ở hố nước trên băng về và anh lại cảm thấy miệng khô cứng, khát đến cháy họng.

-Bốn mươi tám,-cuối cùng U-kha-nốp đã đếm được số máy bay địch, anh cảm thấy nhẹ nhõm và anh đưa đôi mắt trong sáng, chừng như không thông cảm nhìn Tri-bi-xốp, dùng vai khẽ hích vào bên vai đang co dúm của bác ta.-Sao run bần bật như cầy sấy thế bố già? Chẳng có cái gì khủng khiếp hơn cái chết đâu. Run rẩy như thế cũng chẳng ăn thua gì…
-Có phải tôi không biết đâu…-Tri-bi-xốp cố run rẩy mỉm cười.-Ấy thế nhưng… tự nhiên nó cứ run lên.. Giá như tôi có thể… tôi không thể trấn tĩnh được, cổ họng nghẹn lại…-Và bác chìa cổ họng ra.
-Bác cứ nghĩ là sẽ không có chuyện gì cả. Còn nếu như có xảy ra chuyện gì, thì cũng chả làm sao hết. Ngay cả sự đau đớn,-U-kha-nốp nói và không nhìn lên trời nữa, anh dùng răng rút găng tay ra, lấy túi đựng thuốc.-Làm một điếu, bác. Cho nó bình tĩnh lại. Tôi cũng hút cho bình tĩnh. Hút đi, trung úy. Sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.
-Tôi không thích.-Cu-dơ-nét-xốp gạt túi thuốc ra.-Giá có cặp lồng nước… Tôi muốn uống.
-Chúng nó bay tới đay! Ngay trên đầu chúng mình!…

Tiếng la thét đó và cặp mắt ngây dại, nhớn nhác của Tri-bi-xốp khiến Cu-dơ-nét-xốp bất chợt ngẩng đầu lên. Tựa hồ như ngay lúc ấy hơi lửa từ trên trời phả thẳng vào mặt anh. Một vật gì đó rất to, lóe sáng với hình thập tự đen trắng trông khá rõ-Chả lẽ đó là chiếc “Gioong-ke” đi đầu?-Như thể đứng lại trong giây lát, chiếc máy bay khựng lại trong không trung rồi tàn bạo xòe những cái móng đen ngòm, tiếng gào rú như sắt nện trên sắt, nó lao hầu như thẳng đứng xuống dưới, lao thẳng vào tròng mắt Cu-dơ-nét-xốp, khối kim loại nặng hàng tấn đang lao nhanh xuống làm anh lóe mắt, nhìn từ dưới lên, chiếc máy bay bị chìm trong những tia nắng đỏ rực của vầng dương còn chưa nhô lên khỏi chân trời. Từ khối thép sáng lóe đang gào rú đó phụt ra những vật đen dài dài nặng nề rơi xuống mặt đất, tiếng rít chói tai át cả tiếng gào rú của chiếc “Gioong-ke”. Những quả bom rơi băng băng xuống mặt đất, vào các vị trí của khẩu đội, to dần lên rất rõ trước mắt mọi người, nặng nề đu đưa trong thinh không như những súc gỗ được bào nhẵn. Tiếp theo chiếc thứ nhất, chiếc “Gioong-ke” thứ hai tách ra khỏi vòng bay lao xuống phía bờ sông. Cu-dơ-nét-xốp thấy rùng mình ớn lạnh ở chỗ da bụng căng thẳng, anh tụt xuống chiến hào. U-kha-nốp vẫn theo dõi bom rơi, chốc chốc lại cúi đầu xuống như thể tránh những viên đá ném ra vung vãi.

-Nằm xuô-ống!-Cu-dơ-nét-xốp không nghe thấy tiếng rít kéo dài trong giọng nói của mình, anh chỉ cảm thấy mình đã dùng hết lực các ngón tay túm lấy tà áo choàng của U-kha-nốp kéo xuống.
 
U-kha-nốp ngã đè lên người anh, che khuất bầu trời và ngay lập tức một cơn bão lốc đen ngòm trùm lên chiến hào, giội hơi nóng từ phía trên xuống. Chiến hào ngả nghiêng, vặn vẹo, rung lên tưởng chừng như nó cất vó dựng đứng và chẳng hiểu sao nằm bên cạnh anh lại không phải là U-kha-nốp-bom nổ hất anh ra khỏi người Cu-dơ-nét-xốp-mà là khuôn mặt tái xám như đất với cặp mắt sững sờ của Tri-bi-xốp, miệng bác vẫn đang thều thào: “Chỉ mong sao nó đừng rơi vào đây, đừng rơi vào đây, lạy Chúa…”-và tựa hồ như từng sợi râu dựng đứng lên trên đôi má râu ria tua tủa của bác. Bác nằm lăn ra, hai cánh tay đè lên ngực Cu-dơ-nét-xốp, vai và lưng bác nép vào khoảng không gian chật hẹp không hề có giữa Cu-dơ-nét-xốp và vách hào đang đu đưa, bác rú lên cầu nguyện:
-Lũ con tôi!… Tôi còn có đàn con… Tôi không có quyền chết. Không!… Lũ con tôi!…

