“Chân dung nhà văn” của Xuân Sách

NguyenAnh

New member
[color=blue:05b8e2d04b]Vào một trưa Chủ nhật cách nay chừng 4 năm, tôi may mắn được ngồi với tác giả "Chân dung nhà văn" tại một quán ăn trên đường MĐC, TP.HCM. Hóa ra chủ nhân bữa nhậu - một ông bạn học cũ - là bạn vong niên và rất thân với Xuân Sách.

Sau bữa nhậu, anh bạn rủ về nhà chơi để "Xuân Sách tặng mày tập thơ viết tay của ông ấy". Chả là nhà thơ mỗi lần từ Vũng Tàu lên SG thì đều ở nhà tay này, nên tay này cũng làm luôn việc quản lý thơ mới làm và sách đã xuất bản của Xuân Sách. Mở ngoặc thêm là lão làm thơ cũng vào loại được, từng được mời lên đọc thơ tại một số buổi lễ trao giải thơ cho...người khác.

Tác giả "Đội du kích Đình Bảng" lúc ấy đã lên lão (72), có phần thâm trầm sau bao nhiêu biến cố của thời kỳ "hậu Chân dung". Hỏi rằng sao bác “ác” với Chế Lan Viên thế, nhà thơ trả lời: "Nhưng đúng là như thế. Và chính CLV cũng đã thầm xác nhận như thế. Mình quý anh CLV và phục tài của anh ấy, nhưng lại buồn ở chỗ, đáng lý ra anh ấy với tài năng của mình thì chẳng cần phải chạy theo những thứ khác...Tưởng rằng bị CLV giận, nhưng anh ấy không những không giận mà còn mách mấy anh nhà thơ trẻ "nên tìm đọc thơ chân dung của Xuân Sách, đó thực sự là tinh hoa của Xuân Sách".

Xuân Sách cũng đã kể chuyện BĐG đã tức giận ông ra sao vì tội không thèm đưa chân dung ông này vào tập 100 chân dung kia, chuyện nhà thơ LHN, người chịu trách nhiệm xuất bản CDNV, đã bị xử lý ra sao...

Theo sự mách nước của anh bạn, tôi hỏi xin nhà thơ mấy bài của thời kỳ "Hậu Chân dung", nhưng đã bị khéo léo từ chối. Chắc cụ đã biết sợ? Nghe nói có nhiều bài "ác liệt" lắm.

Sau lần ấy, chúng tôi đã có thêm nhiều lần ngồi với Xuân Sách, kể cả một chuyến mời ông về chơi quê biển miền Trung trong dịp hè, nhưng tôi tôi vẫn luôn tự hỏi mình: “Tại sao một ông già trông hiền lành, có phần chậm chạp như ông lại “to gan” và có phần “quái ác” đến thế?”.

Sau đây, xin chép phục vụ những bạn chưa có dịp đọc “Chân dung nhà văn” của ông. Sau phần “Tâm sự của tác giả” sẽ là lần lượt các bài thơ chân dung mà XS đã viết trong khoảng thời gian nhiều năm.

Đề nghị các bạn đọc xong và cho đáp án. [/color]

