Cửu vạn - tiểu thuyết của Vũ Đức Tân

CỬU VẠN

Tiểu thuyết của VŨ ĐỨC TÂN

NHÀ XUẤT BẢN HÀ NỘI 1993


Chịu trách nhiệm xuất bản:
HOÀNG NGỌC HÀ

Biên tập:
Trình bày bìa:
Sửa bản in:

In 500 cuốn khổ 13 x 19cm. Tại ..................
Giấy phép xuất bản:
In xong và nộp lưu chiểu tháng ... năm 2007.

Những cảnh tượng được chứng kiến ở Đông Âu giúp tôi viết cuốn sách này. Chỉ hy vọng nó diễn tả được vài nét chân thực về những con người Hà Nội đã ở Ba Lan và Liên Xô vào thời điểm trước khi Liên Xô tan vỡ.

Vũ Đức Tân
 
Trong cái nóng mùa hè oi ả, những cơn gió nóng khô quất vào các tán lá làm tơi tả, xác xơ những cành cây phủ đầy bụi, vẫn nghe tiếng bầy ve kêu râm ran các đường phố. Tiếng chân người, tiếng xe đạp, xích lô, xe máy, ô tô dội vào đôi tai mệt mỏi của Bính những âm thanh hỗn độn, xô bồ. Bánh trước của chiếc xe đạp đi-a-măng cũ kỹ, mòn vẹt thỉnh thoảng bị má phanh chạm phải lại rít lên khe khẽ. Bính nhăn mặt. Tuy đã quen với tật của chiếc xe nhưng anh vẫn khó chịu. Tuần nào cũng phải vá xe hai, ba bận. Chiếc xăm loang lổ những mảnh vá màu đen, màu đỏ. Bộ đồ chữa xe lúc nào cũng kè kè trên khung sắt luôn có vài mảnh vá đánh sẵn và hộp nhựa “gin”.

Làm nghề “cửu vạn” nước khoáng cho các hàng nước ít lâu, Bính cũng tích lũy được ít kinh nghiệm gìn giữ cái xe khổ sở của mình. Lúc ấy, mới thông cảm với cánh xe thồ, thì ra, cánh xe thồ ít để ý đến bộ mã của xe cũng có cái lý của nó. Cần nhất là phải có cái khung cứng và bộ lốp bền, chắc. Nhờ có cái xe cà khổå xích đã rão, Bính có thể kiếm ăn bằng cách nhặt từng hào một, âu cũng là một cách xửû thế của cánh trí thức trong thời buổi khó khăn này.

Anh rẽ qua quán bà Lộc, để năm chai nước cuối cùng. Bà là người đàn bà cổ điển từ thế kỷ trước. Với nếp trật tự cũ kỹ: nào cái ấm tích trong giỏ với nắp ấm bông màu nâu ngả sang đen, nào mấy cái chén hạt mít màu son đen lúc nào cũng sạch sẽ, ngay ngắn trên khay, vài cái lọ thuỷ tinh xanh mộc nhìn thấy cả bọt thuỷ tinh lấm tấm đựng mứt lạc, kẹo vừng, cái điếu cày và ống đóm mỏng tanh-hàng sịn của mấy tay thợ đóm Hà thành chính gốc. Lúc nào bên bà cũng có cái cơi trầu xinh xinh, vài lá trầu, lọ vôi, vài lát cau, cái cối giã bằng đồng. Ngơi việc, bà lại làm một miếng trầu cho đỡ buồn miệng. Bà Lộc bỏm bẻm nhai trầu, hai má tóp lại, lục cái thắt lưng đũi mầu nâu đất, lấy ra hơn chục bạc: -“ Anh cứ cầm lấy tiền, tôi đặt trước. Gớm khổ, mồ hôi mồ kê ướt hết cả rồi kìa”. Bà lấy cái quạt nan phảy mấy nhát, rót chén nước chè Thái nước một mời anh.

- “Dạo này bà có cần kẹo vừng cháu lấy thêm cho”.

- “Kẹo dạo này ít chạy, anh ạ. Cái lớp học ngoại ngữ nó nghỉ, hàng ế hẳn đi. Chè đá thì lại bán được. Anh mang cho tôi thêm ít đá thì tốt. Kìa, anh hút thuốc đi”.

- “Dạ, thôi, cháu xin phép về nhà kẻo muộn”.

Bính đứng dậy, chào bà cụ, rồi dắt chiếc xe đi. Anh sợ sử dụng đồng tiền của người khác ngay cả khi họ vô tư. Biết làm thế nào được, anh chẳng có gì để trả họ, ngoài lòng tốt của mình. Nhưng con người đâu chỉ cần có lòng tốt. Có lúc anh rất đau xót khi không thể giúp đỡ được người khác, nhất là khi họ cần tiền.

