[color=blue:05b8e2d04b]Vào một trưa Chủ nhật cách nay chừng 4 năm, tôi may mắn được ngồi với tác giả "Chân dung nhà văn" tại một quán ăn trên đường MĐC, TP.HCM. Hóa ra chủ nhân bữa nhậu - một ông bạn học cũ - là bạn vong niên và rất thân với Xuân Sách.
Sau bữa nhậu, anh bạn rủ về nhà chơi để "Xuân Sách tặng mày tập thơ viết tay của ông ấy". Chả là nhà thơ mỗi lần từ Vũng Tàu lên SG thì đều ở nhà tay này, nên tay này cũng làm luôn việc quản lý thơ mới làm và sách đã xuất bản của Xuân Sách. Mở ngoặc thêm là lão làm thơ cũng vào loại được, từng được mời lên đọc thơ tại một số buổi lễ trao giải thơ cho...người khác.
Tác giả "Đội du kích Đình Bảng" lúc ấy đã lên lão (72), có phần thâm trầm sau bao nhiêu biến cố của thời kỳ "hậu Chân dung". Hỏi rằng sao bác “ác” với Chế Lan Viên thế, nhà thơ trả lời: "Nhưng đúng là như thế. Và chính CLV cũng đã thầm xác nhận như thế. Mình quý anh CLV và phục tài của anh ấy, nhưng lại buồn ở chỗ, đáng lý ra anh ấy với tài năng của mình thì chẳng cần phải chạy theo những thứ khác...Tưởng rằng bị CLV giận, nhưng anh ấy không những không giận mà còn mách mấy anh nhà thơ trẻ "nên tìm đọc thơ chân dung của Xuân Sách, đó thực sự là tinh hoa của Xuân Sách".
Xuân Sách cũng đã kể chuyện BĐG đã tức giận ông ra sao vì tội không thèm đưa chân dung ông này vào tập 100 chân dung kia, chuyện nhà thơ LHN, người chịu trách nhiệm xuất bản CDNV, đã bị xử lý ra sao...
Theo sự mách nước của anh bạn, tôi hỏi xin nhà thơ mấy bài của thời kỳ "Hậu Chân dung", nhưng đã bị khéo léo từ chối. Chắc cụ đã biết sợ? Nghe nói có nhiều bài "ác liệt" lắm.
Sau lần ấy, chúng tôi đã có thêm nhiều lần ngồi với Xuân Sách, kể cả một chuyến mời ông về chơi quê biển miền Trung trong dịp hè, nhưng tôi tôi vẫn luôn tự hỏi mình: “Tại sao một ông già trông hiền lành, có phần chậm chạp như ông lại “to gan” và có phần “quái ác” đến thế?”.
Sau đây, xin chép phục vụ những bạn chưa có dịp đọc “Chân dung nhà văn” của ông. Sau phần “Tâm sự của tác giả” sẽ là lần lượt các bài thơ chân dung mà XS đã viết trong khoảng thời gian nhiều năm.
Đề nghị các bạn đọc xong và cho đáp án. [/color]
TÂM SỰ TÁC GIẢ
Những bài thơ chân dung các nhà văn của tôi ra đời trong trường hợp rất tình cờ. Hồi ấy bước vào thập kỷ 60, tôi đang độ tuổi 30, từ đơn vị được chuyển về Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ở ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế, Hà Nội. Ngoài công việc của toà soạn tờ báo ra, thời gian của chúng tôi dành nhiều cho học tập chính trị. Những vấn đề thời sự trong nước, thế giới, những vấn đề tư tưởng lâu dài và trước mắt... đều phải học tập nghiêm túc, có bài bản. Học một ngày, hai ngày, có khi cả tuần, cả tháng. Lên lớp, thảo luận, kiểm điểm, làm sao cho mỗi đợt học, nhận thức và tư tưởng từng người phải được nâng cao lên một bước. Những buổi lên lớp tập trung tại hội trường gồm hàng ngàn sĩ quan; anh em văn nghệ, các nhà văn, các hoạ sĩ, nhạc sĩ... thường tập trung với nhau ở những hàng ghế cuối hội trường thành một "xóm" văn nghệ. Để chống lại sự mệt mỏi phải nghe giảng về hai phe bốn mâu thuẫn, về ba dòng thác cách mạng, về kiên trì, tăng cường, nỗ lực, quyết tâm... mấy anh văn nghệ vốn quen thói tự do thường rì rầm với nhau những câu chuyện tào lao, hoặc che kín cho nhau để hút một hơi thuốc lá trộm, nuốt vội khói nhiều khi ho sặc sụa. Nhưng rồi những câu chuyện đó cũng bị phát hiện, bị nhắc nhở phê bình. Vậy là phải thay đổi, chuyển sang "bút đàm".
