Tuyết bỏng!

Sau khi đã nói như thế một cách có dụng ý, ông chăm chú nhìn giây lâu vào mái tóc sáng, xoăn tít, hãy còn ẩm, bị mũ làm hơi rối lên của Ô-xin, vầng trán rộng của anh, cái mũi hơi hếch, khuôn mặt tròn vành vạnh tràn trề sức khỏe của một con người bẩm sinh cường tráng, khí huyết điều hòa, thần kinh vững chãi; ông tưởng như lần đầu tiên trông thấy hàng lông mi trắng thẳng tắp và ánh mắt xanh xanh bướng bỉnh lạnh lùng của viên đại tá mà mỗi lời nói ra đều dịu ngọt. Hai má Ve-xnin bắt đầu bừng bừng, ửng đỏ và một cảm giác khó chịu, gần như nỗi chán chường dâng lên trong lòng ông chống lại Ô-xin-chống lại cái sức khỏe chắc nịch của anh ta, vầng trán rộng, cặp lông mi trắng, chống lại những lời khuyên lấp lửng tưởng như vô thưởng vô phạt đó của anh ta và chống lại cái lối dè dặt, lịch thiệp nhằm che giấu một sự thận trọng nào đó, che giấu khéo léo việc mình gắn bó với một quyền lực bảo hộ đặc biệt mà do nhiều hoàn cảnh cần phải bảo tồn tại bên cạnh, trong cùng một tập đoàn quân với Ve-xnin, quyền lực đó hoàn thành những chắc năng tất yếu của mình, không bao giờ can thiệp vào tình hình trận đánh và Ve-xnin nén giận, đứng dậy.

Mặt ửng đỏ, Ve-xnin thọc tay vào túi áo choàng, đi đi lại lại trong hầm ngầm và nói:
-Như thế nghĩa là, đồng chí Ô-xin, do tình hình hiện nay của sư đoàn, tướng Bét-xô-nốp và tôi cần phải rời bỏ đài quan sát này phải không? Nhưng nói cho cùng chính đồng chí cũng biết rằng trong chiến tranh không ở đâu, không bao giờ, không ai có thể được bảo đảm trước bom đạn. Cả ở đài quan sát của tập đoàn quân cũng như ở đài quan sát của sư đoàn.-Ve-xnin bỗng trông thấy cái gáy phủ tóc vàng của Ô-xin, cái cổ trong nhẫn, đôi tai bẹp gí, tinh tường và chăm chú, và ông nổi giận đùng đùng, nói tiếp:-Anh nói với tôi chuyện vớ vẩn gì thế? Ai khuyên anh nói thế, Gô-lup-cốp à? Tôi không tin rằng đồng chí ấy có thể khuyên anh như vậy! Tôi không tài nào tin được!
-Thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự, xin đồng chí thứ lỗi cho, nhưng bịp bợm không phải là cung cách của tôi. Hơn thế nữa, ngoài nhiệm vụ do đồng chí Gô-lup-cốp giao phó, tôi còn có một việc nữa cần nói với đồng chí. Việc hơi khác một chút…

Giọng nói nhỏ nhẹ, khêu gợi đó của đại tá Ô-xin khiến Ve-xnin dừng chân ở trước bàn; ánh mắt ngước lên như muốn kiểm tra cái gì đó và màu xanh biếc lạnh như băng trong đôi mắt nhấp nháy dưới ánh đèn của trưởng phòng phán giản như thoáng làm cho ông lạnh toát người. Lúc ấy ông đi lại gần bàn, tì ngón tay lên mặt bàn và hỏi một cách nghiêm khắc:
-Chuyện gì thế anh?

Ngước lên ánh đèn, đôi mắt Ô-xin như bị che bởi một cái mạng bằng thủy tinh, nhìn xoáy vào mặt Ve-xnin, Ô-xin im lặng, tựa hồ như bằng cái nhìn đó anh ta đồng thời cảnh giác cân nhắc cái gì đó ở trong bản thân mình cũng như trong Ve-xnin, anh ta còn chưa quyết định nói, chưa vượt qua một trở ngại nào đó.
-Anh nói đi!-Ve-xnin đòi hỏi.

Ô-xin đứng dậy, đi về phía cửa hầm ngầm, dứng lại đó một lát, rồi lại quay vào ngồi xuống ghế, mặt ghế cọt kẹt dưới sức nặng thân hình chắc nịch của anh. Và một lần nữa cặp mắt như đeo cái mạng bằng thủy tinh cùng với giọng nói hạ thấp của Ô-xin chờn vờn quanh Ve-xnin.
-Xin đồng chí hiểu đúng ý tôi, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự. Vì sao đồng chí và tư lệnh tập đoàn quân lại quên mất cảnh giác khi mà không thể quên được? Tôi biết tính khí của tư lệnh, chắc đồng chí ấy không muốn nghe tôi, vì vậy tôi nói với đồng chí, với đại diện có uy tín của Đảng, nói một cách hoàn toàn cởi mở.
-Được. Anh nói tiếp đi,-Ve-xnin nói và nghiêng người thấp hơn nữa trên mặt bàn, nhìn vào tròng mắt Ô-xin và cũng vẫn chưa đoán được hết cái gì đó lấp lửng mà trưởng phòng phán giản không nói ra có lẽ do thói quen dè dặt hoặc là do e ngại ông, ủy viên Hội đồng quân sự, người nắm quyền lực hết sức lớn.
-Thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự,-Mắt Ô-xin vẫn chưa hết vẻ đắn đo, đôi lông mày màu sáng hơi cụp xuống.-Đối với đồng chí chẳng có chuyện gì bí mật, đồng chí biết rất rõ những biến cố tai hại xảy ra trên mặt trận Vôn-khốp vào tháng sáu năm nay. Chắc đồng chí hãy còn nhớ.
-Nghĩa là thế nào?-Ve-xnin đột ngột nhấc ngón tay khỏi bàn, thọc tay vào túi áo choàng, đi vài bước trong hầm ngầm, ông bỗng chốc cảm thấy cóng lạnh và không rút tay ra khỏi túi.-Rốt cuộc tôi càng không hiểu gì cả! Anh muốn nói về tập đoàn quân xung kích số Hai phải không?
-Vâng, về những biến cố xảy ra tại tập đoàn quân xung kích số Hai. Không thể nào quên chuyện đó được. Chính là…-Ô-xin nhắc lại một cách đầy ý nghĩa và nhìn lên nóc hầm ngầmệnh lệnh: nóc hầm kẽo kẹt vì những tiếng đạn nổ gần trên điểm cao, ngọn đèn “con dơi” chao đảo ở trên đầu.-Đồng chí hãy nhìn xem: Xe tăng địch vẫn đang nã súng vào đài quan sát…

Ve-xnin ngồi phắt xuống ghế, rút ngay tay ra khỏi túi áo và vươn người về phía bao thuốc lá dính đất rơi ở trên trần xuống nhưng lập tức ông đẩy ngay bao thuốc ra, xoa thái dương như thể làm cho đầu đỡ đau và bất ngờ ngạc nhiên nhìn thẳng vào Ô-xin. Có một cái gì đó đã bung ra trong người ông, ông cảm thấy mình sắp nổi khùng lên, sắp đấm tay xuống bàn nhưng ông chỉ tức giận thốt lên:
-Vậy thì tất cả những chuyện đó có quan hệ gì? Anh, Ô-xin, anh lo ngại… anh sợ rằng nếu như sư đoàn bị bao vây hoàn toàn thì chưa biết sẽ xảy ra chuyện quái quỉ gì với Bét-xô-nốp và tôi chứ gì? Do đâu anh có sự thận trọng này?
-Ấy, sao lại thế, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự?
Ô-xin cụp đôi lông mi trắng xuống, nói một cách thành thực và có ý dỗi:
-Sao đồng chí lại nói thế? Tôi biết rõ tinh thần dũng cảm của tướng Bét-xô-nốp và biết rõ đồng chí, và tôi không thể hiểu được tại sao đồng chí, xin thứ lỗi cho, lại coi tôi là một kẻ quá ngu ngốc như vậy, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự? Tôi không muốn bị hiểu lầm.
-Thế nghĩa là phải hiểu như thế nào?
-Tôi muốn nói về những sự ngẫu nhiên. Chắc đồng chí còn chưa biết rõ về số phận bi thảm của con trai tư lệnh, thiếu úy Bét-xô-nốp?
Tiếng đạn trái phá nổ xô mạnh căn hầm ngầm, ngọn đèn lại chao đảo dưới nóc hầm vặn mình răng rắc, những mảnh đất vụn rơi bồm bộp trên mặt bàn. Có tiếng chân người bước nặng nề, có người thét to, chạy dọc theo đường hầm gần căn hầm ngầm, những giọng đáp lại không rõ vang lên, nhưng Ve-xnin không chú ý đến những tiếng ồn ào trong đường hầm.
-Không,-ông đáp.-Tôi có biết chuyện con trai của tư lệnh bị mất tích trên mặt trận Vôn-khốp. Thế anh có tin gì thêm.

Ô-xin quay đầu về phía cửa vào hầm ngầm, lắng nghe tiếng nổ trên điểm cao, những giọng nói trong đường hầm, rồi không thật quả quyết lắm anh đặt lên bàn chiếc túi dã chiến căng phồng, mới tinh, không một vết xước rồi mở túi ra. Ngón tay anh lục lọi đám giấy tờ sột soạt.
-Đồng chí hãy xem, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, một tài liệu mới nhất. Tờ truyền đơn này tôi vừa mới nhận được và quyết định báo tin ngay để đồng chí biết. Đồng chí hãy xem đi…
 
Ô-xin thận trọng rút tờ truyền đơn từ kẹp giấy để trong túi và chìa sang bên kia bàn đưa cho Ve-xnin, tờ truyền đơn hình chữ nhật màu vàng nằm trên mặt bàn xù xì trước mặt ông. Trên tờ truyền đơn, tấm ảnh như một vết sẫm mầu, in trên giấy báo rẻ tiền, đập ngay vào mắt cùng những hàng chữ đậm nét phía trên bức ảnh: “Con trai của một vị chỉ huy quân sự Bôn-sê-vich nổi tiếng đang điều trị tại một bệnh viện quân y Đức”. Trên ảnh là một chú bé gày gò, như thể đã phải chịu đựng một căn bệnh làm cho kiệt sức, đầu cạo trọc, mặc áo va rơi có đeo quân hàm thiếu uý, chẳng hiểu sao cổ áo lại mở banh ra để lộ rõ chiếc cổ giả mới tinh đính xiên xẹo vào, chú bé ngồi trong chiếc ghế bành đặt sau cái bàn nhỏ, xung quanh là hai sĩ quan Đức quay mặt về phía chú, mỉm cười gượng gạo. Chú bé cũng mỉm cười một cách đau khổ, kỳ quặc, đưa mắt nhìn những ly rượu chân cao đặt ở giữa bàn, một chiếc nạng tựa vào tay vịn của ghế bành.
-Đây không phải là đồ giả mạo chứ? Hay đây đúng là con trai của tướng Bét-xô-nốp?-Ve-xnin thốt lên còn cố cưỡng lại mình, chưa tin rằng chú bé cạo trọc dường như bị kiệt sức vì bệnh thương hàn đó có thể là con trai của Bét-xô-nốp và sau khi hỏi, ông đưa mắt nhìn Ô-xin như ngầm báo trước cho anh biết rằng ông sẽ không tha thứ cho sự lầm lẫn.
-Tất cả đều đã được kiểm tra, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Ô-xin với cái vẻ trang trọng và nghiêm nghị của một con người biết rõ trách nhiệm của mình.-Riêng về tấm ảnh thì tuyệt đối không có sự nhầm lẫn. Đồng chí hãy đọc đoạn văn xem, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.

Ô-xin ngả người ra đằng sau khiến chiếc ghế làm bằng hòm đạn cọt kẹt, mũi thở mạnh ra.
Ve-xnin đưa mắt lướt qua đoạn văn ngắn ở phía dưới tấm ảnh, chật vật mãi vẫn không hiểu ngay được ý nghĩa của nó, ông đọc đi đọc lại mấy lần những câu nói cay độc quen thuộc, xông lên cái mùi vị xa lạ, lối tuyên truyền dối trá quen thuộc, đã thành nếp của bọn phát xít, ông không thể nào tập trung, chăm chú đọc đoạn văn đó được. Ông ngừng đọc, nhìn vào tấm ảnh trông như một vết sẫm đen đó, nhìn nụ cười đau khổ của chú bé đầu cạo trọc, chiếc nạng dựa vào tay vịn ghế bành, cái cổ áo giả sạch sẽ đính xiên xẹo vào chiếc cổ áo không cài khuy và nhìn vào cái cổ trẻ trung gầy gò đến thảm hại của con trai tướng Bét-xô-nốp. Đoạn văn có mấy câu khiến Ve-xnin chú ý: “Con trai nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng Bét-xô-nốp-như mọi người đều biết, ông từng chỉ huy một trong những cánh quân từ hồi đầu chiến tranh-đã tuyên bố với các đại biểu của bộ chỉ huy Đức rằng người ta đã ném cái đại đội huấn luyện và trang bị kém do anh ta chỉ huy, vào lò sát sinh. Trận đánh cuối cùng thật không thể nào chịu đựng nổi… Thiếu uý Bét-xô-nốp bị thương nặng, đã chiến đấu dũng cảm, hầu như cuồng tìn, anh cũng đã tuyên bố rằng: “Tôi rất ngạc nhiên khi được đưa vào điều trị tại viện quân y. Tôi đã thấy nhiều tù binh Xô viết ở đây. Họ được điều trị chu đáo. Lối tuyên truyền của chính phủ Xô-viết về sự man rợ của người Đức là không phù hợp với thực tế. Tại đây, trong viện quân y tôi có thì giờ để hiểu rằng người Đức là một dân tộc nhân đạo, có trình độ văn minh cao, muốn khôi phục tự do ở nước Nga sau khi lật đổ chế độ Bôn-sê-vich…”.
-Đồng chí đã em rồi chứ ạ, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự?--Giọng nói trang trọng của Ô-xin vang lên, anh đã theo dõi thấy Ve-xnin đọc lâu.-Xin đồng chí cho phép tôi lấy lại tờ truyền đơn.

“Thế ra là con trai Bét-xô-nốp đây, nó hãy còn sống và bây giờ thì rõ quá rồi,-Ve-xnin nghĩ, ông vẫn chưa đủ sức rời mắt khỏi tấm ảnh xám, in mờ của chú bé hốc hác đeo quân hàm thiếu uý đó.-Bét-xô-nốp không biết chuyện này. Có lẽ anh ấy đoán ra nhưng không biết rõ. Thế nghĩa là thế nào? Đoạn văn rõ ràng là giả mạo. Chắc chắn là giả mạo, chúng nó thiếu gì cái trò này. Một thằng khốn nạn nào đó bị bắt làm tù binh cùng với thằng bé đã chỉ cho bọn Đức biết: ấy, tay đại đội trưởng ấy là con trai một vị tướng đấy. Phải, chắc là như thế. Đúng hơn cả là như thế. Không thể nào khác được. Rồi sau đó nó bị đưa vào viện quân y. Ngay trong cuộc hỏi cung đầu tiên, chúng nó đã chụp ảnh và bịa ra đoạn văn này. Không thể nào khác được! Nó là chú bé học sinh được Đoàn thanh niên cộng sản, được chính quyền Xô-viết giáo dục kia mà! Không, mình không tin vào một cách lý giải khác, mình không thể tin được!”.
 
-Thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, chính đồng chí cũng hiểu rõ ràng không thể đem tờ truyền đơn này ra phổ biến được. Nghĩa là… tôi rất không muốn để tư lệnh biết việc này.
-Khoan đã.
“À phải, Bét-xô-nốp, Bét-xô-nốp… Anh ấy đã nói là người ta chỉ thông báo cho anh ấy biết rằng con trai anh ấy đã bị mất tích. Nó không có tên trong danh sách những người bị chết và bị thương… Mà tờ truyền đơn này đề ngày tháng nào nhỉ? 14 tháng Mười năm 1942. Gần hai tháng trước”.
-Thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, xin đồng chí thứ lỗi cho. Đồng chí hãy trả lại cho tôi tờ truyền đơn. Tư lệnh có thể bất chợt vào đây.-Chúng ta không có quyền làm cho đồng chí ấy chấn thương về tinh thần…

“Lúc Bét-xô-nốp ở Mát-xcơ-va người ta đã biết việc này hay chưa biết? “Tờ truyền đơn này, bản thân đồng chí cũng biết đấy, không phải để phổ biến”… ”Chúng ta không có quyền làm chấn thương”. Thế nghĩa là có một người nào đó đang bằng cách này hay cách khác ngăn chặn không để tư lệnh biết tấn thảm kịch thật sự đã ụp lên đầu con trai ông. Nhưng để làm gì? Ý nghĩa của việc làm đó.
-Đồng chí Ô-xin này, đồng chí tin vào tờ truyền đơn này à?-Ve-xnin hỏi khẽ.-Đồng chí tin rằng chú bé này… đã phản bội?...
-Tôi không suy nghĩ,-Ô-xin đáp và khoát tay một cách khinh khỉnh. Sau đó anh ta chữa lại:-Nhưng… trong chiến tranh mọi việc đều có thể xảy ra. Tất tật mọi sự, tôi cũng biết rõ như vậy.
-Anh cũng biết?-Ve-xnin nhắc lại và cố không để lộ các ngón tay đang run, ông gấp tờ truyền đơn làm tư, mở khuy áo choàng, đút nó vào trong túi ngực.-Tôi sẽ giữ tờ truyền đơn, như anh nói, “không phải để phổ biến”.-Ve-xnin đặt những nắm tay siết chặt lên bàn.-Bây giờ tôi khuyên anh thế này: anh hãy lập tức rời khỏi đây! Anh hãy đi khỏi đài quan sát ngay lúc này. Như thế sẽ hay hơn. Anh hãy đi ngay đi!

