Cuong nói:
Có bài báo mới, dài. hữu nghị nhưng hơi buồn tẻ về quan hệ Nga-Việt:
http://www.rambler.ru/news/politics/0/11437591.html
[size=18:fd82eae9ef]Người bạn cũ Việt nam mà ta đã lãng quên[/size]
“Người bạn cũ còn hơn hai người bạn mới” – tục ngữ Nga
22.10.2007 13:11 | www.rian.ru
Ruben Pryazan. Hãng tin Novosty
Một ngày trước khi rời ghế Thủ tướng Nga, ông Mikhail Fradkov đã có cuộc gặp tại Matxcova với đồng nghiệp Việt nam của mình ông Nguyễn Tấn Dũng và đã lưu ý đến thực trạng chưa tận dụng hết tiềm năng sẵn có của nhau để phát triển sự hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước. Không thấy vị cựu Thủ tướng nói gì đến nguyên nhân của tình trạng đó. Có lẽ sự thiếu hiểu biết của các doanh nhân Nga về khả năng hiện nay của Việt nam cũng đóng vai trò không nhỏ. Ngoài ra đối với xã hội Nga nói chung thì Việt nam chỉ gợi lên hình ảnh một nước kinh tế lạc hậu, suốt đời trông chờ vào sự viện trợ của ông “anh cả”.
Thế nhưng trong những thập niên gần đây, nhiểu sự thay đổi mạnh mẽ không chỉ xảy ra ở Nga mà còn cả ở Việt nam nữa. Khác hẳn Nga với những thăng trầm đột ngột về kinh tế và chính trị trong những năm 90, Việt nam trải qua con đường tiến tới kinh tế thị trường chậm chạp hơn, nhưng được cái là ít có những chấn động đối với dân chúng hơn. Cũng cần nhắc đến tình trạng nghèo khổ thế nào ở đất nước đó khi mới chấm dứt chiến tranh chống Mỹ, khi mà toàn bộ hạ tầng cơ sở đã bị phá hủy. “Hồi đó Việt nam rất anh hùng, và cũng cực kỳ nghèo đói” – bà Natalya Kraevskaya, chuyên viên nghiên cứu nghệ thuật, đã đến Việt nam từ ngay sau khi kết thúc chiến tranh, nói thêm là đến cuối những năm 70 đã khó có thể tưởng tượng được là Việt nam thay đổi nhanh đến như thế. Có thể thấy ngay minh chứng cho lời nói của bà là trong 10 năm trở lại đây nhiều người đã chuyển từ đi xe đạp sang đi xe máy, mà lại toàn là xe máy của các hãng Honda và Yamaha.
Chính sánh đổi mới được khới xướng vào đầu những năm 80 đặt mục đích đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế đất nước đã bắt đầu đem lại hiệu quả. Trong mười năm qua Việt nam đã chiếm vị trí hàng đầu của các nước châu Á về tăng trưởng kinh tế: trong năm 2006 là hơn 8%, chỉ thua có Trung quốc. Việt nam cũng trở thành đất nước ổn định nhất nếu xét trên quan điểm an ninh quốc gia so với các nước trong khu vực.
Các nhà lãnh đạo Việt nam hiểu rằng trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, để có thể phát triển bền vững cần phải liên kết với các nền kinh tế thế giới. Cái thời mà Việt nam chỉ định hướng đối ngoại vào một nước duy nhất là Liên xô, đã qua đi từ lâu rồi. “Việt nam hiện nay đã mở cửa với cả thế giới và vừa cố gắng duy trì các quan hệ cũ, vừa đồng thời phát triển hợp tác với các nước mới – Ông Igor Khovaev, công sứ Đại sứ quán Nga tại Việt nam nhận xét.
Thực vậy, Việt nam rất tích cực tạo mọi điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài. Và điều đó, mặc dù cũng cần phải nói là vẫn còn nhiều vấn đề đang tồn tại như tham nhũng, quan liêu và hệ thống hạ tầng còn lâu mới có thể gọi là hoàn thiện, đã đem lại hiệu quả. Nhờ vị trí địa lý thuận tiện, nhân công rẻ mà có chất lượng và sự ổn định chính trị và an ninh như đã nói ở trên mà các nhà đầu tư nước ngoài đang xếp hàng đến đây.
Dù vậy, do các lý do lịch sử mà Việt nam vẫn còn nặng lòng với Nga. Người Việt nam không bao giờ quên sự giúp đỡ của Liên xô đã giành cho họ, và thêm vào đó có lẽ là những Hiệp ước được ký kết từ thời Liên bang xô viết vẫn còn hiệu lực. Chỉ cần nhìn xem họ đã chăm sóc chu đáo thế nào bia tưởng niệm những người đã mất vì tai nạn trong thời gian thi công công trình thủy điện Hòa bình, trong đó có 11 chuyên gia Liên xô. Đến nay đây vẫn là công trình thủy điện lớn nhất ở Việt nam. Nhiều người vẫn coi đó như là biểu tượng của tình hữu nghị Nga-Việt.