Cu-dơ-nét-xốp bị sặc vì mùi thuốc nổ giống như mùi hành tỏi, vì bị cánh tay Tri-bi-xốp đè nặng, anh muốn thoát ra, hớp không khí trong lành, thét lên: “Bác hãy im đi!”-nhưng hơi bom độc hại làm anh ho sặc sụa, cổ họng đau nhói. Anh chật vật gỡ tay Tri-bi-xốp ra, hất chúng khỏi ngực mình. Chiến hào ngập khói dày đặc, ngột ngạt, che lấp bầu trời. Bầu trời đen ngòm, đầy tiếng gào rú sôi sục, chỉ lờ mờ và thấp thoáng thấy thân hình những chiếc “Gioong-ke” nghiêng nghiêng, lóe sáng đang lao xuống: những chiếc móng đèn ngòm xiêu vẹo lăm lăm thò từ trên xuống qua làn khói, trong tiếng bom bổ ầm ầm, chiến hào vặn mình, cong lại, mảnh bom văng tứ tung gieo rắc cái chết, lớp lớp đất trộn với tuyết sụt lở ầm ầm.

“Sắp chấm dứt rồi,-Cu-dơ-nét-xốp tự nhủ, cảm thấy đất lạo xạo trong hàm răng, anh nhắm mắt lại, tưởng chừng như làm thế thời gian sẽ trôi qua nhanh hơn.-Còn mấy phút nữa thôi… Nhưng các khẩu pháo… các khẩu pháo thế nào nhỉ? Chúng được đưa tới đây để đánh giặc… Mảnh bom sẽ làm vỡ kính ngắm mất…”.

Anh hiểu rằng phải lập tức nhổm dậy, ngó xem các khẩu pháo thế nào, phải làm một việc gì đó ngay lúc này nhưng thân thể nặng trĩu của anh đã co dúm lại, bị ấn chặt vào lòng chiến hào, anh thấy đau ở ngực, ở tai, còn tiếng rú lồng lộn của máy bay, tiếng rít chát chúa của những mảnh bom trong bầu không khí nóng bỏng càng ngày càng đè mạnh anh xuống đáy chiến hào mong manh. Bị ám ảnh bởi ý nghĩ cần phải làm một việc gì đó, anh mở mắt ra và trông thấy gờ lũy công sự bị mảnh bom xén phẳng. Những hòm xam xám rơi trên vách hào, tung tóe xuống lòng chiến hào, lăn lông lốc trên chiếc lưng gù cong lên của bác Tri-bi-xốp đang nằm sấp mặt xuống.

Cu-dơ-nét-xốp biết rõ những hòn xám đó là cái gì nhưng không tài nào nhớ được tên gọi của chúng, nhớ được anh đã từng có lúc trông rõ thấy chúng ở đâu và ngay lúc ấy tiếng thét của U-kha-nốp vang lên qua những tiếng nổ ầm ầm: anh cũng nhìn vào lưng Tri-bi-xốp với vẻ chăm chú ngạc nhiên:
-Nhìn kìa trung úy, chúng nó ném bom làm cho chuột chạy loạn xạ! Hãy cứu lấy bác ấy! Nào!
Bàn tay hộ pháp của U-kha-nốp đeo chiếc bao tay xù xì chộp lấy những cục xam xám trên lưng Tri-bi-xốp bất chợt nhe răng giận dữ đó, rồi ném chúng ra khỏi chiến hào, vào đám khói mù mịt.
-Bác Tri-bi-xốp, nhúc nhắc người đi, lũ chuột nó ăn thịt bây giờ! Bố già không cảm thấy gì à?
-Kính ngắm!-Cu-dơ-nét-xốp thét to, không để ý tới Tri-bi-xốp và trong nháy mắt anh nghĩ rằng anh muốn và có thể ra lệnh cho U-kha-nốp-Anh có quyền làm như thế-Ra lệnh cho U-kha-nốp lên tháo kính ngắm, nghĩa là dùng quyền hành của trung đội trưởng bắt buộc anh ta phải nhảy ngay ra khỏi hầm dưới trận bom để chạy tới chỗ các khẩu pháo, còn bản thân mình thì ở lại trong chiến hào, nhưng anh không thể ra lệnh như thế được.
“Mình không có quyền,-anh nghĩ.-Làm như thế rồi mình sẽ chẳng bao giờ tha thứ được cho mình”.

