Con nuôi Trung đoàn

6
Chiếc xe chở vỏ đạn xủng xoảng và nhảy chồm chồm vì lăn qua các gốc cây mới chỉ đi trong rừng khoảng năm cây số thì bỗng Va-nha nhắm lấy thành xe, sự quả quyết táo bạo hiện lên nét mặt, nhảy ra khỏi xe, lộn vòng, lăn xuống thảm cỏ. Sự việc xảy ra nhanh và bất ngờ đến nỗi làm cho Bi-đên-cô bối rối. Thoạt đầu anh tưởng cậu bé bị hất ra khỏi xe vì xe lái ngoặt. Anh kêu tướng lên, tay đấm thùng thùng vào buồng lái:
-Này, nhẹ tay chứ! Con khỉ, dừng lại! Mất thằng bé rồi.
Trong khi ngườilái hãm chiếc xe đang phóng nhanh, Bi-đên-cô nhìn thấy cậu bé chồm đứng dậy, nhặt túi dết và quàng chân lên cổ chạy vào rừng.
-Này, này!-chàng hạ sĩ lớn tiếng gọi, giọng đầy lo ngại.
Nhưng Va-nha không thèm nhìn lại.
Tay chân vung lên như cánh quạt máy xay gió, cậu bé ba chân bốn cẳng, cắm cổ chạy cho đến lúc biến mất trong khoảng rừng đầy màu sắc.
-Va-nha-a-a!-Bi-đên-cô lấy tay làm loa, gọi to.-Bé chăn bò-ò! Đứng lại!
Nhưng Va-nha không trả lời. Chỉ có tiếng vang bay lướt qua từng thân cây rồi bật trở lại thành những tiếng: “A-u-i! A-u-i”.
-Thằng quỷ sứ, liệu hồn!-Bi-đên-cô tức giận nói và sau khi yêu cầu người lái xe chờ một chút, chân đạp lên những bụi cây răng rắc, anh rảo bước đi vào rừng tìm Va-nha.
Anh tin chắc rằng tóm được thằng bé chóng thôi. Thực vậy, tìm một thằng bé chạy trốn vào rừng, đối với một người trinh sát già dặn kinh nghiệm, đối với một trong số “giáo sư” nổi danh của đại úy Ê-na-ki-ép thì đâu phải chuyện khó? Bảo rằng khó thì nực cười thật!
Hãy cứ hướng về mọi phía gọi Va-nha trở về, đừng làm điều càn bậy. Sau đó, hạ sĩ bắt tay vào việc tìm kiếm với mọi kiến thức khoa học quân sự.
Đầu tiên, anh dùng địa bàn xác định vị trí đỗ xe để bất cứ lúc nào cũng có thể tìm được. Sau đó, anh quay đường định hướng về phía cậu bé chạy trốn. Nhưng Bi-đên-cô không theo hướng đó vì anh thừa hiểu, không có địa bàn để hướng đường đi trong rừng thế nào cậu bé cũng rẽ sang bên phải.
Do kinh nghiệm mà anh biết được điều dó. Không có địa bàn dẫn đường, khi đi trong bóng tối hoặc ở nơi không có điều kiện nhìn xa, người ta bao giờ cũng đi vòng theo chiều kim đồng hồ.
Vì vậy, suy nghĩ một chút và ước tính thời gian, Bi-đên-cô rẽ sang phải và nhẹ nhàng bước đi tìm cậu bé.
“Thế nào tớ cũng gặp chú mày ở đằng kia”,-Bi-đên-cô thú vị nghĩ.
Anh tưởng tượng rõ thấy mình bò nhẹ nhàng từ trong bụi rậm ra ngay trước mặt Va-nha, tóm lấy nó và nói: “Lang thang trong rừng như vậy đủ rồi, chú mày ạ! Quay lại xe thôi. Liệu đấy, đừng chơi trù ú tim nữa. Vì dù sao cũng chẳng thoát được kia mà. Trên đời này, chưa ai thoát khỏi tay hạ sĩ Bi-đên-cô. Chú mày phải nhớ mãi điều đó!”.
Bi-đên-cô mỉm cười vui vẻ vì ý nghĩ thú vị đó. Thực ra, chính bản thân anh cũng không muốn đưa thằng bé về hậu phương. Anh rất thích cái thằng bé mắt xanh, tóc vàng bù xù, gầy gò, vừa lễ phép vừa kiêu hãnh, đôi lúc còn có vẻ dữ tợn nữa, thật giống “chú bé chăn bò”.
Va-nha đã khêu gợi trong tâm hồn của Bi-đên-cô một thứ tình cảm dịu dàng, hầu như tình cảm của người làm bố. Anh vừa thương, vừa tự hào lại vừa lo ngại cho tương lai của nó. Còn có một thứ tình cảm nào đó mà chính Bi-đên-cô chưa hoàn toàn hiểu rõ.
Va-nha vô hình chung gợi cho hạ sĩ nhớ lại bản thân mình lúc anh còn bé, thường đi chăn bò.
Anh mơ hồ nhớ lại những buổi sáng sớm, sương mù trắng như sữa phủ trên cánh đồng màu xanh rực rỡ. Anh nhớ lại những giọt sương óng ánh màu sắc: xanh, tím, đỏ, chói lọi, còn anh, tay nâng sáo làm bằng ống sậy, anh thổi những điệu trong trẻo, dịu dàng, vui tươi và đồng thời hay nhắc đi nhắc lại.
Nhất là sau khi Va-nha nhảy từ chiếc xe đang phóng nhanh, anh càng quý mến cậu bé thêm.
“Thằng quỷ con, can đảm thật! Chẳng sợ gì cả. Một người lính thực sự. Phải đưa nó đi thật tiếc quá. Nhưng cũng không làm thế nào khác được. Đó là mệnh lệnh,-Bi-đên-cô nghĩ như vậy.
Vừa suy nghĩ người trinh sát vừa dấn thân sâu vào rừng. Theo anh tính toán, đáng lẽ phải gặp cậu bé từ lâu rồi. Thế mà vẫn chưa thấy.
Bi-đên-cô luôn luôn dừng lại, lắng nghe trong sự yên tĩnh của khu rừng mùa thu. Nói cho đúng, khu rừng không hoàn toàn yên tĩnh đối với thính giác tinh vi của anh. Bi-đên-cô phân biệt được nhiều loại tiếng động rất nhỏ khác nhau. Nhưng chưa lần nào anh nghe thấy tiếng động của bước chân người.
Thằng bé biến mất.
 
Không thấy ở chỗ nào mảy may dấu vết của nó. Mặc dù Bi-đên-cô xem xét từng bụi cây, nằm rạp xuống đất để nghiên cứu những lá rụng, mặt cỏ và rêu mốc, nhưng vô hiệu. Không ở đâu có dấu vết. Có thể tưởng rằng thằng bé đi trên không khí.
Bi-đên-cô chắc chắn đảm bảo rằng ngay người trinh sát tài giỏi bậc nhất cũng không thể đi qua mà không bỏ lại một tí dấu vết nào như thế này.
Bi-đên-cô lang thang trong rừng, trong lòng hơi có vẻ ngượng ngùng. Anh suy nghĩ đến nhức óc để tìm hiểu tại sao thằng bé không để lại dấu vết.
Có lần anh phải hạ mình nói lên tiếng khẽ gọi bằng một giọng the thé:
-Va-nha! Va-nha ơ-ơ-ơi! Đủ rồi! Ra xe thôi!
Và liền sau đó anh cảm thấy tự thẹn với mình.
Anh nhìn đồng hồ và thấy đã mất hơn hai tiếng để tìm thằng bé. Bây giờ thì đã rõ là nó đi mất rồi, không còn trở lại nữa.
Trong đời người trinh sát già dặn chưa lần nào anh xấu hổ như lần này. Báo cáo với trung sĩ Ê-gô-rốp thế nào? Làm sao có thể nhìn mặt đồng chí đó? Đối với bạn bè thì còn nói: họ cười cho thối óc. Chỉ có cách là độn thổ.
Nhưng bây giờ chẳng làm gì được nữa. Chẳng lẽ lang thang đến đêm như con ma hay sao.
Bi-đên-cô lấy địa bàn ra ngắm và thở dài, anh quay lại chỗ đỗ xe. Nhưng xe đã đi mất, đúng như anh dự đoán. Vì có nhiệm vụ chiến đấu khẩn cấp, ngườ lái xe không thể đợi lâu. Thực ra, bây giờ cũng chẳng cần xe làm gì. Phải trở về đơn vị.
Nhưng trước khi lên đường trở về, Bi-đên-cô muốn hút một điếu thuốc và cuốn lại vải bó chân.
Anh tìm trong rừng một gốc cây đốn cụt thích hợp để ngồi. Nhưng anh vừa mới cuốn xong một diếu sâu kèn và thạ trọng sóc túi thuốc, đổ thuốc thì bỗng nhiên nghe thấy tiếng động trên cành lá và một vật gì đó rơi xuống.
Anh tưởng đó là một con chim. Những nhìn kỹ, anh ngạc nhiên kêu lên. Đó chính là cuốn sách vỡ lòng cũ kỹ không có bìa mà cậu bé chăn bò thường mang trong túi dết.
Bi-đên-cô ngước nhìn lên trên và trông thấy ở trên đỉnh cao nhất, trong đám lá xanh, vắt vẻo chiếc quần nâu vải thô quen thuộc, dưới ống quần thò ra đôi bàn chân bẩn thỉu như củ khoai.
Ngay lúc đó, Bi-đên-cô bật đứng dậy như ngồi phải lửa, vứt vội túi thuốc, điếu sâu kèn và bật lửa rồi thoáng một cái đã có mặt trên ngọn cây.
Va-nha ngồi yên không động đậy. Bi-đên-cô dướn người lên nhìn thấy cậu bé đang ngủ. Cậu cưỡi lên một cành đầy nhựa màu vàng, hai tay ôm lấy thân cây màu tím sần sùi và dựa đầu vào đó ngủ ngon lành. Bóng của lông mi chiếu xuống đôi má xanh xao và ở trên môi sưng mọng vì cơn sốt còn thoáng một nụ cười ngây thơ. Vậy mà cậu bé còn ngáy se sẽ.
Bi-đên-cô lập tức hiểu ngay mọi sự việc. Cậu bé chăn bò đã dùng một mẹo thật đơn giản, thật ngây thơ để đánh lừa anh. Đáng lẽ chạy lung tung trong rừng để trốn anh thì Va-nha làm ngược lại, tức khắc ngay sau khi khuất bóng, cậu trèo lên ngọn cây cao, ngồi đợi cho qua cơn sục sạo rồi mới bình tĩnh tụt xuống và đi theo hướng mình muốn. Nếu cuốn sách vỡ lòng không rơi vì túi dết bị sứt chỉ thì chắc chắn là sự việc diễn ra như thế.
“Chà, thằng láu cá! Thằng ranh! Thế là hết nước, cừ lắm!”-Bi-đên-cô vừa ngắm Va-nha vừa suy nghĩ có vẻ khâm phục.
Bi-đên-cô thận trọng ôm chặt vai, nhìn sát tận cậu bé và dịu dàng nói:
-Xuống thôi, chú em, bé chăn bò.
Va-nha vội vàng mở mắt. Nhìn thấy người trinh sát, cậu vùng ra. Nhưng Bi-đên-cô đã giữ chặt.
Cậu bé hiểu ngay rằng vùng ra vô ích và nói bằng một giọng tức tối, ngái ngủ:
-Thôi được.
 
