nguyenthuhanh82
New member
Trong hơn một nửa thế kỷ qua, văn học Nga được dịch ra tiếng Việt với một khối lượng khá lớn. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh, còn nhiều thiếu sót cần xem lại. Thí dụ như tác phẩm để đời của M. Gorki là Klim Samgin lại chưa hề được dịch, hay cần dịch lại Sông Đông êm đềm của Cholokhov...
* Theo chị, đâu là điều có thể rút kinh nghiệm khi nghiên cứu và đánh giá văn học Nga thời kỳ Xô viết?
- Cần nói rõ hơn một chút: Văn học Nga thế kỷ XX bị chia cắt hết sức phức tạp. Ngoài bộ phận văn học chính thống mà chúng ta biết một phần, tác phẩm của các nhà văn những năm 1920 - 1930, các nhà văn nhà thơ thời kỳ chiến tranh và sau chiến tranh (những năm 1940 - 1970) nằm trong ngăn kéo, hoặc bị thất lạc hàng thập niên, nay vừa tìm thấy - lục tục ra mắt bạn đọc. Tiếp đó là mảng văn học Nga ở hải ngoại mà ngay cả bạn đọc Nga cũng chỉ mới được đọc từ cuối những năm 1980. Riêng trong thời kỳ Xô viết, có những tài năng vĩ đại, và nhiều tác phẩm quan trọng của họ được dịch và giới thiệu ở Việt Nam. Song "nhiều" không có nghĩa là "đủ", bởi thế càng thấy việc tiếp nhận một nền văn học cho đúng nghĩa của nó không phải là dễ.
* Mặc dầu có những hạn chế như vậy nhưng hẳn chị cũng tin rằng việc nghiên cứu và dịch văn học Nga đã có tác động lớn tới văn học Việt Nam từ sau 1945?
- Có thể nói trong quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc ở giai đoạn năm 1945, văn học Nga - Xô viết đóng vai trò quan trọng không kém gì văn học Pháp giai đoạn trước năm 1945. Có lúc chúng ta từng mong tìm thấy trong các tác phẩm của họ những con đường và giải pháp cho chính bản thân mình. Người ta có thể nhận thấy dấu ấn cụ thể từ hình ảnh ông lão trong thơ Tố Hữu ngồi "mơ nước Nga", qua những bài thơ lấy cảm hứng từ nước Nga, thiên nhiên Nga, vấn đề Nga của các nhà thơ thế hệ chống Mỹ như Thanh Thảo, Nguyễn Duy..., tới vở kịch thời "hậu hiện đại" về Nguyễn Thái Học của Nguyễn Huy Thiệp, trong đó motiv "chiến tranh và tình yêu" của bộ ba Con đường đau khổ còn vang vọng ("Các cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, còn lại tình em là mãi mãi...")...
* Ngay với văn học Nga thời kỳ Xô viết, thời gian tới ta còn những việc gì nên và cần phải làm?
- Trước mắt, phải đào tạo đội ngũ Nga học lớn gấp mấy lần đội ngũ hiện nay. Những người này ngoài tiếng Nga thông thạo, còn phải nắm được văn hóa, triết học Nga để có thể dịch nổi những sáng tác phức tạp (ngay cả đối với người Nga) như Tchevengua, Biển thanh xuân của Platonov, thơ Svetaeva, Blok, Pasternak, Brodski... Bản thân mảng văn học Xô viết cũng cần được làm lại. Thí dụ như Gorki, chừng nào tác phẩm để đời của ông là Klim Samgin chưa được dịch thì khuôn mặt đích thực của một đại văn hào nơi ông còn chưa đầy đủ. Cũng vậy đối với trường hợp Tvardovski hoặc Trifonov và một số người khác. Có những tác phẩm cần phải dịch lại để thấy hết được giá trị của nó, Sông Đông êm đềm của Cholokhov là một thí dụ. Bên cạnh việc dịch tiểu thuyết hay thơ thì việc tiếp tục tìm dịch những cuốn lý luận có giá trị đích thực và những bộ lịch sử văn học Nga thế kỷ XX có giá trị mới được biên soạn cũng cần thiết.
* Chị có thể cho biết mấy nét khái quát về văn học Nga từ sau 1991 tới nay và những vấn đề mà giữa văn học Việt Nam và văn học Nga vẫn đang có sự tương đồng?
- Giai đoạn văn học Nga hiện nay mang đặc tính một thời điểm rẽ ngoặt. Người ta gọi nó là giai đoạn văn học hỗn loạn, văn học thời kinh tế thị trường. Ở đó có mặt mọi trường phái từ hiện đại, hậu hiện đại, đến hiện thực, hậu hiện thực. Trong khi đó thì vẫn còn dòng văn học truyền thống mà giọng điệu chủ yếu là than vãn, nuối tiếc nền văn học đã qua và nếu không dè bỉu, thì cũng thiếu tin tưởng vào nền văn học hiện đang có. Nhà văn Rasputin từng ví thế hệ của ông là những cư dân hiếm hoi còn sót lại sau nạn đại hồng thủy, đang kiên nhẫn bơi trên chiếc thuyền của Noe với số đồ đạc, giống má ít ỏi cố tới được bến bờ mới.
Nhìn chung văn học Nga hôm nay đang nỗ lực tìm kiếm cách tiếp nhận thế giới mới, tạo dụng một ý thức nghệ thuật mới. Luôn luôn có sự điều chỉnh những cực đoan ban đầu, và có sự biến đổi, hòa nhập. Và cái gọi là văn học truyền thống cũng có những điểm khác với chủ nghĩa hiện thực cách đây vài thập niên. Cuối cùng chúng ta lại rơi vào vấn đề thật xưa cũ trong văn chương: kết nối truyền thống và hiện đại. Nhiều nhà văn Nga hiện đã, đang làm được điều này thật xuất sắc, đây chính là điều các nhà văn Việt Nam nên biết.
* Có phải là sau một thời gian quá thuận lợi, hiện nay việc nghiên cứu và dịch văn học Nga đang gặp phải những khó khăn chưa từng có? Từ đâu chị đã tìm thấy niềm hy vọng khi phải đối mặt với những khó khăn ấy?
- Khó khăn lớn nhất là đội ngũ chuyên gia về văn học Nga, ngày mỗi mỏng. Khó khăn thứ hai là thiếu tài liệu, sách vở, những trao đổi học thuật... Mặc dù xa lộ thông tin đã rộng mở và nhiều thứ có thể đọc ở trên mạng (báo và tạp chí chẳng hạn), song vẫn không thể thay thế được các hiệu sách. Để có được số sách nghiên cứu và các tác phẩm mới nhất của các nhà văn Nga đương đại, thẩm thấu được phần nào cái không khí xã hội, văn hóa nghệ thuật, văn học Nga hiện nay, gần chục năm qua tôi phải đi đi lại lại nước Nga nhiều lần, lắm lúc, cũng nản, mà rồi cứ phải đi tiếp. Khác với mọi ngành nghề khác, theo tôi, với văn học không nên nói là hy vọng hay không hy vọng, chỉ có thế nói yêu hay không yêu. Còn yêu, còn hy vọng. Có thế nó mới là nghiệp!
VƯƠNG TRÍ NHÀN
(thực hiện)
(Báo Thể thao và Văn hóa)
--------------------------------------------------------------------------------
Vài nét về Đào Tuấn Ảnh:
* Tốt nghiệp đại học và bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ tại trường Đại học Tổng hợp mang tên Lomonosov (Moskva).
* Hiện nghiên cứu văn học Nga tại Ban văn học thế giới - Viện Văn học.
* Đã viết nhiều bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Văn học và các tạp chí khoa học khác, ngoài ra còn dịch nhiều truyện ngắn và viết bài giới thiệu văn học Nga trên các báo.
* Sách đang in Truyện ngắn đương đại Nga (sách dịch, NXB Thuận Hóa), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX (sách tra cứu cùng viết với Lại Nguyên Ân, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội).
http:??www.hue.vnn.vn%2Fvanhocvn%2Ftintuc%2F2003%2Fthang3%2Ftin5.htm
* Theo chị, đâu là điều có thể rút kinh nghiệm khi nghiên cứu và đánh giá văn học Nga thời kỳ Xô viết?
- Cần nói rõ hơn một chút: Văn học Nga thế kỷ XX bị chia cắt hết sức phức tạp. Ngoài bộ phận văn học chính thống mà chúng ta biết một phần, tác phẩm của các nhà văn những năm 1920 - 1930, các nhà văn nhà thơ thời kỳ chiến tranh và sau chiến tranh (những năm 1940 - 1970) nằm trong ngăn kéo, hoặc bị thất lạc hàng thập niên, nay vừa tìm thấy - lục tục ra mắt bạn đọc. Tiếp đó là mảng văn học Nga ở hải ngoại mà ngay cả bạn đọc Nga cũng chỉ mới được đọc từ cuối những năm 1980. Riêng trong thời kỳ Xô viết, có những tài năng vĩ đại, và nhiều tác phẩm quan trọng của họ được dịch và giới thiệu ở Việt Nam. Song "nhiều" không có nghĩa là "đủ", bởi thế càng thấy việc tiếp nhận một nền văn học cho đúng nghĩa của nó không phải là dễ.
* Mặc dầu có những hạn chế như vậy nhưng hẳn chị cũng tin rằng việc nghiên cứu và dịch văn học Nga đã có tác động lớn tới văn học Việt Nam từ sau 1945?
- Có thể nói trong quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc ở giai đoạn năm 1945, văn học Nga - Xô viết đóng vai trò quan trọng không kém gì văn học Pháp giai đoạn trước năm 1945. Có lúc chúng ta từng mong tìm thấy trong các tác phẩm của họ những con đường và giải pháp cho chính bản thân mình. Người ta có thể nhận thấy dấu ấn cụ thể từ hình ảnh ông lão trong thơ Tố Hữu ngồi "mơ nước Nga", qua những bài thơ lấy cảm hứng từ nước Nga, thiên nhiên Nga, vấn đề Nga của các nhà thơ thế hệ chống Mỹ như Thanh Thảo, Nguyễn Duy..., tới vở kịch thời "hậu hiện đại" về Nguyễn Thái Học của Nguyễn Huy Thiệp, trong đó motiv "chiến tranh và tình yêu" của bộ ba Con đường đau khổ còn vang vọng ("Các cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, còn lại tình em là mãi mãi...")...
* Ngay với văn học Nga thời kỳ Xô viết, thời gian tới ta còn những việc gì nên và cần phải làm?
- Trước mắt, phải đào tạo đội ngũ Nga học lớn gấp mấy lần đội ngũ hiện nay. Những người này ngoài tiếng Nga thông thạo, còn phải nắm được văn hóa, triết học Nga để có thể dịch nổi những sáng tác phức tạp (ngay cả đối với người Nga) như Tchevengua, Biển thanh xuân của Platonov, thơ Svetaeva, Blok, Pasternak, Brodski... Bản thân mảng văn học Xô viết cũng cần được làm lại. Thí dụ như Gorki, chừng nào tác phẩm để đời của ông là Klim Samgin chưa được dịch thì khuôn mặt đích thực của một đại văn hào nơi ông còn chưa đầy đủ. Cũng vậy đối với trường hợp Tvardovski hoặc Trifonov và một số người khác. Có những tác phẩm cần phải dịch lại để thấy hết được giá trị của nó, Sông Đông êm đềm của Cholokhov là một thí dụ. Bên cạnh việc dịch tiểu thuyết hay thơ thì việc tiếp tục tìm dịch những cuốn lý luận có giá trị đích thực và những bộ lịch sử văn học Nga thế kỷ XX có giá trị mới được biên soạn cũng cần thiết.
* Chị có thể cho biết mấy nét khái quát về văn học Nga từ sau 1991 tới nay và những vấn đề mà giữa văn học Việt Nam và văn học Nga vẫn đang có sự tương đồng?
- Giai đoạn văn học Nga hiện nay mang đặc tính một thời điểm rẽ ngoặt. Người ta gọi nó là giai đoạn văn học hỗn loạn, văn học thời kinh tế thị trường. Ở đó có mặt mọi trường phái từ hiện đại, hậu hiện đại, đến hiện thực, hậu hiện thực. Trong khi đó thì vẫn còn dòng văn học truyền thống mà giọng điệu chủ yếu là than vãn, nuối tiếc nền văn học đã qua và nếu không dè bỉu, thì cũng thiếu tin tưởng vào nền văn học hiện đang có. Nhà văn Rasputin từng ví thế hệ của ông là những cư dân hiếm hoi còn sót lại sau nạn đại hồng thủy, đang kiên nhẫn bơi trên chiếc thuyền của Noe với số đồ đạc, giống má ít ỏi cố tới được bến bờ mới.
Nhìn chung văn học Nga hôm nay đang nỗ lực tìm kiếm cách tiếp nhận thế giới mới, tạo dụng một ý thức nghệ thuật mới. Luôn luôn có sự điều chỉnh những cực đoan ban đầu, và có sự biến đổi, hòa nhập. Và cái gọi là văn học truyền thống cũng có những điểm khác với chủ nghĩa hiện thực cách đây vài thập niên. Cuối cùng chúng ta lại rơi vào vấn đề thật xưa cũ trong văn chương: kết nối truyền thống và hiện đại. Nhiều nhà văn Nga hiện đã, đang làm được điều này thật xuất sắc, đây chính là điều các nhà văn Việt Nam nên biết.
* Có phải là sau một thời gian quá thuận lợi, hiện nay việc nghiên cứu và dịch văn học Nga đang gặp phải những khó khăn chưa từng có? Từ đâu chị đã tìm thấy niềm hy vọng khi phải đối mặt với những khó khăn ấy?
- Khó khăn lớn nhất là đội ngũ chuyên gia về văn học Nga, ngày mỗi mỏng. Khó khăn thứ hai là thiếu tài liệu, sách vở, những trao đổi học thuật... Mặc dù xa lộ thông tin đã rộng mở và nhiều thứ có thể đọc ở trên mạng (báo và tạp chí chẳng hạn), song vẫn không thể thay thế được các hiệu sách. Để có được số sách nghiên cứu và các tác phẩm mới nhất của các nhà văn Nga đương đại, thẩm thấu được phần nào cái không khí xã hội, văn hóa nghệ thuật, văn học Nga hiện nay, gần chục năm qua tôi phải đi đi lại lại nước Nga nhiều lần, lắm lúc, cũng nản, mà rồi cứ phải đi tiếp. Khác với mọi ngành nghề khác, theo tôi, với văn học không nên nói là hy vọng hay không hy vọng, chỉ có thế nói yêu hay không yêu. Còn yêu, còn hy vọng. Có thế nó mới là nghiệp!
VƯƠNG TRÍ NHÀN
(thực hiện)
(Báo Thể thao và Văn hóa)
--------------------------------------------------------------------------------
Vài nét về Đào Tuấn Ảnh:
* Tốt nghiệp đại học và bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ tại trường Đại học Tổng hợp mang tên Lomonosov (Moskva).
* Hiện nghiên cứu văn học Nga tại Ban văn học thế giới - Viện Văn học.
* Đã viết nhiều bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Văn học và các tạp chí khoa học khác, ngoài ra còn dịch nhiều truyện ngắn và viết bài giới thiệu văn học Nga trên các báo.
* Sách đang in Truyện ngắn đương đại Nga (sách dịch, NXB Thuận Hóa), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX (sách tra cứu cùng viết với Lại Nguyên Ân, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội).
http:??www.hue.vnn.vn%2Fvanhocvn%2Ftintuc%2F2003%2Fthang3%2Ftin5.htm