Đồng tiền anh kiếm cũng khó khăn. Anh lại phải nuôi một vợ, hai con, nên chi tiêu của gia đình rất eo hẹp. Vợ anh lúc béo nhất cũng chỉ được gần bốn mươi ki-lô, lúc đau ốm nhấp nhỉnh hơn ba chục cân. Căn nguyên của thu thập trồi sụtù là bởi anh đam mê sách vở, suốt ngày cắm cúi vào quyển sách, đọc thượng vàng, hạ cám, từ sách khoa học , văn học, xã hội nhân văn tới các loại tiểu thuyết giải trí như truyện kiếm hiệp, truyện trinh thám, có lúc quên bẵng chuyện đời thường, lỗi lớn mà anh chưa chữa được.

May mà Bính cũng thuộc loại khỏe mạnh. Ngực anh nở, mình thon, cặp đùi dế thẳng và mạnh. Đầu Bính hơi nhỏ, nhưng bù lại, anh có cặp mắt to, sắc sảo, linh lợi của con nhà võ. Anh thuộc loại ít ốm vặt, chịu tập tành. Sáng nào anh cũng chạy dăm bảy vòng quanh khu tập thể, luyện dăm đường quyền cho đỡ bó chân, bó tay. Nếu không kể cái nước da đồng điều, cái tính hấp tấp, hơi cả nể thì anh cũng vào loại đẹp trai và dễ mến.
Bính dừng xe trước cầu thang khu tập thể, hì hụi đẩy xe lên gác năm, gió trên tầng cao mát hơn ở mặt đường, nhưng mùi khai ẩm của nhà tiêu công cộng cứ bít lấy mũi. Gian phòng anh ở ngay sát hố tiêu, căn hộ chia làm đôi, một nửa cho vợ chồng anh với hai đứa con, một nửa cho chàng trai độc thân. Chàng ta cứ hay rền rĩ vì vợ anh đặt thêm cái chuồng gà ở ngay cửa ra vào.

Thấy tiếng lóc cóc của xe bố, thằng con út chạy ùa ra:

- “Bố, bố ơi, có quà cho con không?"

Bính cười, dừng xe, gạt cái cần chống, với túi xách, lấy ra một củ khoai, nói với con:

- “Đây, hai chị em chia nhau nhé!"

Thằng bé mắt sáng lên, cầm củ khoai, chạy vào rối rít khoe với chị:

- “Khoai này, khoai này, muốn không?..."

Con bé lớn thấy bố về chạy đi dọn mâm ngay. Nó đã quen với nếp sinh hoạt của gia đình. Bính thương thương nhìn cái dáng hơi nghiêng của con. Nó vất vả từ tấm bé nên không được thong dong như người khác. Nó lại được cái đảm, khéo thu xếp công việc, ít khi phải để bố mẹ quát mắng về chuyện nhà cửa. Thằng em đã ngồi nhai khoai lang, nó dỡ từng mẫu vụn rơi ra, bỏ vào miệng. Nửa củ khoai của chị bé hơn, nó để trên bàn. Bính nhìn thấy một lá thư sọc xanh cạnh gối:

- “Thư ai thế này?"

Con bé nhanh nhảu trả lời:

- “Bác Linh ở cơ quan qua, nói bác Tín ở Ba Lan gửi thư về cho bố”.

Tín cùng học với Bính từ nhỏ, suốt những năm học phổ thông hai người cùng có mặt trong đội tuyển bóng đá của trường. Hai người cùng vào bộ đội một ngày, lại ở cùng một tiểu đội. Trường hợp hiếm hoi đó làm họ rất hiểu tính nết của nhau. Tín rời quân ngũ trước Bính và thi vào khoa toán. Hai người vẫn chơi thân với nhau, tuy ít gặp hơn trước. Đám cưới Bính, Tín còn đến chụp ảnh và tặng một bộ ảnh cưới có ảnh cô dâu, chú rể ôm hoa ngồi trên giường.

Ít lâu sau, Tín được cử sang Ba Lan thực tập khoa học. Anh ở lại làm luận án phó tiến sĩ, rồi tiếp tục làm luận án tiến sĩ.