TÂM SỰ TÁC GIẢ

Những bài thơ chân dung các nhà văn của tôi ra đời trong trường hợp rất tình cờ. Hồi ấy bước vào thập kỷ 60, tôi đang độ tuổi 30, từ đơn vị được chuyển về Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ở ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế, Hà Nội. Ngoài công việc của toà soạn tờ báo ra, thời gian của chúng tôi dành nhiều cho học tập chính trị. Những vấn đề thời sự trong nước, thế giới, những vấn đề tư tưởng lâu dài và trước mắt... đều phải học tập nghiêm túc, có bài bản. Học một ngày, hai ngày, có khi cả tuần, cả tháng. Lên lớp, thảo luận, kiểm điểm, làm sao cho mỗi đợt học, nhận thức và tư tưởng từng người phải được nâng cao lên một bước. Những buổi lên lớp tập trung tại hội trường gồm hàng ngàn sĩ quan; anh em văn nghệ, các nhà văn, các hoạ sĩ, nhạc sĩ... thường tập trung với nhau ở những hàng ghế cuối hội trường thành một "xóm" văn nghệ. Để chống lại sự mệt mỏi phải nghe giảng về hai phe bốn mâu thuẫn, về ba dòng thác cách mạng, về kiên trì, tăng cường, nỗ lực, quyết tâm... mấy anh văn nghệ vốn quen thói tự do thường rì rầm với nhau những câu chuyện tào lao, hoặc che kín cho nhau để hút một hơi thuốc lá trộm, nuốt vội khói nhiều khi ho sặc sụa. Nhưng rồi những câu chuyện đó cũng bị phát hiện, bị nhắc nhở phê bình. Vậy là phải thay đổi, chuyển sang "bút đàm".

Vào năm 1962, có đợt học tập quan trọng, học nghị quyết 9, nghị quyết chống xét lại, chống tư tưởng hoà bình chủ nghĩa, và dĩ nhiên văn nghệ sĩ là một đối tượng cần chú ý trong đợt học tập này. Hội trường tập trung đông, trời nắng, hơi nóng từ cái sân láng xi măng hắt lên như thiêu đốt. Quân đội đang tiến lên chính quy, hiện đại, ăn mắc phải chỉnh tề, đầy đủ cân đai bối tử, đi giày da, những đôi giày cao cổ nặng như cùm. Bọn tôi trừ vài trường hợp như Vũ Cao, Nguyễn Khải có đôi chân quá khổ, chưa có giày đúng số nên được đi dép, nhưng cũng là đôi dép có quai hậu, ngồi học cũng không được tụt quai. Nhân đây tôi xin nói thêm về Vũ Cao, ông là người có biệt danh "quanh năm chân đất". Ở nhà số 4 các phòng sàn ván đều được lau bóng để đánh trần nằm xuống mà viết, quy định ai vào phòng phải bỏ giày dép trừ... Vũ Cao, bởi để ông đi dép vào phòng còn sạch hơn đi chân trần. Giờ đây ngồi học được ưu tiên đi dép vẫn là nỗi cực khổ đối với ông.

Trong một buổi lên lớp căng thẳng như thế, Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá Tam Đảo viết một bài thơ chữ Hán trao cho tôi...

... Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá làm báo viết một bài thơ chữ Hán trao cho tôi. Ở Văn nghệ quân đội, Oánh được gọi là ông đồ Nghệ giỏi chữ Hán, và tôi được gọi là Đồ Thanh bởi cũng võ vẽ đôi ba chữ thánh hiền. Oánh biểu tôi dịch bài thơ Oánh viết vịnh Xuân Thiều, Xuân Thiều cũng ở lứa tuổi chúng tôi nhưng trông già dặn vì cái đầu hói tóc lơ thơ. Con đường văn chương mới bước vào thì lận đận. Mới in được tập truyện ngắn đầu tay "Đôi vai"; tập tiểu thuyết "Chuyển vùng" viết về cuộc chiến đấu chống Pháp ở Bình Trị Thiên mà Thiều tham dự, đã sửa chữa nhiều lần, đưa qua vài ba nhà xuất bản, chưa "nhà" nào chịu in.

Tôi thấy bài thơ Oánh viết rất hay và dịch:

Văn nghiệp tiền trình khả điếu quân
Mao đầu tận lạc tự mao quân
Lưỡng kiên mai liễu phong trần lý
Chuyển địa hà thời chuyển đắc ngân

Dịch nghĩa:

Con đường văn nghiệp khá thương cho ông
Lông đầu ông đã rụng trơ trụi
Đôi vai bước lầm lũi trên con đường gió bụi
Chuyển vùng đến bao giờ thì chuyển thành tiền được?