Vào năm 1962, có đợt học tập quan trọng, học nghị quyết 9, nghị quyết chống xét lại, chống tư tưởng hoà bình chủ nghĩa, và dĩ nhiên văn nghệ sĩ là một đối tượng cần chú ý trong đợt học tập này. Hội trường tập trung đông, trời nắng, hơi nóng từ cái sân láng xi măng hắt lên như thiêu đốt. Quân đội đang tiến lên chính quy, hiện đại, ăn mắc phải chỉnh tề, đầy đủ cân đai bối tử, đi giày da, những đôi giày cao cổ nặng như cùm. Bọn tôi trừ vài trường hợp như Vũ Cao, Nguyễn Khải có đôi chân quá khổ, chưa có giày đúng số nên được đi dép, nhưng cũng là đôi dép có quai hậu, ngồi học cũng không được tụt quai. Nhân đây tôi xin nói thêm về Vũ Cao, ông là người có biệt danh "quanh năm chân đất". Ở nhà số 4 các phòng sàn ván đều được lau bóng để đánh trần nằm xuống mà viết, quy định ai vào phòng phải bỏ giày dép trừ... Vũ Cao, bởi để ông đi dép vào phòng còn sạch hơn đi chân trần. Giờ đây ngồi học được ưu tiên đi dép vẫn là nỗi cực khổ đối với ông.
Trong một buổi lên lớp căng thẳng như thế, Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá Tam Đảo viết một bài thơ chữ Hán trao cho tôi...
... Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá làm báo viết một bài thơ chữ Hán trao cho tôi. Ở Văn nghệ quân đội, Oánh được gọi là ông đồ Nghệ giỏi chữ Hán, và tôi được gọi là Đồ Thanh bởi cũng võ vẽ đôi ba chữ thánh hiền. Oánh biểu tôi dịch bài thơ Oánh viết vịnh Xuân Thiều, Xuân Thiều cũng ở lứa tuổi chúng tôi nhưng trông già dặn vì cái đầu hói tóc lơ thơ. Con đường văn chương mới bước vào thì lận đận. Mới in được tập truyện ngắn đầu tay "Đôi vai"; tập tiểu thuyết "Chuyển vùng" viết về cuộc chiến đấu chống Pháp ở Bình Trị Thiên mà Thiều tham dự, đã sửa chữa nhiều lần, đưa qua vài ba nhà xuất bản, chưa "nhà" nào chịu in.
Tôi thấy bài thơ Oánh viết rất hay và dịch:
Văn nghiệp tiền trình khả điếu quân
Mao đầu tận lạc tự mao quân
Lưỡng kiên mai liễu phong trần lý
Chuyển địa hà thời chuyển đắc ngân
Dịch nghĩa:
Con đường văn nghiệp khá thương cho ông
Lông đầu ông đã rụng trơ trụi
Đôi vai bước lầm lũi trên con đường gió bụi
Chuyển vùng đến bao giờ thì chuyển thành tiền được?
Dịch thơ:
Con đường văn nghiệp thương ông
Lông đầu rụng hết như lông cái đầu
Đôi vai gánh mãi càng đau
Chuyển vùng nào nữa làm sao thành tiền?
Dịch xong tôi chuyển bài thơ cho anh em đọc. Oánh tỉnh bơ với bộ mặt lạnh lùng cố hữu, còn mọi người phải nén cười cho khỏi bật thành tiếng. Nguyễn Minh Châu gục xuống bàn, kìm nén đến nỗi mặt đỏ bừng và nước mắt dàn dụa.