Rồi tựa nắm tay lên bàn, Ve-xnin đứng lên.
Ô-xin cũng đứng dậy nhưng vì quá vội vã nên cụng đầu gối vào bàn; khuôn mặt hơi bầu bĩnh, đỏ đắn khoẻ mạnh chợt trắng bệch, da mặt căng lên.
-Còn nếu như có xảy ra chuyện gì trong vòng vây, đại tá Ô-xin…-Ve-xnin dằn giọng nói tiếp,-nếu như có xảy ra chuyện gì thì sự an toàn… là ở đây,-và ông đưa tay ra vỗ vỗ vào bao súng ngắn đeo trên dây lưng ở cạnh sườn.-Ở đây này…

Họ đứng im lặng hồi lâu ở hai đầu bàn. Xe tăng địch bắn như giã gạo lên điểm cao, tưởng như đạn pháo đã xê dịch căn hầm ngầm về một phía, đất chảy như suối từ nóc hầm xuống vách hầm, rơi rào rào lên phản, ngọn đèn “con dơi”, lúc lắc trên nóc hầm mờ tối đi, thông phong bị ám khói. Ve-xnin đã định rời khỏi hầm ngầm đi ra đường hầm nơi có nhiều người đứng, có tiếng ra lệnh, và giọng người nói sôi nổi, ra để hít thở chút khí trời lạnh giá sau cuộc trò chuyện này, ông trông thấy cặp môi dày của Ô-xin hơi mỉm cười còn cặp mắt xanh xanh của anh chẳng cười chút nào, ông bèn thốt lên, ghê sợ ngay cả giọng nói gay gắt của mình:
-Bét-xô-nốp sẽ không biết một tí gì về cuộc trò chuyện này!

Ô-xin im lặng một cách lễ độ. Không một giây phút nào anh ta quên trọng trách của Ve-xnin, những quan hệ tốt đẹp của ông với uỷ viên Hội đồng quân sự phương diện quân Gô-lup-cốp, anh ta không hề quên rằng Ve-xnin có quyền liên lạc trực tiếp với Mát-xcơ-va và đồng thời anh ta cho rằng Ve-xnin là một người quá nóng nảy, thiển cận, thiếu thận trọng, thậm chí nhu nhược,-những người như thế không thể làm cho người ta tin vào địa vị vững chắc của họ. Ô-xin biết rất rõ về ông, anh ta biết rằng Ve-xnin không phải là sĩ quan chuyên nghiệp mà là cán bộ dân sự, ông vốn là cán bộ giảng dạy ở trường Đảng cao cấp và Học viện chính trị; anh ta nhớ rõ rằng bà vợ thứ hai của ông, người Ac-mê-ni-a là giáo viên hoá học, đứa con gái bà vợ trước tên là Nhi-na lên mười, anh ruột người vợ trước của ông bị kết án vào cuối những năm ba mươi, do việc đó Ve-xnin đã bị cảnh cáo nghiêm khắc và mãi trước khi xảy ra chiến tranh việc cảnh cáo đó mới bị bãi bỏ; anh ta biết rằng năm bốn mươi mốt ông đã là chính uỷ sư đoàn, đã vượt khỏi vòng vây của địch ở gần E-nhi-a và dẫn theo hầu như cả một trung đoàn nguyên vẹn; anh ta còn biết có và còn nhớ nhiều điều mà có lẽ chính bản thân Ve-xnin đã quên từ lâu. Nhưng sau khi cân nhắc tất cả cái đó trong trí nhớ ngồn ngộn và dai dẳng của mình, theo thói quen Ô-xin đã náu mình sau một nụ cười mỉm không biểu lộ cảm xúc gì. Và anh ta đã trả lời Ve-xnin bằng một thái độ mập mờ như vậy:
-Bản thân tôi không hề nhấn mạnh vào một điểm nào cả, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự. Tôi chỉ làm tròn trách nhiệm của mình… Trách nhiệm của sĩ quan và của người đảng viên.
-Và một khi trách nhiệm của anh đã được hoàn thành, anh chẳng còn việc gì để làm ở đây nữa,-Ve-xnin rầu rĩ nói.-Tôi nhắc lại lần nữa: anh hãy đi ngay khỏi đài quan sát và đừng lo sợ những chuyện ngẫu nhiên! Tôi không thể tưởng tượng được một cái gì vô lý hơn sự thận trọng của anh! Chả lẽ chỉ có mỗi một tiếng “bao vây” đủ để gây ra những nỗi khiếp sợ huyền bí hay sao!

Ve-xnin bước lại gần bàn, mắt kính loé sáng nhìn đại tá Ô-xin, với tay cầm bao thuốc lá dính đất ở bàn rồi khom người qua cửa hầm ngầm bước ra ngoài bóng tối lờ mờ dưới ánh sáng đạn pháo sáng, bước giữa tiếng ầm ầm của những loạt đạn súng máy, của những phát đại bác bị gió cuốn trên bờ luỹ đất của đường hầm.
 
Chương mười bảy

Ở hầm ngầm ra, Ve-xnin không tìm được đường hầm dẫn tới chỗ Bét-xô-nốp, tiếng súng máy như sát bên tai khiến tai ông bị ù đặc. Tới một khúc ngoặt trong đường hầm, ông nhận ra mấy người đang dứng trên luỹ đất nã tiểu liên xuống phía dưới. Không dừng lại, ông hỏi một cách máy móc:
-Các anh đã phát hiện ra cái gì thế? Các anh bắn đi đâu?
-Chúng nó đang bò trên các triền dốc!-Có người từ luỹ đất trả lời ông.-Chúng nó định lẻn vào, quân khốn…!-Rồi anh ta nã một tràng dài, lòng bàn tay vuốt lách cách trên băng đạn.-Xin lỗi đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.

Ve-xnin đã nhận ra thiếu tá Bô-gi-scô; chiếc mũ lông lắt lẻo ở sau gáy để lộ rõ mảng đầu hói sớm của anh, toàn bộ khuôn mặt anh ánh lên vẻ say sưa vui vẻ.
-Việc gì phải xin lỗi. Tôi đâu có phải là cô gái đẹp mà anh ngượng,-Ve-xnin nhếch mép cười và nói:-Trái lại tôi cám ơn vì tinh thần phấn chấn của anh. Tư lệnh đâu?
-Ở quá đây một chút, trong đường hầm, cùng với Đê-ép,-Bô-gi-scô đáp và tò mò hỏi:-Còn Ô-xin thế nào ạ? Anh ta đâu? Anh hùng thật đấy: vừa đi vừa chiến đấu, đột nhập được tới tận đài quan sát! Chỉ có điều không biết anh ấy tới để làm gì? Định kiểm tra tấm huân chương đeo vào ngực vì đã tham gia chiến đấu chăng? Ca-xi-an-kin cũng không biết rõ, không lộ bí mật quân sự! Tay cừ thật!

Bị kích động vì vừa nã súng, Bô-gi-scô nói một cách không tự nhiên, không che giấu thái độ tin cậy quen thuộc của mình khi trò chuyện với Ve-xnin và sau khi nói về Ca-xi-an-kin anh vỗ vào vai người nào đó đang nằm như một mô đất sẫm ở bên cạnh trên bờ công sự rồi anh cả cười:
-Tôi đang thuyết phục Ca-xi-an-kin phải giết chí ít là một tên xâm lược, như nhà thơ nói, để sau chiến tranh còn có chuyện mà kể, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, ấy thế mà anh ta lại bảo tôi là anh ta không thích thơ. Không sao, Ca-xi-an-kin, rồi mình sẽ dạy dỗ cậu, Ca-xi-an-kin ạ, cậu mài đũng quần chưa ăn thua gì đâu. Xin đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự tha lỗi cho cách nói thô lỗ của tôi… Hãy học hỏi đi. Ca-xi-an-kin, chừng nào tôi còn sống! Nã ít loạt đạn ngắn về phía kia đi!
-Thôi để cho tôi yên, đồng chí thiếu tá!-Ca-xi-an-kin cằn nhằn bằng giọng bối rối.-Thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, thiếu tá Bô-gi-scô không có quyền chỉ huy tôi và trách móc sau lưng…
-Anh vẫn còn ở đây đấy à, Ca-xi-an-kin? Ve-xnin nói.-Tại sao lại ở đây?
Vốn thường quen với tác phong giản dị và lối mỉa mia nhẹ nhàng của anh chàng Bô-gi-scô xởi lởi, Ve-xnin không chú ý tới những lời đùa cợt của anh ta. Sau khi trò chuyện với Ô-xin, được biết rõ câu chuyện đau lòng bất ngờ phơi trền số phận của con trai Bét-xô-nốp, khi trông thấy Ca-xi-an-kin ông chỉ nghĩ tới việc Ô-xin vẫn chưa đi khỏi đài quan sát. Bởi vậy khi Ca-xi-an-kin trườn từ bờ luỹ công sự xuống, sửa lại dây lưng, giũ đất khỏi mình, vẻ mếch lòng, Ve-xnin đã nói bằng cái giọng ra lệnh xa lạ đối với chính bản thân ông :
-Ca-xi-an-kin, anh hãy nghe cho rõ đây: đi tìm đại tá ngay bây giờ. Anh ấy đang chờ anh trong căn hầm ngầm của pháo binh. Ở cuối đường hào. Và lập tức quay trở về bộ tham mưu tập đoàn quân ngay. Đi đi. Chạy nhanh lên.
-Xin tuân lệnh, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.-Ca-xi-an-kin hét to, rõ ràng là phấn khởi. Anh ta thấy dễ chịu khi nghe mệnh lệnh đó và sau khi chào, anh lúng túng lao mình vào đường hào sáng lên dưới những quả đạn pháo sáng.
-Có chuyện gì thật sao, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự?-Bô-gi-scô nghiêm chỉnh trở lại, hỏi.-Hay là bí mật ạ?
Ve-xnin nói:
-Cái lối hài hước của anh ấy mà, Bô-gi-scô ạ, tôi có thể hiểu được vì tôi biết rõ anh. Nhưng anh chớ có tưởng rằng mọi người đều hiểu cả đâu. Anh có biết rằng có những người coi chuyện đùa là thật một cách quá nghiêm chỉnh không?
-Cám ơn đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự. Xin lỗi đồng chí chứ tôi thây kệ những tay nghiêm chỉnh ấy! Lý lịch của tôi trong veo như thuỷ tinh.-Bô-gi-scô vui vẻ nói.-Tôi sống một thân một mình ở trên thế gian này như một cái đinh. Và tuyệt lắm. Chẳng mất qua một tí gì ngoài những cái vạch trên quân hàm. Còn Ca-xi-an-kin là kẻ dốt nát và ngốc nghếch, hắn làm việc hùng hục như một cái rìu bổ củi, đến là nực cười. Hắn định dựa vào tình thân giữa các sĩ quan tuỳ tùng với nhau.
-Nghĩa là thế nào?-Ve-xnin không hiểu và cau mày.-Cụ thể là gì?
-Hắn là một chiếc rương to đấy, đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự ạ,-Bô-gi-scô cười vang.-Nhưng lạ lắm cơ… Hắn bảo tôi: “Anh sống với tư lệnh thế nào, ông tướng ấy cũng vầy vậy đấy chứ, ông ấy có bắt anh tháo giày không? Ông ấy có uống rượu Vốt ca không?”. Tôi mới bảo hắn: “Cậu có biết bài thơ: “Hãy giết tên giặc Đức” không? Cậu có biết cầm súng tiểu liên không? Người ta cầm súng như thế nào, cắp ở nách hay là ở phía dưới thắt lưng?”. Hắn lại nói: “ông tướng trông lầm lì lắm, ông ấy sống với chính uỷ thế nào, hoà thuận hay là mâu thuẫn?”. Tôi bảo hắn: “Cậu không đội nhầm cái bình đất có quai thay cho mũ sắt đấy chứ?”. Chúng tôi nói chuyện một cách cở mở, tuyệt lắm đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự ạ!
-Bét-xô-nốp ở đằng kia à?-Ve-xnin hỏi, đưa mắt nhìn về phía đường hào nơi có những bóng người thấp thoáng ẩn hiện dưới ánh pháo sáng. Ông bước trong đường hào nhưng trái với ý mình, ông bước chầm chậm và chợt dừng lại trong cái hốc đựng la bàn vì ông thấy không đủ sức nói với Bét-xô-nốp ngay lúc này về điều mà ông, với tư cách là uỷ viên Hội đồng quân sự, và đại tá Ô-xin được biết, về điều mà Bét-xô-nốp không thể nào ngờ tới được: về số phận khủng khiếp lạ lùng của chú bé cạo trọc đầu, với nụ cười đau khổ, con trai Bét-xô-nốp, chú bé đã không bị giết và đã sống trong trại tù binh từ mấy tháng nay.
“Anh ấy có thể hỏi về lý do khiến Ô-xin tới đây. Mình sẽ trả lời thế nào? Bây giờ mình lại gần anh ấy rồi nhìn vào mắt anh ấy mà nói dối tuy rằng, là một con người mình không có quyền làm như thế chăng?-Ve-xnin nghĩ.-Lúc ấy quan hệ giữa chúng mình rồi sẽ như thế nào? Không được, mình không thể lại gần anh ấy và làm ra vẻ như không có chuyện gì xảy ra. Giữa chúng mình cần phải có sự thành thực và trong sáng tuyệt đối… Nhưng mình không đủ sức nói với anh ấy lúc này về con trai anh ấy. Mình chịu không thể…”.
Ve-xnin cảm thấy rằng trong lúc quan hệ giữa hai người thực tế là không đơn giản và căng thẳng, ông càng đặc biệt không có quyền gì lẩn tránh vấn đề theo kiểu ngoại giao, ông không thể làm thế nào giảm nhẹ câu chuyện, lảng tránh điều chủ yếu. Và ông cứ đứng như vậy trong hốc đựng la bàn, ông cảm thấy hổ thẹn kinh khủng, như thể ông đang nôn oẹ trước mắt mọi người vậy.
-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích!-Ve-xnin bất ngờ bước ra khỏi hốc đựng la bàn, bước nhanh lại phía Bét-xô-nốp, đang đứng giữa các sĩ quan gần ống kính ngắm lập thể.-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích…
-Kìa, tôi đang cần gặp anh, Vi-ta-li I-a-ê-vích,-Bét-xô-nốp nói và rời khỏi kính ngắm, lấy khăn mùi soa lau những bụi tuyết lấm tấm trên mặt.-Sư ba linh năm đã xuất kích. Bây giờ chúng ta xem tình hình sẽ như thế nào. Nhưng điều chủ yếu là thế này…-Ông vẫn lau mặt bằng mùi soa với vẻ trầm ngâm lơ đãng.-Điều chủ yếu là lúc này các quân đoàn xe tăng và cơ giới. Phải giục giã, giục giã bằng mọi cách cho các quân đoàn đó đi nhanh lên! Tôi đề nghị anh, Vi-ta-li I-a-ê-vích, đi đoán quân đoàn xe tăng tại khu vực tập kết và nếu như anh không phản đối, anh hãy ở lại đó để phối hợp hành động cho có kết quả. Tôi coi đó là việc rất cần thiết. Nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như anh rất yêu mến các chiến sĩ xe tăng, phải không?
Ve-xnin thấy cổ họng nghèn nghẹn, ông chật vật đáp:
-Tôi sẽ làm tất cả mọi việc, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích… Tôi sẽ đi ngay…
-Anh đi đi. Chỉ có điều anh hãy luôn luôn chú ý khi vào trong làng: tình hình ở bờ phía Bắc chưa được khôi phục…
 
… Khi Ve-xnin tới chỗ đường hào mà ông vừa gặp thiếu tá Bô-gi-scô, anh này vẫn nằm bắn trên bờ công sự như trước đây. Những loạt đạn súng máy làm vai anh rung lên, chiếc mũ lông trật ra sau gáy.
-Thiếu tá Bô-gi-scô, tôi cần gặp anh!
Nghe tiếng gọi, Bô-gi-scô quay người lại, đưa nắm tay lên chỉnh lại chiếc mũ và hét to bằng giọng sau sưa vui mừng:
-Bọn Đức vẫn đang bao vây! Chúng đi xe bọc thép và bò lổm ngổm như những chiếc gọng kìm! Xin tuân lệnh, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.
Ve-xnin đứng yên trong đường hào, cúi đầu.
-Anh hãy nghe tôi nói đây, Bô-gi-scô! Bây giờ tôi phải đi đến chỗ quân đoàn xe tăng. Anh chớ quên điều này: hãy bảo vệ tư lệnh như giữ gìn con ngươi của mắt. Tôi khuyên anh nên luôn luôn ở sát bên tư lệnh.
-Rõ, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự-Rồi Bô-gi-scô hạ tiểu liên xuống, hỏi lại:-Đồng chí đi ngay bây giờ? Xin đồng chí thứ lỗi cho nhưng liệu có nên đi ngay lúc này không?... Địch đang nã súng vào khắp nơi trên điểm cao.
-Đại tá Ô-xin và đội bảo vệ sẽ cùng đi với tôi.-Ve-xnin khẽ lắc bả vai Bô-gi-scô-Sợ quái gì. Sẽ đi theo đường mà Ô-xin đã đi. Rồi mọi việc sẽ đâu vào đấy, Bô-gi-scô. Nếu chẳng may…
-Chúc mọi sự may mắn, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự!
Ve-xnin mỉm cười, khoát tay:
-Anh đi đi, Bô-gi-scô!

Đại tá Ô-xin và Ca-xi-an-kin vẫn ngồi cạnh bàn trong căn hầm ngầm của pháo binh, lắng nghe tiếng súng, cau có, lầm lì chờ đợi cái gì đó. Ve-xnin bước vào căn hầm và không vội giải thích, ông chậm rãi đưa mắt thăm dò Ô-xin vừa đứng bật ngay dậy và nói bằng giọng oai nghiêm, có vẻ xa lạ đối với ông.
-Tôi sẽ lên đường cùng với anh, đại tá Ô-xin. Đi đến làng Gri-gô-ri-ép-xcai-a. Xe để đâu? Anh hãy gọi đội bảo vệ đi theo!
-Tôi rất mừng, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, rất mừng. Cám ơn. Các xe được nguỵ trang đậu ở nhà kho dưới chân điểm cao,-Ô-xin hể hả nói, nhấc chiếc túi dã chiến ở bàn lên và hỏi không phải là không thận trọng:-Thế còn… tướng Bét-xô-nốp? Đồng chí ấy thì thế nào? Đồng chí ấy ở lại đây?
Ve-xnin không kìm được nữa:
-Thế ra anh tưởng rằng tôi đi với anh vì mục đích an ninh cá nhân chăng? Chả lẽ anh đinh ninh như vậy à?
-Thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Ô-xin động đậy hàng mi trắn có ý không bằng lòng,-Việc gì đồng chí phải giận dữ với tôi. Tôi nghĩ rằng đồng chí sẽ gặp uỷ viên Hội đồng quân sự phương diện quân tại đài quan sát của tập đoàn quân. Rồi chính đồng chí ấy sẽ bày tỏ với đồng chí mối lo ngại của mình.
-Đừng dềnh dàng nữa, Ô-xin. Anh hãy dẫn đường tới chỗ để ô tô!
-Chúng tôi sẽ đi qua rìa làng phía Tây Bắc,-Ô-xin nói.-Cho đến nay chỗ đó vẫn còn đi được.