Trong lúc ấy, Bính bận rộn với công việc nghiên cứu ngôn ngữ. Anh vừa học tiếng Nga, vừa học tiếng Anh, mải miết theo đuổi một công trình về lý thuyết phân đoạn thực tại, một lý thuyết mới anh tiếp thu được từ những người thầy khoa học ở Nga. Điểm mới của lý thuyết là nó có thể giải thích một số trường hợp về cú pháp tiếng Việt, đưa lại những tìm tòi mới trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Ngữ pháp tiếng Việt là chuyên ngành khó nhằn, học nhiều nhưng để đạt được một thành tựu nhỏ thôi cũng rất khó khăn. Chịu nhiều tác động của việc nghiên cứu các ngôn ngữ châu Aâu, bấy lâu nay tiếng Việt bị kéo vào các quan niệm đa chiều, khó áp dụng vào thực tế. Hăm hở với những phát hiện nho nhỏ, nhưng là kết luận của riêng mình, anh bị cuốn vào công việïc nghiên cứu và trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực của mình từ lúc nào không biết.

Năm 1975 là một cái mốc lớn trong đời của anh. Lần đầu tiên anh biết về khái niệm hoà bình. Những người lính dần trở về nhà sau cuộc chiến. Nhưng rồi lại nổ ra chiến tranh ở Tây Nam, sau đó là cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc. Nguồn hàng từ các nước như Trung Quốc, Nga không nhập vào một cách ồ ạt như trong thời chiến nữa. Cuộc sống sau chiến tranh ngày càng khó khăn. Đất nước dần có những bước chuyển từ cuộc sống của một thời bao cấp với cơ chế “xin”-“cho” sang cơ chế thị trường. Những thay đổi đột ngột trong đời sống xã hội làm Bính sực tỉnh. Để nuôi bốn miệng ăn trong gia đình, Bính phải có những suy nghĩ thực tế hơn.

Tín về nhà, trước lúc trở lại Ba Lan, anh có ghé thăm gia đình, hoàn cảnh Bính làm Tín băn khoăn:

- “Mày sống chân thực quá, cứ kiểu này thì khổ suốt đời, nên ra nước ngoài một chuyến, vừa để mở tầm mắt, vừa có cơ hội kiếm ít tiền. Tao cũng chẳng giúp được nhiều về chuyện làm ăn nhưng có thể tạo điều kiện được”.

Bính cười gượng. Với năng lực của anh, việc cộng tác với chuyên gia bạn nghiên cứu ngôn ngữ học thì chẳng khó khăn gì, nhưng để chen chân vào một suất đi nước ngoài thì lại là một chuyện không dễ dàng. Nhiều người trong cơ quan khéo hơn anh, họ biết cười nói đúng chỗ, thưa gửi thủ trưởng nhẹ nhàng và lịch thiệp, ngày Tết còn đến thăm kèm theo gói quà, vì vậy,ø những suất ra nước ngoài tại cơ quan lần lượt rơi vào tay người khác. Biết tình hình như vậy, Tín khuyên bạn:

- “Tao biết mày làm việc vốn nghiêm chỉnh, nhưng chẳng qua thời buổi này mọi giá trị đều có thể đảo lộn hết. Nhưng mày chưa hết hy vọng. Mày cần kheo khéo với cơ quan một chút, tao đã có cách”.

Giọt nước cuối cùng đã làm tràn cốc nước.

Lá thư Tín gửi cho Bính có tờ giấy nhận anh làm cộng tác viên cho trường Đại học Tổng hợp Vác-sa-va. Nhờ no,ù anh có thể cầm chắc một chuyến đi sang Đông Âu. Mọi thủ tục trong trường hợp này chỉ là hình thức.

Đêm ấy, Bính không yên giấc, anh trở mình nhiều lần thao thức nhìn trăng, vầng trăng phương đông kỳ ảo cứ dội xuống, tuôn xuống những suối tơ trắng ngần, lạ lẫm, trong suốt.
 
Mặc dầu đã chuẩn bị sẵn từ nhà, Bính vẫn lúng túng khi bước vào phòng Hải quan sân bay. Anh toát mồ hôi khi nghĩ tới đóng ki-mô-nô và vài trăm đô-la giật tạm. Gì thì gì, anh vẫn thấy mình không được đàng hoàng, thoải máil như mọi khi. Anh cảm thấy bị cắn rứt như trước khi làm một việc gì không lương thiện lắm. Ở Việt Nam lúc này, việc cầm đồng đô-la vẫn coi là phạm pháp, nhưng Bính cũng biết trước rằng nếu không cầm tiền theo có khi anh sẽ bị đói ở nơi đất khách quê người. Vậy là ngay từ bước đầu tiên anh đã phải làm một việc giả dối mà suốt đời anh không hề phạm phải.

Bính mang tờ khai cùng chiếc va ly và cái túi du lịch Thái màu đen đi tới bàn kiểm tra. Anh ngó quanh quất, phòng đầy những người, có nhiều vị khách ngoại quốc và vài cán bộ ngoại giao diện com-lê thắt ca-la-vát. Cái túi nào cũng bị hải quan đảo qua. Bính nhích dần đến bàn. Chợt anh nghe cái giọng lạnh lùng của người cán bộ hải quan có gương mặt hơi gầy, với đôi môi dầy hếch, hơi để lộ tí răng màu trắng ngà vàng, gần bên tai:

-“...Anh có mang ngoại tệ không ?"