Tự nhiên trong đầu tôi loé lên cái ý nghĩ mà người ta thường gọi là "tia chớp": thơ chân dung. Trong bài thơ của Oánh phác hoạ một Xuân Thiều với hình dáng và văn nghiệp bằng cách dùng nghĩa kép của tên tác phẩm "Đôi vai", "Chuyển vùng". Và sau chốc lát, tiếp tục "trò đùa" của Oánh, tôi viết bài thơ về Hồ Phương đang ngồi cạnh tôi. Và bài thơ số 1 về chân dung các nhà văn ra đời. Hồi đó Hồ Phương đã là tác giả in nhiều tác phẩm, đã được một số giải thưởng các cuộc thi sáng tác văn học. Tôi dùng tên các tập truyện ngắn của anh: "Trên biển lớn", "Xóm mới", "Cỏ non" và tên cái truyện ngắn đầu tay vẫn được nhắc đến "Thư nhà". Tôi viết bài thơ ra mẩu giấy:
Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem
Tôi đưa bài thơ cho Nguyễn Khải. Anh đọc thơ xong, trên mắt thoáng chút ngạc nhiên và nghiêm nghị chứ không đùa như tôi chờ đợi. Anh bỏ bài thơ vào túi chứ không truyền cho người khác. Đến giờ giải lao chúng tôi đến ngồi quanh gốc cây sấu già, Nguyễn Khải mới đưa bài thơ cho Hồ Phương đọc. Mặt Hồ Phương hơi tái và cặp môi mỏng của anh hơi rung. Nguyễn Khải nói như cách sỗ sàng của anh:
- Thằng này (chỉ tôi) ghê quá. Không phải trò đùa nữa rồi.
Tôi hơi hoảng, nghĩ rằng đó chỉ là trò chơi chữ thông thường. Sau rồi tôi hiểu, ngoài cái nghĩa thông thường bài thơ còn chạm vào tính cách. Và đánh giá nhà văn thì có gì quan trọng hơn là tính cách và tác phẩm. Bài thơ ngụ ý Hồ Phương viết nhiều chăng nữa cũng không vượt được tác phẩm đầu tay và vẫn cứ "Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem"...
... Trước đây khi còn là lính ở địa phương, cái xã hội nhà văn đối với tôi đầy thiêng liêng bí ẩn. Đấy là những con người dị biệt, rất đáng ngưỡng mộ, rất đáng yêu mến, dường như họ là một "siêu tầng lớp" trong xã hội. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, lời nói của họ đều có thể trở thành giai thoại, và cả tật xấu nữa dường như cũng đứng ngoài vòng phán xét thông thường. Tóm lại, đó là một thế giới đầy sức hấp dẫn với người say mê văn học và tập tễnh nuôi mộng viết văn như tôi. Khi tôi được về Hà Nội, vào một cơ quan văn nghệ, dù là ở quân đội (hoàn cảnh nước ta quân đội có một vị trí đặc biệt trong xã hội, kể cả lĩnh vực văn chương), tôi bắt đầu đi vào cái thế giới mà trước kia tôi mong ước. Điều mà tôi nhận ra ngoài cái phần mà tôi hiểu trước đây thì thế giới nhà văn còn có những chuyện khác. Đấy là cái mặt đời thường, cái mặt rất chúng sinh, và chúng cũng góp phần quan trọng làm nên tác phẩm và tính cách nhà văn. Vì vậy mà chân dung nhà văn không thể bỏ qua. Hơn nữa, nếu "vẽ" được chính xác những bức chân dung đó thì bộ mặt xã hội mà họ đang sống, đang viết cũng qua đó mà hiện lên. Có thể, tôi nghĩ, không có tầng lớp nào hơn nhà văn, thể hiện rõ nhất bộ mặt tinh thần của dân tộc qua từng giai đoạn. Những điều này tôi nhận ra sau một thời gian dài, khi những bài thơ chân dung lần lượt ra đời, được phổ biến một cách không chính thức, nhưng sâu rộng và dai dẳng, vượt cả mong muốn của tôi.