Nhặt được cuốn sách vỡ lòng, thuốc lá và bật lửa, năm phút sau hai người tìm đường có xe chạy để xin đi nhờ về tuyến hai. Va-nha đi trước còn Bi-đên-cô thì đi sau một bước, luôn luôn chú ý theo dõi cậu bé. Anh khuyên bảo:
-Thôi, anh bạn, đừng trốn vào rừng nữa, đủ rồi. Vì sớm muôn cậu vẫn bị tóm kia mà. Trên đời này, chưa có ai thoát khỏi tay tớ. Hãy nhớ lấy điều đó.
Cứ nhìn thẳng, Va-nha bực rọc trả lời:
-Chú nói không đúng. Nếu quyển sách của cháu không rơi, chú đừng hòng bắt được cháu.
-Nhất định tóm được
-Chú nói không đúng.
-Tớ nói thật đấy. Chưa ai thoát khỏi tay tớ.
-Thế mà cháy đã thoát đấy.
-Nhưng nhất định sẽ bị tóm.
-Sẽ bị chưa phải là nhất định.
-Nhất định chứ lại!
-Chú nói không đúng.
-Chỉ biết nhắc đi nhắc lại một câu…
-Chú nói không đúng. Chú nói không đúng,-Va-nha nhắc lại một cách bướng bỉnh.
-Tớ cứ sục sạo khắp rừng là tìm ra.
-Sao chú không sục sạo đi?
-Hỏi gì lắm thế, rức cả đầu. Tớ chưa muốn sục sạo. Cứ theo dấu vết là tìm ra.
-Thế tại sao chú không tìm ra cháu?
-Chả tìm được là gì.
-Chú nói không đúng. Cháu khôn hơn chú. Chú lấy địa bàn ra tìm mà chẳng tìm được.
-Chỉ nói bậy! Tớ dùng địa bàn bao giờ?
-Chả thế là gì! Chú không thấy cháu, nhưng ở trên cây cháu thấy hết.
-Thấy cái gì?
-Cháu thấy chú định hướng địa bàn về phía cháu chạy.
“Thằng quỷ, cái gì nó cũng nhận xét”!-Bi-đên-cô nghĩ, hầy như có vẻ thán phục. Nhưng anh nghiêm khắc nói:
-Chú mày chưa hiểu được. Tớ dùng địa bàn để định hướng khỏi lạc xe. Việc đó không dính dáng đến chú mày.
Nói thế, Bi-đên-cô cảm thấy hơi ngượng. Nhưng câu nói đó không thuyết phục được Va-nha. Cậu bé vẫn bướng bỉnh nói:
-Chú nói không đúng. Chú định dùng địa bàn để tìm cháu. Cháu biết. Nhưng chú không tìm được là vì cháu lừa cho. Cháu mà tìm chú thì chằng cần địa bàn, nửa giờ sau sẽ bắt được chú, ngày cũng như đêm, rừng rậm cũng như rừng thưa.
-Ồ, như vậy thì chú mày quá ba hoa!
-Đánh cuộc nào.
-Tớ lại đánh cuộc với chú mày! Đừng chơi chèo.
-Chú với cháu thử xem. Không cần đánh cuộc. Chú cứ lấy gì bịt mắt cháu rồi trốn vào rừng. Năm phút sau, cháu bắt đầu đi tìm chú.
-Không tìm được đâu.
-Thế mà tìm được đấy.
-Đừng hòng!
-Nào thử tí xem!-Bi-đên-cô nói vì máu trinh sát bỗng nổi lên.-Chú mày nhất định không tìm được.-Nhưng bỗng anh nghi ngờ nói.-Khoan đã. Thế rồi sao? Tớ vào rừng, thế chú mày lợi dụng thời gian đó để chuồn đi chứ gì? Không được đâu, thằng nhóc, láu vừa chứ. Tớ thừa hiểu.
Va-nha mỉm cười:
-Chú sợ cháu trốn à?
Bi-đên-cô bực bội nói:
-Chẳng sợ gì cả. Tớ nhức đầu vì chú mày nói nhiều quá.
-Chú đừng lo,-cậu bé vui vẻ nói,-thế nào rồi cháu cũng trốn.
Quan giọng nói vui vẻ đó, hạ sĩ Bi-đên-cô cảm thấy một lòng tin sâu sắc và ý định kiên quyết cho nên, mặc dầu im lặng, anh tự nhủ mình phải luôn luôn hết sức cảnh giác.
Cậu bé lúc này như con ngựa bất kham. Với đôi bàn chân không, cứng cáp, cậu bước nhanh ở phía trước Bi-đên-cô. Hình như để trả thù các chiến sĩ trinh sát đã làm trái ý mình, cậu bé nhắc đi nhắc nhắc lại với giọng trêu tức:
-Thế nào cháu cũng trốn! Trói lại cháu cũng trốn. Sớm muộn thế nào cháu cũng trốn.
-Đừng tưởng! Tớ sẽ trói cho mà xem. Cũng chóng thôi. Lúc đó tha hồ mà trốn.
Bi-đên-cô suy nghĩ một lúc.
Bỗng anh quyết định.
-Lấy sợi dây, trói lại là hết chuyện!
Quả thật, cũng như mọi trinh sát viên lo xa, lúc nào Bi-đên-cô cũng mang theo trong người một sợi dây nhỏ và dài, dài khoảng năm thước. Anh thực sự đắn đo xem, khi ngồi trên xe, có nên buộc Va-nha nối vào mình không. Phải ngồi trên xe khá lâu. Dọc đường có thể ngủ quên mất. Lúc đó, thằng bé sẽ có dịp nhảy qua thành xe, chạy trốn.
Bi-đên-cô nghĩ: “Thế thì đã sao. Buộc nối với mình thế là hết chuyện. Đến nơi ta sẽ cởi ra. Thằng bé sẽ chẳng việc gì cả”.
Và đúng như vậy, khi ra đến đường cái và xin được đi nhờ xe, Bi-đên-cô lấy ở túi áo ra một cuộn dây cuốn cẩn thận. Anh vui vẻ nói, pha trog để cho cậu bé khỏi tự ái:
-Nào, chịu khó một tí, chú chăn bò ạ, tớ sẽ trói chú mày đấy!
Nhưng Va-nha chẳng hề tự ái. Cậu bé cũng trả lời bằng giọng nửa đùa nửa thật như vậy.
-Chú ạ, chú cứ trói. Nhưng buộc cho kỹ vào, không có cháu cởi ra đấy.
-Nút buộc của tớ là nút kép, chú mày không cởi được đâu. Nói xong, Bi-đên-cô lấy dây buộc chặt, nhưng không thít mạnh vào cánh tay Va-nha, trên cùi tay một chút, rồi cuốn đầu dây quanh bàn tay của mình.
-Bây giờ thì chú mày bó tay thôi, chú chăn bò ạ. Không trốn được nữa.
Cậu bé im lặng, lim dim mắt. Nhưng trong mắt vẫn thấy thấp thoáng ánh lên những tia sáng.
 
Xe đi nhờ là một chiếc xe Mỹ mới kiểu “Xtu-đê-béc-ke” rất tốt, rộng rãi, có che bạt. Xe đi không, không chở hàng. Lúc đầu, Bi-đên-cô và Va-nha là những hành khách độc nhất. Hai người nằm thoải mái trên những bao vải rộng trống không, ngay gần buồng lái là chỗ không bị sóc.
Mấy lần Bi-đên-cô gợi chuyện nói với Va-nha nhưng cậu bé không hề hé răng. Bi-đên-cô thú vị nghĩ:
“Trông kìa, kiêu hãnh làm sao! Bé mà dữ tợn gớm! Thằng nhỏ có tính tự lập đấy. Rõ là đã được rèn luyện nhiều trong cuộc sống”.
Và anh lại bắt đầu nhớ lại thời thơ ấu xa xôi.
Qua mỗi trạm kiểm tra lại có thêm khách đi nhờ xe. Chẳng mấy lúc xe chật ních.
Có những chiến sĩ mới dời chiến đấu, từ tiền tuyến về. Họ dễ nhận ra ngay vì đội mũ sắt, quàng áo mưa ngắn và bẩn thỉu.
Có hai sĩ quan hậu cần mặc áo ngoài chẽn bó lấy người, vai đính quân hàm màu bạc, đội mũ lưỡi trai mới và cứng.
Có một cô gái công tác tại cửa hàng cung cấp cho quân đội, mặc áo mưa, đi ủng ngắn giả da, có bộ mặt tròn trĩnh, ửng đỏ, lộ ra dưới chiếc khăn quàng, buộc theo kiểu nông thôn, trông như cái bắp cải.
Có một số phi công chiến đấu vui tính. Họ luôn mồm hút thuốc lá bằng những bót thuốc lá dầy trong suốt, làm bằng mảnh vụn của tấm kính nhựa chắn đạn tại nhà máy sản xuất máy bay.
Có một người phụ nữ trung niên, bác sĩ phẫu thuật, béo tốt, đeo kính trắng tròn, đội mũ nồi xanh chụp lên mái tóc hoa râm cắt ngắn.
Nói tóm lại, đó là những người thường hay đi nhờ xe trên những khoảng đường thời chiến.
Trời đã tối.
Mưa rơi lộp độp trên vải bạt. Đường còn xa. Mọi người đã bắt đầu ngủ gà ngủ gật, nằm ngồi ngổn ngang.
Đầu gối lên bàn tay cuốn dây, hạ sĩ Bi-đên-cô cũng bắt đầu thiu thiu ngủ. Nhưng anh vẫn thính. Thỉnh thoảng, thức giấc, anh giật sợi dây.
-Gì thế chú?-Va-nha ngái ngủ trả lời.-Cháu vẫn còn nằm đây.
-Ngủ đấy à, chú chăn bò?
-Vâng.
-Thôi được, ngủ đi. Tớ chỉ thử xem “đường dây” thế nào.
Rồi Bi-đên-cô lại thiếp đi.
Có một lần, anh bỗng có cảm giác là Va-nha biến mất. Ngồi nhỏm dậy, anh vội vã giật dây nhưng không nghe thấy tiếng trả lời.
Hạ sĩ hoảng hốt đến đổ mồ hôi trán. Anh quỳ dậy và bám chiếc đèn pin mà lúc nào anh cũng sẵn sàng.
Không. Không sao. Ổn cả. Va-nha ngủ cạnh anh, nằm bó gối. Anh chiếu đèn pin vào mặt cậu bé. Bộ mặt thanh thản, ngủ say đến nỗi ánh đèn pin chiếu thẳng cũng không hề biết.
Bi-đên-cô tắt đèn và nhớ lại cái đêm đã kiếm được cậu bé. Lúc đó, ánh đèn pin cũng rọi thẳng vào mặt. Lúc đó, cậu bé có một bộ mặt mệt nhọc, ốm yếu, gầy gò, xấu xí. Anh nhớ lại lúc cậu bé giật mình, trợn mắt nhìn man rợ. Đôi mắt kinh hoàng làm sao!
Thế mà đó chỉ mới xảy ra cách đây vài ngày. Bây giờ cậu bé ngủ ngon lành trong những giấc mơ êm đềm. Thế mới biết thế nào là sống với người mình. Tục ngữ nói đúng là “Ở nhà mình, bệnh tình khỏi hết”.
Bi-đên-cô nằm xuống và xe chạy rập rình như ru ngủ, anh lại thiếp đi.
Lần này anh ngủ khá ngon lành và lâu. Nhưng khi tỉnh dậy, anh không quên giật dậy.
Va-nha không thưa. Bi-đên-cô nghĩ:
“Có lẽ nó đang ngủ, anh chàng mệt”.
Bi-đên-cô trở mình, ngủ được một chút rồi lại giật dây để phòng xa.
Một giọng nữ trầm giận dữ nổi lên:
-Này, tôi không hiểu cái gì ở đằng ấy? Liệu bao giờ thì kết thúc cái trò khỉ? Tại sao lại buộc dây vào tôi? Tại sao lại cứ giật dây? Ai lại luôn quấy rầy, không cho tôi ngủ thế?
Bi-đên-cô toát mồ hôi.
Anh bật đèn pin và hoảng hốt. Cậu bé biến mất. Còn dây thì buộc vào ủng của nữ bác sĩ phẫu thuật đang ngồi trên sàn xe, mắt long lên sòng sọc khi bị ánh sáng chiếu thẳng vào mặt.
Bi-đên-cô lấy tay giáng hết sức đập vào buồng lái và hoảng sợ hét lên:
-Đứng lại! Đứng lại!
Không đợ xe dừng hẳn, anh bước tràn qua chân tay mọi người, qua ba-lô, va-li để vọt ra cửa xe. Anh nhảy ào qua thành xe xuống đường.
Đêm tối đen như bịt lấy mắt. Nước mưa lạnh quất vào mặt. Ở chân trời phía tây, trận chiến đấu pháo binh đằng xa ánh lên những tia chớp nhằng nhịt.
Trên đường nhựa xe cộ đi lại như mắc cửi: xe con, xe vận tải, xe xích, súng đại bác, xe dầu. Chúng lướt ánh đèn pha qua những vũng nước lóng lánh những bong bóng nước mưa rơi.
Anh đứng thừ một lúc, rồi nhổ nước bọt thật mạnh một cái và nói:
-Chán bỏ mẹ!
Anh thong thả bước trở lại, tìm người điều khiển giao thông để xin đi nhờ xe trở về tiền tuyến.
 
8
-Này thằng nhỏ, tránh xa tròi canh. Người lạ không được phép đứng ở đây.
-Cháu không phải người lạ.
-Thế là ai?
-Là người nhà.
-Người nhà là thế nào?
-Là người dân Liên-xô.
-Người dân Liên-xô cũng không được. Tớ đã bảo là không được phép nghĩa là không được phép. Đi đi.
-Chú ơi, đây có phải ban tham mưu không?
-Không việc gì đến cậu.
-Cháu muốn gặp thủ trưởng.
-Thủ trưởng nào?
-Thủ trưởng cao nhất.
-Không biết. Đi đi.
-Cho cháu vào với, chú! Chú có mất gì đâu!
-Đi đi. Không được phép nói chuyện. Không trông thấy người ta đang gác à?
-Chú chẳng cần phải nói chuyện với cháu. Cứ cho cháu gặp thủ trưởng là xong.
-Gớm khôn nhỉ!-người lính gác mỉm cười rồi bỗng cau mặt nói lớn:-Đây không có ai là thủ trưởng!
-Chú nói không đúng rồi. Có thủ trưởng.
-Tại sao cậu biết?
-Cháu biết ngay mà. Nhà đẹp này, ngựa đóng yên đứng ở sân này, bác chủ nhà mang thùng nước to vào nhà này, có người canh ở cửa này.
-Tinh gớm! Khôn nhỉ…
-Cho cháu vào, chú!
-Tớ thổi còi gọi đốc gác, đồng chí ấy tóm cổ mang đi ngay.
-Mang đi đâu?
-Có chỗ. Này, không nghe à? Tránh ra. Không được phép. Hết.
Va-nha lánh sáng bên cạnh. Cậu ngồi lên trên một cối xay đá hỏng, tay chống cằm, kiên nhẫn đợi, mắt không dời khỏi cửa ra vào.
Người lính gác sửa lại quai súng đeo ở vai rồi tiếp tục đi đi lại lại dọc hành lang, nhẹ nhàng gõ gót ủng dạ, có khâu đính những da vàng.
Sau khi trốn khỏi Bi-đên-cô lần thứ hai, Va-nha đi tìm cánh rừng nơi đóng quân của đơn vị trinh sát. Va-nha chẳng có kế hoạch gì rõ ràng cả. Cậu muốn tìm đến các chiến sĩ trinh sát, những người lúc đầu đối xử với cậu thật là tốt, thật là dịu dàng.
Theo ý cậu, việc họ đưa cậu về hậu phương chỉ là một sự hiểu lầm có thể giải quyết dễ dàng. Chỉ cần cố gắng đề nghị một lần nữa.
Nhưng mặc dầu tài định hướng và tìm đường, cậu vẫn không thể nào tìm ra cánh rừng và cái lều đó. Mặt trận chuyển nhanh về phía tây quá. Các vị trí thay đổi nhiều quá, cho nên không nhận ra được.
Va-nha biết rằng mình đang lang thang ở một nơi gần, có lẽ sát cạnh chỗ đó. Nhưng vẫn không tìm ra cánh rừng và cái lều đó. Hình như cánh rừng đây rồi. Nhưng bây giờ nó hoàn toàn vắng vẻ.
Cậu bé đi lang thang hai ngày đêm trên những con đường chiến dịch, gặp các đơn vị mà cậu không hề quen biết, qua các xóm làng bị đốt phá, hỏi thăm các chiến sĩ vị trí của đơn vị trinh sát. Không ai chỉ được cho cậu vì cậu không biết tên đơn vị. Hơn nữa, các chiến sĩ đều là những người rất cảnh giác, ít nói.
Phần lớn họ chỉ trả lời:
-Không biết.
-Hỏi để làm gì?
-Hỏi đồng chí phụ trách đóng quân.
-Không được hỏi.
Ai cũng trả lời đại khái như vậy.
 