Khi mấy chiếc xe để ở dưới chân điểm cao theo lệnh Ô-xin nổ máy, rẽ ngoặt vào đường làng, tăng nhanh tốc độ phóng về rìa làng phía Tây Bắc, Ve-xnin nghĩ rằng tình hình của sư đoàn Đê-ép quả thực không vững chắc và bấp bênh xiết bao. Nhìn từ trên cao, từ trên đài quan sát, tình hình trên bờ sông bên này dường như hơi khác, không đến mức nghiêm trọng và gay go cực độ như vậy.
Tiếng súng rất căng của trận đánh đã áp sát gần cứ liên tục xói vào tai.
 
Toàn bộ khu làng ở bờ sông phía Bắc đều bị chìm trong những đám cháy đang lan rộng, tất cả đều cong queo, sụp đổ, vặn vẹo, động đậy trong ngọn lửa do đạn trái phá nổ bùng lên giữa các ngôi nhà, những loạt đạn súng máy từ phía sau những nhà kho đang bốc cháy phụt ra những bó lửa hoa cà hoa cải, ngồi trong xe cũng ngửi thấy mùi không khí nóng bỏng hănghắc, đăng đắng. Không khí nóng bỏng lẫn với khói làm mắt cay xè, gây chảy nước mắt và ngứa họng. Người lái xe chốc chốc lại ho sù sụ áp ngực vào tay lái. Ve-xnin đã thoáng trông thấy những chiếc xe tăng ở cuối đường làng xa tít, chúng trườn đi như những tia hồi quang màu đỏ giữa các ngôi nhà, biến mất rồi lại hiện ra, đi xa dần xe của ông hay đúng hơn xe của ông đi xa khỏi chúng và không thể nào phân biệt được đó là xe tăng của bên nào.
-Tăng hết ga đi! Cứ đi theo xe của Tít-cốp, anh ấy thuộc đường lắm. Đi hết rìa làng rồi ngoặt về phía tay phải ngay!-Ô-xin hét to với vẻ kích động của một con người đang gánh chịu toàn bộ trách nhiệm rồi anh quay khuôn mặt bầu bĩnh, rắn chắc của mình về phía Ve-xnin.-Chúng ta sẽ phóng nhanh qua được, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự!
-Chắc là thế.
-Mọi việc sẽ đâu vào đấy,-Ô-xin xác nhận và hít hít không khí.-Phải vượt ba ki-lô-mét nguy hiểm…

Anh ta muốn nói chuyện nhưng hình như lúc này Ve-xnin không muốn nói.
Ông ngồi ở phía đằng sau, bên cạnh Ca-xi-an-kin đang lặng lẽ ngả lưng vào thành ghế; mỗi khi gặp ổ gà xe bị xóc, khẩu tiểu liên để trên đùi người sĩ quan tuỳ tùng lại thúc vào sườn Ve-xnin. Ca-xi-an-kin hết đưa mắt nhìn xuống con đường tuyết trắng rực sáng ven những ngôi nhà đang cháy. Nghe Ô-xin nói, Ca-xi-an-kin rùng mình khi hình dung ra chặng đường ba ki-lô-mét đó, đưa mắt sợ hãi nhìn sang bên phải và bên trái, Ve-xnin nghĩ: “Dẫu sao đây cũng là một anh chàng lôm côm. Hắn nhát gan quá mức thì phải!”.
-hãy giữ tiểu liên cho vững, Ca-xi-an-kin. Hay là đưa nó đây cho tôi,-Ve-xnin nói.-Tiếc rằng Bô-gi-scô đã không dạy được cho anh cầm súng cho đến nơi đến chốn.
-Dạ… để tôi cầm… tôi cầm, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Ca-xi-an-kin đáp, giọng giật nẩy lên và gật đầu:-Xin đồng chí thứ lỗi cho.
-Úi chà, Ca-xi-an-kin! Rồi tôi sẽ luyện cho cái đầu óc anh…-Ô-xin thốt lên giọng hơi bực bội, quắc mắt lên lườm Ca-xi-an-kin rồi hướng về phía Ve-xnin ra ý dàn hoà:-Cám ơn đồng chí, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự vì đồng chí đã hiểu đúng ý tôi… liều lĩnh một cách vô lý như thế để làm gì! Bản thân đồng chí lúc này có thể thấy rõ là vẫn còn một con đường duy nhất tương đối an toàn. Con đường duy nhất còn giữ được…
-Tôi đã hiểu đúng đồng chí, đồng chí Ô-xin,-Ve-xnin cố bình tĩnh đáp.-Đúng tới mức lúc này chúng ta chả còn chuyện gì để nói cả. Rồi ta sẽ nói chuyện sau.
-Rõ, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Ô-xin tán thành ngay với vẻ hiểu biết giả tạo và tựa hồ như cũng bình thản rồi anh xoay người lại một cách chậm chạp cố ý, thu xếp chỗ ngồi vững vàng trên ghế.

Ở phía bên phải, các đám cháy đã thưa thớt hơn, hình như sắp hết đường làng ở phía trước mặt. Xe chạy dọc bờ sông, điểm cao tròn trặn của đài quan sát sư đoàn đã nằm lại sau lưng, còn ở phía bên trái, trên nóc các ngồi nhà nhỏ, phía bên kia sông bầu trời vẫn sáng rực, nóng bỏng vì những quả đạn trái phá nổ tung và đạn pháo sáng toé ra vung vãi,-tất cả chìm lút trong tiếng ầm ầm dày đặc, đủ loại âm thanh.

Chiếc xe tắm trong ánh sáng màu hồng, đi về phía tay phải, xa dần đám cháy lớn đó, xa dần cuộc chiến đấu bên kia sông, leo lên cả dốc ở rìa làng, đi ngang qua những ngôi nhà cuối cùng và Ve-xnin bất giác cảm thấy nhẹ nhõm như được giải thoát, giờ đây ông nhìn theo chiếc xe của đội bảo vệ đi ở phía trước đang phóng hết tốc lực trên con đường dốc bóng như gương dẫn tới bình nguyên ở phía sau rìa làng, nơi kết thúc ranh giới của cuộc chiến đấu. Ở đó đêm tối hơi ánh hồng lên. Thậm chí khi động cơ ô tô rú lên vì vấp phải ổ gà, xe lắc mạnh vì chạy nhanh và lướt giữa sương mù thoáng đãng ở phía trước trên thảo nguyên nơi bóng đêm im lìm phủ kín, Ve-xnin cảm thấy rằng chỉ mãi đến lúc này mới thoát khỏi hiểm nguy, lúc này khu vực chiến đấu, xe tăng Đức trong làng, dòng sông, đài quan sát của sư đoàn trên bờ sông đã nằm lại sau lưng họ; và bất chợt ông hình dung thấy rõ như thật khuôn mặt lạnh lùng, mệt mỏi của Bét-xô-nốp đang lắng nghe báo cáo của các sĩ quan ở đó, trên điểm cao. Sau khi không phải là không lo lắng nghĩ tới chuyện đó, ông lại nhìn vào kính trước xe tắm trong quầng sáng, tấm lưng chắc nịch của Ô-xin, cái tai nhỏ bé, đỏ ửng, bị chiếc mũ lông che lấp mất một nửa nhô lên trên chiếc cổ áo lông của anh ta và ông trông thấy hết sức rõ đuôi mắt căng thẳng cả anh ta nhìn chằm chặp vào người lái xe như có ý dò hỏi và cảnh giác. Còn người lái xe vẫn ho sù sụ, áp mình vào tay lái, co giật, rùng mình như lên cơn động kinh tuy không còn ngửi thấy mùi khói súng nữa.
-Anh làm sao thế? Anh điên à? Tại sao lại giảm tốc độ?-Ô-xin bất chợt thét to và tì cả người lên anh lái xe:-Gì thế? Gì thế?... Có việc gì thế?
-Đồng chí đại tá!... Đồng chí hãy nhìn xem!-Người lái xe chật vật nói qua cơn ho liên miên.-Đồng chí hãy nhìn, hãy nhìn về phía trước mà xem!...
-Tít-cốp… Hình như Tít-cốp đang cho xe quay lại…-Ca-xi-an-kin thều thào nói, vươn cổ về phía người lái xe, nhổm người lên, bám cả hai tay vào lưng ghế trước; khẩu tiểu liên của anh ta tuột ra, lăn từ trên đùi xuống sàn xe đang rung bần bật, nẩy bật vào chân Ve-xnin.
-Xe tăng!...-người lái xe nói giọng khản đặc, mắt nhớn nhác như điên dại.-Bọn Đức ở phía trước!...
-Đâu? Bọn Đức nào?-Ô-xin la lên.-Chúng nó từ đâu tới? Xe tăng T-34 của ta đấy chứ! Tiến lên!... Cậu điên rồi à, đồ lẩm cẩm! Dấn ga đi!...
Khẩu tiểu liên vẫn cứ đập đập vào chân Ve-xnin.
“Dẫu sao anh hãy cầm lấy khẩu tiểu liên chứ!”-Ve-xnin vẫn định nói với Ca-xi-an-kin nhưng không nói vì ông đã trông thấy những gì đang xảy ra trước mặt
 
Chiếc xe rú to khi lên dốc, đi vào bình nguyên ở sau rìa làng. Ở đây sương mù màu hồng dựng đứng như một bức tường chạy dài đến chân trời đen thẫm và giữa bóng tối được quầng sáng trên trời rọi chiếu, ngay trên bình nguyên phía trước, chiếc ô tô đi đầu chở đội bảo vệ chồm lên và giật lùi một cách hỗn loạn, hối hả rẽ ngoặt trước những cái bóng to tướng giống như những đống rơm; sau cùng nó cũng đã quay lại được và phóng vun vút trên ổ gà, chạy ngược lại phía chiếc xe thứ hai. Ô cửa bên phải chỗ lái xe ngồi bật ra, thiếu tá Tít-cốp nhô cả nửa người ra ngoài xe, hình như anh thét to điều gì đó, giơ tiểu liên lên trời. Rồi anh bắn một tràng dài.
-Thế bây giờ anh còn tin chắc rằng đây là T-34 hay không, Ô-xin?-Ve-xnin thốt lên một cách bình tĩnh bất ngờ trong hoàn cảnh này đến nỗi chính ông cũng không phân biệt được giọng nói của mình.

Đúng vào lúc ấy chiếc ô tô phanh đột ngột khiến ngực ông bị đập vào lưng ghế trước đau nhói, nhưng ông cũng đã kịp trông thấy những cái bóng đen to tướng dưới bầu trời lờ mờ màu hồng đang phụt ra những tia lửa xuống tuyết, tiếng gầm rú inh tai của động cơ xe tăng từ phía đó vọng lại. Và lập tức một quầng lửa đỏ bay về phía trước, nổ vang như sấm. Cột lửa hình chóp nón xoè rộng trước mặt chiếc ô tô chở đội bảo vệ, hất nó sang một bên, phơi sườn trên bình nguyên. Chỉ có một người vọt được ra khỏi ô tô trên con đường xuống dốc. Hình như anh ta la hét cái gì đó, giơ tiểu liên lên cao quá đầu.
-Quay lại!...-Ô-xin điên cuồng ra lệnh rồi buông người trên ghế ngồi ở sau lưng, đấm vào vai lái xe.-Quay xe! Nhanh lên! Xuống dốc! Vào trong làng!
-Bọn Đức! Bọn Đức!... sao lại thế nhỉ?...-Ca-xi-an-kin kêu toáng lên, nép mình trong góc ô tô, thậm chí tựa hồ như anh ta định co đầu gối vào bụng và do những cử động ngớ ngẩn ấy của anh ta, do cái giọng khiếp sợ ấy của anh ta, có một cái gì đó sắc nhọn như nỗi sợ hãi loang đi, nhói vào lòng Ve-xnin.
-Im nga-ay, Ca-xi-an-kin!-Ông phẫn nộ vẻ kinh tởm gạt đầu gối gấp lại run rẩy của anh ta, nhắc lại:-Anh hãy im ngay đi! Hãy giữ bình tĩnh!
-Chúng nó ở liền ngay bên cạnh rồi, liền ngay bên canh! Chúng ta bị phục kích rồi!...-Ca-xi-an-kin nức nở la lên.-Thế là thế nào?...
-Anh im đi, tôi đã bảo kìa!

Ve-xnin đã nghe thấy Ô-xin ra lệnh: “Quay lại sau! Nhanh lên! Phóng hết tốc lực!”-Và chẳng đúng lúc tí nào, người lái xe ho rũ rượi, tay và vai lật đật xoay tay lái, Ô-xin vươn người về phía trước như con mãnh thú, sốt ruột đấm tay xuống nắp sắt che động cơ. Qua cửa kính ở thành xe, Ve-xnin toan ngó nhìn đám xe tăng và ngay khoảnh khắc đó ông có cảm giác là chiếc ô tô rốt cuộc đã quay đầu lại được và chẳng hiểu sao nó xiên ngang, nổ lốp, lăn tuột xuống dốc, y như thể nó bị lóa mắt vì quầng lửa thứ hai đang bay thẳng về phía nó. Sương mù náo động dựng đứng ngay trước mắt, tiếng kính loảng xoảng, hơi nóng ngột ngạt như từ lò sưởi cháy rừng rực bốc lên. Một cái xóc khủng khiếp hất tung Ve-xnin ở trong xe, đẩy ông về phía một người nào đó đang lổm ngổm và la hét rền rĩ. Với mưu toan kỳ lạ định giải thoát khỏi sự bất ngờ của tai họa đã xảy ra với ông, Ve-xnin vẫn còn nghĩ một cách tỉnh táo: “Miễn sao lúc này mình không bị ngất! Ai la hét thế nhỉ? Ca-xi-an-kin à? Cậu ta bị thương à? Tại sao cậu ta la hét ghê thế?”.

Nhưng cú xóc mạnh lần thứ hai làm đầu ông va vào sắt cứng và hình như ông đã bị choáng mất một lúc. Ve-xnin tỉnh lại ngay vì tiếng kêu, vì có người động đậy ở dưới ông và ông không hiểu ra ngày được tại sao mình lại nằm đè lên một người kỳ quặc nào đó một cách kỳ quặc như vậy, cửa xe không ở bên phải mà lại ở trên đầu; ông lờ mờ đoán ra: chiếc ô tô đã bị lật nghiêng ở dưới chân gò dốc. Trong cơn choáng, tất cả trôi bập bềnh trước mắt ông, kính của ông đã bị văng mất. Tuy chưa tỉnh hẳn, ông đưa hai tay quờ quạng tìm kính; ông đã trông thấy lờ mờ đầu của người lái xe không mũ, bất động ngoẹo xuống ô cửa thấp ăn sâu trong đụn tuyết; tấm kính phía trước bị vỡ, nắp máy ô tô bằng sắt tây nhô lên-không khí giá lạnh cùng với tiếng ầm ầm khó hiểu, rất gần ùa vào trong ô tô, tiếng ầm ầm đó át cả tiếng rền rĩ, tiếng kêu khàn khàn của Ca-xi-an-kin bị ông đè lên và tất cả những cái đó làm cho ông tỉnh hẳn.
-Ca-xi-an-kin, anh bị thương à? Sao anh kêu khiếp thế?-Ve-xnin nói yếu ớt, đến chính ông cũng khó nghe thấy.
-Cẳng chân… Cẳng chân tôi-giọng nói của Ca-xi-an-kin đập vào tai.
-Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, đồng chí có bị thương không? Đồng chí hãy bò ra nhanh lên, nhanh lên! Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự…

Có bóng người to lớn chắn hết cả ánh sáng rực ở bên ngoài, người đó hối hả dùng sức rứt, giật, cố mở cửa xe ở trên đầu và khi đã mở được cửa, thò hai cánh tay xuống túm lấy vai Ve-xnin và ra sức kéo ông lên. Khuôn mặt trắng trẻo của Ô-xin thấp thoáng trước mắt ông, anh ra lệnh bằng giọng nghẹt thở:
-Nhanh lên, nhanh lên đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự phải đi ngay, đi ngay!... Nhanh lên! Đồng chí không bị thương chứ? Đồng chí có đi được không?
-Ô-xin… tốt hơn hết ãnh hay giúp đỡ Ca-xi-an-kin, hình như cậu ấy bị thương,-Ve-xnin thì thào và leo ra khỏi cửa xe, nhảy xuống đám tuyết rồi bám vào thành xe vì hơi chóng mặt.
-Ca-xi-an-kin!-Ô-xin giận dữ quát lên, gập hẳn người vào trong cửa xe.-Cậu bị thương à? Bị thương hay giả vờ đấy? Bò ra ngày! Rõ chưa? Dù ngắc ngoải cũng bò ra! Tiểu liên đâu? Tiểu liên đâu?
 
Giữa lúc ấy có người nhảy bổ lại phía Ve-xnin, thở hổn hển nóng hổi: “Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự!”-Và chưa dứt lời, người đó đã dùng những ngón tay cứng như sắt kéo giật ông xuống, thét lên ra lệnh bằng giọng nghèn nghẹn:
-Đồng chí hãy nằm xuống đằng sau xe, chỗ này này! Xin đồng chí đừng đứng thẳng người lên như thế!... Chúng ta đã vấp phải địch! Không hiểu xe tăng của chúng từ đâu tới đây? Chúng từ đâu tới đây? Trước làm gì có!...

Đó là thiếu tá Tít-cốp, đội trưởng đội bảo vệ. Ve-xnin nhớ ngay ra là chính Tít-cốp đã chạy từ chỗ xe bị bắn hỏng của anh tới chỗ ông, sau khi anh đã bắn một tràng súng báo hiệu và quả đạn đầu tiên của địch nổ tung. Lúc này sau khi đẩy Ve-xnin vào phía sau xe để bảo vệ ông, Tít-cốp cũng bổ nhào trên nắp xe, tì người lên ngực và khuỷu tay, chuyển khẩu tiểu liên sang tay trái đang đỡ băng đạn, chăm chú nhìn lên mép gò đất, từ đó vọng lại tiếng rú của động cơ xe tăng. Ve-xnin ngăn anh lại:
-Đừng bắn, Tít-cốp! Đợi cho xe tăng chúng nó đi qua! Đừng nóng vội! Anh định dùng tiểu liên chống lại xe tăng à?... Phải đợi thôi!...
-Tôi có lỗi với đồng chí, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Tít-cốp nói, giọng nghẹn ngào.-Vì tôi chịu trách nhiệm về tính mạng của đồng chí…
-Xin đừng thanh minh nữa!-Ve-xnin nổi ũng lên.-Chính tôi chịu trách nhiệm về tính mạng của mình.
-Kia kìa, chúng nó kia kìa… chúng nó đánh tạt sườn vào làng từ phía bên trái!-Tít-cốp thốt lên.-Giá chúng không nhận ra… Mười hai xe tăng. Có cả xe bọc thép chở quân.