Cũng chính các nhà văn giúp tôi nhiều trong sáng tác cũng như phổ biến các bài thơ. Bởi khi nhận xét tính cách con người, tính cách các nhà văn thì không ai sắc sảo bằng chính các nhà văn. Người giúp tôi nhiều nhất là anh Nguyễn Khải. Anh có mối quan hệ rộng rãi trong giới, có lối nhận xét người rất sắc sảo, chính xác dù có đôi lúc cực đoan. Anh không mấy thích thơ, nhưng anh lại thích các nhà văn chân dung. Anh có nói đại ý là các nhà văn chúng ta quen đánh giá nhận xét mọi tầng lớp người trong xã hội, thì cũng cần tự đánh giá giới mình, cũng đều có cái tốt cái xấu như ai. Về sau thêm anh Vương Trí Nhàn về quân đội. Nhà phê bình văn học trẻ tuổi này hết sức cổ suý tôi, đôi khi anh còn thích thách đố. Chúng tôi thường ngồi trong cái phòng toa-lét khoảng ba mét vuông. Do hệ thống bơm nước lên tầng hai bị hỏng, nên cái phòng vệ sinh đó biến thành "phòng văn", nó được ốp gạch men trắng bóng, lau sạch, ngồi thật mát và thoải mái, kín đáo. Có những hôm Nhàn mua sẵn vài điếu thuốc lá lẻ, vài cái kẹo lạc, một ấm trà ngon, rồi thách thức tôi viết ngay tại chỗ. Và có nhiều bài thơ ra đời như thế. Nhàn nói: "Những bài thơ này ông Sách viết ra khi có con quỷ ám vào ông ấy". Bởi Nhàn đánh giá tôi có một giọng điệu khác hẳn với những sáng tác không phải thơ chân dung. Nhàn là người rất thuộc thơ, và khi bài thơ tôi vừa làm xong thường anh là người phổ biến rộng rãi. Một số anh em trẻ khác như các anh Đinh Nguyễn, Trần Hoàng Bách thường đem những bài thơ đi phổ biến để được chiêu dãi bia hơi. Có thể nói đó là "nhuận bút" đầu tiên, nhưng không thuộc về người sáng tác mà thuộc về người phát hành...
... Tất nhiên những bài thơ đó được phổ biến rộng trong giới. Lúc đầu còn kín đáo, nhưng dần dần thành công khai, và nhất là thành một "tiết mục" không thể thiếu trong những buổi liên hoan của anh em văn nghệ. Có một buổi cũng khá đông đủ các nhà văn, khi vào tiệc rượu, mọi người yêu cầu tôi đọc thơ về các nhà văn có mặt. Trong không khí như vậy thì dù các anh các chị có giận thì cũng cười xoà làm vui, riêng tôi thấy mình làm được trò vui cho mọi người thì cũng thấy hay. Tôi nhớ sau buổi vui ấy, anh Nguyễn Đình Thi có nói đại ý nên đem cái tài đó làm những việc có ích hơn là châm chọc nhau. Ngay đó một anh ngồi cạnh rỉ tai tôi: "Châm chọc cũng cần có tài và cũng có ích lằm chứ".
Những bài thơ cũng được lan truyền trong giới khác. Hồi đó tướng Lê Quang Đạo là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, cấp trên của giới văn nghệ trong quân đội. Ông rất thích những bài thơ chân dung. Thường trong giờ nghỉ những buổi họp với giới văn nghệ, ông đề nghị đọc cho ông nghe. Sự thích thú tuy có tính cách cá nhân, nhưng rất hay cho tôi. Tôi cũng nhận được nhiều phản ứng khác nhau, có khi khen quá lời, có khi bực tức, tôi sẽ kể ra vài trường hợp đặc biệt. Khi tôi đã tìm hiểu được những ứng xử, những tính cách của các nhà văn, ngoài những tác phẩm của họ mà tôi hằng ngưỡng mộ, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: Sao thế nhỉ? Với bề dày tác phẩm như thế, trong lòng người đọc như thế, sao họ lại còn ham muốn những thứ phù phiếm đến thế, một chức vụ, một quyền lực, một chuyến đi nước ngoài... Mà ham muốn thì phải mưu mẹo, phải dối trá và nhất là phải sợ hãi. Một lần trên báo đăng một bài thơ dài của một nhà thơ có tên tuổi viết theo "thời tiết" chính trị, quay ngược lại những điều vừa viết chưa lâu, Nguyễn Khải chỉ bài thơ nói với tôi: "Rất tiếc, một tài năng lỡ tàu"...
(trích Tâm sự của tác giả)
1.
Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem
2.
Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trân trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ
3.
Dế mèn lưu lạc mười năm
Để o chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang
4.
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sông gầm sông lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên Thế
Con hổ già uống rươu giả vờ say
5.
Bác kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chưa xong bác đã cười
6.
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trút lệ ưu phiền
7.
Các vị La Hán chùa Tây phương
Các vị gầy quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Đừng nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng, có sao đâu!