Dịch thơ:

Con đường văn nghiệp thương ông
Lông đầu rụng hết như lông cái đầu
Đôi vai gánh mãi càng đau
Chuyển vùng nào nữa làm sao thành tiền?

Dịch xong tôi chuyển bài thơ cho anh em đọc. Oánh tỉnh bơ với bộ mặt lạnh lùng cố hữu, còn mọi người phải nén cười cho khỏi bật thành tiếng. Nguyễn Minh Châu gục xuống bàn, kìm nén đến nỗi mặt đỏ bừng và nước mắt dàn dụa.

Tự nhiên trong đầu tôi loé lên cái ý nghĩ mà người ta thường gọi là "tia chớp": thơ chân dung. Trong bài thơ của Oánh phác hoạ một Xuân Thiều với hình dáng và văn nghiệp bằng cách dùng nghĩa kép của tên tác phẩm "Đôi vai", "Chuyển vùng". Và sau chốc lát, tiếp tục "trò đùa" của Oánh, tôi viết bài thơ về Hồ Phương đang ngồi cạnh tôi. Và bài thơ số 1 về chân dung các nhà văn ra đời. Hồi đó Hồ Phương đã là tác giả in nhiều tác phẩm, đã được một số giải thưởng các cuộc thi sáng tác văn học. Tôi dùng tên các tập truyện ngắn của anh: "Trên biển lớn", "Xóm mới", "Cỏ non" và tên cái truyện ngắn đầu tay vẫn được nhắc đến "Thư nhà". Tôi viết bài thơ ra mẩu giấy:

Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem

Tôi đưa bài thơ cho Nguyễn Khải. Anh đọc thơ xong, trên mắt thoáng chút ngạc nhiên và nghiêm nghị chứ không đùa như tôi chờ đợi. Anh bỏ bài thơ vào túi chứ không truyền cho người khác. Đến giờ giải lao chúng tôi đến ngồi quanh gốc cây sấu già, Nguyễn Khải mới đưa bài thơ cho Hồ Phương đọc. Mặt Hồ Phương hơi tái và cặp môi mỏng của anh hơi rung. Nguyễn Khải nói như cách sỗ sàng của anh:

- Thằng này (chỉ tôi) ghê quá. Không phải trò đùa nữa rồi.

Tôi hơi hoảng, nghĩ rằng đó chỉ là trò chơi chữ thông thường. Sau rồi tôi hiểu, ngoài cái nghĩa thông thường bài thơ còn chạm vào tính cách. Và đánh giá nhà văn thì có gì quan trọng hơn là tính cách và tác phẩm. Bài thơ ngụ ý Hồ Phương viết nhiều chăng nữa cũng không vượt được tác phẩm đầu tay và vẫn cứ "Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem"...


... Trước đây khi còn là lính ở địa phương, cái xã hội nhà văn đối với tôi đầy thiêng liêng bí ẩn. Đấy là những con người dị biệt, rất đáng ngưỡng mộ, rất đáng yêu mến, dường như họ là một "siêu tầng lớp" trong xã hội. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, lời nói của họ đều có thể trở thành giai thoại, và cả tật xấu nữa dường như cũng đứng ngoài vòng phán xét thông thường. Tóm lại, đó là một thế giới đầy sức hấp dẫn với người say mê văn học và tập tễnh nuôi mộng viết văn như tôi. Khi tôi được về Hà Nội, vào một cơ quan văn nghệ, dù là ở quân đội (hoàn cảnh nước ta quân đội có một vị trí đặc biệt trong xã hội, kể cả lĩnh vực văn chương), tôi bắt đầu đi vào cái thế giới mà trước kia tôi mong ước. Điều mà tôi nhận ra ngoài cái phần mà tôi hiểu trước đây thì thế giới nhà văn còn có những chuyện khác. Đấy là cái mặt đời thường, cái mặt rất chúng sinh, và chúng cũng góp phần quan trọng làm nên tác phẩm và tính cách nhà văn. Vì vậy mà chân dung nhà văn không thể bỏ qua. Hơn nữa, nếu "vẽ" được chính xác những bức chân dung đó thì bộ mặt xã hội mà họ đang sống, đang viết cũng qua đó mà hiện lên. Có thể, tôi nghĩ, không có tầng lớp nào hơn nhà văn, thể hiện rõ nhất bộ mặt tinh thần của dân tộc qua từng giai đoạn. Những điều này tôi nhận ra sau một thời gian dài, khi những bài thơ chân dung lần lượt ra đời, được phổ biến một cách không chính thức, nhưng sâu rộng và dai dẳng, vượt cả mong muốn của tôi.

Cũng chính các nhà văn giúp tôi nhiều trong sáng tác cũng như phổ biến các bài thơ. Bởi khi nhận xét tính cách con người, tính cách các nhà văn thì không ai sắc sảo bằng chính các nhà văn. Người giúp tôi nhiều nhất là anh Nguyễn Khải. Anh có mối quan hệ rộng rãi trong giới, có lối nhận xét người rất sắc sảo, chính xác dù có đôi lúc cực đoan. Anh không mấy thích thơ, nhưng anh lại thích các nhà văn chân dung. Anh có nói đại ý là các nhà văn chúng ta quen đánh giá nhận xét mọi tầng lớp người trong xã hội, thì cũng cần tự đánh giá giới mình, cũng đều có cái tốt cái xấu như ai. Về sau thêm anh Vương Trí Nhàn về quân đội. Nhà phê bình văn học trẻ tuổi này hết sức cổ suý tôi, đôi khi anh còn thích thách đố. Chúng tôi thường ngồi trong cái phòng toa-lét khoảng ba mét vuông. Do hệ thống bơm nước lên tầng hai bị hỏng, nên cái phòng vệ sinh đó biến thành "phòng văn", nó được ốp gạch men trắng bóng, lau sạch, ngồi thật mát và thoải mái, kín đáo. Có những hôm Nhàn mua sẵn vài điếu thuốc lá lẻ, vài cái kẹo lạc, một ấm trà ngon, rồi thách thức tôi viết ngay tại chỗ. Và có nhiều bài thơ ra đời như thế. Nhàn nói: "Những bài thơ này ông Sách viết ra khi có con quỷ ám vào ông ấy". Bởi Nhàn đánh giá tôi có một giọng điệu khác hẳn với những sáng tác không phải thơ chân dung. Nhàn là người rất thuộc thơ, và khi bài thơ tôi vừa làm xong thường anh là người phổ biến rộng rãi. Một số anh em trẻ khác như các anh Đinh Nguyễn, Trần Hoàng Bách thường đem những bài thơ đi phổ biến để được chiêu dãi bia hơi. Có thể nói đó là "nhuận bút" đầu tiên, nhưng không thuộc về người sáng tác mà thuộc về người phát hành...

... Tất nhiên những bài thơ đó được phổ biến rộng trong giới. Lúc đầu còn kín đáo, nhưng dần dần thành công khai, và nhất là thành một "tiết mục" không thể thiếu trong những buổi liên hoan của anh em văn nghệ. Có một buổi cũng khá đông đủ các nhà văn, khi vào tiệc rượu, mọi người yêu cầu tôi đọc thơ về các nhà văn có mặt. Trong không khí như vậy thì dù các anh các chị có giận thì cũng cười xoà làm vui, riêng tôi thấy mình làm được trò vui cho mọi người thì cũng thấy hay. Tôi nhớ sau buổi vui ấy, anh Nguyễn Đình Thi có nói đại ý nên đem cái tài đó làm những việc có ích hơn là châm chọc nhau. Ngay đó một anh ngồi cạnh rỉ tai tôi: "Châm chọc cũng cần có tài và cũng có ích lằm chứ".

Những bài thơ cũng được lan truyền trong giới khác. Hồi đó tướng Lê Quang Đạo là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, cấp trên của giới văn nghệ trong quân đội. Ông rất thích những bài thơ chân dung. Thường trong giờ nghỉ những buổi họp với giới văn nghệ, ông đề nghị đọc cho ông nghe. Sự thích thú tuy có tính cách cá nhân, nhưng rất hay cho tôi. Tôi cũng nhận được nhiều phản ứng khác nhau, có khi khen quá lời, có khi bực tức, tôi sẽ kể ra vài trường hợp đặc biệt. Khi tôi đã tìm hiểu được những ứng xử, những tính cách của các nhà văn, ngoài những tác phẩm của họ mà tôi hằng ngưỡng mộ, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: Sao thế nhỉ? Với bề dày tác phẩm như thế, trong lòng người đọc như thế, sao họ lại còn ham muốn những thứ phù phiếm đến thế, một chức vụ, một quyền lực, một chuyến đi nước ngoài... Mà ham muốn thì phải mưu mẹo, phải dối trá và nhất là phải sợ hãi. Một lần trên báo đăng một bài thơ dài của một nhà thơ có tên tuổi viết theo "thời tiết" chính trị, quay ngược lại những điều vừa viết chưa lâu, Nguyễn Khải chỉ bài thơ nói với tôi: "Rất tiếc, một tài năng lỡ tàu"...

(trích Tâm sự của tác giả)

1.
Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem

2.
Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trân trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ

3.
Dế mèn lưu lạc mười năm
Để o chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang

4.
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sông gầm sông lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên Thế
Con hổ già uống rươu giả vờ say

5.
Bác kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chưa xong bác đã cười

6.
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trút lệ ưu phiền

7.
Các vị La Hán chùa Tây phương
Các vị gầy quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Đừng nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng, có sao đâu!

8.
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ôi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.

9.
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu

8.
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới Vàng Sao từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ,
ai dám bảo con tàu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya khôn uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn.
 
1- Hồ Phương
2- Nguyễn Đình Thi
3- Tô Hoài
4- Nguyên Hồng
5- Nguyễn Công Hoan
6- Nguyễn Tuân
7- Huy Cận
8- Xuân Diệu
9- Tế Hanh
10- Chế Lan Viên
 
Em giúp bác NA 1 tay. Em cũng khoái thơ chân dung của bác XS lém. Hay nhất là các bài về Tố HỮu, Hoài Thanh và Chế Lan Viên. Nhóm 10 bài một để bà con còn đoán chân dung.

11.
Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bạn cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời.

12.
Nên danh nên giá ở làng
Chết vì ông lão bên hàng xóm kia
Làm thân con chó xá gì
Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.

13.
Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
Quanh năm múa bút để mua cười
Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.


14.
Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn, ông đồ vôi
Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng.

15.
Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan.

16.
Vốn cùng nhân dân tiến lên
Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào
Quay về núp bóng ca dao
Giật mình nghe một tiếng chào Văn Ngan?
17.
Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết
Trong cặp còn hồ sơ điệp viên
Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên.


18.
Đám cháy ở sau lưng
Đám cháy ở trước mặt
Than ôi mày chạy đâu
Dưới vòm trời quen thuộc
Đốt bao nhiêu cỏ mật
Không bay mùi thơm tho
Càng hun càng đỏ mắt
Quay về thung lũng cò.

19.
Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn

20.
Trường Sơn đông em đi hái măng
Trường Sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! Giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!
 
Bài thơ của bác XS viết về bác Đào Vũ khá đau,bài về bác Vũ Thị Thường cũng vậy. Do vậy mà có người không khoái bác XS lắm vì hơi...ác.
 
hungmgmi nói:
Bài thơ của bác XS viết về bác Đào Vũ khá đau,bài về bác Vũ Thị Thường cũng vậy. Do vậy mà có người không khoái bác XS lắm vì hơi...ác.
Chân dung Vũ Thị Thường dù sao cũng chưa "ác" bằng chân dung sau đây của một nữ nhà văn:

Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay.
:roll: :roll:
 
hungmgmi nói:
Hình như đó là NTNT phải không bác NA?
Вот именно.

Trong phác họa
"Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay"
XS có nhắc đến hai tiểu thuyết được coi là làm nên tên tuổi của nữ nhà văn: Đất làng Hạt mùa sau. Nhưng "đất làng" ở đây không phải là thứ để trồng lúa trồng khoai. "Đất làng" ở đây chỉ vừa vặn "một tấc", nhưng lại có rất nhiều tới cày :roll: . Tương tự, "thóc giống" tất nhiên cũng không phải là thứ có thể gieo thành mạ :lol: .

Ở đây có lẽ các bác PHM và TLV đã từng nghe câu truyền miệng của giới văn nghệ ba mươi năm trước "L** Ngọc T*, v* XQ” :lol: . Giữa bức chân dung phác họa của XS và câu tếu táo dân gian kia hẳn cũng có một mối quan hệ hữu cơ nào đó?

To Ev:
Cám ơn Eva đã hợp sức cùng Ad. 80 chân dung còn lại chúng mình chia nhau khuân lên nhé.

To All:
Trong đáp án, nên chăng cần nói rõ hơn về các chân dung để các bạn thế hệ 8x có thể hiểu vì sao, nhỉ. Chẳng hạn:

8.
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới Vàng Sao từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ,
ai dám bảo con tàu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya khôn uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn.

Chế Lan Viên với các tập thơ hoặc bài thơ được nhắc đến: Điêu tàn, Vàng Sao, Ánh sáng và Phù sa, Chim báo bão, Người đi tìm hình của Nước…
 
Cho em đoán chơi một tý nhé

11. Em không biết
12. Kim Lân
13. Tú Mỡ (Giòng nước ngược)
14. Đồ Phồn (Khao)
15. Hoài Thanh (Thi nhân VN, Nghệ thuật vị nghệ thuật)
16. Vũ Tú Nam
17. Hữu Mai (Ông cố vấn, Cao điểm cuối cùng)
18. Em không biết
19. Em không biết
20. Phạm Tiến Duật
 
Bổ sung nhé:

11.Nguyễn Thi (tác giả Người mẹ cầm súng)
18. Đỗ Chu (Nổi tiếng từ Đám cháy trước mặt)
19. Xuân Quỳnh
 
[color=darkblue:cdd4c1f6b4]Bổ xung tẹo nữa:

14. Bùi Huy Phồn (Đồ Phồn)[/color]
 
Cám ơn mọi người. Tóm lại, đáp án cho chùm 10 chân dung thứ hai:

11. Nguyễn Thi (Tác giả tiều thuyết Ước mơ của đất, và “về với đất” năm 1968 tại SG)
12. Kim Lân (Truyện “Ông hàng xóm” trong tập “Nên vợ nên chồng”, tập truyện “Con chó xấu xí”)
13. Tú Mỡ gầy ốm với Dòng nước ngược (tập thơ trào phúng)
14. Bùi Huy Phồn (Phất, Khao, Ông đồ phấn ông đồ vôi)
15. Hoài Thanh (Nghệ thuật vị nghệ thuật, Thi nhân VN)
16. Vũ Tú Nam (Ngọn cờ đào, Ca dao VN)
17. Hữu Mai (Hồ sơ điệp viên, Ông cố vấn, Cao điểm cuối cùng)
18. Đỗ Chu (Đám cháy, Cỏ mật, Thung lũng cò)
19. Xuân Quỳnh (Các tập thơ Hoa dọc chiến hào, Chồi biếc, Đồi đá ong và cây bạch đàn)
20. Phạm Tiến Duật (Trường Sơn Đông..., Nhớ (Nằm ngửa nhớ trăng/Nằm nghiêng nhớ núi), Tiểu đội xe không kính, “giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ”…)
 
21.
Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lửng lơ giữa khoảng trong xanh ấy
Để mối đùn lên cái gốc già.

22.
Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc lâu ngày mất cả tên.

23.
Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên dàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cánh rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.

24.
Nhọc nhằn theo bước con trâu
Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng
Mỗi bước đi một bước dừng
Mà sao vẫn lạc giữa rừng U Minh.

25.
Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi Đất Quảng lẫn rừng Xà Nu.

26.
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thân ông lão vịt trời phải chăn.

27.
“Sông Mã xa rồi tây tiến ơi...”
Về làm xiếc khỉ với đời thôi
Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
Sống tạm cho qua một kiếp người.

“Áo sờn thay chiếu anh về đất”
Mây đầu ô trắng, Ba Vì xanh
Gửi hồn theo mộng về tây tiến
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

28.
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
Biết ông sằng phẳng tự bao giờ
Cái con thò lò quay sáu mặt
Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ.

29.
Cha và con... và họ hàng và...
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng ba ở Tây Nguyên đỏ lửa
Tháng tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại dát!

30.
Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn mơ chi tới những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm.
 
[color=darkblue:a657ff83ba]21. Nguyễn Thành Long
22. Đào Vũ
23. Nguyễn Bính
24. Nguyễn Văn Bổng
25. Nguyên Ngọc
26. Vũ Thị Thường
27. Quang Dũng
28. Mai Ngữ
29. Nguyễn Khải
30. Hoàng Trung Thông[/color]
 
Sau đây là chân dung các nữ nhà thơ nhà văn. Xin các chị em cho biết Ai là Ai? (@VTV). Lưu ý là có mở ngoặc giải thích hẳn hòi, chứ không trả lời cốc lốc như anh TLV :roll: .

19.
Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn

26.
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thân ông lão vịt trời phải chăn.

40.
Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
Khắc khoải kêu chi suốt một đời.

42.
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ màu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.

51.
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay.

70.
Tay em cầm bông bần li
Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng
Chuyện tình kể trước rạng đông
Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ
Thiên đường thì quá mù mờ
Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma
Hành trình thơ ấu đã qua
Hỡi người hàng xóm còn ta với mình.

90.
Dẫu chín bỏ làm mười
hay mười hai cũng mặc
Chẳng ai dung thiên sứ đất này
Dụ đồng đội vào trong mê lộ
Rồi bỏ đi du hí đến năm ngày.

95.
Trái tim với nỗi nhớ ai
Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng
Như người đàn bà ngồi đan
Sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng.

97.
Giấu một chùm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng
Những kẻ phong lưu, những tên du đãng
Mấy ai biết được hương thầm của cô gái xóm đê.
 
NguyenAnh nói:
Lưu ý là có mở ngoặc giải thích hẳn hòi, chứ không trả lời cốc lốc như anh TLV :roll: .

[color=darkblue:0f38423b22]Bác NguyenAnh ơi, trả lời như vậy mới đúng theo yêu cầu ban đầu của bác. Bác xem lại nhé:[/color]

NguyenAnh nói:
... Đề nghị các bạn đọc xong và cho đáp án.

[color=darkblue:0f38423b22]Nghĩa là chỉ điền "đáp án" mà không cần phân tích.
Tuy nhiên xin tiếp thu và sửa chữa.[/color] 8) :lol:
 
Tạm thời, ngay thời khắc này tôi chỉ nghĩ ra hai chị
95. Hoàng Y Nhi với bài thơ Người đàn bà ngồi đan .
97. Phan Thị Thanh Nhàn tuyệt vời qua bài thơ Hương thầm, cả nước đều biết tên .
Xin phép bạn NA trả lời nhanh , còn để từ từ nghĩ tiếp... :)
 
19-X Quỳnh với Hoa dọc chiến hào, Chồi biếc
26-Vũ thị Thường- Cai lạt, Chiếc hom giỏ, Ông lão chăn vịt( còn có ý lỡm CLV phải nuôi "con vịt" )
40- Anh Thơ (Bức tranh quê, Từ bến sông Thương
42-Nguyễn thị như Trang- Khoảng sáng trong rừng...
51-Nguyễn thị Ngoc Tú- Đất làng, Hạt mùa sau
70- Dương thu Hương- 1 bờ cây đỏ thắm, bên kia bờ ảo vọng,Chân dung người hàng xóm
90-Phạm thị Hoài -mê lộ
95- Ý Nhi - Người đàn bà ngồi đan
97- PTT Nhàn - Xóm đê, Hương thầm
 