Vì mất kính nên Ve-xnin không thể nhìn rõ tất cả những gì mà cặp mắt tinh như mắt mèo của Tít-cốp nhìn thấy. Bóng những chiếc xe tăng to lớn bồng bềnh, tiếng động cơ gào rú át hết cả mọi âm thanh, phụt những tia lửa tung tóe khỏi ống xả, thong thả chuyển dịch theo gò đất tối thẫm dưới quầng sáng trên trời lẫn vào làn sương mù hồng hồng trên thảo nguyên, cách bãi đất thấp nơi chiếc xe bị lật nghiêng chừng một trăm mét. Ve-xnin cảm thấy bất lực đến đau lòng nghĩ rằng có lẽ lúc này Bét-xô-nốp và Đê-ép ở đài quan sát vẫn còn chưa hay biết gì về những chiếc xe tăng đã đột kích vào đây, vào rìa làng phía Tây Bắc.

Ông vừa nghĩ tới đó thì một loạt đạn súng máy lóe lên như chớp bay vút phía trên xe và Tít-cốp là người đầu tiên trông thấy những gì mà đôi mắt cận thị của Ve-xnin không nhận ra. Khoảng một chục tên Đức đang đi từ chỗ gò đất tới đường cái: rõ ràng đó là đội trinh sát địch tới để kiểm tra xem trong xe có còn ai sống không.

Bọn Đức đi xuống phía dưới triền dốc một cách thận trọng; hai tên trong bọn chúng giữ khẩu súng máy trên đỉnh gò dốc và đứng bắn: một tên cúi xuống, tên kia đặt nòng súng máy lên lưng tên này như đặt trên giá súng vậy. Một giây trước Tít-cốp còn hy vọng rằng bọn Đức chỉ đi ngang qua đây thôi, lúc này anh hầu như tuyệt vọng nhìn Ve-xnin và muốn kêu lên một cách vô ích: “Thế nào chúng cũng đi tới đây!”. Nhưng Ve-xnin im lặng, tháo găng tay, rút khẩu súng ngắn ra khỏi bao. Ông đã đoán ra điều không thể tránh được: bọn Đức lại gần chiếc xe.
-Phải đi khỏi đây! Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, đồng chí hãy chạy lại phía những ngôi nhà nhỏ kia! Đồng chí hãy chạy khỏi đây! Chúng tôi sẽ yểm hộ! Ca-xi-an-kin, hãy dẫn uỷ viên Hội đồng quân sự đi! Ca-xi-an-kin, đứng dậy!... Đứng dậy, tôi ra lệnh!...

Đại tá Ô-xin lôi Ca-xi-an-kin từ trong xe ra, dùng cánh tay phải đẩy mạnh, định áp lưng người sĩ quan tuỳ tùng của mình vào nắp xe, tay trái nắm chặt khẩu tiểu liên của anh ta. Ca-xi-an-kin bò qua nắp xe, vặn vẹo người, vẫn cố ngồi trên đám tuyết, kêu lên ư ử, giọng van xin:
-Đồng chí đại tá… thân mến… cẳng chân, cẳng chân tôi bị trẹo… Tôi không thể nào đi được!...-Rồi anh ta giãy giụa gạt cánh tay Ô-xin ra, lắc lắc khuôn mặt méo xệch vì khóc.
Ve-xnin rùng mình.
-Thôi để cho anh ta yên!-Ve-xnin nói, thậm chí ông cảm thấy khiếp sống lưng ớn lạnh vì tiếng kêu la vô cùng khiếp sợ đó, vì tiếng súng bắn gieo rắc cái chết.
Lúc ấy Ô-xin hằn học, ghê tởm buông người Ca-xi-an-kin mềm nhũn như một cái túi ra, anh lao cả người về chỗ Tít-cốp và Ve-xnin giọng khản đặc, thở hổn hển, ra lệnh như một người chịu trách nhiệm về tất cả mọi việc:
-Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, đồng chí hãy đi ngay tới những ngôi nhà nhỏ kia! Chạy, bò tới chỗ các ngôi nhà đó! Đồng chí hãy nấp ở đó! Khoảng hai trăm mét thì tới! Tít-cốp! Chúng ta ở lại đây! Không trông mong gì vào Ca-xi-an-kin được nữa…
Tiếng la như hấp hối của Ca-xi-an-kin vẫn vọng trong tai Ve-xnin tuy Ca-xi-an-kin chỉ rền rĩ, sụt sịt, lăn như một cục đen sẫm vào cạnh chiếc xe.
-Không được, Ô-xin,-Ve-xnin đáp, ông đứng ở phía sau xe và mở chốt an toàn súng ngắn.-Tôi sẽ không chạy đi đâu cả. Để làm gì? Đó không phải là lối thoát, Ô-xin ạ.
-Đồng chí chưa hiểu, đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.-Ô-xin thét lên.-Đồng chí có hiểu thế nghĩa là thế nào không?...-Khuôn mặt trắng trẻo của anh ghé sát vào mặt Ve-xnin.
-Tôi hiểu… chúng ta sẽ chiến đấu ở đây, Ô-xin ạ.
 
Ve-xnin hết sức tỉnh táo hiểu rõ tất cả cái tình thế không còn chút hy vọng nào lúc này, ông hiểu rõ rằng ông sẽ không thể chạy kịp tới các ngôi nhà nhỏ với khoảng cách hai trăm mét trên bãi đất thấp được chiếu rọi dưới quầng sáng ở trên trời, ông hiểu rõ rằng không có lối thoát, rằng một điều khó tin, bất ngờ đã xảy ra trong đời ông, cái điều đã từng xảy ra với những người khác, cái điều khó mà tin được, như trong một cơn ác mộng, khi tất cả các cửa đều lần lượt đóng im ỉm trước mặt ông.

Ông hiểu rằng bọn Đức đang tới, chúng đang tụt theo triền dốc của gò đất tới chỗ chiếc xe và cuộc chiến đấu vô vọng này mà ông phải chấp nhận do tình thế không lối thoát sẽ chẳng kéo dài lâu. Nhưng dẫu sao ông cũng vẫn không hình dung được rằng mình lại có thể chết sau nửa giờ, một giờ nữa, rằng tất cả sẽ bất ngờ và mãi mãi biến mất và ông sẽ không còn nữa.

Ông đứng thẳng, nheo đôi mắt cận thị lại, tì tay cầm khẩu súng ngắn lên thành xe, cảm thấy cái lạnh toát của khẩu súng bằng thép không phải trong tay mà trong lồng ngực mình và đồng thời ông cũng cảm thấy vai của thiếu tá Tít-cốp và Ô-xin chèn chặt cứng lấy ông từ hai phía.

Tiếng xe tăng nghiến ken két, rú ầm ầm làm rung chuyển cả mặt đất, những chiếc xe tăng từ thảo nguyên tạt sườn vào làng, bóng những tên xạ thủ tiểu liên Đức rải rác trên gò cao, đang tụt xuống triền dốc đến chỗ xe, khẩu súng máy lúc này không bắn nữa. Hình như bọn Đức chỉ đinh bắn mấy loạt đạn đầu để thăm dò xem ở đây có ai còn sống không, vì thế chúng đi thẳng người, yên tâm trao đổi với nhau bằng giọng xì xồ khó hiểu.
-Ba-ắn!...-Ô-xin ra lệnh, và văng một câu tục, anh nằm ép bụng lên thành xe, nã một băng đạn dài đầu tiên khủng khiếp vào những cái bóng đang phơi mình ra đó; tiếng súng nổ tành tạch sôi sục làm cho gò má rắn đanh của anh lồi hẳn ra như một cái bưới.-Bă-ắn. Tít-cốp! Hãy giết quân súc sinh, đừng để cho chúng lại gần!... Bắn vào lũ chó đẻ ấy!... Giết chết ngay chúng đi, giết ngay!...

Tít-cốp cũng lia một băng dài ở phía bên trái Ve-xnin.
Tính từng viên đạn, Ve-xnin bắn hai lần vào những cái bóng đã gục trên nền gò đất đo đỏ-những cái bóng đó đã gục xuống hòa lẫn với đất. Một giây sau những tia lửa rít như xé không khí, lóe lên dày đặc từ sau đám tuyết, quất vào nóc xe; những đốm lửa xanh lè nổ tung rọi sáng con đường. Khẩu súng máy của Đức vẫn im lặng, còn bọn xạ thủ tiểu liên bắn gần đến nỗi tưởng như gió hất mất mũ lông ở trên đầu. Sau đó một giọng nói lại tai, lơ lớ cố hết sức gào lên giữa những loạt súng tiểu liên: “Thằng Nga đừng bắn nữa, đừng bắn nữa!” rồi một bóng người từ đụn tuyết nhô lên, lọt vào trước đầu rồi họng súng của Ve-xnin, hắn nã một tràng súng chỉ thiên để cảnh cáo, sau đó lại nghe thấy tiếng gào: “Thằng Nga đầu hàng đi, đầu hàng đi!”. Nhưng Ve-xnin đã bắn hai lần nữa vào kẻ có cái giọng lơ lớ lạ tai, đáng căm thù, đã hứa sẽ dung thứ cho họ, rồi ông lại bắn nữa, cắn chặt môi, nhằm cẩn thận, trong khi đó tiếng thét của Ô-xin như từ rất xa vọng vào tai:
-“Đầu hàng” cái con mẹ mày! Chúng mày không thoát được đâu, quân súc sinh phát xít, không thoát được đâu!

Khi khẩu trung liên nã thẳng hàng loạt đạn cách chiếc xe chừng hai chục mét, về phía bên kia đường. Ve-xnin vẫn còn chưa chịu chấp nhận rằng bọn Đức đã tới gần sát. Ý thức của ông lúc ấy đã cưỡng lại, đã gạt bỏ không chấp nhận điều không tránh được đang ập tới. Và khi cảm thấy khẩu súng ngắn vẫn còn giật ở trong tay mình ông vẫn còn tin, thuyết phục mình rằng điều không thể tránh được đó sẽ không tới lúc này, nó sẽ chỉ tới sau vài phút nữa, nó không tới ngay khi Ô-xin và Tít-cốp chưa hết đạn và khi ông hãy còn một viên đạn cuối cùng… “Mình còn mấy viên đạn nữa? Mấy viên?...-Ông nghĩ, bất giác kìm ngón tay trên cò súng.-Miễn sao bình tĩng, đừng hấp tấp, chỉ cần tính toán đúng…-Chắc hẳn Tít-cốp phải còn đạn dự trữ, hẳn là phải còn…”.
-Thiếu tá Tít-cốp, anh còn…

Và bỗng nhiên ông cảm thấy nghẹt thở-một phát đạn cứng đơ, nóng bỏng xói vào ngực, hất mạnh ông văng về phía đằng sau khiến những lời nói cuối cùng của ông bị nghẹn lại nhưng ông vẫn còn trông thấy cặp mắt của thiếu tá Tít-cốp quay về phía ông, như lặng lẽ la thét lên về nỗi bất hạnh tưởng như không thể nào xảy ra được. Và một giọng nói khác ở bên cạnh:
-Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự!... Đồng chí ủy viên…

“Cậu ấy thấy gì trên khuôn mặt của mình?-Ve-xnin thoáng nghĩ và ngạc nhiên trước vẻ tuyệt vọng, sửng sốt trong cặp mắt Tít-cốp, ông đưa bàn tay đã cầm khẩu súng ngắn ép chặt vào ngực tựa hồ như vẫn còn gạt bỏ điều không thể tránh được đã xảy ra với ông. Chả lẽ lúc này sao? Chả lẽ như thế ư?... Chả lẽ nó lại ập đến nhanh như thế?-Ve-xnin nghĩ. Ông cảm thấy nhẹ nhõm, từ ý thức, ông như bất ngờ hiểu rõ những gì đang xảy ra lúc này với ông, ông muốn nhìn cánh tay xem có thấy máu trên đó không… nhưng ông không nhìn thấy máu.
-Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự! Đồng chí bị thương à? Bị thương vào đâu? Bị thương vào đâu?...-một giọng nói vừa quen thuộc và hoàn toàn lạ lẫm vang lên, tất cả đều mờ đi, mờ dần, đi, lùi xa vào một khoảng trống câm lặng, còn những làn sóng đỏ hông vẫn chập chờn trước mắt, lăn tới chỗ một cái gì đó lớn lao vô cùng, mờ mờ sẫm đen, không hẳn giống sa mạc cháy rụi nóng bỏng, không hẳn giống bầu trời đêm phương Nam thấp tịt. Và ông đau đớn cố tìm hiểu xem đó là cái gì, ông nhìn rõ như thật mình và cô con gái Nhi-na trong bóng đem ngột ngạt ở phương Nam, trên bờ biển gần Xô-tri, nơi ông đã đưa con gái tới nghỉ sau khi ly dị vợ và năm ba mươi tám. Chẳng hiểu sao ông lại mặc quần trắng, vận chiếc áo vét màu đen tang tóc đứng trên bãi cát của bãi biển hoàn toàn hoang vắng có bầy những chiếc ghế nằm lẻ lỏi như những vết ẩm sẫm màu, ông đứng đó, cổ họng đắng ngắt và nghẹn lại vì nhận ra lỗi lầm, biết rằng chính tại nơi đây, trên bãi biển này, sau những buổi đi dạo ban ngày với con gái ông đã gặp gỡ người đàn bà về sau trở thành người vợ thứ hai của ông. Còn Nhi-na như đoán ra điều gì đó, òa khóc, túm lấy, giật giật cái quần trắng của ông và ngước khuôn mặt thơ ngây đẫm nước mắt của mình về phía ông đòi về Mát-xcơ-va với mẹ, cầu xin ông đưa nó đi ngay: “Ba ơi, con không muốn ở lại đây nữa, ba ạ, con muốn về nhà, con muốn về với mẹ, ba đưa con đi nhé…”.
 
Khi cảm thấy cánh tay con gái run rẩy bám chặt, tấm thân yếu ớt của nó áp chặt vào ông, ông muốn bảo nó rằng không xảy ra chuyện gì cả đâu, rằng mọi việc sẽ tốt đẹp nhưng ông đã không thể nói, không thể làm được gì cả-mặt đất vững chắc đã sụt lở dưới chân ông…

Loạt đạn súng máy đã giết chết ông, sức mạnh của nó hất ông về phía sau hai bước và trong những giây phút Ve-xnin đưa những ngón tay còn nắm chặt khẩu súng ngắn áp vào chỗ ngực bị đạn bất ngờ xuyên thủng, ông nằm ngửa trên tuyết, máu ứa ra từ họng.
-Tít-cốp!... Uỷ viên Hội đồng quân sự làm sao thế? Sao thế?!

Ve-xnin đã không còn nghe và trông thấy, Ô-xin ngừng bắn, nhảy tới chỗ ông trong lúc thiếu tá Tít-cốp đã quỳ bên người ông, khuôn mặt lỗ vẻ kinh hãi, định thăm dò, thọc tay vào chỗ chiếc áo choàng dính nhơm nhớp, sẫm màu bị xé tướp ra trên ngực ông; ông cũng không còn nghe thấy lời đáp ngắn ngủi của Tít-cốp cũng như những tiếng kêu khản đặc, điên khùng man rợ của Ô-xin:
-Quân phát xít chó đẻ!... Thiếu tá Tít-cốp! Dù uỷ viên Hội đồng quân sự chết rồi cũng phải mang đi! Dù chết rồi!... Rõ chưa? Cậu mang đi! Tới những ngôi nhà nhỏ kia. Đi theo lề đường! Tôi sẽ đuổi theo cậu!...

Tít-cốp cắn chặt môi đến bật máu, lật tấm thân bị đạn súng máy xé nát của Ve-xnin lên tấm lưng rắn chắc của mình và cõng ông đi. Ô-xin còn nằm lại bên cạnh xe mấy phút nữa, bắn những loạt đạn dài về phía bọn Đức, thét to những lời chửi rủa khủng khiếp và khi khẩu súng máy Đức im tiếng anh vọt dậy, quật báng súng vào thành xe và điên cuồng quát vào gầm xe tối om nơi vẫn lọt ra những tiếng rên ư ử như trong cơn bất tỉnh vì choáng của Ca-xi-an-kin:
-Ca-xi-an-kin, đồ súc sinh hèn nhát, chúng nó đang giết người vậy mà mày vẫn còn sống à? Mày định quỳ gối trước bọn Đức hả? Bảo mạng hả? Cái cẳng chân cản trở mày bắn à? Bò ra, đồn khốn kiếp! Bò ra!
-Đồng chí đại tá thân mến, đồng chí đại tá!... Không nên thế! Tôi có tội tình gì đâu!...-Ca-xi-an-kin nức nở khóc, vẫn không bò ra khỏi gầm xe.-Hãy giết tôi đi! Hãy giết đi!...
-Câm mồm ngay!-Ô-xin thét lên, răng vẫn nghiến chặt. Bắn mày cho phí đạn! Bò ra, thằng hèn! Chạy theo Tít-cốp!... Nào! Chạy đi, đừng để tao đổi ý!...

Và một vật gì đó chẳng ra hình thù gì, run rẩy bò nhanh từ dưới gầm xe ra. Ca-xi-an-kin giương cặp mắt sững sờ, lải nhải mãi một giọng:
-Đồng chí đại tá, đồng chí đại tá…
-Câm ngay, đồ hôi thối! Chạy đi!...
Ô-xin khom người, vọt tiến rời khỏi chiếc xe, lao về phía lề đường, đuổi theo Tít-cốp vừa chạy vừa bò, vẫn cõng theo tấm thân Ve-xnin đã cứng lại trên lưng anh.
 
Chương mười tám

Khẩu pháo của U-kha-nốp, dường như do một phép lạ là khẩu duy nhất còn nguyện vẹn, đứng ở cách cái đầu cầu bị đạn trái phá đốt cháy rụi và làm cho vênh váo khoảng một ki-lô-mét rưỡi, đến chiều tối khẩu pháo cũng câm bặt khi bắn hết số đạn lấy được từ ba khẩu pháo bị bắn hỏng.