Va-nha hầu như thất vọng và đã nghĩ rằng có lẽ phải tìm một thành phố hậu phương và xin ở nhà trẻ cũng nên. Cuối cùng, mặc dầu tính bướng bỉnh, cũng phải làm như vậy nếu cậu không gặp một cậu bé khác.
Cậu bé này không lớn tuổi hơn Va-nha bao nhiêu, khoảng mười bốn. Trông lại có vẻ non hơn. Nhưng, chà, cậu bé mới oai làm sao!
Từ nhỏ, Va-nha chưa hề thấy cậu bé nào sang trọng như thế. Cậu vận một bộ quân phục kỵ binh cận vệ đầy đủ: nào là áo khoác dài tận gót, trông như cái váy, nào là cái mũ mềm bằng lông cừu đen, trên có dạ đỏ, nào là quân hàm có đính hình đôi bàn đạp nhỏ và hai thanh gươm bắt chéo, nào là đinh thúc ngựa và làm nổi lên cái oai phong của quân đội nhất là cái mũ mấn đỏ tía hất ngược một cách lơ đãng sau lưng.
Kiêu hãnh hất mái tóc, cậu bé sọc thanh gươm nhỏ kiểu Cô-dắc sâu xuống đất mềm sát đến tận cán để lau.
Đứng gần cậu bé này cũng phát sợ huống chi nói chuyện. Nhưng Va-nha có tính táo bạo. Làm ra vẻ không thèm để ý, cậu lại gần cậu bé sang trọng kia, đứng xoặc cẳng, tay chắp sau lưng và ngắm nghía.
Nhưng cậu bé bộ đội không mảy may động tĩnh. Cậu cứ tiếp tục lau vũ khí, coi như không có Va-nha đứng cạnh. Thỉnh thoảng cậu ta vẻ quan trọng, lẩm bẩm nói gì trong miệng.
Va-nha im lặng. Cậu bé cũng im lặng. Cảnh này kéo khá dài khá lâu. Cuối cùng, cậu bé bộ đội không chịu được, cau có hỏi:
-Đứng đấy làm gì?
-Thích đứng thì đứng,-Va-nha đáp.
-Đi đi.
-Cậu đi thì có. Đây không phải là rừng của cậu.
-Rừng của tớ!
-Sao lại thế?
-Thế chứ sao. Đơn vị tớ đóng ở đây.
-Đơn vị nào?
-Không việc gì đến cậu. Không tháy ngựa của chúng tớ à?
Cậu bé hất đầu có tóc quăn về phía sau. Quả vậy, đằng sau các cậy, Va-nha nhìn thấy tàu ngựa, ngựa, áo khoác ky binh màu đen và mũ mấn màu đỏ tía của các chiến sĩ kỵ binh. Va-nha hỏi:
-Thế cậu là gì?
Cậu bé lơ đãng, vẻ làm điệu, đóng sập kiếm vào bao, nhổ nước bọt xuống đất và lấy ủng di di.
Cậu khinh khỉnh nói:
-Cậu có phân biệt được cấp bậc trên quân hàm không?
-Có chứ!-Va-nha nói cứng, mặc dầu không hiểu gì cả.
Cậu bé nghiêm khắc nói, tay chỉ vào quân hàm có thêu một vạch trắng ngằm ngang:
-Thế đấy. Hạ sĩ kỵ binh cận vệ. Hiểu chưa?
Va-nha nói, miệng cười gượng gạo:
-Biết rồi! Hạ sĩ! Chúng tớ đã từng thấy những hạ sĩ như vậy!
Cậu bé tức mình, hất mái tóc vàng và nói:
-Muốn nghĩ gì thì nghĩ, tớ thực sự là hạ sĩ!
Thấy nói thế chưa đủ, cậu bé cởi cúc áo ngoài. Va-nha trông thấy trên áo sơ-mi có đính một huy chương bạc to treo dưới một giải bằng lụa màu xám.
-Thấy chưa?
Va-nha hốt quá. Nhưng không để lộ mặt.
Cậu cười mếu máo, gần như phát khóc vì thèm muốn.
-Chẳng có gì là lạ!
-Lạ hay không lạ nhưng là huy chương vì có thành tích trong chiến đấu. Thôi đi đi, không thì đừng có trách.
-Đừng có làm bộ, sẽ biết tay nhau.
-Biết ta ai?-cậu bé sang trọng cười khẩy.
-Tay tớ.
-Tay cậu? Còn nhóc lắm, anh bạn ạ.
-Ít nhất cũng bằng tuổi cậu.
-Thế cậu bao nhiêu?
-Không việc gì đến cậu. Còn cậu?
-Mười bốn,-cậu bé tăng thêm tuổi một chút.
-Xì!-Va-nha huýt sáo.
-Xì cái gì?
-Thế mà cũng bộ đội!
-Bộ đội chính cống. Kỵ binh cận vệ.
-Nói khoác! Không được phép.
-Không được phép là thế nào?
-Bé quá.
-Cũng lớn hơn cậu.
-Mặc kệ. Bé thế không được nhận.
-Thế mà tớ được nhận đấy.
-Sao cậu được nhận?
-Được nhận chứ sao nữa.
-Thế cậu có được lĩnh các thứ cung cấp không?
-Sao lại không!
-Nói khoác.
-Mình không quen nói khoác.
-Thề xem nào.
-Vì danh dự đội cận vệ.
-Lĩnh tất cả các thứ cung cấp?
-Tất cả.
-Và được cấp vũ khí?
-Chứ sao! Tất cả, theo đúng điều lệnh. Cậu thấy cái kiếm của mình chứ? Trứ danh lắm đấy! Kiếm sản xuất ở vùng Dơ-la-tô-út-xơ. Uốn nó thành vòng tròn mà nó vẫn không gẫy. Chưa hết! Tớ còn có áo khoác kỵ binh. Cũng cừ lắm. Đẹp phải biết! Tớ chỉ mặc khi đánh trận. Còn bây giờ tớ để trên xe ngựa cho chở đi theo.
 
Va-nha nuốt nước bọt và với dáng điệu khá thảm hại nhìn chòng chọc vào người chủ của chiếc áo khoác kỵ binh đang nằm trên xe ngựa chở đi theo.
Va-nha thất vọng nói:
-Thế mà các chú không nhận mình. Đầu tiên có nhận nhưng sau lại nói không được phép. Mình đa có một lần ngủ trong lều của các chú, các chú trinh sát, pháo binh.
-Nghĩa là các chú không ưa cậu,-cậu bé sang trọng lạnh lùng nói,-vì không muốn nhận cậu làm con nuôi.
-Con nuôi là thế nào? Con nuôi ai?
-Còn ai nữa! Con nuôi trung đoàn chứ ai. Không thế không được.
-Thế cậu con nuôi à?
-Ừ, mình là con nuôi. Năm nay là năm thứ hai mình là con nuôi của đơn vị Cô-dắc đấy, anh bạn ạ. Các chú nhận mình khi còn ở mặt trận Xmô-len-xcơ. Vì mình mồ côi cha mẹ nên lấy họ của chính thiếu tá Vô-de-nê-xên-xki. Hiện nay, mình là hạ sĩ cận vệ Vô-de-nê-xên-xki và làm công tác liên lạc cho thiếu tá Vô-de-nê-xên-xki. Có lần thiếu tá còn cho mình đi theo trong một chuyến tấn công vùng địch hậu. Đơn vị mình đêm đó đã gây nhiều hỗn loạn trong hậu quân phát-xít. Bọn mình xông vào một làng là nơi ban tham mưu chúng đóng. Thế là chúng nhảy ra ngoài đường mặc toàn quần đùi. Bọn mình giết được một trăm rưỡi quân địch.
Cậu bé rút kiếm ra khỏi vỏ và ra hiệu cho Va-nha thấy kỵ binh chém phát-xít như thế nào.
-Thế cậu cũng chém chứ?-Va-nha hỏi toàn thân run lên vì thán phục.
Cậu bé định nói “chứ sao” nhưng rõ ràng là để bảo vệ danh dự đội cận vệ cậu đã ghìm lại được và ngượng nghịu nói:
-Không. Nói thực là mình không chém. Lúc đó, mình không có gươm. Mình ngồi trên xe ngựa chở súng máy… Thôi này, cậu đi đi,-hạ sĩ Vô-de-nê-xên-xki bỗng nhiên nói, sực nhớ rằng mình đã chuyện trò quá thân mật với một tay cha căng chú kiết, đáng ngờ.-Thôi chào anh bạn.
-Chào cậu,-Va-nha buồn rầu đáp lại và lùi lũi đi.
“Nghĩa là các chú không ưa mình”,-Va-nha đau khổ nghĩ. Nhưng ngay lúc đó trong thâm tâm cậu cảm thấy không đúng như vậy. Không, không. Tự đáy lòng cảm thấy thì không thể sai được. Tự đáy lòng cảm thấy các chiến sĩ trinh sát rết yêu mến cậu. Tất cả những điều xảy ra đều do đại úy Ê-na-ki-ép, tiểu đoàn trưởng pháo binh, người mà bản thân cậu chưa hề nhìn thấy.
Thế rồi Va-nha nẩy ra ý nghĩ tìm cho được vị thủ trưởng cao nhất nào đó và khiếu nại về đại úy Ê-na-ki-ép.
Cuối cùng, không biết làm thế nào cậu bé đã đến được ngôi nhà gỗ, theo cậu là nơi ở của một vị thủ trưởng cao cấp.
Cậu ngòi lên cối xay đá, mắt không dời căn nhà, kiên nhẫn chờ đợi để gặp vị thủ trưởng đó.
Một lúc sau, một sĩ quan hiện ra trên hành lang. Đồng chí đó vừa xỏ găng vừa gọi to:
-Đồng chí Xô-lô-bép, dắt ngựa lại đây nhé!
 
9
Xem cái anh bộ đội nhanh chóng, sẵn sàng nghe lệnh và dắt hai con ngựa đã đóng yên cương, cậu bé hiểu ngay đó là một vị thủ trưởng, nếu không phải là thủ trưởng cao nhất, thì cũng có đủ quyền để bắt đại úy Ê-na-ki-ép nghe lệnh mình.
Những ngôi sao trên quân hàm cũng chứng minh điều đó. Có rất nhiều: mỗi bên quân hàm vàng chóe có bốn ngôi, không kể những nòng đại bác.
“Tuy còn trẻ nhưng chắc là cấp tướng”,-Va-nha quyết định và kính trọng ngắm nhìn đôi ủng đánh bóng loáng có đinh thúc ngựa, chiếc áo ngoài chiến dịch tuy đã cũ nhưng đặc biệt vừa vặn với thân hình, chiếc đèn pin đeo ở cúc áo thứ hai, cái ống nhòm khoác ở cổ và chiếc xà-cột trên nắp có buộc địa bàn.
Anh bộ đội dắt ngựa qua cổng sau ra đường và dẫn chúng đứng ở cửa trước. Người sĩ quan lại gần ngựa nhưng trước khi cưỡi, đồng chí vui vẻ vỗ vài cái cổ trơn tru của nó và cho nó ăn một miếng đường.
Trông thấy vậy, đủ hiểu đồng chí đó đang có gì vui.
Thú thật, ngày hôm nay khi có lệnh trung đoàn trưởng gọi, đồng chí hơi lo ngại. Trong những trường hợp tương tự, thường bao giờ cũng vậy, đồng chí đoán rằng sẽ bị phê bình mặc dầu tự cảm thấy trong công tác không gì sai sót.
Nhưng người trung đoàn trưởng nghiêm khắc không những không phê bình gì mà lại còn tỏ ý khen ngợi công tác của tiểu đoàn đồng chí và chỉ thị đề nghị tặng thưởng cho chiến sĩ pháo binh đã tỏ ra xuất sắc trong chiến đấu vừa qua. Đồng chí đặc biệt vui vì trung đoàn trưởng, một người khô khan và hà tiện lời khen đã đánh giá cao chính cái trận tấn công bất ngờ vũ bão vào đồng chí chiến xa dự bị Đức mà đại úy Ê-na-ki-ép đã để công suy nghĩ và chuẩn bị kỹ càng. Trận tấn công đó, cuối cùng đã quyết định thắng lợi.
Đại tá mời đại úy uống trà nấu trong chiếc ấm xa-mô-va của mình. Anh em trong trung đoàn thường coi đó là một vinh dự lớn. Đại tá tiễn chân đại úy Ê-na-ki-ép đến tận cừa và khi từ biệt, còn nói một lần nữa:
-Nói chung, các đồng chí chiến đấu tốt. Cừ lắm đại úy Ê-na-ki-ép.
Nghe câu đó, đại úy Ê-na-ki-ép ngượng đỏ mặt, trả lời:
-Vì Tổ quốc xô-viết!
Tất cả sự việc đớ làm cho đại úy Ê-na-ki-ép đặc biệt hài lòng và anh thầm hưởng trước cái cảm giác thú vị khi đứng trước các sĩ quan của mình anh truyền đạt lời khen của trung đoàn trưởng.
Bỗng anh nghe tiếng ai gọi:
-Chú ơi!
Anh quay lại và trông thấy Va-nha lúc đó đang đứng trước mặt mình, hai tap ép vào nẹp quần, đôi mắt xanh nhìn anh không chớp.
Cố gắng thật giống bộ đội, Va-nha nói:
-Xin đồng chí cho phép báo cáo.
Đại úy vui vẻ.
-Nào, báo cáo đi.
-Chú là thủ trưởng?
-Phải. Chỉ huy. Sao nữa?
-Chú chỉ huy ai?
-Chỉ huy tiểu đoàn pháo binh. Chỉ huy bộ đội, chỉ huy súng.
-Thế chú có chỉ huy các sĩ quan không?
-Phải xem sĩ quan nào mới được. Đối với sĩ quan của chú, chú là chỉ huy.
-Thế chú có chỉ huy các đại úy không?
-Các đại úy thì chú không chỉ huy.
Vẻ thất vọng hiện lên mặt cậu bé.
-Cháu tưởng chú chỉ huy các cday!
-Cháu cần gì?
-Cháu cần lắm.
-Cháu cứ nói xem.
-Nếu chú không chỉ huy các đại úy thì nói cũng vô ích. Chú ạ, cháu cần gặp người chỉ huy nào có thể ra lệnh được cho tất cả các đại úy.
-Ra lệnh cho tất cả các đại úy để làm gì? Hay đấy.
-Không phải ra lệnh cho tất cả các đại úy đâu. Chỉ cần ra lệnh cho một người thôi.
-Thế thì ra lệnh cho ai?
-Cho đại úy Ê-na-ki-ép.
-Sao, cháu nhắc lại xem,-đại úy Ê-na-ki-ép kêu lên.
-Ê-na-ki-ép.
-Hừ… Đại úy ra sao nhỉ?
-Chú ạ, đồng chí ấy chỉ huy trinh sát. Đồng chí ấy cao nhất trong đơn vị. Ra lệnh là mọi người phải thực hiện.
-Đồng chí ấy chỉ huy đơn vị trinh sát nào?
-Đơn vị trinh sát pháo binh ấy mà. Các chú tìm hỏa điểm của bọn Đức để ghi vào bản đồ. Chú ạ, gớm, đại úy của các chú ấy khó tính làm sao! Thật là rủi.
-Thế cháu đã gặp đại úy khó tính ấy lần nào chưa?
-Chính chưa thấy mới rủi cho cháu.
-Còn đồng chí đó đã thấy cháu chưa?
-Cũng chưa. Đồng chí ấy ra lệnh đưa cháu về hậu phương.
 
Người sĩ quan chau mày và tò mò ngắm nhìn cậu bé:
-Khoan… Tên cháu là gì?
-Tên cháu à? Va-nha…
-Va-nha thôi à?-nhười sĩ quan mỉm cười.
-Va-nha Xôn-xép,-cậu bé chữa lại.
-Bé chăn bò phải không?
-Đúng rồi!-Va-nha ngạc nhiên kêu lên.-Các chú trinh sát gọi cháu là bé chăn bò. Tại sao chú biết?
-Ở tiểu đoàn của đại úy Ê-na-ki-ép có chuyệngì, chú đều biết cả, cháu ạ. Bây giờ cháu thử nói xem, đại úy Ê-na-ki-ép đã ra lệnh đưa cháu về hậu phương thì làm sao cháu có mặt ở đây?
Mắt cậu bé ánh lên tinh quái nhưng lập tức hàng mi cụp lại. Cố gắng làm ra vẻ ngượng nghịu, cậu rụt rè nói:
-Cháu trốn.
-Ra thế đấy. Làm cách nào trốn được?
-Trốn thôi, có gì đâu..
-Định trốn là trốn được ngay à?
-Không trốn được ngay đâu,-Va-nha nói, lấy chân nọ xoa chân kia,-cháu hai lần trốn chú ạ. Lần đầu trốn, chú ấy bắt được. Lần sau cháu trốn kỹ đến nỗi chú ấy không tìm ra.
-“Chú ấy” là ai?
-Chú Bi-đên-cô. Hạ sĩ. Trinh sát của đại úy Ê-na-ki-ép. Có lẽ chú biết.
Ê-na-ki-ép càng cau mày:
-Có biết. Nhưng chú không tin rằng cháu có thể thoát khỏi tay Bi-đên-cô. Chú ấy không thế đâu. Theo chú thì cháu bịa chuyện phải không?
Va-nha đứng thẳng người trả lời:
-Không ạ. Cháu không bịa. Đúng như vậy.
-Nghe thấy không, đồng chí Xô-lô-bép?-Đại úy nói với chiến sĩ cần vụ, lúc đó đang theo dõi câu chuyện giữa người chỉ huy của mình với cậu bé, vẻ thú vị hiện ra trên mặt.
-Báo coa, có nghe.
-Đồng chí thấy thế nào? Có tin được là chú bé thoát khỏi tay Bi-đên-cô không?
Xô-lô-bép nở một nụ cười tin tưởng nói:
-Không bao giờ? Chưa một người lớn nào trốn thoát khỏi tay Bi-đên-cô, huống chi một chú bé nhỏ con này. Thưa đồng chí đại úy, cho tôi mạn phép nói, chú bé hơi khoác một tị.
Va-nha mặt tái đi vì tự ái.
-Cháu nói dối cháu chết!-cậu bé nói chắc nịch và liếc nhìn người chiến sĩ coi ngựa một cách thật khinh bỉ, thật kiêu hãnh.
Rồi mặt đỏ ửng, cậu bắt đầu láu táu kể chuyện đã đánh lừa người trinh sát già dặn như thế nào.
Khi cậu kể đến đoạn buộc dây, đại úy càng không thể nhịn được cười. Anh lấy găng tay lau những giọt nước mắt chảy ra vì cười, cười to và tràm đến nỗi ngựa phải vểnh tai lên và sợ hãi nhún nhẩy. Còn Xô-lô-bép, trước mặt chỉ huy không dám cười quá to, chỉ ôm miệng, lắc đầu và luôn luôn nhắc đi nhắc lại:
-Chà, Bi-đên-cô! Chà, trinh sát chứ danh! Chà, vị giáo sư!
Khi Va-nha kể lại cuộc gặp gỡ với chú bé bộ đội thì bỗng nhiên đại úy mặt sa sầm, dáng suy nghĩ, rầu rầu.
-Anh ấy nói, các chú nhận mình làm con nuôi,-Va-nha kể lại một cách sôi nổi về cậu bé bộ đội,-mình bây giờ là con nuôi của trung đoàn. Anh ấy nói, mình đã có một lần dự cuộc tấn công với các chú, ngồi trên xe ngựa chở súng máy. Anh ấy nói, bởi vì các chú ưa mình. Anh ấy nói, có lẽ tại các chú không ưa cậu. Vì thế các chú đưa cậu về hậu phương.
Đến đó, Va-nha thở dài và đôi mắt ngây thơ, dễ yêu nhìn thẳng vào mặt đại úy một cách đáng thương hại:
-Nhưng, chú ạ, anh ấy nói là các chú không ưa cháu thì không đúng. Các chú quý cháu. Cháu nói thật đấy! Các chú thương cháu. Nhưng các chú không thể làm trái lệnh đại úy Ê-na-ki-ép.
-Thế là mọi người đều “quý” cháu, chỉ riêng đại úy Ê-na-ki-ép “không quý” cháu phải không?
Va-nha chớp mắt trả lời như thú tội:
-Thưa chú, vâng ạ. Mọi người đều ưa, riêng đại úy không ưa. Thế mà đại úy chưa có lần nào trông thấy cháu. Chưa trông thấy thì làm sao lại nhận xét được? Đại úy thử nhìn cháu một lần xem, có thể sẽ quý cháu cũng nên. Cháu nói đúng đấy, chú nhỉ?
Đại úy mỉm cười.
-Cháu tin thế à? Thôi được rồi. Chờ xem thế nào.
Anh dứt khoát đặt chân vào bàn đạp và cưỡi lên ngựa.
-Cháu có đi chăn ngựa đêm bao giờ không?-anh hỏi giọng nghiêm khắc nhưng mắt lại tươi cười, tay sắp xếp lại cương ngựa.
-Sao lại không? Có, chú ạ!
-Ngồi ngựa được không?… Nào, đồng chí Xô-lô-bép, đưa cậu bé lên ngựa của đồng chí.
Trong chớp mắt Va-nha đã bị đôi bàn tay khỏe mạnh của chiến sĩ cần vụ nhấc bổng đặt lên ngựa, phía trước mình.
Đại úy Ê-na-ki-ép ra lệnh:
-Về đơn vị trinh sát!
Rồi họ phi nước đại.
-Thoát khỏi Bi-đên-cô nhưng anh bạn không thoát khỏi tay tớ đâu,-chiến sĩ cần vụ nói, tay ôm cậu bé chặt nhưng thận trọng.
-Bản thân cháu không muốn trốn nữa,-Va-nha vui vẻ nói.
Cậu bé cảm thấy một bước ngoặt rất quan trọng đang đưa cậu đi theo chiều hướng tốt.
Đến hầm trinh sát, đại úy nhảy xuống ngựa và vứt cương cho chiến sĩ cần vụ. Anh nói:
-Đồng chí đợi nhé,-và nhanh nhẹn chạy xuống bậc, đinh thúc ngựa kêu lanh canh.
 
10
Đúng lúc các chiến sĩ trinh sát tụ tập, chơi đô-mi-nô.
Họ chơi say mê và đập quân cờ xuống bàn mạnh đến nỗi tưởng rằng trong hầm có những tiếng súng ngắn nổ.
-Đứng dậy, nghiêm!-chiến sĩ trực nhật hô lớn sau khi thấy tiểu đoàn trưởng vào.
Các chiến sĩ trinh sát vứt quân cờ xuống bàn, đứng bật dậy.
Còn hạ sĩ Bi-đên-cô, ngày hôm đó trực nhật tiểu đội theo điều lệnh phải đội mũ và mang vũ khí, nhanh nhẹn chạy đến đại úy và báo cáo:
-Thưa đồng chí đại úy! Đội trinh sát thuộc trung đội tiểu đoàn bộ, dưới quyền chỉ huy của đồng chí. Đội đang thuộc lực lượng dự trữ. Anh em nghỉ ngơi. Trong thời gian trực nhật, không điều gì xảy ra. Tôi, hạ sĩ Bi-đên-cô, trực nhật, báo cáo.
-Chào các chiến sĩ pháo binh!
-Kính cháo đồng chí đại úy!-các chiến sĩ trinh sát đồng thanh hô to.
Bình thường, sau khi chào, đại úy Ê-na-ki-ép ra lệnh “nghỉ” và cho phép ai làm việc nấy. Nhưng lần này im lặng ngồi trên chiếc ghế đẩu mà anh em đã đặt cho, anh ngắm nghía khá lâu bức tranh chiến lợi phẩm “Mùa xuân trên đất Đức”.
Các chiến sĩ biết rõ người chỉ huy của mình. Chỉ cần nhìn thấy đôi lông mày nhíu lại dưới cái lưỡi trai thẳng tắp của chiếc mũ pháo binh, chỉ cần nhìn thấy cặp mắt cau lại xung quanh có những vết răn mờ mờ và dưới bộ ria cắt ngắn, đôi mô nở một nụ cười mơ hồ và lạnh lùng là các chiến sĩ hiểu rằng nếu không bị cạo một trận thì không xong.
Khẽ phẩy đôi găng đã tháo lên bàn, đại úy nói:
-Có đúng là không điều gì xảy ra không?
Bi-đên-cô im lặng, hiểu ngay tiểu đoàn trưởng muốn nói gì.
-Sao đồng chí im lặng?
-Xin phép báo cáo…
-Không cần nữa. Tôi biết rồi. Có một trinh sát cừ đến nỗi bị một thằng bé vần cho! Đồng chí báo cáo tiểu đội trưởng chưa?
-Có. Tôi đã báo cáo.
-Thế rồi sao?
-Tiểu đội trưởng phạt bốn ngày không được nghỉ.
-Mấy ngày?
-Bốn.
-Còn ít. Đồng chí báo cáo lại là tôi ra lệnh phạt thêm hai ngày nữa. Cả thảy là sáu.
-Có.
Đại úy Ê-na-ki-ép nhìn chằm chằm vào các chiến sĩ đang đứng nghiêm trước mặt mình một lúc.
-Ngồi xuống các đồng chí,-cuối cùng anh nói và cởi cúc áo ngoài và như vậy coi như câu chuyện chính thức kết thúc, bây giờ có thể đối xử thân mật.-Các đồng chí hãy tiếp tục giải trí. Tôi nghe nói các đồng chí là những anh con trai căn cơ. Hình như đây là loại thuốc lá đặc biệt. Sao không đãi mình một điếu.
Chưa kịp nói xong, anh đã thấy năm túi thuốc, năm mảnh giấy báo và năm cái bật lửa chìa ra. Bật lửa sẵn sàng đánh khi cần thiết.
Các nhao nhao nói:
-Đồng chí đại úy cầm lấy của tôi. Thuốc của tôi nhẹ hơn.
-Đồng chí thử hút thuốc của tôi xem. Thuốc của tôi thơm hơn.
-Để tôi cuốn thuốc cho đồng chí. Không ai cuốn giỏi bằng tôi đâu.
-Có lẽ đồng chí thích thuốc lá nhẹ. Tôi có loại Xu-khu-mi ngọt như đường.
Chậm rãi nghĩ xem lấy thuốc của ai, đại úy nói:
-Các đồng chí sống sung túc lắm. Bi-đên-cô, cậu đưa thuốc ra làm gì. Mình không lấy của cậu đâu. Hút thuốc của cậu vào rồi lại ngủ như chết.
-Đúng vậy,-Goóc-bu-nốp nháy mắt.-Chính vì hút thuốc ấy cho nên ngủ miết trên xe để cho chú bé chăn bò trốn mất.
-Tôi cũng muốn nhắc lại chuyện ấy,-đại úy nói.
-Thưa đồng chí đại úy,-Bi-đên-cô thanh minh,-nó có phải là thắng bè thường đâu… Không phải là thằng bé nữa mà là con quỷ con. Đúng như vậy.
-Thế nào thằng bé khá không?-vừa rít điếu thuốc lá, đại úy vừa hỏi.-Các cậu có ưa nó không?
-Thằng bé toàn diện,-Goóc-bu-nốp nói, miệng nở một nụ cười cởi mở mà các chiến sĩ trinh sát thường cười khi nói đến Va-nha.-Một thằng bé có tính tự lực. Nói tóm lại đó là một chiến sĩ bẩm sinh. Nếu không chúng tôi sẽ đào tạo nó thành một trinh sát chứ danh. Nhưng chắc là không phải số.
-Có tiếc không?-đại úy hỏi.
-Chẳng phải thế… Tiếc thì không tiếc… Tát nhiên, về hậu phương nó sẽ được sung sướng. Nhưng nói thật, cũng tiếc một chút. Bản chất nó là bản chất bộ đội. Nó ở quân đội là hợp lý nhất.
-Cậu không sáng tác đấy chứ?
-Tôi bịa chuyện làm gì! Ai cũng thấy điều đó. Nhưng đồng chí là tiểu đoàn trưởng chắc hiểu biết hơn…
-Còn các cậu, sao im lặng thế?-đại úy vừa nói vừa nhìn chòng chọc vào mặt các chiến sĩ.-Các cậu có ưa thằng bé không?
Tức khắc trên bộ mặt các chiến sĩ nở ra một nụ cười cở mở giống hệt như nhau, hình như không phải là cười riêng mà là cười một nụ cười chung.
-Suy nghĩ và cân nhắc xem. Các cậu sẽ sống với nó chứ không phải tôi.
-Thật là một thằng bé kháu khỉnh. Tóm lại, đúng là bé chăn bò,-các chiến sĩ nói nhao nhao nhưng vẫn chưa hiểu rõ ý định của đại úy.
Còn đại úy thì nghiêm khắc nhìn họ và sau một hồi khá lâu suy nghĩ, anh dứt khoát nói:
-Thôi được. Nhưng phải nhớ rằng nó là một con người chứ không phải là đồ chơi… Đồng chí Xô-lô-bép!-anh ra phía cửa gọi.-Đưa bé chăn bò lại đây.
Khi Va-nha hiện ra ngưỡng cửa, trước sự ngạc nhiên của mọi người, đại úy nắm chặt hai vai cậu bé, nói:
-Các đồng chí tiếp nhận bé chăn bò. Tạm thời để nó sống với các đồng chí, còn sau ta sẽ liệu.
 
11
Đại úy Ê-na-ki-ép vừa ra khỏi hầm, các chiến sĩ đã vây quanh Va-nha. Ai cũng muốn tìm hiểu ngay sự việc.
Goóc-bu-nốp kêu lên:
-Bé chăn bò! Bạn thân mến của tôi!
Bi-đên-cô nghiêm khắc nói:
-Này cậu bé, báo cáo đi chứ! Ở đâu đến? Lang thang đi những đâu? Đại úy Ê-na-ki-ép tìm thấy ở đâu?
-Đại úy Ê-na-ki-ép nào?-Va-nha không hiểu hỏi.
-Chính đồng chí vừa đưa chú mày lại đây.
-Chẳng lẽ chú đó là đại úy Ê-na-ki-ép?
-Chính đại úy đấy.
-Mẹ ơi!
-Thế chú mày không biết à?
-Làm sao cháu biết được!-Va-nha kêu lên, lông mi chớp chớp.-Ồ, nếu cháu biết được… Nếu cháu đoán được thì còn nói… Chú ơi, có phải đúng là đại úy Ê-na-ki-ép không?
-Tất nhiên.
-Tiểu đoàn trưởng pháo binh?
-Đúng. Chính thế.
-Trời, chú ơi, chú nói không đúng!
-Khoan, bé chăn bò,-Goóc-bu-nốp nói, miệng cười nụ cười chung của đơn vị trinh sát.-Chú mày đừng kêu trời nữa. Tốt hơn hết là hãy kể đầu đuôi câu chuyện.
Nhưng rõ ràng là Va-nha vì cảm động quá nên không nói nổi được một câu. Mắt sáng lên vì thích thú, cậu bé ngắm nghía căn hầm trinh sát mà cậu đã coi như quen thuộc và thân thiết như cái lều lần đầu tiên đã ngủ chung với các chiến sĩ.
Cũng những chiếc áo khoác, áo mưa trải ra cẩn thận, cũng những ba-lô đặt đầu giường, trên có phủ khăn mặt vải thô.
Cả cái ấm đồng trên bếp lò và đường viên mà Goóc-bu-nốp đã nhanh nhảu đặt lên bàn, cũng ở đây.
Thực ra, cái đèn đất chiến lợi phẩm có vẻ lạ lùng. Ánh sáng chói lọi xuyên vào mắt một cách khó chịu gây cảm giác coi ánh và đèn đều là chiến lợi phẩm. Cậu bé nheo mắt nhìn vào đèn, nhăn mũi, tỏ vẻ nghẹn ngào không nói nên lời.
Nếu nói đúng sự thực, từ lâu cậu bé đã ngờ ngợ người sĩ quan chuyện trò với cậu ở cạnh ngôi nhà gỗ là đại úy Ê-na-ki-ép. Nhưng cậu ra điều không biết. Các chiến sĩ nhận ra ngay cậu bé bẩm sinh có tài trinh sát là không lầm. Bởi vì nguyên tắc đầu tiên một người trinh sát thật sự phải tuân theo là: không nói cho ai nghe điều mình biết.
Thế là trong một thời gian ngắn, số phận Va-nha đã ba lần thay đổi một cách thần kỳ.
 
12
Buổi bình minh u ám muộn mằn vừa mới rạng lên trên bùn lầy nước đọng. Đầm lấy ánh lên màu trắng đục như chì bên cạnh những vũng nước đen ngòm, thum thủm, những bụi cây ngậm khói sương, những cánh đồng phủ vô số hàng lanh ngoằn ngoèo cắt rồi những chưa đánh đống.
Những con quạ rét cóng, trú đêm trong bụi đã thức dậy, vừa bay chuyền từ chỗ nọ đến chỗ kia, vừa kêu quang quác vì đói. Chúng lười biếng vẫy đôi cánh nặng nề, thấm sương đêm.
Sương trắng dầy đặc đọng trên đất ở những chỗ thấp nhất. Những mỏm đất, trên mọc lùm cỏ đã héo, mờ mờ ẩn hiện như bập bềnh trong sương.
Trong tầm con mắt, cảnh vật xung quanh lặng lờ, vắng vẻ, tĩnh mịch. Chỉ thỉnh thoảng thấy ở phía đông xa xa, bầu không khí ẩm sương bỗng rùng mình tựa như có một cánh cửa khổng lồ nào đó đóng sập thật mạnh.
Nhưng nếu lấy con mắt giầu kinh nghiệm soi mói kỹ càng các mỏm đất chìm trong sương mù thì có thể nhận ra hai mỏm đất nhô lên quá gần nhau. Hai mỏm đất lơ thơ lùm cỏ đó là mũ sắt của Bi-đên-cô và Goóc-bu-nốp. Hai người nằm im trong bùn đã ba tiếng, mình đắp áo mưa gài những nhúm cỏ thâm sịt.
Họ nằm trở đầu đuôi để người nọ nhìn thấy phía sau của người kia. Chống cùi tay xuống đất lầy và đầu hơi ngửng, họ nhìn theo hướng mình nằm.
Thỉnh thoảng họ trao đổi những câu ngắn:
-Thấy gì không?
-Hoàn toàn vắng vẻ.
-Phía tớ cũng vậy. Chẳng có ma nào.
-Có sự không hay rồi.
-Ừ. Rõ là thế.
Họ đang ở hậu quân Đức, cách mặt trận khoảng ba mươi cây số. Càng ngày họ càng có vẻ đăm chiêu, lo lắng.
-Không thấy gì à?
-Không.
-Đáng lẽ phải có mặt từ lâu rồi.
-Này, xem mấy giờ. Đồng hồ mình đứng, khỉ quá! Chắc là nó đụng phải cái gì. Chúng mình đợi mấy tiếng rồi?
Goóc-bu-nốp đưa tay lên gần mắt để nhìn đồng hồ. Anh làm động tác đó nhẹ nhành, cẩn thận đến nỗi ngọn cỏ trên mũ sắt không hề rung rinh.
-Bảy giờ ba mươi hai phút. Thế là chúng mình đợi đã hơn ba tiếng.
-Chà!
Họ im lặng chừng mười lăm phút, có khi còn hơn.
-Này Va-xia.
-Gì?
-Nếu nó bị bọn Đức tóm thì làm thế nào?
Cuối cùng Goóc-bu-nốp nói lên cái ý nghĩ đang dày vò Bi-đên-cô. Nhưng anh buồn bã nghiến chặt hàm răng làm cho gò má rám nắng của anh càng nhô ra. Mắt anh cau lại, mặt trở nên dữ tợn.
-Đừng nói gở! Im mồm đi mà quan sát.
-Mình vẫn nhìn đấy chứ. Vả lại nhìn gì mới được, vắng như chùa bà đanh.
Rồi họ lại im lặng hồi lâu, căng mắt ra nhìn. Bỗng Goóc-bu-nốp nhúc nhích, hơi ngửng đầu lên một chút.
Cử động đó rất nhẹ nhưng chứng tỏ một sự hồi hộp cao độ. Như một người viễn thị, đồng tử con mắt anh co hẳn lại chỉ còn bé bằng đầu kim găm.
Bi-đên-cô hiểu rằng Goóc-bu-nốp đang nhìn thấy một vật gì quan trọng. Anh khẽ nhếch miệng hỏi:
-Cái gì thế, Cu-dơ-ma?
-Con ngựa,-Goóc-bu-nốp cũng trả lời thì thầm như vậy.
-Ngựa mình à?
-Có vẻ là ngựa mình. Khoan. Nó rẽ vào bụi, lấp mất rồi. Nó sắp ra. Nó vẫy đuôi, bước đi. Đã ra khỏi bụi. Đúng là con Xéc-cô của bọn mình rồi!
-Thế à!-Bi-đên-cô gần như kêu lên.
-Con Xéc-cô. Bây giờ thấy rõ.
-Thôi, chỉ chút nữa, chú chăn bò hiện ra. Mình đã bảo mà. Thế mà cậu cứ nói gở!
Không ghìm được nỗi vui mừng, Bi-đên-cô làm một động tác mà lúc khác anh không bao giờ dám làm. Anh nhẹ nhành đổi hướng nằm để nhìn về phía bạn.
Vì hai người nằm sát đất nên tầm mắt rất eo hẹp. Chân trời hình như kéo lại rất gần. Ở đó, trong bụi cây bốc hơi sương, con ngựa trắng gầy giơ xương, cẳng trước khập khiễng, đầu gối sưng to đang bước đi thủng thỉnh.
Đúng là con Xéc-cô. Nhưng gần đó không hề trông thấy bé chăn bò.
-Thằng bé bị bỏ lại sau rồi. Chắc cậu chàng bị mệt. Cũng sắp đến thôi.
-Chắc thế.
Và hai người trinh sát chăm chú lắng nghe xem ngoài tiếng vó ngựa dẫm oàm oạp trong bùn còn phân biệt được tiếng chân người nữa không. Nhưng tịnh không nghe thấy.
Một lúc sau, đặt tay lên mồm bắt chước tiếng vịt trời, Goóc-bu-nốp kêu lên mấy tiếng. Không ai đáp lại ám hiệu cả.
-Nó chưa nghe thấy. Cậu kêu to nữa xem.
Goóc-bu-nốp lại kêu to mấy tiếng nhưng cũng chẳng có trả lời. Bi-đên-cô bèn hết sức cẩn thận từ từ quỳ lên. Ngay lập tức chân trời hình như lùi ra xa. Nhưng trong khoảng trống phẳng lỳ của mặt đồng lầy, không tháy bóng một ai.
-Thằng bé lại nghịch đây. Định lẳng lặng bò về không để ai trông thấy,-Bi-đên-cô vừa nói, vừa lo lắng nhìn Goóc-bu-nốp, dường như muốn tìm kiếm ở Goóc-bu-nốp sự đồng tình với câu phỏng đoán mà chính anh cũng không tin.
Goóc-bu-nốp im lặng.
-Này, Cu-dơ-ma, kêu nữa xem. Có thể nó trả lời.
Goóc-bu-nốp lại kêu. Lại không có tiếng trả lời. Chẳng còn biết thận trọng là gì, Bi-đên-cô cất tiếng gọi:
-Va-nha! Bé chăn bò!
Goóc-bu-nốp buồn rầu nói:
-Gọi với chả gọi. Rõ rồi còn gì…
Trong khi đó, con ngựa trắng tiến lại gần. Cứ vài bước nó lại dừng, vươn cái cổ gầy và dài, hé hàm răng vàng ệch để cố gậm vài sợi cỏ thối. Hai hàng nước bọt treo lòng thòng trước cái mõm có điểm vài sợi râu trắng. Cẳng chân xương xẩu của nó run rẩy. Hai hõm sâu đen ngòm nằm trên đôi mắt, một mắt bị màng trắng phủ dày. Goóc-bu-nốp khẽ gọi và thận trọng huýt sáo miệng.
-Xéc-cô, Xéc-cô!
Con ngựa mệt mỏi vểnh một bên tai và khập khiễng lảng vảng lại gần các chiến sĩ. Nó đứng trước hai người, đầu cúi xuống. Con ngựa mất chủ đứng thờ ơ, ngoài cuộc như vậy. Bi-đên-cô hỏi:
-Bé chăn bò đâu, Xéc-cô? Mày để lạc nó đâu rồi?
Con Xéc-cô đứng im, co cái cẳng đau len. Cổ chân phồng to của nó lấm bết bùn đen. Bộ da già cỗi phủ lông màu trắng ngả vàng của nó run lên ở phía cạnh sườn. Cái màng trắng đục mờ lãnh đạm nhìn xuống đất. Chỉ cóc cái đuôi khô cằn với khấu đuôi trơ da còn vẫy đi vẫy lại.
Xéc-cô là con ngựa kéo xe già và khôn. Nếu biết nói, nó sẽ kể nhiều cho hai chiến sĩ nghe. Nhưng họ đã hiểu. Ít nhất họ cũng hiểu điều chính là bé chăn bò đã gặp tai nạn.
 
Hôm kia, lúc chạng vạng tối, Bi-đên-cô và Goóc-bu-nốp lên đường đi trinh sát, mang theo Va-nha. Họ đem Va-nha đi lần đầu tiên, không báo cáo theo đúng thủ tục.
Nhiệm vụ của họ là thâm nhập thật sâu vào hậu phương của địch để tìm những con đường tốt nhất khiến tiểu đoàn dễ dàng vượt qua bùn lầy lúc tiến công.
Họ phải tìm những vị trí tốt cho các trung đội pháo, đánh dấu các điểm quan sát lợi thế nhất để dùng cho thời gian tới, trinh sát các công sự phòng ngự của địch và chủ yếu là thu lượm tài liệu về số lượng và vị trí quân dự bị Đức. Dọc đường về, nếu tiện thì tóm một tù bình loại cỡ: sĩ quan tham mưu, pháo binh. Việc này còn tùy. Họ mang theo Va-nha làm người dẫn đường vì cậu bé biết rất rõ cái nơi bùn lầy và khó đi lại này.
Vả lại, đến lúc đó, nếu kịp tắm rửa, cạo đầu và bận binh phục thì chưa chắc Va-nha đã được đi theo trong chuyến trinh sát này. May cho bé chăn bò là bất chợt (ở mặt trận bao giờ cũng thế) tiểu đoàn từ chỗ tạm nghỉ được điều đi trực tiếp chiến đấu. Mọi dự kiến lại bị thay đổi. Phải dời hậu tuyến. Tạm thời không thể tắm rửa đường hoàng được. Va-nha phải đi theo trung đội tiểu đoàn bộ với cái vẻ sẵn có của mình, nghĩa là đầu tóc bù xù không chải, chân đất, quần vải gai, giống hệt chú bé chăn bò.
Gặp cậ bé trong hậu quân mình, có tên Đức nào lại nghĩ rằng đó là trinh sát viên địch! Với hình dáng đó, Va-nha đi đâu, cũng được chẳng gợi nên mối ngờ gì. Không sáng kiến nào tìm ra được người dẫn đường tốt hơn.
Thêm nữa, Va-nha cứ lải nhải đòi đi. Cậu bé nói luôn mồm: “Chú! Cho cháu đi với! Có mất gì đâu? Ở đây cháu biết mọi ngách ngách. Cháu sẽ dẫn chú đi mà chẳng thằng Đức nào biết. Lúc đó, chú chỉ việc cám ơn cháu thôi. Chú nhé!”.
Cậu bé bám sát hai chiến sĩ. Cậu yêu cầu khẩn khoản làm sao và đôi mắt trong sáng mở to nhìn họ với bao hy vọng! Cậu rụt rè nắm tay áo họ… Tóm lại, họ cứ mang cậu bé theo, không báo cáo lên trê. Nhưng không phải không thận trọng.
Trước hết, cũng như mọi trinh sát viên kinh nghiệm, họ thảo luận việc này rất kỹ, toàn diện, với tinh thần phụ trách. Họ quyết định để Va-nha dẫn đường và giao cho cậu bé nhiệm vụ rõ ràng và rất hạn chế.
Nhiệm vụ chiến đấu của bé chăn bò phải đi trước các chiến sĩ trinh sát để dẫn đường và báo hiệu nguy hiểm.
Để Va-nha thật giống với bé chăn bò và không có vẻ đáng ngờ là người đi chơi rông trong vùng đóng quân bọn Đức, họ nẩy ra sáng kiến cho cậu bé dắt theo một con ngựa coi như bị xổng và mới bắt được.
Các chiến sĩ kiếm được ở bộ phận phụ trách xe tải thuộc đơn vị hậu cần trung đoàn một con ngựa hợp với công tác ấy. Đó là con ngựa già, lông trắng, bị thương và đã loại khỏi danh sách lâu. Tên nó là Xéc-cô.
Va-nha tự bện lấy một cái roi giống hệt của người chăn bò để sai khiến ngựa và quá nửa đêm, gần sáng, ba trinh sát viên, kể cả Va-nha và con ngựa đã vượt qua mặt trận một cách khá dễ dàng.
Va-nha dắt ngựa đường hoàng đi trước còn Goóc-bu-nốp và Bi-đên-cô bò theo sau cách khoảng một trăm thước, người nọ thận trọng bò theo vết người kia. Đi như thế khoảng bốn cây số, bất thình lình Va-nha chạm trán lính canh Đức.
Lúc bất chợt thấy hiện lên ba bóng người khoác áo đi mưa và đội mũ sắt giống như cái nồi, tựa chừng mọc lên từ dưới đất, không phải cậu bé không hoảng hốt, hoặc chỉ sợ hãi sơ sơ mà thực ra là rợn tóc gáy. Những nỗi đau khổ đã trải qua trong thời gian sống dưới chế độ Đức hãy còn quá sốt dẻo trong trí nhớ của cậu.
Chân tay cậu bủn rủn, mặt nóng bừng, mắt tối xầm, toàn thân run cầm cập, cố gắng hết sức để hàm răng khỏi đánh đàn.
Ánh sáng ngọn đèn pin lướt trên hình dáng tiều tụy bé bỏng, chiếu sáng con ngựa trắng xương xẩu đứng trong bóng tối trông như bóng ma. Tên Đức hét lên bằng một giọng khàn, thô tục:
-Thằng khốn nạn! Tại sao mày lang thang ban đêm thế này?
Qua cái giọng nói quàng quạc, đểu cáng, khinh người, tàn nhẫn, đài các, toát ra từ cổ họng, cậu bé nhớ lại hàng trăm giọng nói đáng ghét quá quen thuộc của bọn sĩ quan, cai tù, sen-đầm, đốc gác, hiến binh đã từng bao lần bạt tai, đá đít cậu.
Cậu bé vội vàng rụt cổ và lấy tay ôm đầu, đề phòng những quả đấm của bọn Đức. Quả thật, chúng đánh cậu. Một cái ủng đá đít cậu đau điếng và cái giọng quàng quạc bằng tiếng Đức lại cất lên:
-Sao mày im, thằng bỏ mẹ! Không trả lời, ông lại đánh nữa cho bây giờ!
Cậu bé không hiểu tiếng Đức, nhưng hoàn toàn hiểu ý. Cậu chịu đau đớn quá nhiều rồi nên khá thông hiểu cái ý đồ của tiếng Đức.
Bỗng sự sợ hãi biến mất. Lòng căm ghét tràn ứ trong tâm hồn. Làm sao một tên phát-xít quèn lại dám đấm đá cậu, một chiến sĩ Hồng quân, một trinh sát viên của tiểu đoàn pháo binh Ê-na-ki-ép nổi tiếng!
Mắt Va-nha đỏ lên. Chỉ chút nữa là cậu lăn xả vào tên Đức, đấm vào mõm nó, cắn vào cổ nó. Cậu biết rằng mình không đơn độc. Bên cạnh còn có những bạn thân thiết, những bạn chiến đấu trung thành của cậu. Chỉ cần kêu lên một tiếng, họ sẽ xông đến cứu và tiêu diệt bọn phát-xít đến tên cuối cùng. Nhưng cậu bé lại nhớ rất kỹ là mình đang trinh sát trong lòng địch và mọi tiếng động ồn ào sẽ có thể làm lộ mục tiêu và phá vỡ việc thực hiện nhiệm vụ.
Thế là, với một sự cố gắng phi thường, cậu đã ghìm được lòng căm thù và cảm giác tự hào. Cậu đã bắt mình trở lại thành một chú bé chăn bò bé bỏng và ngớ ngẩn, ban đêm dắt ngựa đi lạc đường. Cậu thút thít một cách đáng thương, làm ra vẻ mặt đầy nước mắt:
-Chú ơi, đừng đánh cháu nữa! Cháu đi tìm ngựa. Khó lắm mới tìm thấy, lang thang suốt đêm. Cháu bị lạc đường… Đồ phải gió này!-Cậu kêu lên, giơ roi dọa đánh con Xéc-cô.-Sao mày không chết đi cho rảnh!
Rồi cậu bé lại sụt sùi:
-Thả cháu ra! Cháu xin chừa. Mẹ cháu ở nhà đợi cháu,-và mặc dầu kinh tởm, cậu còn làm ra vẻ định hôn tay tên Đức. Tên này dịu lại và nói:
-Thôi cút đi, đồ ngu! Dắt cái của nợ này và xéo đi. Cấm không được đi đêm nữa, kẻo chúng ông treo cổ.
Nó huých đầu gối vào đít cậu bé và lấy báng súng quật vào lưng con ngựa rồi biến vào bóng tối.
Lúc đó, Va-nha thận trọng bắt chước tiếng vịt kêu để báo hiệu hết nguy hiểm. Các chiến sĩ lại tiếp tục tiến.
 
13
Sau đó, công việc tiến hành còn thuận lợi hơn.
Trời sáng. Ban ngày trôi qua, không gặp cản trở. Các chiến sĩ trinh sát tin rằng thực sự Va-nha thông thuộc địa điểm. Cậu bé thực hiện nhiệm vụ người dẫn đường một cách chính xác và nhanh. Trong khi Bi-đên-cô và Goóc-bu-nốp ngồi ẩn trong một đống tơm đã cũ hoặc trong một bụi cây thì Va-nha dắt ngựa tiến lên phía trước, quan sát địa điểm rồi quay lại báo hiệu đường thông.
Làm như vậy tiện và nhanh hơn nhiều.
Các chiến sĩ trinh sát không bỉ phí thời gian trong lúc chờ đợi Va-nha. Họ đã lên bản đồ tất cả những số liệu trinh sát được trên đường. Tài liệu sưu tầm lần này đặc biệt phong phú. Khu vực dành cho tiểu đoàn Ê-na-ki-ép chiếm lĩnh được trinh sát kỹ càng và khôn khéo theo suốt chiều dài phòng ngự của quân Đức. Chỉ còn lại một con sông nhỏ bùn lầy cần phải tìm hiểu để chọn chỗ pháo lội qua cho kín đáo. Việc này có tầm quan trọng đặc biệt khi chọc thủng tuyến phòng ngự của Đức. Đại úy Ê-na-ki-ép sẽ có thể, trong khoảnh khắc cần thiết, không phí thời giờ trinh sát, điều thẳng một mạch các khẩu pháo của mình nhanh lên phía trước và đánh vào các đạo quân Đức hầu như từ sau lưng chúng.
Nhưng ban ngày không có khả năng thực hiện công tác trinh sát phức tạp này, nhất là tìm chỗ cạn thích hợp, thăm dò lòng sông và đo chiều sâu. Cần phải đợi đến đêm và Goóc-bu-nốp, tổ trưởng, ra lệnh trú chân tại bãi cỏ nổi ở giữa đầm để trước khi trời sáng, đến được bờ sông và lợi dụng sương mù lúc bình minh, quan sát bờ sông, tìm chỗ cạn, đo chiều sâu và đưa lên bản đồ. Sau đó có thể quay về đơn vị.
Họ đã thực hiện đúng như vậy, đã trú đêm trên bãi cỏ và trước lúc bình minh hai tiếng, Va-nha dắt con ngựa Xéc-cô đi trước như thường lệ.
Bi-đên-cô và Goóc-bu-nốp nằm đợi. Vì con sông không xa, họ tính rằng chậm lắm sau một tiếng Va-nha sẽ trở về.
Nhưng một tiếng rồi hai, ba tiếng trôi qua, Va-nha vẫn không thấy về. Chỉ một mình Xéc-cô quay lại. Các chiến sĩ trinh sát hiểu ngay rằng Va-nha đã gặp tai nạn, cần phải cứu.
Bi-đên-cô và Goóc-bu-nốp nằm im lặng nhìn nhau một lúc. Tuy không nói mà họ vẫn hiểu nhau vì sự việc quá đơn giản, rõ ràng. Phải đi tìm bé chăn bò ngay, mặc dầu nguy hiểm đến tính mạng.
Với tư cách tổ trưởng, Goóc-bu-nốp lấy tay ra hiệu cho Bi-đên-cô theo mình. Họ thận trọng, nhẹ nhàng bò trên bãi cỏ từ mỏm đất này đến mỏm đất khác, chốc chốc lại dừng để quan sát.
May cho họ là sương mù vẫn chưa tan mà trái lại càng dày đặc. Sương mù là là bay trên đầm lầy làm cho địa hình địa vật mờ mờ ảo ảo. Nhưng giả thử không có sương mù thì cũng khó phát hiện ra họ. Địa điểm này hẻo lánh, có vẻ như không qua lại được.
Bỗng Bi-đên-cô và Goóc-bu-nốp nghe thấ đằng sang có tiếng lội bùn. Họ quay lại nhìn thấy con Xéc-cô khập khiễng theo sau. Trong sương mù trông nó to lớn và như bóng ma. Bi-đên-cô nở một nụ cười cởi mở nói:
-Quay lại, Xéc-cô! Khéo không lộ chúng tao. Nghe không, anh bạn? Quay lại! Đi!
Nhưng Xéc-cô vẫn tiếp tục bước theo, đầu cúi xuống buồn bã, mắt nhìn lên, để lộ cái màng trắng đục. Hình như nó muốn nói: “Đừng bỏ rơi tôi, các bạn ơi. Giữa bãi cỏ ướt thối, trong sương mù ghê rợn này, tôi sống một mình sao nổi! Các bạn thương lấy con ngựa già này!”.
Các chiến sĩ cũng hiểu vậy. Dù có tiếc con vật hiền lành cũng không thể làm thế nào khác được. Con ngựa sẽ làm lộ mục tiêu và gây tai họa cho họ. Bi-đên-cô bò lại gần Xéc-cô, thở dài nói:
-Ôi, con vật đáng thương!
Anh lấy khúc dây da ở trong túi và nhanh nhẹn buộc đôi cẳng yếu đuối và sưng to của con ngựa lại với nhau.
-Chúng tao cũng tiếc mày lắm. Nhưng làm thế nào được? Tạm thời hãy quanh quẩn ở đây, ăn cho no. Chúng ta có thể còn gặp nhau.
 
Hai chiến sĩ trinh sát lại bò đi.
Con Xéc-cô cố chạy theo nhưng dây buộc chặt đến nỗi không bước đi được. Nó bèn cố lấy sức nhảy nhưng yếu quá: chỉ mới đạp hai chân sau một chút thì lập tức phải dừng lại, thở hổn hển, cái bụng xương xẩu phập phồng.
Hai chiến sĩ bò theo hướng đi của Va-nha lúc ban đêm. Vết chân không của cậu bé còn in khá rõ trên đất lầy ở nhiều nơi.
Bi-đên-cô nhìn vết chân, nghĩ ngợi: “Quả thật, bọn mình bậy quá! Đến bây giờ vẫn chưa kiếm được cho thằng bé đôi giày. Thôi được, tìm ra nó, quay về đơn vị, bọn mình sẽ tảo đầy đủ quân phục, sẽ chữa cho vừa. Cậu chàng đẹp trai phải biết”!
Đến bờ đầm thì mất vết chân. Họ phải dùng địa bàn để hướng về phía con sông. Xung quanh vẫn mù sương, vắng vẻ. Quả thật con sông không xa.
Chẳng mấy lúc, các chiến sĩ nhìn thấy bãi sông. Lau sậy mọc lên rậm rạp ở một vài chỗ sát mặt nước. Bên kia sông, bờ cao hơn và một cánh rừng trải ra xanh thẫm.
Goóc-bu-nốp và bi nằm lại hồi lâu để nghiên cứu kỹ càng địa điểm. Bờ sông tuy vẫn vắng tanh nhưng có vẻ đáng ngại. Nhiều vết lốp xe tải còn hằn lên trên mặt bãi cỏ ướt và xanh rờn. Vết còn mới và hằn đen như mực. Hẳn xe vừa đi chưa lâu, chắc là đã chở gỗ đến đây vì thấy rải rác những đống vụn gỗ còn tươi trên bãi cỏ.
Hình như gần đâu đây có một cái cầu vừa xây dựng xong. Cầu nhất định ở chỗ này, sở dĩ không thấy được vì lau sậy che mất. Mà có cầu, tất nhiên có lính gác. Vậy phải đề phòng. Còn cánh rừng bên kia bờ, rõ ràng là nơi có một đơn vị hoặc các ban tham mưu đóng quân: ở một vài nơi thấy khói bốc lên và tại một khoảng trống trong rừng, giữa các gốc cây, thấp thoáng một công sự che mạng ngụy trang màu xanh cẩn thận. Đó có thể là hầm pháo, một đài quan sát hoặc con trạch nằm trên một chiến hào bộ binh đào sâu.
Ở đây, rõ ràng bọn Đức phòng ngự kỹ và chuẩn bị chiến đấu lâu dài.
Đó là một phát hiện rất quan trọng. Các chiến sĩ chăm chú quan sát địa hình, cố nhớ hết chi tiết để sau này khi có điều kiện, sẽ dùng trí nhớ đưa lên bản đồ.
Dù sao đi nữa, không thể nằm đây lâu được. Phải nhanh chóng rút lui. Song họ chần chừ. Chẳng lẽ bỏ mặc bạn chiến đấu trong cơn nguy hiểm, chẳng lẽ bỏ Va-nha, trở về đơn vị! Nhưng làm thế nào bây giờ?
Họ đã đến tận con sông, nơi mà cậu bé đã đến. Họ đã trông thấy con sông. Rồi sao nữa?
Vết tích cậu bé đã biến mất. Nếu thực quả bọn Đức bắt được cậu, tất nhiên chúng đã mang đến ban chỉ huy rồi. Mặt khác, họ nghĩ, chúng cần gì phải bắt giữ một đứa bé nông thôn tiều tụy dắt con ngựa ốm? Những em bé Liên-xô đói rách lang thang trong vùng đóng quân của chúng có ít đâu? Chúng không thể bắt hết được. Vả lại, chúng có đủ người và chỗ đâu để giam giữ và trông coi? Bây giờ chúng không thể làm được việc đó vì lo cho thân mình chẳng nổi. Không, không lẽ gì bọn Đức bắt Va-nha. Giả thử có bắt nữa, cũng chẳng có chứng cớ kết tội thằng bé? Hoàn toàn không có chứng cớ. Chỉ có một cái túi dết thủng đựng quyển sách vỡ lòng cũ rách. Thế thôi.
Vậy thì thằng bé biến đâu mất? Tại sao con gựa quay về một mình? Hay là Va-nha chán, không chịu được, bỏ họ mà đi? Điều này càng vô lý. Va-nha không phải thằng bé như vậy!
Chắc là thằng bé đã đến bờ sông, quay trở về thì lạc đường… Va-nha mà lạc đường! Nghĩ thế thì thật khôi hài.
Thời gian vẫn trôi. Phải tìm cách giải quyết.
Bi-đên-cô và Goóc-bu-nốp nằm trong đám cây sồi non, lá vàng chưa rụng. Họ nằm và suy nghĩ căng thẳng.
Bỗng Bi-đên-cô nhìn thấy trên mặt đất, ngay trước mắt mình, một vật khiến anh suýt kêu lên. Đó là cái bút chì hóa học, chính cái bút mang nhãn hiệu “Khimugô” mà Bi-đên-cô mới tặng Va-nha và cậu bé thường xuyên để trong túi dết mang theo. Bi-đên-cô thì thầm gọi, đưa mắt về phía cái bút:
-Cu-dơ-ma!
Goóc-bu-nốp nhìn theo và chớp mắt. Ngay tức khắc, các chiến sĩ nhận thấy khắp nơi vô số những chi tiết nhỏ, rất nhỏ nhặt mà trước đây họ không để ý vì chúng ở quá gần.
Họ nhìn thấy một túm lông ngựa trắng mắc ở cành cây gẫy. Họ trông thấy một điếu thuốc Đức hút dở dẫm trên đất. Họ trông thấy cả một đám lá rụng từ một vụi cây gẫy nát. Cuối cùng, ở đằng xa một chút, họ nhìn thấy cái roi của Va-nha.
Mặt đất xung quanh bị dẫm nát, hằn những vết giày đinh.
Cảnh tượng ghê sợ đã xảy ra cách đây vài tiếng đồng hồ bỗng hiện lên trước mắt họ.
Bây giờ thật đã rõ ràng.
Họ đã chọn đúng hướng. Chính Va-nha đã dắt ngựa đi theo hướng này. Cậu bé đã đến tại bụi cây này. Chính ở nơi đây, nơi mà hiện nay Goóc-bu-nốp và Bi-đên-cô đang nằm, Va-nha đã bị bọn Đức bắt. Qua các dấu vết nhận xét được thì thấy chúng đã rình bắt và giằng co với cậu.
Tất cả những dấu vết chứng tỏ cậu bé kháng cự quyết liệt: mặt đất bị séo nát, bụi cây gẫy, bút chì văng ra khỏi túi dết, cái thừng bị cứt, điếu thuốc lá hút dở. Sau đó chúng lôi cậu đi. Lúc này các chiến sĩ đã nhìn thấy rõ những dấu vết cho biết chúng đã lôi Va-nha đi về phía nào.
Vết chân đi về hướng những khóm sậy, nơi mà Bi-đên-cô và Goóc-bu-nốp đoán là có cái cầu. Thế nghĩa là bọn Đức dẫn cậu bé đi qua cầu, sang bờ bên kia, vào cánh rừng, về ban tham mưu hoặc ban chỉ huy.
Các chiến sĩ bèn trao đổi với nhau cách giải quyết.
Họ trao đổi nhanh, gọn nhưng sâu và toàn diện, theo kiểu trinh sát pháo binh. Sau đó chỉ cần quyết định.
Về thâm niên, thành tích, cấp bậc, Bi-đên-cô và Goóc-bu-nốp ngang nhau. Nhưng trong chuyến trinh sát này, Goóc-bu-nốp được chỉ định làm tổ trưởng. Quyền quyết định tối hậu thuộc về anh và coi như mệnh lệnh, không bàn cãi.
Trước khi quyết định, Goóc-bu-nốp nghĩ rất kỹ. Bi-đên-cô tin vào bạn, biết trước rằng giải pháp anh ta sẽ đưa ra là tốt nhất. Nhưng khi Goóc-bu-nốp phát biểu thì Bi-đên-cô lại hoàn toàn bối rối. Anh không ngờ kết quả lại có thể như thế. Goóc-bu-nốp kiên quyết nói:
-Va-xi-li này, hoàn cảnh bắt buộc chúng ta chia tay nhau. Hiểu chưa? Cậu quay về đơn vị. Mình ở lại đây.
-Thế nào? Cậu bảo gì?-Bi-đên-cô hỏi lại.
-Mình ra lệnh cho cậu trở về đơn vị. Mình ở lại.
-Cu-dơ-ma!-Bi-đên-cô hầu như kêu lên.
-Không nói nữa!-Goóc-bu-nốp cau mày, nói cụt lủn. Bi-đên-cô hiểu ngay rằng câu chuyện cắt đứt. Dù sao anh cũng cố gắng hỏi thêm:
-Thế bé chăn bò?
-Mình ở lại đây để cứu nó.
-Còn mình?
-Cậu về đơn vị.
-Cu-dơ-nét-xốp, mình đề nghị thế này nhé: chúng mình cùng ở lại đây.
-Không nói nữa!-Goóc-bu-nốp chặn đứng.
-Không có bé chăn bò, mình trở về thế nào được?-Bi-đên-cô khẩn koản.-Không, cậu ạ, không được! Mất đầu thì mất, mình phải cứu. Sao lại thế được? Mình coi nó như em ruột!…
-Chúng mình đều coi nó như em ruột. Nhưng nhiệm vụ trước hết. Cậu có biết chúng mình đang làm gì không? Phục vụ Tổ quốc. Cậu biết đấy. Về đơn vị đi. Mình ở lại.
-Mình không về,-Bi-đên-cô cau mày, bực tức.
-Mình ra lệnh!-Goóc-bu-nốp nói.-Nếu không tuân theo, mình có quyền đối xử với cậu. Hiểu chưa?…-Bỗng anh dịu giọng:-Này Va-xia, chẳng lẽ cậu không hiểu hay sao? Mình thông cảm với cậu, nhưng làm sao được! Tiểu đoàn đang chờ tài liệu của bọn mình. Không lẽ để các đồng chí nù tịt, không biết đường đi hay sao? Cậu đừng vớ vẩn. Mình ở lại, cậu quay về đơn vị, nộp báo cáo. Cẩn thân, về cho an toàn. Cảnh giác, đi cho khéo, đừng có đâm đầu vào bọn Đức. Mình tin tưởng hoàn toàn ở cậu. Cậu phải báo cáo tình hình với ban chỉ huy. Hiểu chứ?
-Hiểu,-Bi-đên-cô nghiến răng nói.
 
Đối với anh không cần phải nói thêm nữa. Ở địa vị Goóc-bu-nốp, anh cũng làm đúng như vậy. Anh hiểu rằng trong hai người, một phải có nhiệm vụ đưa tài liệu trinh sát về đơn vị. Anh cũng hiểu tại sao Goóc-bu-nốp cử anh về. Là tổ trưởng, anh ta phải chịu trách nhiệm về mọi tổ viên. Chẳng lẽ anh ta lại về đơn vị mà chưa tìm hết cách cứu bé chăn bò? Giao cho Bi-đên-cô tấm bản đồ có ghi các mục tiêu, Goóc-bu-nốp nói:
-Đi đi!
-Cậu ở lại bình yên!
-Cố gắng nhe!
-Yên trí!
Chẳng nói, chẳng rằng, Bi-đên-cô bò đi. Cuối cùng anh biến mất, bóng dáng hòa lẫn với mặt đất màu nâu, bao phủ sương mù.
Goóc-bu-nốp nằm lại một mình.
Anh suy nghĩ rất lung để tìm hiểu xem sự thể thế nào: “Bé chăn bò gặp những chuyện gì? Nhưng thôi,-anh tự an ủi,-Nó bị bọn Đức bắt giữ chứ sao! Bị dẫn đến ban chỉ huy hoặc ban tham mưu, rồi bị hỏi cung. Khai thác gì được ở nó? Chẳng có chứng cớ gì để lộ cả. Nó chỉ là một thằng bé con. Giữ rồi lại thả thôi. Chỉ cần chú ý nhìn thấy nó lúc được thả và cùng với nó trở về đơn vị”.
An ủi mình như vậy, nhưng trong thâm tâm Goóc-bu-nốp cảm thấy sự việc không hoàn toàn đơn giản như thế mà nguy hiểm hơn nhiều.
Có điều gì đó Goóc-bu-nốp không biết, không đoán ra được. Nhưng điều gì?
Quả thực, Goóc-bu-nốp không biết một việc. Nếu biết, anh đã rợn tóc gáy. Anh chưa biết hết tính tình của Va-nha, chưa rõ hết trí khôn, sức tưởng tượng và lòng tự hào trong sáng trẻ con của cậu bé, do đó, suýt nữa cậu nguy đến tính mạng.
Cậu bé cho rằng làm nhiệm vụ dẫn đường chưa đủ. Cậu biết nhiệm vụ dẫn đường là vinh quang, quan trọng. Nhưng cậu vẫn cho là chưa đủ. Quá nhiệt tình, ham làm việc lớn, cậu muốn được nổi danh, làm cho mọi người ngạc nhiên.
Trước khi lên đường, Va-nha bí mật kiếm được một cái địa bàn. Về sau vỡ lẽ là cậu đã thủ được của một trinh sát viên. Thực ra, cậu lén cầm địa bàn, định sau chuyến đi sẽ để lại chỗ cũ. Cậu không coi như thế là làm bậy vì anh trinh sát viên kia thường để cậu đeo địa bàn, hơn nữa còn giải thích cách dùng. Va-nha đã có bút chì và cậu đã quyết định dùng quyển sách vỡ lòng thay cho sổ tay.
Tự thiết bị cho mình đầy đủ như vậy, bé chăn bò bèn hành động như một trinh sát viên thực thụ.
Trong lúc trinh sát, khi chờ đợi Va-nha tiến lên phía trước, Goóc-bu-nốp và Bi-đên-cô không để ý xem cậu bé làm gì. Họ nghĩ rằng cậu bé chỉ đơn thuần dắt ngựa đi, quan sát địa điểm rồi quay lại báo cáo đường thông hay không.
Va-nha không chỉ làm riêng những việc đó. Bắt chước các chiến sĩ trinh sát, cậu tự lực tiến hành công tác quan sát. Mắm môi mắm lợi, cau mặt cau mày, cậu bé xoay xở với cái địa bàn. Trên lề của trang sách vỡ lòng, cậu ghi bằng những nét ngoằn ngoèo như gà bới những phương hướng và mục tiêu chỉ mình cậu đọc nổi. Cuối cùng cậu còn vẽ bình độ địa điểm. Cậu vẽ những ký hiệu đường sá, rừng cậy, sông ngòi, đàm ao một cách vụng về nhưng khá đúng.
Chính vì công tác này, cậu bị đội tuần tra Đức bắt quả tang, khi ngồi trong bụi cây sồi, dùng địa bàn và sách vỡ lòng vẽ địa hình con sông với cái cầu mới đã phát hiện được trong khóm lau sậy.
Sự việc xảy ra về sau như thế nào cũng dễ hiểu.
Va-nha chống cự kịch liệt song cậu bé làm sao địch lại hai tên lính Đức trong đội tuần tra?
Trói quặt tay ra sau lưng, chúng thúc Va-nha bằng báng súng, dẫn cậu qua cầu mới vào rừng.
Tại đây, chúng đẩy cậu vào trong một hầm sâu, tối và khóa chặt cửa lại.
 