Lúc này họ bình đẳng như nhau và mọi việc được đo bằng một cái duy nhất, lớn lao, dứt khoát, ngẫu nhiên và đơn giản: bằng một số nét gần hay xa, bằng sự tinh tường hay không của lũ giặc lái đang từ vòng bay gieo chết chóc lao xuống cả cái thế giới không được che đỡ, hoang vắng đến kỳ quái, không ánh mặt trời, không có con người, không có lòng tốt, không có lòng thương hại, cái thế giới đã bị thu hẹp hết mức trong khuôn khổ của một chiến hào đang bị bom đạn xô đẩy giữa ranh giới của cái sống và cái chết.

“Mình không có quyền làm như thế. Mình không có quyền! Đó là sự bất lực đáng khinh bỉ… Cần phải tháo kính ngắm ra! Mình sợ chết ư? Tại sao mình lại sợ chết? Một mảnh bom văng vào đầu chăng?… Không, mình sẽ vọt ra khỏi chiến hào ngay lúc này. Đrô-dơ-đốp-xki đâu?… U-kha-nốp biết rằng mình sắp ra lệnh… Để làm gì nhỉ? Kệ xác những chiếc kính ngắm đó! Mình không có đủ sức vọt ra khỏi chiến hào… Mình sẵn sàng ra lệnh, còn bản thân mình thì ngồi lì tại đây. Nếu mình vọt ra khỏi chiến hào, sẽ chẳng có cái gì che đỡ cho mình nữa. Và một mảnh bom nóng bỏng găm vài thái dương thì sao?… Thế là cái gì, điên à?”.
 
Tiếng sắt thép nổ chát chúa ở trên đầu làm cho chiến hào nghiêng vẹo đi, phả một làn khói đen ngòm xoáy tít vào mặt Cu-dơ-nét-xốp khiến anh lại ho sặc sụa, khói bom độc hại làm cho anh ngột ngạt.

Khi khói tan, U-kha-nốp lấy tay áo chùi đất khỏi môi, lắc lắc đầu. Những mảnh tuyết bẩn rơi lả tả từ mũ lông xuống. Anh lấy làm lạ, đưa mắt nhìn Cu-dơ-nét-xốp đang ho xù xụ và nhe chiếc răng thép sáng loáng, anh gào lên như thể cả hai người đều điếc:
-Trung úy!… Thở vào khăn tay ấy, sẽ thấy dễ chịu hơn.

“Đúng rồi, mình bị sặc hơi thuốc nổ. Mình quên và đã hớp phải nó vào mồm. Có mùi tỏi cháy khét và mùi sắt. Lần đầu tiên mình được ngửi thấy mùi này vào năm bốn mươi mốt. Và mình đã nhớ suốt đời… Cậu ấy nói cái gì nhỉ? Còn có thể có những chiếc khăn mùi soa nào nhỉ? Chỉ thấy ngực mình bị thắt lại, ho đến đau cả họng. Giá có tí nước, giá được hớp một ngụm nước lạnh…”.

-A-a! Vớ vẩn thật!-Cu-dơ-nét-xốp nén cơn ho, thét lên.-U-kha-nốp!… Cậu hãy nghe đây… Phải tháo kính ngắm ra! Kẻo không chúng đi đời nha ma mất! Chả biết đến bao giờ mới kết thúc?
-Tôi cũng nghĩ thế, trung úy ạ! Không có kính ngắm bọn mình sẽ trắng tay!…
U-kha-nốp ngồi trong lòng chiến hào, choãi chân ra, lấy bao tay đập đập lên mũ lông, đẩy mũ ngập sâu hơn xuống trán, anh tì tay vào lòng chiến hào định nhổm dậy, nhưng ngay lúc ấy Cu-dơ-nét-xốp ngăn anh lại:
-Dừng lại! Khoan đã! Hễ chúng dứt một đợt ném bom, chúng ta sẽ vọt ra, chạy tới chỗ khẩu pháo. Cậu chạy đến khẩu thứ nhất, mình đến khẩu thứ hai! Chúng mình sẽ tháo kính ngắm ra!… Cậu tháo ở khẩu thứ nhất, mình ở khẩu thứ hai! Rõ chưa, U-kha-nốp? Theo lệnh tôi, rõ chưa?-Và cố nén cơn ho, anh cũng choãi chân ra để dễ nhổm dậy hơn.
-Phải ra ngay, trung úy.-Cặp mắt sáng của U-kha-nốp từ dưới chiếc mũ đội sùm sụp trên trán nheo lại, nhìn lên trời.-Ra ngay…