8.
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ôi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.
9.
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu
8.
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới Vàng Sao từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ,
ai dám bảo con tàu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya khôn uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn.
Sau bữa nhậu, anh bạn rủ về nhà chơi để "Xuân Sách tặng mày tập thơ viết tay của ông ấy". Chả là nhà thơ mỗi lần từ Vũng Tàu lên SG thì đều ở nhà tay này, nên tay này cũng làm luôn việc quản lý thơ mới làm và sách đã xuất bản của Xuân Sách. Mở ngoặc thêm là lão làm thơ cũng vào loại được, từng được mời lên đọc thơ tại một số buổi lễ trao giải thơ cho...người khác.
Tác giả "Đội du kích Đình Bảng" lúc ấy đã lên lão (72), có phần thâm trầm sau bao nhiêu biến cố của thời kỳ "hậu Chân dung". Hỏi rằng sao bác “ác” với Chế Lan Viên thế, nhà thơ trả lời: "Nhưng đúng là như thế. Và chính CLV cũng đã thầm xác nhận như thế. Mình quý anh CLV và phục tài của anh ấy, nhưng lại buồn ở chỗ, đáng lý ra anh ấy với tài năng của mình thì chẳng cần phải chạy theo những thứ khác...Tưởng rằng bị CLV giận, nhưng anh ấy không những không giận mà còn mách mấy anh nhà thơ trẻ "nên tìm đọc thơ chân dung của Xuân Sách, đó thực sự là tinh hoa của Xuân Sách".
Xuân Sách cũng đã kể chuyện BĐG đã tức giận ông ra sao vì tội không thèm đưa chân dung ông này vào tập 100 chân dung kia, chuyện nhà thơ LHN, người chịu trách nhiệm xuất bản CDNV, đã bị xử lý ra sao...
Theo sự mách nước của anh bạn, tôi hỏi xin nhà thơ mấy bài của thời kỳ "Hậu Chân dung", nhưng đã bị khéo léo từ chối. Chắc cụ đã biết sợ? Nghe nói có nhiều bài "ác liệt" lắm.
Sau lần ấy, chúng tôi đã có thêm nhiều lần ngồi với Xuân Sách, kể cả một chuyến mời ông về chơi quê biển miền Trung trong dịp hè, nhưng tôi tôi vẫn luôn tự hỏi mình: “Tại sao một ông già trông hiền lành, có phần chậm chạp như ông lại “to gan” và có phần “quái ác” đến thế?”.
Sau đây, xin chép phục vụ những bạn chưa có dịp đọc “Chân dung nhà văn” của ông. Sau phần “Tâm sự của tác giả” sẽ là lần lượt các bài thơ chân dung mà XS đã viết trong khoảng thời gian nhiều năm.
Đề nghị các bạn đọc xong và cho đáp án. [/color]
TÂM SỰ TÁC GIẢ
Những bài thơ chân dung các nhà văn của tôi ra đời trong trường hợp rất tình cờ. Hồi ấy bước vào thập kỷ 60, tôi đang độ tuổi 30, từ đơn vị được chuyển về Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ở ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế, Hà Nội. Ngoài công việc của toà soạn tờ báo ra, thời gian của chúng tôi dành nhiều cho học tập chính trị. Những vấn đề thời sự trong nước, thế giới, những vấn đề tư tưởng lâu dài và trước mắt... đều phải học tập nghiêm túc, có bài bản. Học một ngày, hai ngày, có khi cả tuần, cả tháng. Lên lớp, thảo luận, kiểm điểm, làm sao cho mỗi đợt học, nhận thức và tư tưởng từng người phải được nâng cao lên một bước. Những buổi lên lớp tập trung tại hội trường gồm hàng ngàn sĩ quan; anh em văn nghệ, các nhà văn, các hoạ sĩ, nhạc sĩ... thường tập trung với nhau ở những hàng ghế cuối hội trường thành một "xóm" văn nghệ. Để chống lại sự mệt mỏi phải nghe giảng về hai phe bốn mâu thuẫn, về ba dòng thác cách mạng, về kiên trì, tăng cường, nỗ lực, quyết tâm... mấy anh văn nghệ vốn quen thói tự do thường rì rầm với nhau những câu chuyện tào lao, hoặc che kín cho nhau để hút một hơi thuốc lá trộm, nuốt vội khói nhiều khi ho sặc sụa. Nhưng rồi những câu chuyện đó cũng bị phát hiện, bị nhắc nhở phê bình. Vậy là phải thay đổi, chuyển sang "bút đàm".