14

Sau đó ít lâu, một tên lính đến dẫn Va-nha tới một hầm khác để hỏi cung.
Một lưới ngụy trang giăng ra và mắc tại các thân cây thông để che cái hầm này. Hầm rộng, ấm và có điện. Tại một góc, một máy thu thanh đang thì thầm.
Giữa hầm, một người đàn ông và một người đàn bà ngồi cạnh nhau trước cái bàn gỗ thông, chân đóng xuống nền.
Người đàn ông là một tên sĩ quan Đức vận một cái áo ngoài bó chặt, có cổ rộng bằng nhung đen bẻ ra, thêu chỉ bạc làm cho hắn giống người phục vụ xe tang. Va-nha không nhìn thấy mặt tên Đức vì hắn ta lấy tay ôm mặt, để lộ một cái nhẫn cưới mảnh và những ngón tay bẩn thỉu. Va-nha chỉ trông thấy cái cổ gầy, đỏ như gà chọi, bộ tóc vàng và cái tai bẹt, chắc nịch.
Tên sĩ quan có giáng điệu một người vô cùng mệt mỏi vì thiếu ngủ và bị ánh sáng chói lọi làm khó chịu. Chiếc mũ bằng dạ đen có vành trên rộng và chìa ra, có cái lưỡi trai sơn bóng hình cái xẻng treo ở đinh đằng sau hắn.
Còn đối với mụ đàn bà, Va-nha không thể hiểu được mụ là ai, mặc dù cậu bé đã thầm gọi hắn là “bà giáo”.
Mụ mặc một cái áo vét da chồn đã cũ có đính hoa bằng vải ở cổ, cái váy sợi đan đã sờn ở nơi đầu gối, chân đi đôi ủng cao-xu màu sám. Bộ tóc trắng uốn thành những vòng nhỏ đâm tua tủa trên một cái trán cao và thót, trên sống mũi dày còn thấy hằn đỏ vết gọng kính mà mụ đang cầm trong tay và lau bằng mảnh da hươu. Mụ co đôi mắt lồi màu xanh nhạt, hau háu.
Va-nha bị dẫn đến trước bàn. Cậu nhìn ngay thấy trên bàn có cái địa bàn và quyển sách vỡ lòng mở ra đúng ở chỗ cậu định vẽ bình độ địa hình có con sông, cái cầu và cánh rừng, chính cánh rừng mà lúc này cậu bé đang ở.
Mụ đàn bà vội đeo kính, cặp kính gọng vàng, có đôi mắt kính dày, xỉ mũi vào chiếc khăn tay rua và nói bằng một giọng khướu học nói, cố gắng làm đúng tiếng Nga:
-Lại gần đây, em bé, và trả lời tất cả câu hỏi của tôi. Em bé hiểu tôi chưa? Tôi sẽ hỏi, em bé sẽ trả lời? Phải không? Đồng ý không?
Nhưng Va-nha không rõ mụ nói gì. Tai cậu còn ù vì giằng co với bọn lính. Mắt cậu còn tối xầm. Tay bị trói sau lưng còn đọng máu và rất đau ở khuỷu.
Em bé đau khổ lắm à?
Va-nha im lặng.
-Cởi trói cho thằng bé,-mụ ta nói nhanh bằng tiếng Đức rồi thêm bằng tiếng Nga, miệng điểm nụ cười, để lộ chiếc răng vàng:-Cởi trói cho em bé. Em hứa sẽ sữa chữa. Em sẽ không đánh nhau với lính và cắn họ. Em chỉ nổi nóng lên thôi. Phải không em?
 
Va-nha được cởi trói nhưng vẫn im lặng, thỉnh thoảng liếc nhanh nhìn chung quanh.
Mụ người Đức tiếp tục dụ dỗ, tiếp tục hé chiếc răng vàng:
-Bây giờ em bé lại gần chúng tôi đây. Đừng sợ. Chúng tôi chỉ hỏi, em chỉ việc trả lời. Phải không? Thế em nói đi: em là ai, tên gì, ở đâu, bố mẹ là ai, sao lại đến vùng này?
Va-nha đứng buồn thiu, mắt nhìn xuống.
-Tôi không biết gì cả. Bà muốn gì? Tôi không đụng chạm đến bà,-cậu sụt sịt nói.-Tôi đi tìm ngựa. Tìm mãi mới thấy. Suốt ngày đêm, lang thang, lạc đường. Vừa ngồi nghỉ thì lính của bà đánh tôi. Quyền gì mà đánh?
-Này em bé, không được nói hỗn. Các người lính thi hành nhiệm vụ và cũng nóng lên một chút, thế thôi. Chúng tôi chỉ muốn hỏi em là ai, ở đâu, bố mẹ làm gì?
-Tôi mồ côi.
-Ôi! Em bé đáng thương. Bố mẹ em chết rồi phải không?
-Bố mẹ tôi đáng nhẽ không chết. Người ta giết mất. Chính người của bà giết,-Va-nha nói, miệng nở một nụ cười ghê gớm, cứng đờ và nhìn chòng chọc vài cái sống mũi dày lốm đốm những giọt mồ hôi của mụ người Đức.
Mụ người Đức lúng túng và lấy khăn tay lau mũi. Mụ nói nhanh:
-Phải rồi. Chiến tranh là như vậy. Tình cảnh đáng buồn nhưng không nên buồn. Chẳng ai có tội lỗi cả. Đâu đâu cũng có nhiều trẻ mồ côi. Em bé thật đáng thương! Nhưng em đừng buồn. Chúng tôi sẽ cho em đi học, nuôi nấng em. Chúng tôi sẽ cho em vào nhà trẻ, nhà trẻ tốt. Rồi có thể em được đi học. Em sẽ có nghề để sống. Em muốn không?
-Bà Mu-le,-tên sĩ quan bực mình quàng quạc nói bằng tiếng Đức, nóng ruột, ngón tay gõ nhịp vào cái trán đầy tàn hương,-thôi đừng nói loanh quanh nữa. Chẳng ai thú vị gì về cái chuyện đó. Tôi muốn biết thằng khốn nạn này lấy địa bàn ở đâu và ai sai nó đến vẽ sơ đồ vùng phòng ngự của chúng tôi.
-Ngài thiếu tá, chờ một tí. Ngài không hiểu đầu óc thằng bé Nga, còn tô thì hiểu rất rõ. Ngài cứ tin ở tôi. Lúc đầu tôi đi vào tình cảm nó, gây lòng tin, sau đó nói hết. Ngài cứ tin tôi. Tôi đã sống mười năm với cái dân này.
-Thôi được. Nhưng đừng quá loanh quanh. Tôi chán lắm rồi. Bà đi vào tình cảm nó nhanh lên, làm sao thằng chết tiệt khai được là ai giao cho nó địa bàn và dạy nó vẽ sơ đồ mục tiêu quân sự của chúng tôi. Bà hành động đi!
Mụ người Đức lại nói bằng tiếng Nga, kiên nhẫn mỉm cười và để hé chiếc răng vàng:
-Em thấy đấy, tôi thương yêu em và mong cho em điều tốt. Bố mẹ tôi sống ở Nga lâu và chính tôi cũng ở đây hơn mười năm rồi. Em thấy tôi nói tiếng Nga khá không? Khá hơn em nhiều. Tôi hoàn toàn là người Nga rồi. Em có thể tin cậy ở tôi. Em phải cởi mở với tôi như với cô bác ruột của mình. Đừng sợ. Cứ gọi tôi là cô, tôi thích lắm. Thế em nói đi: ai giao cho em địa bàn?
 
-Tôi bắt được.
-Ái chà! Nói dối người cô thương yêu mình như vậy không tốt. Em phải hiểu rằng nói dối là hạ phẩm chất con người. Thế em nghĩ một lần nữa đi và nói ai giao cho em địa bàn?
-Tôi nhặt được,-Va-nha bướng bỉnh nhắc lại.
-Có thể nghĩ là ở đây địa bàn mọc ở dưới đất lên như nấm mọc hay sao?
-Người nào đó đánh rơi, tôi nhặt được.
-Ai đánh rơi?
-Người lính nào đó.
-Ở đây chỉ có lính Đức. Lính Đức có địa bàn Đức. Còn địa bàn này kiểu Nga. Em cãi thế nào được bây giờ?
Va-nha im lặng, thấy tức mình vì đã hớ.
-Nào, sao lại thế?
-Tôi không biết.
-Em không biết? Được lắm. Tôi hiểu. Em không muốn khai những người đã giao cho em địa bàn. Em biết im lặng. Như vậy là trung thành. Nhưng những người giao cho em địa bàn thì không tốt đâu. Họ là những người rất xấu. Họ là những người phạm tội. Em có biết những người phạm tội bị xử như thế nào không? Em chắc không muốn là kẻ phạm tội phải không? Nói đi, ai giao cho em địa bàn?
-Không ai giao.
-Sao lại thế?
-Tôi nhặt được.
-Thôi. Tôi tin em. Cho là em nói đúng. Vậy thì ai dạy em vẽ đẹp thế?
-Vẽ gì? Tôi chẳng hiểu bà hỏi gì-Va-nha ngớ ngẩn nói, lấy tay áo quệt mũi.
-Lại gần đây. Gần nữa. Đừng sợ. Tôi không đánh đâu. Quyển sâch này của ai?
-Sách nào,-Va-nha mếu máo nói:-Bà hỏi tôi gì, tôi không hiểu!
-Quyển sách của ai?-Mụ người Đức hỏi, đã mất bình tĩnh.
-Quyển sách vỡ lòng ấy à?
-Phải, quyển sách vỡ lòng. Của ai?
-Của tôi.
-Ai vẽ lên đây?
-Vẽ là thế nào?
-Chà thằng bé, đừng giả vờ! Ai vẽ sơ đồ này?
-Sơ đồ nào?-Va-nha lại mếu.-Tôi chẳng biết sơ đồ nào của bà cả. Tôi mất ngựa. Ngày đêm tìm. Thả tôi đi, bà! Tôi có làm gì bà đâu?
-Lại đây, tao bảo!-mụ đàn bà Đức hét lên và đằng sai cặp kính, mắt mụ ta dữ tợn như diều hâu.
Mụ nắm lấy vai cậu bé, ngón tay như gọng kìm, đẩy cậu lại bàn và cúi đầu xuống quyển sách:
-Ai vẽ cái này?
 
Va-nha chẳng biết trả lời ra sao. Chứng cớ đã rành rành. Im lặng, mặt tái xanh, Va-nha nhìn vào trang giấy sờn rách của quyển vỡ lòng, ở đó trên những giòng chữ mẫu và tranh ảnh có sơ đồ con sông, cái cầu và chỗ cạn vẽ bằng bút chì hóa học, vụng về nhưng khá chính xác.
Đặc biệt Va-nha tự hào là đã vẽ được những chỗ cạn. Chính cậu tự thăm dò rồi vẽ đúng như các chiến sĩ vẽ. Bên cạnh mỗi chỗ cạn có ghi một vạch ngang đậm, trên viết cẩn thận con số I chỉ chiều sâu là một mét, còn dưới vạch là chữ “C” chỉ lòng sông cứng.
Va-nha hiểu rằng không thể chối được và thấy nguy.
-Ai vẽ cái này?-mụ người Đức nhắc lại bằng một giọng run run như một dây đàn căng thẳng.
-Tôi không biết,-Va-nha nói.
-Mày không biết à?-mụ nói và mặt mụ lúc đầu nổi lên những vết đỏ, sau toàn mặt đỏ xẫm như quả bồ quân.
Bỗng mục nhanh như chớp lấy ngón tay sắt của mình tóm hai tai cậu bé ấn mạnh, làm cho mặt cậu ngửa lên:
-Há miệng. Tao bảo! Há miệng ngay, thè lưỡi ra!
Va-nha hiểu ngay và cắn răng lại. Tức thì mụ Đức kẹp cậu ta vào hai đầu gối khỏe một cách lạ thường, lấy hai ngón tay trỏ thọc vào miệng cậu bé rồi hình như dùng móc sắt, căng miệng cậu ra.
Va-nha đau đớn kêu lên và lưỡi cậu thoáng lộ ra. Nhìn được, mụ Đức vui vẻ nói:
-Bây giờ chúng tao biết rồi!
Lưỡi Va-nha thấm toàn màu tím vì trong khi vẽ, cậu đã liếm kỹ càng đầu bút chì để vẽ cho rõ.
Khinh bỉ chùi những ngón tay chuối mắn, đở ửng vào cái váy, mụ đàn bà Đức nói:
-Được rồi, tao hỏi mày, mày phải nói. Phải không? Ai dạy mày vẽ sơ đồ trác đạc, chúng ở đâu, làm thế nào tìm ra? Mày hiểu không? Sẽ có ba người lính có kinh nghiệm theo mày, mày phải chỉ đường.
-Tôi không biết bà hỏi tôi cái gì,-Va-nha nói.
Cậu bé đứng sát cái bàn. Cậu cắn mạnh vào môi, đầu cúi xuống. Nước mắt cậu tuôn ra, rơi xuống sơ đồ vẽ trên khoảng trống của trang sách, cạnh cái tranh vẽ hình một cái búa rìu bổ xuống khúc gỗ và giòng chữ mẫu viết trong ô kẻ nghiêng: “Chúng ta không là nô lệ”.
Mụ người Đức nói khẽ, hơi thở ra đằng mũi:
-Nói đi!
-Tôi không nói,-Va-nha nói khẽ hơn.
Ngay lúc đó cậu bé thấy bàn tay của tên sĩ quan, điểm chiếc nhẫn cưới mảnh ở ngón, từ từ hạ xuống để lộ bộ mặt tàn hương, ốm yếu, có cái mũi đỏ và cái cằm thót như của già bà.
Va-nha không kịp xem mắt của tên sĩ quan như thế nào, chỉ thấy nó nẩy lửa và một cái bạt tai trời giáng đã lăng cậu vào tường.
Gáy Va-nha đập vào khúc gỗ nhưng chưa kịp ngã thì lập tức lại bị lăng mạnh về phía bàn rồi bị một cái bạt tai thứ hai cũng ghê người như cái thứ nhất. Rồi chúng vẫn không để cậu ngã. Cậu vẫn đứng, nghiên ngả trước cái bàn và bây giờ thì máu mũi của cậu nhỏ giọt xuống quyển sách vỡ lòng, thấm đỏ giòng chữ: “Chúng ta không là nô lệ”.
Trước mắt cậu bé chỉ thấy bay đi bay lại những chấm trắng và chấm đen chói lọi cặp kè nhau. Tai cậu ù lên và có cảm tưởng đứng trong một cái nồi hơi rỗng, bên ngoài có ai lấy búa đập thình thình. Rồi Va-nha nghe thấy một giọng nói rất khẽ và xa xôi:
-Bây giờ mày nói chứ?
-Bà, đừng đánh nữa!-cậu bé hét lên và hoảng sợ lấy tay ôm đầu.
-Bây giờ mày nói chứ?-giọng nói xa xôi dịu dàng nhắc lại.
-Tôi không nói,-cậu bé khó khăn hé miệng thì thào.
Lại một cái bạt tai nữa quẳng cậu vào tường và sau đó Va-nha không biết gì nữa. Cậu không biết được là có hai tên lính lôi cậu ra khỏi hầm và con đàn bà Đức hét theo:
-Coi chừng! Mày sẽ phải khai hết sau khi nhịn ăn nhịn uống ba ngày.
 
Back
Top