Dựa theo tiếng những chiếc máy bay đã ngóc lên, cả hai người đều đồng thời cảm thấy rằng đã dứt một đợt bom. Khói nóng cuốn như cơn lốc từ sau bờ công sự. Sau khi lần lượt lao xuống cắt bom, những chiếc “Gioong-ke” ngóc lên phía trên bờ sông, lại xếp thành hình vòng tròn, như chiếc đu quay liên tục ở trên trời, cao hơn những đám khói đen đang cuồn cuộn bốc trên thảo nguyên. Ngôi làng ở cả hai phía bờ sông rừng rực như một đám cháy lớn, ngọn lửa loang ra khắp các đường ngõ, quay tròn, những mái nhà sụp xuống khiến tro và tàn than tung tóe lên những đám mây nóng bỏng, cửa kính vỡ nổ như súng bắn, mấy cái ô tô chưa kịp đưa xuống hầm trú ẩn, trúng mảnh bom bốc cháy ở ven làng. Xăng dầu bốc cháy và chảy lênh láng trên bờ dốc về phía sông. Làn khói dày đặc phủ trên trận địa của các khẩu đội, trên bờ sông, trên các hào giao thông của bộ binh như một bức màn tang.

Đứng trong hào, Cu-dơ-nét-xốp nhìn rõ tất cả, khi nghe tiếng động cơ đều đều của toán máy bay địch lại đang nhao từ đám khói xuống để ném bom, anh liền ra lệnh:
-uk!-Kịp đấy! Ta đi đi!… Cậu đến chỗ khẩu pháo thứ nhất. Mình đến khẩu thứ hai…
Cảm thấy thân mình nhẹ bỗng, anh vượt ra khỏi hào, nhảy qua bờ lũy công sự nơi đặt khẩu pháo thứ nhất, chạy băng băng trên đám tuyết đen ngòm vì hơi bom, trên khoảnh đất đầy những hố bom, lao tới khẩu pháo thứ hai, từ phía đó vọng tới tiếng thét của một người nào đó:
-Trung úy!… Lại đây với chúng tôi!

Toàn bộ hỏa điểm, các hốc trong thành công sự, các chiến hào đều bị khói dày đặc phủ kín, khắp nơi những hòn đất nóng bỏng bị hơi bom hất vung vãi, khắp nơi là tuyết đen sẫm và đất: trên tấm vải bạt phủ khẩu pháo, trên cò súng, trên những hòm đạn. Nhưng kính ngắm vẫn còn nguyên vẹn và Cu-dơ-nét-xốp vừa sặc sụa vì ho vừa đưa những ngón tay như phát sốt ra tháo kính, anh nhìn xuống các hào và thấy một mái đầu từ đó nhô lên như một cái bóng tròn trong khói rồi lại thụt xuống ngay.
-Ai đấy? Tru-ba-ri-cốp đấy à? Các anh còn sống cả chứ?
-Đồng chí trung úy, lại đây với chúng tôi!… Vọt lại chỗ chúng tôi đi!

Từ chiếc hào ở bên trái, đằng sau hốc đất đựng đạn, nhô ra một mái đầu đội chiếc mũ lông bám đầy đất, lệch hẳn về một bên tai. Mái đầu lắc lư trên cái cổ ngẳng như trên một thân cây, đôi mắt trố ra, ánh lên vẻ kích động, chào đón đó là người chỉ huy khẩu pháo thứ hai, hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp.
-Đồng chí trung úy, lại với chúng tôi đi! Có một cậu trinh sát ở chỗ chúng tôi!…
-Cái gì cơ?-Cu-dơ-nét-xốp thét to.-Tại sao các anh không tháo kính ngắm ra? Các anh tưởng có thể bắn không cần kính ngắm à?
-Đồng chí trung úy, cậu trinh sát bị thương. Cậu ấy đang nằm trong hào đây này! Cậu ấy từ đằng kia tới… Cậu ấy bị thương…
-Cậu trinh sát nào? Anh làm sao, bị chấn thương hở Tru-ba-ri-cốp?
-Không… Chỉ phải cái tai tôi bị ù như thể bị điếc ấy… Cơ mà cũng chả sao… Cậu trinh sát đã chạy đến chỗ chúng tôi!
-À! Trinh sát hả? Của sư đoàn chứ gì? Cậu ấy đâu?

Cu-dơ-nét-xốp nhìn lên trời-chiếc đu quay khổng lồ của đàn “Gioong-ke” lại siết thành những vòng tròn trên thảo nguyên. Anh nhảy qua cái hốc đất xuống hào, giúi kính ngắm vào ngực Tru-ba-ri-cốp. Anh này đưa hai tay đỡ lấy nó cặp lông mi đen nhánh như mực tàu nhấp nháy vì đà nhảy vọt đột ngột của Cu-dơ-nét-xốp, đoạn anh ta nhét kính ngắm vào bụng.
-Anh quên không nghĩ tới kính ngắm à, Tru-ba-ri-cốp? Cậu trinh sát đâu?
 
Back
Top