Vào năm 1962, có đợt học tập quan trọng, học nghị quyết 9, nghị quyết chống xét lại, chống tư tưởng hoà bình chủ nghĩa, và dĩ nhiên văn nghệ sĩ là một đối tượng cần chú ý trong đợt học tập này. Hội trường tập trung đông, trời nắng, hơi nóng từ cái sân láng xi măng hắt lên như thiêu đốt. Quân đội đang tiến lên chính quy, hiện đại, ăn mắc phải chỉnh tề, đầy đủ cân đai bối tử, đi giày da, những đôi giày cao cổ nặng như cùm. Bọn tôi trừ vài trường hợp như Vũ Cao, Nguyễn Khải có đôi chân quá khổ, chưa có giày đúng số nên được đi dép, nhưng cũng là đôi dép có quai hậu, ngồi học cũng không được tụt quai. Nhân đây tôi xin nói thêm về Vũ Cao, ông là người có biệt danh "quanh năm chân đất". Ở nhà số 4 các phòng sàn ván đều được lau bóng để đánh trần nằm xuống mà viết, quy định ai vào phòng phải bỏ giày dép trừ... Vũ Cao, bởi để ông đi dép vào phòng còn sạch hơn đi chân trần. Giờ đây ngồi học được ưu tiên đi dép vẫn là nỗi cực khổ đối với ông.
Trong một buổi lên lớp căng thẳng như thế, Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá Tam Đảo viết một bài thơ chữ Hán trao cho tôi...
... Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá làm báo viết một bài thơ chữ Hán trao cho tôi. Ở Văn nghệ quân đội, Oánh được gọi là ông đồ Nghệ giỏi chữ Hán, và tôi được gọi là Đồ Thanh bởi cũng võ vẽ đôi ba chữ thánh hiền. Oánh biểu tôi dịch bài thơ Oánh viết vịnh Xuân Thiều, Xuân Thiều cũng ở lứa tuổi chúng tôi nhưng trông già dặn vì cái đầu hói tóc lơ thơ. Con đường văn chương mới bước vào thì lận đận. Mới in được tập truyện ngắn đầu tay "Đôi vai"; tập tiểu thuyết "Chuyển vùng" viết về cuộc chiến đấu chống Pháp ở Bình Trị Thiên mà Thiều tham dự, đã sửa chữa nhiều lần, đưa qua vài ba nhà xuất bản, chưa "nhà" nào chịu in.
Tôi thấy bài thơ Oánh viết rất hay và dịch:
Văn nghiệp tiền trình khả điếu quân
Mao đầu tận lạc tự mao quân
Lưỡng kiên mai liễu phong trần lý
Chuyển địa hà thời chuyển đắc ngân
Dịch nghĩa:
Con đường văn nghiệp khá thương cho ông
Lông đầu ông đã rụng trơ trụi
Đôi vai bước lầm lũi trên con đường gió bụi
Chuyển vùng đến bao giờ thì chuyển thành tiền được?
Dịch thơ:
Con đường văn nghiệp thương ông
Lông đầu rụng hết như lông cái đầu
Đôi vai gánh mãi càng đau
Chuyển vùng nào nữa làm sao thành tiền?
Dịch xong tôi chuyển bài thơ cho anh em đọc. Oánh tỉnh bơ với bộ mặt lạnh lùng cố hữu, còn mọi người phải nén cười cho khỏi bật thành tiếng. Nguyễn Minh Châu gục xuống bàn, kìm nén đến nỗi mặt đỏ bừng và nước mắt dàn dụa.