”Nga là nước đầu tiên trên thế giới mà chúng tôi xây dựng quan hệ đối tác chiến lược” – Ông Lê Công Phụng, thứ trưởng ngoại giao VN phát biểu tại cuộc gặp với các nhà báo Nga. Phía Việt nam không chỉ tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà kinh doanh Nga ở Việt nam mà còn ủng hộ các dự án của Nga trong lĩnh vực kinh tế thương mại với các nước ASEAN và hoan nghênh sự tham gia tích cực của Nga ở Đông Nam Á.
Nhìn chung trong quan hệ Nga với Việt nam thì thấy sự chênh lệch rất lớn giữa quan hệ chính trị và quan hệ kinh tế. Thực tế trong mọi vấn đề chính trị quan điểm giữa hai nước gần giống nhau, và vẫn giữ được quan hệ tin cậy lẫn nhau. Trong khi đó về lĩnh vực kinh tế thì hai chục năm qua hầu như không có biến chuyển gì.
Quan hệ kinh tế giữa Nga và Việt nam, cũng giống như thời Liên bang Xô viết, chủ yếu chỉ dựa trên hai điểm tựa: lĩnh vực dầu khí và hợp tác kỹ thuật quân sự. Trong số 54 dự án có vốn đầu tư của Nga được thực hiện cho đến thời điểm hiện tại thì hiệu quả nhất là Xí nghiệp liên doanh “Vietxovpetro”. Đó là cơ sở dầu khí lớn nhất ở Đông Nam Á. Lợi nhuận ròng mà “Zarubezneft”, thành viên phía Nga trong liên doanh, thu được trong năm 2006 đã đạt con số kỷ lục là 800 triệu USD. Phía Việt nam hơi thất vọng là toàn bộ số tiền đó đã chuyển về Nga mà không để lại đầu tư phát triển xí nghiệp liên doanh.
Theo kết quả đàm phán giữa hai Thủ tướng của hai nước ở Matxcova đã đi đến quyết định là sau năm 2010, khi mà Hợp đồng liên doanh kết thúc, “Vietxovpetro” sẽ tiếp tục khai thác trên thềm lục địa miền Nam Việt nam với tư cách pháp nhân mới. Đồng thời “Zarubezneft” cũng ký với Petro Vietnam thỏa thuận về thành lập Xí nghiệp liên doanh ở Nga. Đồng thời cũng phải lưu ý là mặc dù Nga và Việt nam sẽ tiếp tục hợp tác với nhau trong lĩnh vực khai thác dầu khí, việc xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Việt nam lại không có Nga tham gia. Nói chung là sự cạnh tranh giữa các hãng dầu khí Anh, Pháp và Mỹ đang diễn ra ngày càng gay gắt, đang gây lo ngại cho vị thế của Nga trong lĩnh vực dầu khí ở đất nước này.
Hình như là chỉ có một lĩnh vực liên tục phát triển đều đặn nhất trong những năm cuối đây, đó là du lịch. Chính các khách du lịch Nga đã cảm nhận được sự quyến rũ của Việt nam sớm hơn là những nhà đầu tư: Mỗi năm lượng khách du lịch Nga đến Việt nam tăng 40%. Trong số những ưu điểm của việc nghỉ ngơi ở Việt nam họ cho là chi phí nội địa tương đối rẻ, an ninh và tháo dộ thân thiện của dân bản xứ với người Nga. Hai cản trở lớn nhất – vé máy bay từ Nga sang Việt nam và trình độ Anh ngữ của cả phần lớn dân bản địa và du khách Nga. Theo lời giám đốc Công ty du lịch “Saigontourism” Ông Vũ Anh Tài, người cũng nhận thấy lượng du khách Nga đang tăng lên, hiện đang đào tạo thêm nhiều hướng dẫn viên du lịch Nga và đang thỏa thuận với các hãng hàng không để có thể giảm giá vé máy bay.
Nhìn chung thì sự thân thiện với Nga, chủ yếu là xuất phát từ các nhà lãnh đạo Việt nam mà phần lớn đã được đào tạo ở Liên xô, cùng với thế hệ mới thì sẽ chỉ giảm đi. Cả hình thức hợp tác đang hiện hữu ngày hôm nay cũng đã quá lỗi thời – chúng đã được hình thành từ hàng chục năm trước với những chế độ kinh tế chính trị hoàn toàn khác hẳn. Thỏa ước mới đây được ký nhân dịp chuyến thăm Nga của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chứng tỏ quan điểm thống nhất của lãnh đạo cả hai bên là nếu không có đầu tư thích đáng thì không thể tăng được trao đổi hàng hóa giữa Nga và Việt nam được. Vì vậy hai nước chúng ta còn phải trải qua chặng đường dài trong việc xây dựng mối quan hệ mới phù hợp với điều kiện hiện tại. Điều đó mới cho phép Nga duy trì được vị thế của mình ở đất nước châu Á này, không để bị hất đi bởi các đối tác khác của Việt nam, mà ông Dũng chuẩn bị đi thiết lập quan hệ ngay sau khi thăm Matxcova.