Cả Cu-dơ-nét-xốp lẫn U-kha-nốp đều không thể biết chắc chắn rằng xe tăng thuộc tập đoàn quân của thượng tướng Gốt đã cường tập vượt được qua con sông Mư-scô-va và ở hai địa điểm trên cánh phải của tập đoàn quân và không giảm sức tiến công, vào lúc chập tối đã thọc sâu vào tuyến phòng ngự của sư đoàn Đê-ép, chia cắt sư đoàn này ra, siết chặt trung đoàn Trê-rê-pa-nốp vào gọng kìm ở khu làng phía Bắc bờ sông. Nhưng họ biết rõ rằng một bộ phận xe tăng địch, khó đếm rõ là bao nhiêu chiếc, tới chiều đã đè bẹp các tiểu đoàn pháo bên cạnh, chà nát tuyến phòng ngự của các tiểu đoàn bộ binh ở phía trước và bên trái rồi xông tới các vị trí pháo binh của ta, trong đó có tiểu đoàn của Đrô-dơ-đốp-xki, đi qua cầu sang bờ sông bên kia, sau đó chiếc cầu này đã bị giàn “Ca-chiu-sa” của ta phá hủy và bắn cháy.

Điều khó hiểu hơn cả là lúc trời tối trận đánh bắt đầu lùi ra xa, dần dần lặng đi ở phía sau lưng họ, nơi quầng sáng dâng lên, phình ra đỏ lóe trên khắp dải bờ phía Bắc, mới đây hãy còn là hậu phương. Ở đây, trên dải bờ phía Nam, trước tường hào đầu tiên của bộ binh bị xe tăng địch cào xới lên khủng khiếp, trước những hỏa điểm bị đè bẹp của các khẩu đội, trận đánh cũng lặng đi một cách khó hiểu, các cuộc tiến công ngừng lại mặc dầu ngọn lửa vẫn cháy phần phật; ở khắp nơi xăng tổng hợp bùng cháy như những đảo lửa, những chiếc xe tăng đơn độc hoặc cụm lại từng đám vẫn cháy nốt trên các gò cao, những chiếc xe vận tải bọc thép trúng đạn trái phá bị cháy đen thui, ngọn lửa lan rộng trên những khung thép của các xe tải Ô-pen mà lúc chiến đấu Cu-dơ-nét-xốp không nhìn thấy, có lẽ chúng đi theo sau xe tăng.

Những bó tia lửa phụt ra từ các xe đang cháy bị gió cuốn lên bờ khe, tắt lụi trong gió tuyết mịt mù thổi sát đất; những mảnh tuyết nhọn hoắt và những ngọn lửa cháy lặng lẽ gở lạ đó trong thảo nguyên làm cho mắt cay xè. Ba chiếc xe tăng hãy còn bốc khói ngay phía trước hỏa điểm của trung đội từ vỏ thép cháy rụi thành than làn khói đặc quánh tuôn xuống đất và khắp nơi bốc lên nồng nặc mùi sắt tây, mùi cao su dìu dịu, mùi thịt người bị thiêu cháy.

Cái mùi lờm lợm gây buồn nồn đó xộc vào mũi làm cho Cu-dơ-nét-xốp tỉnh hẳn. Anh nôn ọe hồi lâu, nằm vắt mình qua bờ công sự, nghẹt thở, ho nhưng dạ dày trống rỗng, không thấy dễ chịu vì những cơn nấc làm thắt cả ngực lẫn họng. Sau đó anh lau môi, tụt khỏi bờ công sự, hoàn toàn không ngượng ngùng vì U-kha-nốp và anh em pháo thủ đã thấy được sự yếu đuối của anh, điều ấy chẳng có ý nghĩa gì.

Giờ đây hình như một người nào khác đã cảm nghĩ và làm tất cả những gì Cu-dơ-nét-xốp đã nghĩ và đã làm, anh đã mất đi những cảm giác trước đây,-tất cả đã thay đổi, bị đảo lộn trong ngày hôm ấy, tất cả đều đã được đo bằng những thước đo khác với hôm trước. Có cảm giác như tất cả đều bị bóc trần trụi hết mức.
-Tôi chịu không thể,-Sau cùng Cu-dơ-nét-xốp khẽ thốt lên.-Ruột gan cứ như bị lộn trái ra.

Vẫn chưa hiểu nổi sự im lặng đan lan tới trung đội, anh đưa tay xoa lồng ngực bị siết chặt một cách vô ích sau những quai da đeo chéo, đưa mắt nhìn anh em pháo thủ hầu như tai đã bị ù đặc khi chiến đấu.

Thượng sĩ U-kha-nốp ngồi trên mặt bằng hỏa điểm, mệt lả đến cùng cực, ngả đầu vào vách công sự, cặp mắt bất động hé mở tựa hồ như anh ngủ mà không nhắm mắt. Nửa giờ trước đây, sau khi Nết-trai-ép la lên rằng đạn đã hết, anh đã cất tiếng cười vang một cách lạ lùng, sụp xuống đất gần khẩu pháo và cứ ngồi như vậy với nụ cười vô nghĩa, chiếc ống nhòm lủng lẳng trên chiếc áo bông mở phanh, mắt đờ đẫn nhìn về phía chân trời rực lửa, nhìn những đường đạn thưa thớt ở phía bên kia sông nơi cuộc chiến đấu đã chuyển sang.

Nòng pháo nóng bỏng vì bắn nhiều tóe ra những tia lửa xanh lè, giống như những con đom đóm, bay đi và tắt lụi trong bóng đêm, những mảnh tuyết rơi lanh canh xuống lá chắn.
-U-kha-nốp!... Cậu có nghe thấy không?-Cu-dơ-nét-xốp gọi khẽ.

U-kha-nốp không nghe rõ tiếng gọi đó vì cũng bị ù tai lúc chiến đấu, anh rời cặp mắt dửng dưng khỏi đám cháy ở chân trời, nhìn Cu-dơ-nét-xốp hồi lâu rồi uể oải đưa một tay lên khoanh một vòng tròn trong không gian và Cu-dơ-nét-xốp gật gật mái đầu đang ong ong của anh như một người say rượu.
-Có thể nghe được,-anh đáp. Và anh thong thả liếc nhìn anh em pháo thủ, có ý tìm hiểu qua nét mặt xem họ có hiểu rằng cuộc chiến đấu dẫu sao cũng đã kết thúc rồi không.
 
Trong bảy anh em pháo thủ ở đây chỉ còn lại có hai người là Nết-trai-ép và Tri-bi-xốp, cả hai đã kiệt sức đến cùng cực, sau nhiều giờ chiến đấu, đã mất hẳn cảm giác hiện thực, thể lực suy sụp đến tột độ, họ không hỏi gì và cũng không nghe thấy gì cả. Trắc thủ Nết-trai-ép vẫn không rời khỏi kính ngắm, anh quỳ trước ống kính, trán tựa vào khuỷu tay gấp lại, ngáp đến sái cả quai hàm: “Á-á-á-á…”. Tri-bi-xốp nửa nằm nửa ngồi ở phía bên kia ổ nạp đạn, co ro, rụt đầu trong áo choàng, chỉ trông thấy một phần má bác râu ria lởm chởm, màu lơ xám, bẩn thỉu nhô ra khỏi cổ áo và chiếc mũ lót, miệng bác bật ra những tiếng phì phò mệt mỏi đều đều, rền rĩ, tựa hồ như bác cũng không thở được.
-Ôi lạy Chúa, lạy Chúa, tôi kiệt sức rồi…

Cu-dơ-nét-xốp nhìn Tri-bi-xốp đang nhắc lại những tiếng lảm nhảm đó như lời cầu kinh khi bất tỉnh nhân sự; anh cảm thấy mình bắt đầu bị cóng: quần áo lót dính chặt vào người, chiếc áo va rơi đã không còn ấm áp nữa, gió luồn qua áo choàng. Tiếng ngáp ngột ngạt của Nết-trai-ép, gió thổi lạnh buốt pha lẫn với mùi thịt cháy hăng hắc vẫn còn đọng trong không trung làm cho quai hàm anh co lại. Anh kinh tởm nuốt nước bọt, bước lại gần Tri-bi-xốp, khẽ hỏi:
-Bác Tri-bi-xốp, bác không ốm đấy chứ? Bác thấy trong người như thế nào?-Và anh bẻ cổ áo choàng che mặt cho bác.

Đôi mắt tròn xoe vì bất ngờ sợ hãi ngước nhìn lên như cái nhìn của kẻ bị săn đuổi nhưng lập tức mắt bác nhấp nháy, bác đã nhận ra Cu-dơ-nét-xốp, trông có vẻ tỉnh dần và những tiếng thét của Tri-bi-xốp vang lên làm cho chính bác cũng hết sức phấn khởi:
-Tôi khỏe, khỏe, đồng chí trung úy! Tôi vẫn đứng vững. Vì Chúa, xin đừng nghi ngại! Tôi phải đứng dậy à? Không à? Đứng dậy à? Tôi có thể bắn được…
-Chả có gì mà bắn,-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên, lờ mờ nhớ lại hình ảnh Tri-bi-xốp lúc chiến đấu-những động tác của bác ở ổ nạp đạn khi kéo giật tay cò về phía sau, bộ mặt bối rối như thể chả còn chút sinh khí cuối cùng, khuôn trong lần mũ lót mà bác chưa hề tháo ra từ lúc hành quân và đồng thời cả tấm lưng của bác co rúm lại như thể sẵn sàng đón nhận điều khủng khiếp. Có lẽ bác nạp đạn không kém và cũng không hơn những người khác nhưng tấm lưng đó của bác đập vào mắt Cu-dơ-nét-xốp, làm nhói lên trong lòng anh một nỗi thương xót độc hại và khiến cho anh lúc nào cũng muốn la lên: “Sao bác cứ co ro thế, để làm gì hả?”-Nhưng lúc nào anh cũng nhớ rằng Tri-bi-xốp gấp đôi tuổi anh và có năm con.
-Lúc này thì chấm dứt rồi, bác Tri-bi-xốp ạ, bác hãy nghỉ ngơi đi.-Cu-dơ-nét-xốp nói và anh quay người đi, ngực thắt lại vì buồn nôn, đau đớn lặng người đi vì sự trống rỗng câm lặng ở xung quanh…

Đây là khẩu pháo duy nhất còn nguyên vẹn của cả trung đội hết sạch cả đạn và số phận đã mỉm cười với bốn người trong đó có cả anh, những người đã ngẫu nhiên may mắn sống sót qua suốt một ngày đêm chiến đấu liên tục, sống lâu hơn những người khác. Nhưng không thấy niềm vui sướng. Rõ ràng là bọn bọn Đức đã chọc thủng tuyến phòng ngự, cuộc chiến đấu hiện đang diễn ra ở hậu phương, sau lưng họ; trước mặt họ vẫn là những chiếc xe tăng Đức đã ngừng tiến công vào lúc chiều tối, còn họ thì chẳng còn một trái đạn nào. Sau tất cả những gì anh đã phải trải qua trong suốt một ngày đêm đó, anh, như bị bệnh, đã vượt qua một cái gì đó-và cái cảm xúc mới mẻ, hầu như có tính chất tiềm thức đó đã đẩy anh tới trạng thái căm thù say sưa, có sức hủy diệt, tới trạng thái khoái trá vì sức mạnh của mình mà anh đã trải qua khi anh bắn vào những chiếc xe tăng và thấy chúng bốc cháy.

“Cứ như là mê sảng ấy. Đã xảy ra một điều gì đó trong lòng mình,-Cu-dơ-nét-xốp ngạc nhiên nghĩ.-Chừng như mình lấy làm tiếc là cuộc chiến đấu đã kết thúc. Nếu như mình không nghĩ rằng chúng nó có thể giết mình thì có lẽ mình đã bị giết thật rồi! Hôm nay hoặc ngày mai…”. Ý nghĩ đó khiến anh nhếch mép cười, anh vẫn còn chưa đủ sức kiềm chế tình cảm mới đó ở trong mình.
-Trung úy!... Trung úy! Chúng mình sẽ sống hay sẽ chết như những con rệp, hả trung úy? Tôi đói mềm cả người! Tôi đang ngắc ngoải vì đói đây. Tại sao tất cả lặng đi thế, mọi người ngủ cả rồi à? Sao anh cứ im lặng thế trung úy?

Thượng sĩ U-kha-nốp kêu lên như vậy. Anh giật chiếc ống nhòm vô tích sự đeo ở cổ ra, quẳng nó lên bờ công sự rồi cài khuy áo bông lại, vươn người dậy, đi vòng kiềng lảo đảo, chiếc ủng nọ đá vào chiếc kia. Rồi anh suồng sã hích chân vào chiếc ủng của Nết-trai-ép vẫn đang co giật vì ngáp như ban nãy,-anh ta vẫn ngồi trước kính ngắm, trán tì vào cẳng tay.
-Sao mà ngáp dữ thế, chú lính thủy? Hãy chấm dứt công việc vô ích đó đi?
 
Nhưng Nết-trai-ép vẫn không rời trán khỏi căng tay, không đáp, tiếp tục ngáp không ngừng: anh đương ở trong trạng thái mơ mơ màng màng rất nặng, tiếng động cơ xe tăng vẫn dai dẳng rền vang trong tai anh, những vầng lửa nóng ran đỏ như máy bay vun vút từ bóng đêm hiện ra trong kính ngắm làm lóa mắt anh, mồ hôi ở mi mắt khiến anh ngắm không rõ và khi bắn mỗi phát súng, phơi mình trước cái chết, tay anh lại hối hả túm lấy, vuốt ve, căm ghét bánh lái kính ngắm. Sau nhiều giờ ngồi bên kính ngắm, anh đã hít phải nhiều khói súng và bây giờ anh bị thiếu dưỡng khí. Cố nhiên đây cũng là chuyện thần kinh.

-Giá bây giờ mà kể chuyện gì đó về đàn bà cho anh chàng ở Viễn Đông này nghe thì lập tức hắn vểnh ria ra tứ phía ngay,-U-kha-nốp nói một cách hiền lành và hích mạnh chân vào ủng của Nết-trai-ép.-Cậu có nhận ra mình không. Nết-trai-ép? Đứng dậy! Đàn bà đang đi từng đàn ở quanh đây kia kài!
-Đừng động đến cậu ấy, U-kha-nốp,-Cu-dơ-nét-xốp mệt mỏi buông xõng.-Cứ để cậu ấy ngồi. Đừng động đến ai cả. Cậu ở đấy nhé.-Và anh máy móc chỉnh lại bao súng ngắn đeo ở bên sườn.-Mình sẽ trở lại ngay. Mình đi quanh trung đội đây, nếu như bọn Đức không bò tới đó. Mình muốn đi xem tình hình thế nào.

U-kha-nốp vỗ bao tay vào nhau, giật giật đôi vai xo.
-Cậu muốn đi xem những ai còn lại à? Không còn một mống nào đâu. Chúng mình bị lọt thỏm trong vòng vây của xe tăng Đức, chúng mình ở đây, còn bọn chúng ở đằng kia. Chúng nó đã thọc sâu được vào bên phải và bên trái. Tình hình là thế này trung úy ạ: bọn Đức bị bao vây ở Xta-lin-grát, còn bọn mình thì bị vây ở đây. Một ngày vui đấy chứ hả? Người ta bảo không có địa ngục. Láo toét! Trung úy ạ, nói chung, chúng mình gặp may nhiều lắm đấy!-U-kha-nốp nói, tựa hồ như vui lên vì sự may mắn ấy.-Phải cầu nguyện mới được.
-Cầu nguyện ai?-Cu-dơ-nét-xốp lại quay nhìn Nết-trai-ép và Tri-bi-xốp đang nằm đờ ra ở hai bên càng pháo rồi nói thêm:-Nếu ban đêm xe tăng địch tới đây, chúng sẽ nghiến nát bọn mình trong tay không còn một quả đạn, chỉ năm phút. Mà rút đi đâu? Cậu hãy cầu nguyện số phận để xe tăng chúng đừng tới đây…
-Đúng thế,-U-kha-nốp cười khanh khách và lập tức kìm ngay tiếng cười của mình lại:-Anh đề nghị cái gì hả trung úy?
-Mình đi xem các khẩu pháo thế nào. Sau đó ta sẽ quyết định.
-Ta quyết định à? Anh sẽ quyết định cùng với tôi à? Thế Đrô-dơ-đốp-xki đâu? Anh chàng đại đội trưởng của chúng mình đâu? Chỗ liên lạc với đài quan sát ở đâu?
-Tôi sẽ cùng với cậu quyết định. Chứ còn với ai nữa!-Cu-dơ-nét-xốp xác nhận.-Sao cậu cứ nhìn mình thế? Chưa rõ à?
-Chúng ta sẽ tới chỗ các khẩu pháo.-U-kha-nốp quàng súng tiểu liên qua vai.-Rồi sẽ thấy. Nhưng dù sao thì cũng đã rõ rồi: đi xem hay không thì chúng ta cũng đã bị bao vây. Chỉ còn có điều này là chửa rõ. Ở phía trước mặt chúng ta, cách làng chừng bảy trăm mét hình như không có bọn Đức.
-Chúng đã chiếm được làng rồi, chúng còn cần quái gì đến cái thảo nguyên trần trụi này! Với lại bảy trăm mét đối với xe tăng có nghĩa lý gì! Chắc chúng nghĩ rằng chẳng còn ai sống sót ở đây. Nhất là khi chúng đã sang được bờ sông bên kia.
-Dẫu sao cậu cúng là tay kỳ quặc thật đấy, trung úy ạ, nhưng không sao. Có thể chiến đấu cùng với cậu được.
-Nghe cũng thú vị đấy. Cậu hãy nói nữa đi! Thêm một lời khen nữa là mình sẽ tan biến ra mất…
-Được thôi. Đồng ý. À này, thế còn cô gái của chúng ta thế nào nhỉ? Cô ấy đâu? Còn sống không?
-Ừ, đúng rồi. Cô ấy ở trong hầm đất với thương binh. Cô ấy đã kéo thương binh từ chỗ khẩu pháo của cậu đấy. Cậu không để ý à?
-Ngoài xe tăng ra tôi chả trông thấy gì cả. Và cũng chả suy nghĩ gì cả…

Khi họ rời khỏi hỏa điểm và rảo bước trong hào giao thông, sự yên tĩnh đó nặng như chì đè lên đầu họ. Cu-dơ-nét-xốp là ngươì đầu tiên dừng lại, anh lắc lắc màng nhĩ như khi lội xuống nước vậy-tiếng ong ong cứ rền rĩ mãi trong tai anh. Cả U-kha-nốp cũng bất chợt dừng lại ở đằng sau. Tiếng áo quần sột soạt, tiếng chân bước lặng hẳn đi. Một tràng súng máy đơn độc vang lên ở sau lưng, về phía quầng sáng, càng làm nổi rõ thêm sự im ắng nặng nề, khó tin đó. Rồi tất cả im lìm, chết lặng trong bóng đêm. Chỉ có giọng nói của U-kha-nốp phá tan sự tĩnh mịch trong lúc tai Cu-dơ-nét-xốp vẫn ong ong:
-Cậu thấy gì thế, trung úy? Một xạ thủ súng máy Đức ở sau lưng à?
-Tai cậu có ong ong lên không hả, U-kha-nốp?-Cu-dơ-nét-xốp do dự bỏ mũ lông ra, nghĩ rằng mình đã bị ù tai hoàn toàn-Cậu nghe thấy gì thế?
-Tiếng dế kêu ở trong đầu, trung úy ạ. Do bắn nhiều quá đấy…
-Có thế thôi à?
-Tôi thấy là cuộc chiến đấu ở bên kia sông đã chấm dứt. Chả lẽ chúng nó đã đột nhập được vào sâu hơn à?
-Khắp nơi im ắng.
-Im như chết,-U-kha-nốp nói.-Hình như chúng đã đẩy lùi quân ta đến tận Xta-lin-grát, đã chọc thủng mặt trận, chỉ có chúng mình thì tớt lại đây… Anh hãy nhìn về phía Đông Bắc mà xem, trung úy. Lửa cháy phía trên Xta-lin-grát. Cách đây chừng ba chục ki-lô-mét.
-Khoan đã!... Cậu hãy nghe mà xem…-Cu-dơ-nét-xốp áp mình vào bờ lũy, thận trọng vươn mình ra.-Hình như ở đằng trước có ai kêu… Hay đó chỉ là do tai mình?
 