Tự nhiên trong đầu tôi loé lên cái ý nghĩ mà người ta thường gọi là "tia chớp": thơ chân dung. Trong bài thơ của Oánh phác hoạ một Xuân Thiều với hình dáng và văn nghiệp bằng cách dùng nghĩa kép của tên tác phẩm "Đôi vai", "Chuyển vùng". Và sau chốc lát, tiếp tục "trò đùa" của Oánh, tôi viết bài thơ về Hồ Phương đang ngồi cạnh tôi. Và bài thơ số 1 về chân dung các nhà văn ra đời. Hồi đó Hồ Phương đã là tác giả in nhiều tác phẩm, đã được một số giải thưởng các cuộc thi sáng tác văn học. Tôi dùng tên các tập truyện ngắn của anh: "Trên biển lớn", "Xóm mới", "Cỏ non" và tên cái truyện ngắn đầu tay vẫn được nhắc đến "Thư nhà". Tôi viết bài thơ ra mẩu giấy:
Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem
Tôi đưa bài thơ cho Nguyễn Khải. Anh đọc thơ xong, trên mắt thoáng chút ngạc nhiên và nghiêm nghị chứ không đùa như tôi chờ đợi. Anh bỏ bài thơ vào túi chứ không truyền cho người khác. Đến giờ giải lao chúng tôi đến ngồi quanh gốc cây sấu già, Nguyễn Khải mới đưa bài thơ cho Hồ Phương đọc. Mặt Hồ Phương hơi tái và cặp môi mỏng của anh hơi rung. Nguyễn Khải nói như cách sỗ sàng của anh:
- Thằng này (chỉ tôi) ghê quá. Không phải trò đùa nữa rồi.
Tôi hơi hoảng, nghĩ rằng đó chỉ là trò chơi chữ thông thường. Sau rồi tôi hiểu, ngoài cái nghĩa thông thường bài thơ còn chạm vào tính cách. Và đánh giá nhà văn thì có gì quan trọng hơn là tính cách và tác phẩm. Bài thơ ngụ ý Hồ Phương viết nhiều chăng nữa cũng không vượt được tác phẩm đầu tay và vẫn cứ "Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem"...
... Trước đây khi còn là lính ở địa phương, cái xã hội nhà văn đối với tôi đầy thiêng liêng bí ẩn. Đấy là những con người dị biệt, rất đáng ngưỡng mộ, rất đáng yêu mến, dường như họ là một "siêu tầng lớp" trong xã hội. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, lời nói của họ đều có thể trở thành giai thoại, và cả tật xấu nữa dường như cũng đứng ngoài vòng phán xét thông thường. Tóm lại, đó là một thế giới đầy sức hấp dẫn với người say mê văn học và tập tễnh nuôi mộng viết văn như tôi. Khi tôi được về Hà Nội, vào một cơ quan văn nghệ, dù là ở quân đội (hoàn cảnh nước ta quân đội có một vị trí đặc biệt trong xã hội, kể cả lĩnh vực văn chương), tôi bắt đầu đi vào cái thế giới mà trước kia tôi mong ước. Điều mà tôi nhận ra ngoài cái phần mà tôi hiểu trước đây thì thế giới nhà văn còn có những chuyện khác. Đấy là cái mặt đời thường, cái mặt rất chúng sinh, và chúng cũng góp phần quan trọng làm nên tác phẩm và tính cách nhà văn. Vì vậy mà chân dung nhà văn không thể bỏ qua. Hơn nữa, nếu "vẽ" được chính xác những bức chân dung đó thì bộ mặt xã hội mà họ đang sống, đang viết cũng qua đó mà hiện lên. Có thể, tôi nghĩ, không có tầng lớp nào hơn nhà văn, thể hiện rõ nhất bộ mặt tinh thần của dân tộc qua từng giai đoạn. Những điều này tôi nhận ra sau một thời gian dài, khi những bài thơ chân dung lần lượt ra đời, được phổ biến một cách không chính thức, nhưng sâu rộng và dai dẳng, vượt cả mong muốn của tôi.