Vâng, vậy xin tóm tắt đáp án 8/3:

nheva nói:
19-X Quỳnh với Hoa dọc chiến hào, Chồi biếc
26-Vũ thị Thường- Cai lạt, Chiếc hom giỏ, Ông lão chăn vịt (còn có ý lỡm CLV phải nuôi "con vịt" )
40- Anh Thơ (Bức tranh quê, Từ bến sông Thương)
42-Nguyễn thị như Trang- (Khoảng sáng trong rừng...Màu tím hoa mua, Ánh lửa từ chân sóng)
51-Nguyễn thị Ngoc Tú (Đất làng, Hạt mùa sau)
70- Dương thu Hương (1 bờ cây đỏ thắm, Bên kia bờ ảo vọng, Chân dung người hàng xóm, Những thiên đường mù, Vĩ nhân tình lẻ…)
90-Phạm thị Hoài (Mê lộ, Thiên sứ
95- Ý Nhi - Người đàn bà ngồi đan
97- PTT Nhàn - Xóm đê, Hương thầm

Xin mời mọi người "xem" chùm 10 chân dung tiếp theo:

31.
Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ.

32.
Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay

33.
Một con trâu bạc già nua
Nhờ cơn bão biển thổi lùa lên mây
Trâu ơi ta bảo trâu này
Quay về đất mặn kéo cày cho xong.

34.
Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
Chia xôi chia thịt lại chia tiền
Việc làng việc nước là như vậy
Lộn xộn cho nên phải tắt đèn.

35.
Em còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn mà vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo!

36.
Xoắn mãi dây tình thơ bật ra
Paris thì thích hơn ở nhà
Đông y ắt hẳn hơn tây dược
Xe tải không bằng xe Volga
Trên đời kim cương là quí nhất
Thứ đến tình thương dân nghèo ta
Em chớ cho anh già lẩm cẩm
Còn hơn thằng trẻ lượn Honda.

37.
Em không nghe mùa thu
Mùa thu chỉ có lá
Em không nghe rừng thu
Rừng mưa to gió cả
Em thích nghe mùa xuân
Con nai vàng ngơ ngác
Nó ca bài cải lương.

38.
Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Đốt lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngon a kai ơi
Ngủ ngon a kai à...

39.
Anh Keng cưới vợ tháng mười
Những đứa con lại ra đời tháng năm
Trong làng kháo chuyện rì rầm
Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đầy kho.

40. (Đã giải)
 
31. Chính Hữu (Đồng chí, Đầu súng trăng treo)
32. Thanh Tịnh (Ngậm ngải tìm trầm, Quê mẹ)
33. Chu Văn (Con trâu bạc, Bão biển, Đất mặn) - bài này hơi bị ác
34. Ngô Tất Tố ("Nghệ thuật băm thịt gà" trong "Việc làng", Tăt đèn)
35. Nam Cao (Đôi mắt, Sống mòn, Chí Phèo)
36. - em không biết
37. Lưu Trọng Lư - bài này nhại bài Tiếng Thu và cái bài thơ mà Cao Việt Bách? phổ thành bài hát Cung đàn mùa xuân
38. Nguyễn Khoa Điềm (Mặt đường khát vọng, Những em bé ngủ trên lưng mẹ)
39. Nguyễn Kiên (Anh Keng)
 
36. 8) Tôi xin đoán:
Có phải người này là đàn ông không ạ.
Có phải người này trạc tuầi NA hoặc hơn 1 chút không ạ.
Có phải người này cũng đã mòn giầy ở Nga không ạ.
( Tôi chỉ thử đoán thôi )
 
Back
Top