Anh đã nghe thấy tiếng người kêu ở đâu đó sau các đường hào giao thông ở trên đồi, tiếng kêu lặng đi ngay trong bầu không khí tĩnh mịch, giữa đám tuyết đỏ lòe. Cu-dơ-nét-xốp nín thở, không đội mũ, lắng nghe qua tiếng ong ong trong tai, anh nhìn vào quầng sáng lóe lên trên bờ sông bên kia giữa cảnh im lặng khó hiểu, nhìn bầu trời sáng lờ mờ phía trên Xta-lin-grát ở mạn Đông Bắc, những đống lửa khét lẹt mùi gỉ sắt rải rác trên thảo nguyên: lửa, gió, những mảnh tuyết, những hình bóng lờ mờ gở lạ, của những chiếc xe tăng và xe bọc thép đang cháy ở trên đồi.

-Không có lẽ nào chúng lại đã chọc tới được Xta-lin-grát,-Cu-dơ-nét-xốp nói khẽ.
Hình như anh đã tưởng tượng ra tiếng người kêu. Sau cùng anh lấy lại hơi. Không nơi nào có tiếng súng bắn. Không một động tĩnh. Không một âm thanh. Tưởng chừng như toàn bộ mặt trận đã chết lặng, trút hơi thở cuối cùng và lạnh cóng trước những cơn gió man rợ, mặt đất giờ đây như một bãi sa mạc dưới quầng sáng không sinh khí. Còn họ, hai người ở đây và hai người nằm lại bên khẩu pháo sau lưng họ, mệt mỏi, bất lực bốn người cả thẩy, còn lại trên đời giữa chết chóc trống trải. Đêm tháng Chạp lạnh giá, im lìm, chết lặng làm cho Cu-dơ-nét-xốp khó chịu và anh nhăn nhó mỉm cười, nói:
-Chắc mình tưởng tượng ra…-Anh đội mũ lên đầu,-Cậu nói đúng: trong tai như có tiếng dế kêu.
Họ lại bước đi trong hào giao thông. Lại vang lên tiếng bước chân, tiếng áo quần sột soạt, dù sao đó cũng là dấu hiệu của sự sống.
-Nếu chúng mình bắt đầu có ảo giác thì tức là công việc của chúng ta không ổn, trung úy ạ.,-U-kha-nốp cười vang.-Vả chăng cũng có thể là một tên Đức bị thương kêu la chứ. Hay một cậu trong anh em bộ binh của mình.
-Mình nghĩ là chẳng mấy ai trong đội cảnh giới chiến đấu còn ở lại. Vì xe tăng của chúng đã chà sát suốt một ngày chắc phải rút đi rồi chứ…
-Đồng ý với trung úy. Đồng chí phải liên lạc với đài quan sát chứ. Có thể Đrô-dơ-đốp-xki vẫn giữ được liên lạc với cấp trên.
-Bọn mình sẽ đi quanh trung đội để xem xét rồi sau ta sẽ bàn xem nên làm gì,-Cu-dơ-nét-xốp nói và sau khi bước thêm mấy bước trong hào giao thông, anh thốt lên bằng giọng khác lạ:-Khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp… Có một điều mình không hiểu là tại sao họ lại không nhận ra chiếc xe tăng đó?
-Tôi cũng không hiểu. Tôi nã súng vào nó khi trông thấy nó đã áp sát ngay phía trước công sự,-U-kha-nốp đáp.-Hình như tất cả mọi người ở đó đều đã bị thương trước khi xe tăng địch thọc vào.
-Mình đã trông thấy cậu nổ súng.

Họ tới gần hơn.
Đó là nơi trước đây được gọi là hỏa điểm của khẩu pháo thứ hai, do hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp chỉ huy, sáng nay Cu-dơ-nét-xốp đã bắt đầu tham gia chiến dịch ở đây, trong đợt tiến công đầu tiên của xe tăng địch. Nhưng lúc này không thể gọi nó là một vị trí pháo binh được. Chiếc xe tăng to lớn đã cháy thành than đen ngòm sau khi nó đã dùng xích sắt hất tung khẩu pháo lên, làm cho khẩu pháo bẹp dí, cong queo ở đây. Xác chiếc xe tăng địch nhô lên một cách xa lạ và gớm ghiếc giữa những bờ công sự bị cày nát, những chiếc ủng vương vãi trên mặt đất, những mảnh áo choàng, áo lông, những hòm đạn gãy vụn tan tành. Không ai kịp chạy khỏi khẩu pháo…

Tất cả đều đã bị cong queo, cháy rụi, chết lặng mùi gỉ sắt hăng hắc, mùi thuốc súng trộn lẫn với đất và tuyết, mùi sơn bốc lên nồng nặc. Gió rít lên man rợ, thốc qua những lỗ thủng của chiếc lá chắn bị xé đứt một nửa, xoắn lại như những cái vòng xoáy trôn ốc từ lâu đã đông cứng băng giá và cứ mỗi khi tấm lá chắn rách đó chạm vào chiếc xích xe tăng cuốn đầy những giẻ rách bẩn thỉu lại khẽ kêu lên ken két làm người ta cảm thấy ớn lạnh ở sống lưng.

Và từ khối sắt đen ngòm của chiếc xe tăng bị cháy ngập trong băng giá, từ khẩu súng bị nghiền nát toát ra cái lạnh lẽo ghê rợn của chết chóc đến mức làm cho người ta sởn gai ốc.

“Mọi việc đã xảy ra ở đây như thế nào nhỉ? Tại sao họ lại không kịp bắn?”.
Cu-dơ-nét-xốp thấy cổ họng nghẹn lại, anh cảm thấy mình có lỗi-tại sao lúc đó mình lại rời khỏi khẩu pháo?-anh muốn hiểu rõ những giây phút hiểm nguy đó đã xảy ra như thế nào, những giây phút mà anh cùng với Dôi-a từ các vị trí của Đa-vla-chi-an bắn vào các xe tăng, anh cố hình dung xem vào những giây phút cuối cùng trước khi chết họ có định bắn không, cố hình dung khuôn mặt của họ, động tác của họ vào lúc mà khối xe tăng bốc cháy đã chồm qua bờ công sự.

Anh chỉ nhìn thấy cái chết của anh em pháo thủ từ xa và anh đã không thể làm gì được. Những giây phút chớp nhoáng đó đã xóa khỏi mặt đất tất cả những người đang nằm ở đây, anh em trong trung đội của anh, những người mà anh chưa kịp hiểu biết kỹ càng: hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp, cái cổ ngẳng thơ ngây như một thân cây hướng dương, cử chỉ con trẻ khi anh vội vã lau mắt: “Mắt tôi đầy đất rồi!”, trắc thủ Ep-xtích-nê-ép chính xác một cách tháo vát, tấm lưng chậm chạp bình tĩnh, dòng máu ngoằn ngoèo rỉ ra ở gần tai bị ù đặc vì tiếng nổ: “Hô khẩu lệnh cho tôi to hơn, đồng chí trung úy, to nữa lên!...”
Anh hãy còn nhớ cái nhìn của họ, giọng nói của họ, những giọng nói đó còn văng vẳng bên tai anh như thể cái chết của họ đã đánh lừa anh và anh phải được gặp lại họ, nghe họ nói… Và tưởng như điều đó phải xảy ra vì rằng anh chưa kịp gần gũi họ, chưa kịp hiểu biết từng người, mến yêu họ…
 
Mặt và cánh tay Cu-dơ-nét-xốp đã tê cóng và hầu như anh đã tự phán xét mình một cách thậm tệ về những việc đã xảy ra mà lúc ấy anh đã không đủ sức ngăn ngừa, chặn đứng lại, anh muốn biết những chi tiết cuối cùng xảy ra ở đây, họa chăng có thể giải thích rõ tất cả.

Nhưng những gì anh nhìn thấy trên hỏa điểm này,-những gì còn sót lại của anh em pháo thủ chỉ còn có thể đoán ra một cách mơ hồ qua đống đất ngổn ngang sẫm màu và không cần phải chôn cất nữa-quang cảnh đó đã dìm anh vào cái im lìm chết lặng. Không ai có thể trả lời, ngoài họ. Nhưng họ không còn nữa… Chỉ còn tiếng lanh canh ken két khe khẽ của lá chắn khẩu pháo đã bị xoắn lại va vào xích sắt xe tăng mỗi khi có cơn gió thoảng qua. Cu-dơ-nét-xốp ngẩng khuôn mặt lạnh cóng lên. Bất ngờ tiếng xẻng chan chát vang lên sau lưng anh. Giữa cảnh tĩnh mịch tiếng xẻng vang lên rành rọt, rõ ràng. Bóng U-kha-nốp thẫm đen dưới quầng sáng, anh đang lúi húi dùng xẻng đào đất trong hốc để đạn trái phá.

Cu-dơ-nét-xốp lặng lẽ lại gần và nhìn. U-kha-nốp đã bới được trong hốc đất một xác người nằm sấp, dang hai tay túm chặt lấy một vật gì đó ở dưới mình, chiếc áo choàng trên lăng bị rách tung: chắc là một loạt đạn súng máy của xe tăng địch đã nã thẳng vào người anh ta.
-Ai thế?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi giọng khàn khàn.-Ai thế, U-kha-nốp?

U-kha-nốp lặng lẽ túm lấy vai xác chết đã cứng đơ và kéo ra khỏi một vật gì dẹt màu xám, quay mặt lên. Không thể nhận được mặt người chết bị một mảnh đạn đông cứng dính chặt. Cái vật dẹt và xám đó là hòm đựng đạn.
-Người tiếp đạn,-U-kha-nốp nói rồi hắng giọng cắm chiếc xẻng gần hòm đạn.-Bị một loạt đạn vào lưng… hình như lúc cậu ấy đang lấy đạn. Chỉ có một điều tôi không hiểu được, trung úy: tại sao họ lại để cho chiếc xe tăng địch lọt vào hay là trước đó mọi người đều đã bị thương?-Anh hất đầu về phía chiếc xe tăng.-Hãy còn đạn cơ mà! Như vậy là họ hãy còn đạn! Mà Tru-ba-ri-cốp và Ep-xtích-nê-ép bắn rất cừ. Và chiếc xe tăng lúc ấy đã bốc cháy!...

Cu-dơ-nét-xốp sửng sốt trước sự tức giận, sự phủ nhận nào đó, sự bất đồng tàn nhẫn trong giọng nói của U-kha-nốp, như thể họ, những người không còn có thể trả lời anh ta nữa, có lỗi về cái chết của chính mình, còn anh ta. U-kha-nốp, hình như không muốn tha thứ cho sự hy sinh của tất cả anh em pháo thủ ở đây đã bị xe tăng nghiền nát.
Cu-dơ-nét-xốp nói giọng khàn đặc:
-Chúng mình không biết sự việc đã xảy ra ở đây như thế nào. Kết tội ai?
-Tôi không thể tha thứ cho mình được.-U-kha-nốp nhắc hòm đạn khỏi mặt đất, dùng sức ném nó lên bờ công sự.-Lẽ ra tôi phải tống cho nó thêm một quả đạn thứ hai nữa! Nhưng đúng lúc ấy bầy xe tăng địch đã lao vào chỗ tôi! Nhưng dẫu sao tôi cũng đã trông rõ chiếc xe tăng này như trong lòng bàn tay, nó phơi sườn về phía tôi rất rõ.-Anh bước ra khỏi hốc đất nhìn thiếu tá hài sẫm màu của người tiếp đạn nằm trên mặt đất.-Cám ơn anh em đã cho tôi đạn. Chôn cậu ta ở đây hả trung úy?
-Trong hốc đất ấy,-Cu-dơ-nét-xốp đáp.-Tôi ghé qua chỗ khẩu pháo của Đa-vla-chi-an…

Tại vị trí của trung đội hai, tất cả cũng bị cày xới tơi tả, ngổn ngang, khắp nơi là những hố bom hình phễu há miệng đen ngòm, tiếng mảnh đạn lạo xạo dưới chân-vị trí này không còn tồn tại nữa, chỉ còn lại những bờ công sự bị cày nát, những vỏ đạn vương vãi và một khẩu pháo bị vỡ hộp chống giật mà Cu-dơ-nét-xốp đã dùng để bắn, đánh dấu cái hỏa điểm hoang vắng, bị bỏ lại và im ắng vô chừng. Chiếc hầm thông tin ở đằng sau khẩu pháo, nơi Cu-dơ-nét-xốp đã nhảy vào lúc địch ném bom để tìm chiến sĩ giữ điện thoại Xvi-a-tốp đã bị đạn nổ phá hủy một nửa. Khi đi ngang qua, Cu-dơ-nét-xốp lấy chân chạm vào một sợi dây đứt và anh bỗng thấy tim mình nhói lên khi cảm thấy sợi dây đàn hồi, giờ đây trở nên vô ích bám lấy chân anh.

Anh nhận thấy điều khủng khiếp nhất lúc này không phải là những gì anh đã trải qua trong suốt cuộc chiến đấu hôm nay mà là sự trống trải, cô đơn đang tới gần anh, là sự im lặng kỳ quái trùm trên trung đội, tựa hồ như anh đang đi giữa một nghĩa địa chi chít mồ mả, và quanh anh không còn ai ở trên thế gian này nữa.

Anh rảo bước trở lại khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp, muốn mau chóng gặp và nghe U-kha-nốp nói, cần phải cùng với anh ta quyết định xem sắp tới họ phải lần lượt làm những gì: chuyển đạn, thử bắt liên lạc với đài quan sát, đi tìm Dôi-a xem cô thế nào, anh em thương binh ở trong hầm ra sao, Đa-vla-chi-an và những người khác…

Không thấy U-kha-nốp ở trên hỏa điểm bị chiếc xe tăng to lớn cháy rụi che khuất, cũng không thấy anh ta ở gần hốc đất. Ở đây gió rít lên lùa qua những lỗ thủng kim loại và chiếc xẻng từ mô đất gồ ghề trong hốc đất nhô cán nghiêng lên như dấu hiệu khủng khiếp của sự cô đơn-đó là nấm mồ của người chiến sĩ tiếp đạn khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp.
-U-kha-nốp!...
Không có tiếng trả lời. Cu-dơ-nét-xốp gọi kiên quyết hơn:
-U-kha-nốp! Cậu có nghe thấy không?...
Tiếp đó tiếng thét trả lời vang lên từ đâu đó phía sau bờ công sự:
-Lại đây trung úy! Lại đây với tôi!
-Cậu ở đâu đấy, U-kha-nốp?
 
Để đề phòng bất trắc, Cu-dơ-nét-xốp mở khuy cài bao súng, leo qua bờ công sự, đi về phía có tiếng trả lời giữa những hố đạn sâu dày đặc. Im lặng. Không có một quả pháo sáng nào bay lên. Thảo nguyên phía trước trung đội, với những đám lửa rải rác, chạy dài tới lòng khe, tưởng như chạy dài tới cùng trời cuối đất; gió cuốn đi hơi nóng hăng hắc của sắt bị nung cháy và khó tin được đằng sau bờ công sự lại là khoảng không gian do ai chiếm cả. Ở phía trước mặt, trên nền tuyết sáng lờ mờ thấp thoáng hình bóng của U-kha-nốp khi ẩn khi hiện ở gần bóng mấy chiếc xe tăng bị bắn cháy.
-Cái gì đó thế, U-kha-nốp?
-Ra mà xem bọn Đức bị chết này trung úy!...

Tuyết vụn như lột bám trắng cả chân và phủ một lớp mỏng lên những cái rãnh do xích xe tăng xới lên. Và mãi đến lúc này, khi đã đi cách xa các khẩu pháo của mình, Cu-dơ-nét-xốp mới nhìn thấy xác mấy tên Đức bị chết trong những tư thế khác nhau, vào lúc chúng định bò ra, chạy xa chiếc xe tăng bị bắn cháy. Những cái xác đó ánh hồng lên dưới quầng sáng, đông cứng lại như những súc gỗ lăn lóc trên tuyết; có thể phân biệt được những chiếc áo liền quần đen sẫm trên người chúng.

Cu-dơ-nét-xốp bước thêm mấy bước nữa và với sự tò mò bướng bỉnh, không cưỡng được, khó hiểu đối với chính mình, anh nhìn vào mặt tên bị giết đầu tiên. Tên Đức nằm ngửa, ngực ưỡn lên một cách không tự nhiên, hai tay kẹp chặt lấy bộ áo liền quần, dưới tay nó có một vật gì đen đen bóng loáng, bị đóng băng mà Cu-dơ-nét-xốp không đoán ra ngay, đó là chiếc mũ da đẫm máu. Đầu kẻ bị giết để trần, ngã vật ra đằng sau đến nỗi cái cằm của nó vểnh lên nhọn hoắt, bị phủ một lớp băng, những sợi tóc như những sợi chỉ bị băng giá dính xuống tuyết, khuôn mặt trắng trẻo, trẻ trung ngếch lên trời, cứng đờ, nhăn nhó, ngạc nhiên, tựa hồ như môi nó mấp máy định huýt sáo hoặc kêu lên, còn phía bên trái khuôn mặt cứng đơ như thạch cao đó không bị tuyết phủ, màu xanh nhạt, hốc mắt sâu mở to trong nỗi khiếp sợ cuối cùng, phản chiếu ánh sáng, lóe lên như một đốm lửa nhỏ bằng thủy tinh.

Cứ nhìn những chiếc lon hẹp óng ánh bạc thì đó là một tên sĩ quan. Cách nó ba bước chân là một hố đạn đào sâu xuống tuyết; những mảnh đạn trái phá nổ tung đã rơi trúng bụng ỵ.
“Ai giết hắn: mình hay U-kha-nốp? Quả đạn này là của ai? Của mình hay của cậu ấy? Tên giặc nghĩ gì, ước mong gì khi ra trận?”-Cu-dơ-nét-xốp tự hỏi, đưa mắt nhìn kỹ khuôn mặt tên Đức trông như một đứa trẻ sững lại trong vẻ khiếp sợ kinh hoàng đó. Anh cảm thấy mình không hiểu được điều bí ẩn xa lạ, khó đoán, cảm thấy cái tử khí khô khốc đanh cứng như kim loại. Tên Đức này có lẽ đã hấp hối một cách đau đớn, bao súng ngắn của nó đeo ở bên sườn vẫn còn cài khuy kín.

Đã nhiều lần, trong những trận chiến đấu đầu tiên ở Rô-xláp, Cu-dơ-nét-xốp đã hình dung mình chết như thế này: anh tưởng tượng như có một tên Đức nào đó bước lại gần, lấy giày hất xác anh một cách ghê tởm và thô bạo và lúc nghĩ như vậy, anh chỉ mong ước một điều là bị trúng đạn vào đầu, vào thái dương. Điều anh sợ hơn cả là khi bị thương trên mặt, sự nhăn nhó đau khổ sẽ hằn in trên mặt, mồm nhe ra như con thú vì khiếp sợ, những cái thường thấy trên mặt người chết và một cái chết như vậy đã hạ thấp con người. Anh tìm lối thoát, tìm sự hỗ trợ ở viên đạn cuối cùng ở viên đạn cuối cùng mà từ dạo đó bao giờ cũng giữ lại trong súng ngắn một cách hầu như mê tín. Như thế yên tâm hơn.

“Sau khi cho xe tăng đột kích, hắn nhảy ra khỏi xe,-Cu-dơ-nét-xốp tưởng tượng khi nhìn xác chết.-Nghĩa là hắn còn chưa tin rằng hắn sẽ bị chết, còn hy vọng sống sót. Thậm chí khi đạn trái phá nổ cách ba bước và mảnh đạn đã văng vào bụng, hắn vẫn còn suy nghĩ, cảm thấy đau và lấy mũ ép vào vết thương”.

Cũng với cảm giác tò mò không cưỡng được, không được thỏa mãn trước câu đó muôn thuở, khó giải thích về cái chết, Cu-dơ-nét-xốp không phải là không do dự cúi người xuống, không tháo găng tay len và bắt đầu mở nắp bao súng đeo, cứng như đá được tuyết làm cho bóng lên, dựng khẩu Pa-ra-ben-lom. Các ngón tay không chịu tuân theo ý muốn của anh trượt trên lớp băng. Không thể mở được khuy bấm và khi khuy bấm tự bật ra, kêu tách một cái, anh rút khẩu Pa-ra-ben-lom nằm khít trong bao và ngửi thấy mùi mỡ tươi đông cứng, gợi nhớ tới mùi mồ hôi người.

“Mới sáng nay tên Đức này cũng như Tru-ba-ri-cốp đều còn sống… Tên Đức lái xe tăng lao tới, giết chết Tru-ba-ri-cốp và tất cả anh em pháo thủ. Rồi một mảnh đạn của mình hoặc của U-kha-nốp đã giết chết tên đức này. Khi bắn, mình căm thù tất cả những chiếc xe tăng này, căm thù tất cả bọn ngồi trên xe tăng… Thế còn tên Đức này?”.

Cu-dơ-nét-xốp nín thở nhìn tên bị giết một lần nữa: khuôn mặt trẻ con hẹp lật nghiêng, méo mó vì đau khổ, vì sự ngạc nhiên cuối cùng trước cái chết; cặp mắt cứng đờ như thủy tinh phản chiếu quầng sáng một cách lờ mờ; hai tay ép chặt chiếc mũ vào vết thương ở bụng. “Nếu có chết thì đừng chết như thế này!”,-Cu-dơ-nét-xốp lại nghĩ và khắc phục sự ghê tởm, đút khẩu Pa-ra-ben-lom nằng nặng vào trong túi: dù sao đó cũng là vũ khí. Anh thoáng liếc nhìn hai tên Đức khác bị giết, có lẽ chúng cùng ở trong cái kíp nhảy từ trong xe tăng ra theo tên sĩ quan nhưng anh không xem kỹ bọn chúng, ra theo tên sĩ quan nhưng anh không xem kỹ bọn chúng.

“Thế là thế nào? Lại một ả giác chăng?”.
Rõ ràng có tiếng động cơ gào rú, tiếng xích sắt nghiến ken két ở đâu đó xa xa về phía trước, trên đồi vọng tới tai anh, sau đó tất cả lại lặng đi-và lúc này giọng nói của U-kha-nốp lo lắng vang lên trong bầu không khí tĩnh mịch:
-Trung úy, lại đây, nhanh lên, lại đây!
 
Cu-dơ-nét-xốp lao về phía trước, tới chỗ ba xác xe tăng bị bắn cháy, nơi U-kha-nốp đứng, nhảy qua những đống đất đông cứng do đạn trái phá nổ hất lên và khi đã chạy lại gần, anh trông thấy, dưới ánh sáng của những đám cháy ở xa, bóng đen lờ mờ của U-kha-nốp ở gần chiếc xe tăng ngoài cùng. Anh hỏi, cố nén hơi thở:
-Gì thế?... Cậu thấy gì thế hả U-kha-nốp?
-Hình như ở đây có người còn sống, trung úy…

Lúc này đã có thể trông thấy U-kha-nốp rất rõ, khẩu tiểu liên sẵn sàng nhả đạn của anh ta đặt trên những mắt xích rộng của xe tăng, dưới chân anh ta có một chiếc va li nhỏ tròn bằng da chẳng hiểu lấy ở đâu, trông giống như một cái ba lô của bọn Đức. U-kha-nốp nhét bao tay vào mép áo bông, thổi phù phù vào các ngón tay để sưởi ấm, đưa mắt liếc nhanh Cu-dơ-nét-xốp rồi nói:
-Anh hãy nhìn về phía đằng trước, chỗ kia kìa. Và hãy lắng nghe mà xem… đấy, chỗ kia kìa, trung úy, nhìn xem, ở chỗ hai chiếc xe vận tải bọc thép bị bắn cháy trên gò đất ấy. Anh không nhìn thấy gì à? Không trông rõ à?
-Mình chẳng nhìn thấy quái gì cả! Hình như có tiếng động cơ.
-Đấy, đấy… Nhìn xem, nhìn xem!... Có ánh đèn pin… đã nhìn thấy chưa?

Không rõ đó là ánh đèn pin hay là ngọn lửa nhỏ từ bật lửa lóe lên nhưng có tia lửa thoáng bùng lên ở phía trước, giữa hai đường viền chết lặng của những chiếc xe vận tải bọc thép trên gò đất phía trước cái khe, sau đó thấy có người nhúc nhích lờ mờ ở phía ấy; mấy bóng người nhòa lẫn trong bóng đêm, đi hàng một trên thảo nguyên, lôi một vật gì đó dài màu sẫm từ những chiếc xe vận tải bọc thép và bóng họ càng hiện ra rõ hơn dưới những hồi quang của ánh sáng.
-Ừ, bọn Đức,-Cu-dơ-nét-xốp thì thào.
-Nhìn xem, nhìn xem,-U-kha-nốp thở phì phò ngay sát tai anh.-Chúng nó làm cái trò gì đó chả biết, lũ khốn khiếp.

Đốm lửa lại vụt lóe lên một thoáng, bí ẩn, như thể được che trong tà áo choàng và để trả lời ký hiệu đó trong lòng khe có tiếng rú của động cơ, tiếng xích sắt nghiến ken két và một chiếc ô tô chạy bằng xích sắt trông như một vết đen ngòm lặng lẽ bò lên phía những chiếc xe vận tải bọc thép đã bị cháy rụi, dừng lại tắt động cơ. Lập tức mấy bóng người lao về phía xe, mang theo những vật dài sẫm màu lăng xăng bên xe làm cái gì ở đó rồi xếp hàng dọc rời khỏi những chiếc xe bọc thép, đi vòng quanh những bộ khung sắt của xe tăng, cách nhau một khoảng nhất định, khi thì hòa lẫn vào đất, khi thì thấp thoáng hiện ra trên gò cao nhưng không thấy ánh đèn pin lóe lên nữa.
-Này, trung úy, chúng nó đang làm cái trò gì ấy.-U-kha-nốp thở vào vai Cu-dơ-nét-xốp lành lạnh.-Tôi không hiểu nổi. Chúng ta phải làm gì đấy?... Tôi còn nguyên cả một băng đạn. Khẩu tiểu liên bắn chính xác lắm.-Trong bóng tối lờ mờ, mắt U-kha-nốp lướt nhanh trên mặt Cu-dơ-nét-xốp.-Ta để cho nó lại gần rồi cho chúng nó về chầu giời cả đi! Hình như chúng nó có mười thằng.
-Đừng bắn!-Cu-dơ-nét-xốp gạt khẩu tiểu liên của U-kha-nốp ra, ngăn lại.-Khoan đã! Cậu hãy nhìn xem chúng nó đang làm gì… Hay đó là bọn cứu thương hoặc đội chôn cất tử sĩ. Hình như chúng đi lượm xác chết của chúng…

Ngọn lửa nhỏ làm hiệu được che trong cái gì đó lại lóe lên yếu ớt trên thảo nguyên phía trước cái khe, tiếng động cơ vang lên trầm trầm và chiếc xe hình chữ nhật nghiến xích ken két, bò như một bóng đen lên đỉnh gò ở phía bên trái rồi dừng lại; những bóng người lờ mờ thấp thoáng ở phía trước, lặng lẽ, xếp thành hàng dọc chuyển một cái gì đó tới và chết nó lên xe.

U-kha-nốp chống khuỷu tay vào xích sắt xe tăng, nhìn đồng cỏ. Anh vẫn không quên thổi phù phù để sưởi ấm bàn tay.
-Hình như bọn chôn cất người chết. Chúng đi lượm người của chúng,-Anh nói vẻ quả quyết và hỏi:-Thế ta phải làm gì bây giờ, trung úy?
Cu-dơ-nét-xốp chau mày, lắng nghe: không quả quyết lắm rồi nói thêm:-Bọn cứu thương hay bọn chôn cất người chết không phải là xe tăng. Cứ kệ cho chúng nó thu nhặt.-Anh im lặng, trầm ngâm suy nghĩ.-Mặc xác chúng nó! Chúng ta sẽ không nổ súng trước. Ta đi về chỗ khẩu pháo đi.
-Việc quái gì! Chúng nó không ngờ có chúng mình ở đây đâu. Hai loạt đạn-thế là xong! Vị trí của chúng mình tuyệt lắm. Thế nào, hả? Ta nã súng nhé?-U-kha-nốp vẫn cứ nó và nheo mày lại.-Để cho chúng đừng bò vào…
-Mình đã nói là chúng ta sẽ không nổ súng vào bọn đi chôn cất người chết, rõ chưa? Cậu hạ được hai thằng lính đi chôn người chết thì cậu có vì thế mà thắng trận không? Không bắn ở đây thì chúng mình cũng đã không đủ đạn rồi. Cậu tưởng mọi việc đã kết thúc à? Cậu hãy nhìn về phía đằng kia. Về phía ngôi làng ấy. Và nhìn cả phía sau lưng nữa!
-Thôi đừng thuyết phục tôi nữa, trung úy…
U-kha-nốp rút bao tay khỏi bụng, thậm chí cũng không nhìn về phía Cu-dơ-nét-xốp chỉ, không nhìn về phía khu làng ở phía Nam bờ sông đã bị cháy mất một nửa, ở phía trước mặt và bên phải cũng như về phía bờ Bắc cũng đã bị bọn Đức chiếm,-anh đeo bao tay, nói có ý dàn hòa:
-Thôi được, đồng ý. Anh không trông thấy chiến lợi phẩm à?-Anh vỗ vỗ vào dây lưng rộng đeo hai khẩu Pa-ra-ben-lom ở qanh áo bông, túm lấy chiếc túi nhỏ trên mặt đất.-Tôi lấy trên chiếc xe vận tải bị bắn hỏng đấy. Tôi đã mở ra, thoang thoảng mùi xúc xích hun khói. Chả có gì phiền cả. Tặng cho anh đấy, trung úy… vì lòng dũng cảm. Anh hãy cầm lấy quà tặng của người chỉ huy khẩu pháo.
 
U-kha-nốp cởi dây lưng, tháo chiếc bao bóng loáng dày cộp đựng khẩu Pa-ra-ben-lom nhưng Cu-dơ-nét-xốp ngăn anh lại.
-Cậu hãy tặng cho một pháo thủ. Mình có rồi.-Anh sờ vào khẩu Pa-ra-ben-lom cồm cộm dưới túi áo choàng nhớ tới mùi mỡ buồn nôn giống như mùi mồ hôi người.-Cậu biết không, người ta thường tặng chiến lợi phẩm cho các tay văn thư ở hậu phương. Thôi ta đi.
U-kha-nốp nhếch mép cười:
-Quả thật từ trước đến nay tôi cứ tưởng anh là một bông hoa trinh nữ, một tay trí thức… Thậm chí đôi khi hình như anh đỏ mặt… Té ra anh là người khắc hẳn! Do đâu lại thế hả? Anh đã tốt nghiệp lớp mười phải không? Có thế thôi chứ gì?
-Cứ lải nhải mãi, U-kha-nốp. Ngấy lắm. Cậu muốn mình kể tiểu sử cho cậu nghe à?
-Ông cứ trả lời đi: đã tốt nghiệp lớp mười chưa? Hay là đã học đại học? Lúc ở trường pháo binh chúng mình ở các đơn vị khác nhau, mình chỉ thấy ông từ xa thôi.
-Mình đã tốt nghiệp lớp mười. Còn cậu, hình như…
-Khô-ông, trung úy, lớp bảy thôi, còn ba năm tiếp đó học ở hành lang. Hình như tôi hơn ông ba tuổi.
-Nghĩa là thế nào?
-Tôi đã rời trường trung học. Xoay ra đọc Nat Pin-kéc-tơn và Séc-lốc Hôn-me (Các nhà văn phương Tây chuyên viết truyện trinh thám).-Rồi gặp may. Tôi vào làm việc tại bộ phận điều tra hình sự ở Lê-nin-grát. Ông bác ruột tôi giúp đỡ, ông ấy cũng làm ở đấy. Nói chung đời vui lắm. Đây này, trong một vụ truy lùng bọn cướp, chúng nó đã đập gẫy của tôi chiếc răng này.
-Mình thấy rồi, đời vui thật.
-Ông chớ ngạc nhiên. Nghề nghiệp hiếm có đấy. Tôi đã tiếp xúc với bọn trộm cắp và đủ thứ vô lại. Đối với ông thì đó là khu rừng rậm tối om. Chơi với lửa đấy nhưng thích lắm. Ông không am hiểu cuộc sống ấy đâu!
-Đúng là mình không am hiểu. Thế cậu vướng chuyện gì ở trường pháo binh? Tại sao người ta không phong quân hàm cho cậu?
U-kha-nốp cười vang:
-Ông muốn tin hay không tin thì tùy, trước buổi lễ tốt nghiệp mình đã vượt tường đi chơi, lúc quay về vấp ngay phải tiểu đoàn. Đúng là chạm trán. Ông có nhớ ô cửa sổ ở gần lối ra vào không nhỉ? Tôi chỉ còn việc chui qua ô cửa nhỏ nữa là xong, ấy thế nhưng thiếu tá đã sừng sững trước mặt, như chim ưng rình mồi vậy…
-Trước lễ tốt nghiệp mà cậu lại nảy ra cái ý định vượt tườn đi chơi?!
-Đó là một câu hỏi trẻ con trung úy ạ. Chuyện gì đã qua là đã qua. Nhưng ông có hiểu được tấn hài kịch này không? Tôi đã chui người vào cửa sổ và đáng lẽ chuồn ngay thì tôi lại không thể nhịn được được cười khi trông thấy thiếu tá ở trong tư thế lộ liễu như vậy. Ông ấy trố mắt nhìn tôi, còn tôi thì ông biết không, đứng đờ ra trước ông ta như một thằng ngốc và tôi cười đau cả bụng, chẳng biết làm thế nào kìm được. Tôi đứng trên bậu cửa sổ, mặt thộn ra như một thằng ngốc. Sau đó cố nhiên là tiếng la ó ầm ĩ rồi ông ta dựng Đrô-dơ-đốp-xki dậy-anh ta là một trung đội phó mẫu mực theo đủ mọi ý nghĩa-và thế là tôi đi đều bước đến phòng giam. Ông có tin được không?
-Không.
-Cái đó tùy ông,-U-kha-nốp nói và chiếc răng cửa bịt bạc của anh sáng lên khi anh mỉm cười.

Trên bờ phía Bắc, nơi quầng sáng trên trời nhợt nhạt đi, tắt lụi dần, rền lên mấy phát đại bác liên tiếp, và liền đó là một loạt súng máy của bọn Đức-rồi tất cả lại lặng đi. Không có tiếng súng bắn trả từ phía bờ Nam.
-Tiếng súng bắn từ đâu thế nữa nhỉ?-Cu-dơ-nét-xốp cảnh giác hỏi, im lặng một lát anh lại hỏi như thể tình cờ:-Này cậu nghĩ thế nào về Đrô-dơ-đốp-xki? Đó quả thực là một trung đội phó mẫu mực à?
-Tác phong của anh ta cứ như thần thánh ấy. Một anh chàng thông minh và tôn trọng kỷ luật. Thế tại sao ông lại hỏi, ông có chuyện gì với anh ta à?
Cơn gió mạnh khua những gốc cỏ khô cứng đơ ở gần chân họ và thốc từ những ngọn đồi trên thảo nguyên nơi đội chôn cất của địch đang làm việc, vào lưng họ. Cu-dơ-nét-xốp lạnh cóng, cau có vén cổ áo lên.
-Cậu có biết Xec-gu-nen-cốp đã chết như thế nào không? Thật ngốc nghếch! Thật ngu xuẩn! Mình không thể nghĩ tới chuyện đó được! Mình không thể quên chuyện đó được!
-Cụ thể là thế nào?
-Đrô-dơ-đốp-xki chạy tới chỗ khẩu pháo lúc khẩu pháo tự hành của địch đã bắn vỡ hộp chống giật và ra lệnh cho Xec-gu-nen-cốp dùng lựu đạn tiêu diệt khẩu pháo tự hành đó. Dùng lựu đạn, cậu hiểu không? Mà phải bò một trăm rưởi mét trên quãng đất trống trải. Còn súng máy của địch lia như phát cỏ ấy…
-Hiểu rồi! Tay ấy đã nghĩ ra cách chiến đấu bằng lựu đạn kia đấy! Tôi muốn biết liệu quả lựu đạn đó có thể làm được gì? Chỉ gài được vào xích sắt của nó thôi! Đứng lại, trung úy. Ta lấy đạn…

Họ dừng lại gần chỗ trước đây là trận địa pháo của Tru-ba-ri-cốp và ở đây mùi kim loại cháy lại phả nồng nặc vào người họ và lại phảng phất nỗi buồn, cái chết, sự cô đơn chết lặng do tiếng lá chắn cong queo của khẩu pháo đập vào xích xe tăng dựng đứng kêu ken két, đơn điệu, não nùng trong gió, do khối xe tăng nằm bất động, do cán xẻng cắm đơn độc trên mô đất ở chỗ hốc đất chôn người chiến sĩ tiếp đạn mà họ đã không nhận mặt được. Tuyết đã rắc lên đây những mảng trắng nhưng vẫn chưa phủ kín hết mặt đất đen trần trụi bị đào xới ngổn ngang. Từ sau chiếc cổ áo kéo cao, Cu-dơ-nét-xốp nhìn gió tuyết mù mịt trên càng pháo bị gãy nát, anh nhận ra những vết giày vừa mới đây, rõ nét lạ lùng của U-kha-nốp gần hốc đất, nơi tuyết đã bắt đầu phủ và anh sửng sốt trước màu tuyết trắng dửng dưng kinh khủng đến nỗi môi anh run lên.
U-kha-nốp kêu è è, hất hòm đạn lên lưng. Họ lặng lẽ đi về phía khẩu pháo của mình.
 
Chương mười chín

Gần khẩu pháo có tiếng thét sợ hãi từ dưới hầm vọng lê:
-Đứng lại, ai đi đâu? Tôi bắn này!...
-Bắn đi, bắn ngay đi,-U-kha-nốp đáp lại, giọng chế nhạo và quăng hòm đạn xuống giữa các càng pháo-Phải thét lên như thế này cơ mà, bác Tri-bi-xốp ạ: “Ai, đứng lại!”. Và phải hô thật to để cho đầu gối người ta run lên. Nào bác thử hô lại lần nữa xem nào!
-Tôi chịu thôi… Tôi chịu thôi, đồng chí thượng sĩ ạ.-Chúng nó bắn đáy,-Tri-bi-xốp ngồi trong hầm làu bàu bào chữa bằng giọng khản đặc vì rét cóng.-Ban nãy tôi đang bật lửa hút điếu thuốc ấy thế là nghe đến “víu” một cái ở trên đầu và đạn cắm vào bờ lũy. Chúng nó nã tiểu liên hay sao ấy!...
-Chúng từ đâu bắn tới? Bắn vào đâu?-Cu-dơ-nét-xốp nghiêm khắc hỏi, anh vẫn chưa trông thấy Tri-bi-xốp và bước lại gần căn hầm.

Khẩu pháo đen sẫm đứng đơn độc trên trận địa pháo như thể bị anh em pháo thủ bỏ lại từ lâu, mảnh vải bạt che pháo phần phật trước gió. Đống vỏ đạn đã bắn nằm giữa các càng pháo choãi chân ra, đám tuyết đọng trong những vết nứt trên bờ lũy đất, tất cả trông có vẻ man rợ, ánh hồng lên dưới quầng sáng ở gần bờ bên kia. Giọng nói cóng lạnh của Tri-bi-xốp làu bàu trong bóng tối:
-Cúi người xuống anh, cúi xuống… chúng nó đã nhận ra khẩu pháo và bắn đấy…
Tri-bi-xốp không bò ra khỏi hầm, người bác hòa lẫn vào vách hầm nên không trông thấy rõ, chỉ thấy bác động đậy ở đó. Cu-dơ-nét-xốp nói bằng giọng ra lệnh khiến chính anh cũng bực mình.
-Sao bác cứ rúc trong đất như con chuột trũi thế hả, Tri-bi-xốp? Đến qua kính ngắm cũng chả nhìn thấy bác! Bác ra đây, Nết-trai-ép đâu?

Nhưng chả hiểu sao anh cảm thấy xấu hổ và lúng túng khi trông thấy bác theo mệnh lệnh thô bạo của anh loay hoay trong lũy đất nghiêng người bò lên vị trí đặt pháo, khom người lách tới ngồi trên càng pháo, thận trọng đưa mắt nhìn về phía bờ bên kia; chiếc áo choàng cũn cỡn trùm lên người bác như một quả chuông, khuôn mặt lưỡi cày râu không cạo nhô ra từ dưới mũ lót như sẵn sàng chờ đợi nguy hiểm; bác cầm khẩu các bin như cầm gậy. Kể cũng lạ, không biết bác ấy đã chịu đựng cả trận đánh này bằng cách nào?-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ, anh nhớ tới hình ảnh Tri-bi-xốp lúc địch ném bom, lúc ấy bác nằm nhoài ra và những con chuột ở trong hang dưới mí hầm bị mảnh đạn bắn vào, nhảy lên lưng bác, kêu chin chít?-Lúc ấy bác ta nói gì nhỉ? À, đúng rồi… “Con cái, tôi còn lũ con”.
-Tôi quan sát, đồng chí trung úy ạ. Còn Nết-trai-ép ở trong hầm trú ẩn… họ ở đằng kia kìa. Cô cứu thương Dôi-a cũng đã đi lại phía đó… Cả anh chàng coi ngựa Ru-bin nữa. Họ trò chuyện gì đó. Còn chúng nó từ bờ sông bên kia bắn sang… Tôi vừa mới bật lửa một cái, ấy thế là viên đạn rít lên trong bờ lũy đất. Đồng chí hãy cúi xuống, ngộ nhỡ…
-Chúng bắn từ đâu tới? Cụ thể là từ đâu?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi.
-Từ bờ bên kia, thưa đồng chí trung úy. Chúng ngồi gần lắm, trong những ngôi nhà ấy, chúng nó trông thấy khẩu pháo của ta.

Lời giải thích rụt rè, ngọng nghịu đó của Tri-bi-xốp, khuôn mặt nhỏ nhắn, râu ria tua tủa của bác khi thì quay về phía anh, khi thì quay về phía U-kha-nốp, sự lo ngại, sự báo trước ngốc nghếch hay sáng suốt của bác-tất cả đều dường như xa lạ, như từ một cuộc đời khác và anh không còn cảm thấy lòng thương hại trước đây đối với Tri-bi-xốp nữa.
-Bác đã trông thấy bọn thiện xạ bắn tỉa của địch ờ bờ bên kia thế mà lại không nhìn thấy gì ngay trước mắt mình,-Cu-dơ-nét-xốp bực bội nói.-Thế mà cũng đòi là người quan sát.
-Gì kia hả?-Tri-bi-xốp hoảng hốt vươn người trên càng pháo.-Đồng chí nói gì kia, đồng chí trung úy?
-Bác hãy quan sát chăm chú hơn phía sau đồi kia kìa-ở đấy có một đội cứu thương Đức. Chúng đang thu lượm xác chết. Bác đừng có luôn luôn nhìn về phía sau lưng như thế mà phải nhìn về phía trước. Kẻo không bọn Đức lại kéo mất khẩu pháo ngay trước mũi bác. Rõ chưa?
-Về bọn xạ thủ tiểu liên, chúng tôi sẽ kiểm tra ngay xem bác có trông gà hóa cuốc không, bác Tri-bi-xốp ạ,-U-kha-nốp nói rồi đợt một lát anh thong thả ra lệnh một cách đôn hậu:-Hãy khom người xuống dưới bờ công sự, trung úy. Tri-bi-xốp, nhoai vào hầm đi. Mau lên, nào! Bác nói là hễ thấy đốm lửa thì chúng bắn từ bên kia sông sang à? Chúng tôi sẽ kiểm tra xem.

Anh rút bật lửa ở trong túi ra với vẻ đùa cợt, hát hất nó ở trên lòng bàn tay, ra hiệu cho bác Tri-bi-xốp thấy. Bác thở hổn hển, rời khỏi càng pháo, hối hả như con thú nhỏ trước cửa hang, chui vào trong hầm, ngồi im trong đó. Cu-dơ-nét-xốp đứng yên, anh vẫn chưa hiểu U-kha-nốp làm như thế để làm gì.
-Khom người xuống, trung úy, để đề phòng bất trắc.-U-kha-nốp ấn vai Cu-dơ-nét-xốp, đẩy anh nép mình vào bờ lũy, sau kh bản thân mình cũng khom người xuống, anh ta giơ tay bật ngay chiếc bật lửa ở trên đầu. Tức thì ở bờ bên kia vang lên một phát súng trường, đốm lửa lân tính sáng lóe lên. Không nghe rõ tiếng đạn réo nhưng có tiếng đất lở từ bờ công sự phía bên phải cách đó hai bước.
-Hóa ra bác Tri-bi-xốp không trông gà hóa cuốc,-Cu-dơ-nét-xốp nói.
-Chúng ngồi gần lắm, quân súc sinh,-U-kha-nốp nói.-Đâu như ngay trong những ngôi nhà đầu tiên… Có lẽ gần hơn.
-U-kha-nốp ạ, đến sáng có lẽ phải diệt bọn chúng, và nã về phía đó hai trái đạn,-Cu-dơ-nét-xốp vươn thẳng người lên, nói.-Chúng đã nhận ra có người động đậy ở gần khẩu pháo. Chúng sẽ không để cho ta bắn đâu.
-Tôi đã nói mà, tôi đã nói mà!-Từ trong hầm vang lên giọng nói của Tri-bi-xốp xác nhận sự bất hạnh.-Chúng mình cứ như ngồi trong cái túi. Đằng trước là chúng nó, liền sát ngay sau lưng cũng là chúng nó… Chúng mình đã bị cứt đứt rồi, trung úy ạ!...
-Quan sát đi, Tri-bi-xốp!-Cu-dơ-nét-xốp ra lệnh.-Chỉ có điều là không phải quan sát đáy hầm, rõ chưa? Nếu có chuyện gì hãy bắn súng các bin báo hiệu và chạy vào hầm trú ẩn ngay! Bác nhắc lại đi!
-Nếu có chuyện gì, bắn súng các bin, thưa đồng chí trung úy…
-Nhất là đừng có ngủ! Ta đến chỗ hầm trú ẩn đi, U-kha-nốp.
 
Họ lần theo những bậc đất trổ vào tấm vải bạt, từ trong hầm phả ra hơi người ấm áp, vọng ra những giọng nói nghe không rõ, trong những giọng nói đó Cu-dơ-nét-xốp nhận ra ngay giọng nói của Dôi-a. Và lúc ấy anh chợt thấy ớn lạnh, sực nhớ tới lúc cô nheo mắt áp sát thân mình vào người anh để tìm sự che chở, đôi đầu gối lấm láp của cô, những giây phút tưởng chết đến nơi khi khẩu pháo tự hành của địch đã phát hiện ra họ và khi anh lấy thân mình che chở cho cô một cách vô ý thức, bản năng và anh sẵn sàng chết như vậy để che chở cho cô khỏi mảnh đạn. Nhưng ngay cả giờ đây nữa, anh cũng chỉ hiểu lờ mờ những gì đã xảy ra với anh và đặc biệt là với cô trong giây lát đó. Có lẽ điều ấy bắt nguồn từ những thế kỷ sâu thẳm; có lẽ từ thuở xa xưa ấy người đàn ông do bản năng không cưỡng lại được đã hy sinh quên mình như thế để bảo vệ người đàn bà nhằm duy trì giống nòi trên trái đất.

Lúc đứng gần cửa hầm Cu-dơ-nét-xốp nghĩ không biết lát nữa đây, sau khi anh và U-kha-nốp bước vào, nét mặt và ánh mắt Dôi-a sẽ như thế nào. Anh nhíu lông mày, gạt tấm bạt che cửa ra.
Mọi người im bặt. Có người ho sù sụ.
-Phải che bạt cẩn thận hơn… Bọn thiện xạ bắn tỉa của địch bắn cừ lắm đấy!
Trong hầm trú ẩn ẩm ướt, giá lạnh, leo lét ngọn đèn dầu xanh lè làm bằng vỏ đạn pháo, ánh đèn chiếu sáng những bức tường ẩm ướt. Ở đây có ba người: Dôi-a, Ru-bin và Nết-trai-ép. Cả ba người đang xúm xít sưởi xung quanh ngọn đèn tự tạo khêu cao nổ lép bép và đều quay đều về phía cửa hầm. Hạ sĩ Nết-trai-ép ngả người gần Dôi-a, khuỷu tay chạm vào đầu gối cô-chiếc áo choàng phanh ra để lộ rõ chiếc may ô kẻ sọc của lính thủy ở trên ngực-đưa mắt nhìn Dôi-a có ý thăm dò. Anh mỉm miệng cười, dưới hàng ria lộ hàm răng trắng bóng.
-Kìa, Dôi-e-sca, trung úy mà cô hằng mong đợi!

Chiến sĩ coi ngựa Ru-bin ngồi trên chiếc hòm dạn rỗng lập tức co ro, hối hả quá mức đưa những ngón tay chai sần, mập mạp chụp lấy ngọn lửa bập bùng từ cái vỏ đạn. Chừng như không tin Cu-dơ-nét-xốp, tròng mắt sáng lóe lên vẻ lo lắng, sau đó cô lặng lẽ thở dài nhẹ nhõm. Khuôn mặt cô chẳng giống chút nào với lúc cô ở bên khẩu pháo: nó gầy guộc, hốc hác đi nhiều, phía dưới mắt cô những quầng thâm, môi sạm đi dường như khô nẻ vì bặm môi nhiều. “Không,-Cu-dơ-nét-xốp thoáng nghĩ,-lúc này, chắc chẳng ai có thể hôn vào đôi môi đen sạm đó. Môi cô ấy làm sao thế nhỉ? Và tại sao Nết-trai-ép cứ nhìn cô ấy chằm chặp như thế?”.
-May quá, thế là anh em đã tới!-Dôi-a nói, mỉm cười, vẻ vui mừng rõ rệt.-Tôi mong các anh ghê quá. Muốn được gặp anh em còn sống. May qýa, các anh tới. Các anh từ đâu tới thế?
-Không xa đây lắm. Chúng tôi là khách của bọn Đức, Dôi-e-sca ạ. Tôi đã cùng với trung úy đi kiểm tra các vị trí của bọn Đức,-U-kha-nốp đáp và anh vẫn đứng, cúi đầu xuống, ném phịch xuống cạnh ngọn đèn chiếc túi da nhỏ rất giống túi dùng trong gia đình, có những chiếc khuy cài mạ kền dính băng giá.-Xin các bạn hãy tiếp nhận tặng phẩm. Nết-trai-ép trải vải bạt ra! Có lẽ các bạn đã đói meo rồi phải không? Xin gửi tới vị chuẩn úy hậu cần thân mến của chúng ta lời chào chiến đấu. Có lẽ lão ta đang ngồi ở đâu đó tại hậu phương trên cái nồi của mình và oai hùng khua huân chương loẻng xoẻng, đau khổ vì chúng ta!

Nết-trai-ép cười vang còn Dôi-a bặm môi, ngước nhìn Cu-dơ-nét-xốp, lúc này cô không mỉm cười nữa mà lộ vẻ chờ đợi thông cảm, không giấu giếm. Ru-bin mặt đỏ gay vẫn đang sưởi bàn tay to bè như cái xẻng trên ngọn đèn, liếc mắt nhìn trộm Dôi-a, mũi sụt sịt mạnh:
-Trung úy,-Dôi-a gọi bằng cặp mắt to trên khuôn mặt gầy guộc của cô hơn là bằng giọng nói rồi cô gật đầu ra hiệu cho anh.-Anh hãy ngồi xuống đây cạnh tôi. Tôi cần nói chuyện với anh. À thôi,-cô bặm môi, sửa lại,-anh hãy cầm lấy mảnh giấy này. Của Đa-vla-chi-an đấy. Anh ấy nhờ tôi chuyển cho anh. Chiều qua tôi không chuyển được vì không thể nào rời bỏ anh em thương binh. May có Ru-bin giúp tôi. Trung úy này, chẳng lẽ chúng mình bị bao vây à?
Cu-dơ-nét-xốp cầm tờ giấy Dôi-a đưa cho, không trả lời câu hỏi của cô. Anh hỏi:
-Cậu ấy thế nào hở Dôi-a? Đã tỉnh chưa?
-Vẫn nửa tỉnh nửa mê,-Ru-bin rầu rĩ thốt lên.-Cứ luôn mồm gọi anh. Anh ấy bảo phải nói với anh cái gì ấy…

Cu-dơ-nét-xốp đã biết trung úy Đa-vla-chi-an bị thương nặng ngay từ lúc mới chiến đấu, biết rằng anh ấy hầu như khó qua khỏi được và sau khi đưa mắt hết nhìn Ru-bin đến Dôi-a, anh hiểu rằng tình trạng của Đa-vla-chi-an vẫn vô vọng như trước và anh cẩn trọng giở mảnh giấy trên đó có những chữ to viết nguệch ngoặc bằng bút chì hóa học:
“Thư riêng của trung úy Đa-vla-chi-an gửi trung úy Cu-dơ-nét-xốp. Cô-li-a, mình bị thương, đừng bỏ mình lại đây. Đừng quên mình. Đó là yêu cầu của mình. Nếu chúng ta không gặp nhau nữa thì thẻ Đoàn, tấm ảnh có đề đằng sau và địa chỉ ở túi bên trái. Ảnh mẹ mình và cô ấy. Cậu hãy giữ lấy và viết thư. Còn làm thế nào chắc cậu khắc biết. Chỉ có điều là đừng sướt mướt quá. Thế thôi. Mình đã chẳng làm được trò trống gì. Mình là kẻ thất bại. Ôm hôn cậu. Đa-vla-chi-an”.

Dôi-a đứng dậy, khóe miệng co giật lại giống như một nụ cười.
-Thôi anh em ở lại khỏe mạnh nhé. Tôi đến chỗ thương binh đây. Ngồi ở chỗ các anh lâu quá rồi.
-Dôi-a,-Cu-dơ-nét-xốp rầu rĩ nói và sau khi đút bức thức vào túi, anh bước theo cô ra cửa hầm.-Tôi đi với cô. Cô hãy dẫn tôi tới chỗ Đa-vla-chi-an.
Khi họ bước ra, mọi người trong hầm im lặng.
 
Back
Top