Cũng chính các nhà văn giúp tôi nhiều trong sáng tác cũng như phổ biến các bài thơ. Bởi khi nhận xét tính cách con người, tính cách các nhà văn thì không ai sắc sảo bằng chính các nhà văn. Người giúp tôi nhiều nhất là anh Nguyễn Khải. Anh có mối quan hệ rộng rãi trong giới, có lối nhận xét người rất sắc sảo, chính xác dù có đôi lúc cực đoan. Anh không mấy thích thơ, nhưng anh lại thích các nhà văn chân dung. Anh có nói đại ý là các nhà văn chúng ta quen đánh giá nhận xét mọi tầng lớp người trong xã hội, thì cũng cần tự đánh giá giới mình, cũng đều có cái tốt cái xấu như ai. Về sau thêm anh Vương Trí Nhàn về quân đội. Nhà phê bình văn học trẻ tuổi này hết sức cổ suý tôi, đôi khi anh còn thích thách đố. Chúng tôi thường ngồi trong cái phòng toa-lét khoảng ba mét vuông. Do hệ thống bơm nước lên tầng hai bị hỏng, nên cái phòng vệ sinh đó biến thành "phòng văn", nó được ốp gạch men trắng bóng, lau sạch, ngồi thật mát và thoải mái, kín đáo. Có những hôm Nhàn mua sẵn vài điếu thuốc lá lẻ, vài cái kẹo lạc, một ấm trà ngon, rồi thách thức tôi viết ngay tại chỗ. Và có nhiều bài thơ ra đời như thế. Nhàn nói: "Những bài thơ này ông Sách viết ra khi có con quỷ ám vào ông ấy". Bởi Nhàn đánh giá tôi có một giọng điệu khác hẳn với những sáng tác không phải thơ chân dung. Nhàn là người rất thuộc thơ, và khi bài thơ tôi vừa làm xong thường anh là người phổ biến rộng rãi. Một số anh em trẻ khác như các anh Đinh Nguyễn, Trần Hoàng Bách thường đem những bài thơ đi phổ biến để được chiêu dãi bia hơi. Có thể nói đó là "nhuận bút" đầu tiên, nhưng không thuộc về người sáng tác mà thuộc về người phát hành...
... Tất nhiên những bài thơ đó được phổ biến rộng trong giới. Lúc đầu còn kín đáo, nhưng dần dần thành công khai, và nhất là thành một "tiết mục" không thể thiếu trong những buổi liên hoan của anh em văn nghệ. Có một buổi cũng khá đông đủ các nhà văn, khi vào tiệc rượu, mọi người yêu cầu tôi đọc thơ về các nhà văn có mặt. Trong không khí như vậy thì dù các anh các chị có giận thì cũng cười xoà làm vui, riêng tôi thấy mình làm được trò vui cho mọi người thì cũng thấy hay. Tôi nhớ sau buổi vui ấy, anh Nguyễn Đình Thi có nói đại ý nên đem cái tài đó làm những việc có ích hơn là châm chọc nhau. Ngay đó một anh ngồi cạnh rỉ tai tôi: "Châm chọc cũng cần có tài và cũng có ích lằm chứ".
Những bài thơ cũng được lan truyền trong giới khác. Hồi đó tướng Lê Quang Đạo là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, cấp trên của giới văn nghệ trong quân đội. Ông rất thích những bài thơ chân dung. Thường trong giờ nghỉ những buổi họp với giới văn nghệ, ông đề nghị đọc cho ông nghe. Sự thích thú tuy có tính cách cá nhân, nhưng rất hay cho tôi. Tôi cũng nhận được nhiều phản ứng khác nhau, có khi khen quá lời, có khi bực tức, tôi sẽ kể ra vài trường hợp đặc biệt. Khi tôi đã tìm hiểu được những ứng xử, những tính cách của các nhà văn, ngoài những tác phẩm của họ mà tôi hằng ngưỡng mộ, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: Sao thế nhỉ? Với bề dày tác phẩm như thế, trong lòng người đọc như thế, sao họ lại còn ham muốn những thứ phù phiếm đến thế, một chức vụ, một quyền lực, một chuyến đi nước ngoài... Mà ham muốn thì phải mưu mẹo, phải dối trá và nhất là phải sợ hãi. Một lần trên báo đăng một bài thơ dài của một nhà thơ có tên tuổi viết theo "thời tiết" chính trị, quay ngược lại những điều vừa viết chưa lâu, Nguyễn Khải chỉ bài thơ nói với tôi: "Rất tiếc, một tài năng lỡ tàu"...
(trích Tâm sự của tác giả)
1.
Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem
2.
Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trân trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ
3.
Dế mèn lưu lạc mười năm
Để o chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang
4.
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sông gầm sông lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên Thế
Con hổ già uống rươu giả vờ say
5.
Bác kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chưa xong bác đã cười
6.
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trút lệ ưu phiền
7.
Các vị La Hán chùa Tây phương
Các vị gầy quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Đừng nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng, có sao đâu!
8.
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ôi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.
9.
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu
8.
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới Vàng Sao từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ,
ai dám bảo con tàu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya khôn uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn.