Những trang tư liệu mô tả của Grossman về diệt chủng tại Ukraina và Ba Lan, việc khám phá trại diệt chủng Treblinka và Majdanek là một trong những ghi chép nhân chứng đầu tiên - từ năm 1943 - về điều mà sau này được gọi là the Holocaust (Cuộc diệt chủng Do Thái). Bài báo “Địa ngục Treblinka” (Треблинский ад, 1944) của ông được phân phát tại Toà Án Nuremberg làm tư liệu để xét xử.
Việc chính quyền cấm in cuốn “Sách Đen” đã khiến ông rúng động tới tận tâm can, và lòng trung thành của ông đối với chế độ bắt đầu lung lay. Ban đầu những kẻ kiểm duyệt ra lệnh phải thay đổi nội dung để khỏa lấp những hành động tàn ác chống Do Thái và giảm nhẹ vai trò của những người Ukraina làm cảnh binh cho Quốc xã. Tới năm 1948, ngay cả bản đã được kiểm duyệt theo tiêu chuẩn Liên Xô của cuốn sách cũng bị cấm hoàn toàn. Nhà thơ Semyon Lipkin, bạn ông, cho rằng chính Chiến dịch bài Do Thái của Stalin đã đánh gục niềm tin của Grossman vào chính quyền Xôviết:
"Năm 1946... Tôi đến gặp hai người bạn thân, một người Ingush và một người Balkar, gia đình họ đã bị đày tới Kazakhstan trong thời gian chiến tranh. Tôi kể lại cho Grossman và anh đáp: "Có lẽ điều đó là cần thiết vì lý do quân sự”. Tôi trả lời: "...Thế anh sẽ nói gì nếu họ làm vậy với người Do Thái?” Anh bảo rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Vài năm sau, một bài báo hiểm độc có nội dung chống lại chủ nghĩa quốc tế cosmopolitanism xuất hiện trên tờ Pravda. Grossman chuyển cho tôi một tờ giấy nói rằng rốt cục thì tôi đã đúng. Trong bao nhiêu năm trời Grossman đã không hề cảm thấy mình là Do Thái. Chiến dịch chống chủ nghĩa quốc tế cosmopolitanism đã thức tỉnh bản chất Do Thái trong anh."
Do bị chính quyền khủng bố, chỉ một vài tác phẩm thời hậu chiến của ông được xuất bản khi ông còn sống. Sau khi ông đề nghị xuất bản cuốn magnum opus của mình (tác phẩm vĩ đại của đời mình), tiểu thuyết Cuộc đời và Số phận (Жизнь и судьба, 1959), KGB đã tới lục soát căn hộ của ông. Bản thảo, bản sao giấy than, các sổ tay ghi chép cũng như mọi bản sao đánh máy và thậm chí cả cuộn ruy băng của máy đánh chữ cũng bị tịch thu.
Trong thời kỳ “Tan băng” hậu Stalin, Grossman đã viết cho Nikita Khrushchev: "Mục đích cuộc đời tôi sẽ còn gì khi thân thể tôi tự do nhưng những cuốn sách mà vì nó tôi dâng hiến cả đời mình thì bị thu giữ… Tôi không chấp nhận chuyện này… Tôi đòi tự do cho cuốn sách của tôi”. Lãnh đạo Bộ Chính trị, Mikhail Suslov, cho tác giả hay rằng cuốn sách của ông sẽ không được xuất bản sau ít nhất là hai trăm năm nữa.
Cuộc đời và Số phận, cũng như tác phẩm lớn cuối cùng của ông, Trôi mãi trôi hoài (Все течет, 1961) được xem là mối đe dọa của chế độ chuyên chế, và nhà văn bất đồng quan điểm đã hoàn toàn bị biến thành một kẻ vô danh. Grossman mất năm 1964, không bao giờ biết được tác phẩm của mình có được độc giả biết tới hay không.
Cuộc đời và Số phận được xuất bản năm 1980 tại Thụy Sĩ, nhờ một người bất đồng quan điểm: Andrei Sakharov đã bí mật chụp ảnh những trang bản thảo do Semyon Lipkin cất được, và nhà văn Vladimir Voinovich tìm được cách đưa cuộn phim ra nước ngoài. Nhờ chính sách thời Cởi mở glasnost do Mikhail Gorbachev khởi xướng, cuốn sách cuối cùng được xuất bản trên đất Nga năm 1988. Trôi mãi trôi hoài được xuất bản tại Liên Xô năm 1989.
Đoạn trích trong Trôi mãi trôi hoài :
• ...không có hạnh phúc nào lớn hơn khi ta có thể bò trườn khỏi nhà tù, mắt mù, hai chân đứt rời, và chết trong tự do, thậm chí chỉ cần cách hàng rào kẽm gai đáng nguyền rủa chưa đầy chục mét.
• ...chỉ có một thứ trừng phạt giành cho kẻ đao phủ - only one form of retribution is visited upon an executioner — sự thực rằng hắn ta nhìn xuống nạn nhân của mình như một cái gì đó cao hơn một con người và do đó bản thân hắn không còn là con người nữa, và do đó hắn tự xét xử mình như một con người. Hắn là đao phủ của chính bản thân … the fact that he looks upon his victim as something other than a human being and thereby ceases to be a human being himself, and thereby executes himself as a human being. He is his own executioner... (Trôi mãi trôi hoài)
Một vài nhà phê bình so sánh các tiểu thuyết của Grossman với các tác phẩm vĩ đại của Lev Tolstoi. Năm 1998, Alexander Solzhenitsyn đã bày tỏ "sự kính trọng đặc biệt" của mình đối với "công việc kiên nhẫn bền bỉ, dàn trải rất rộng” của Grossman.