Y đưa bàn tay có những ngón gầy, khô khẳng, cầm lấy tờ giấy trong tay Bính. Bính chợt run lên:

- “Có... à, không”.

Bính buột miệng, người cán bộ hải quan liếc nhìn tờ khai, băn khoăn nhìn thẳng vào mắt Bính, ngần ngừ, rồi khẽ hất cái cằm nhọn gầy cho hai nhân viên đứng cạnh. Bính đành để họ xem xét đồ đạc của mình. Anh cay đắng cảm thấy rằng không biết nói dối quả là quả là có những cái bất lợi.

- “Anh mang làm gì nhiều ki-mô-nô thế này?"'

Bính ấp úng:

- “Vâng”.

Hai nhân viên giở từng chiếc áo, lần tay nhanh theo các gấu áo, xem Bính có để ngoại tệ không. Mặt Bính lúc đỏ dần, lúc tái đi.

Trước lúc đi hàng tuần liền Bính đã bươn bả ở hàng Đào để kiếm hàng mang sang Ba Lan. Anh được thông báo rằng những vòng ốc và áo ki-mô-nô hiện đang bán chạy ngoài chợ trời Ba Lan. Những hàng đó được đặt may mộït cách vội vàng với giá cả khá rẻ. Bính tính rằng đó sẽ là số vốn ban đầu để anh buôn bán nếu cần thiết.

Chừng thương hại vì điệu bộ khổ sở của anh, người cán bộ mặt gầy gầy lại ra hiệu cho hai nhân viên, rồi sẽ động vào tay áo anh:

-“ Thu đồ vào đi”.

Bính cắm cúi nhét đồ vào va-ly và túi xách. Đến khi chiếc va-ly vào bộ phận cân hàng, được dán giấy ghi tên, đưa vào xe tải chuyển ra máy bay, Bính mới thở phào nhẹ nhõm. Suýt nữa thì hỏng việc. May mà cho ít đô-la vào giữa đống bánh đa nem nên các nhân viên hải quan không phát hiện được. Anh đã phải suy nghĩ cách giấu đô-la suốt cả tuần, mà chỗ nào trong đồ đạc cũng sợ máy soi và nhân viên hải quan phát hiện.

Ngồi trên máy bay, bất giác Bính vui vui. Điệu bộ mình lúc ấy chắc thảm hại ghê lắm. Cô nhân viên hàng không đẩy chiếc xe chở nước uống đến. Trong bộ đồng phục màu xanh, nước da trắng của cô nổi bật, cô mỉm cười duyên dáng khiến những lọn tóc vàng xòa xuống vai hơi rung rung, cô hỏi bằng tiếng Nga:

- “Anh uống rượu vốt-ca, cam, chanh, sâm banh hay nho?..."

- “Cảm ơn, cho tôi uống sâm banh”.

Bính chuyển cốc sâm banh vào cho vị khách ngồi trong, và anh cũng lấy một cốc rượu nhấm nháp. Anh để cho vị sâm banh ngấm vào lưỡi rồi mới nuốt từng miếng nhỏ. Cảm giác khi uống sâm banh thật dễ chịu, anh thấy thư giãn, như đang bước vào một hành trình mới.

- “Anh cũng tới Mát à?"

Người đàn ông giọng trầm bên anh quay sang hỏi.

Bính gật đầu, đặt cốc sâm banh xuống trước mặt, bắt chuyện:

- “Nhưng tôi còn đi tới Ba Lan nữa”.

- “Vậy là tới Mát phải đổi máy bay. Tôi thì dừng ở Mát”.

- “Anh đi công tác?" - Bính hỏi.

Anh nhìn mặt vị khách. Anh ta chạc tuổi bốn mươi, khuôn mặt trắng trẻo, đôi mắt hơi lạnh, phía đuôi mắt có nhiều vết nhăn làm anh có vẻ già trước tuổi. Anh ta có cái cổ cao và thẳng, vừa láu lỉnh, vừa hơi xét nét trong bộ com-lê lịch sự bằng len pha.

- “Tôi ở Mát, là nghiên cứu sinh, nhưng cũng về nước luôn, tuyến đi này khá quen thuộc với tôi. Có thể nói là đi như đi chợ. Tên tôi là Chiến, còn anh là gì?"

- “Tôi là Bính”.

Chiến nâng cốc sâm banh:

- “Nào, chạm cốc, không biết chừng sau gặp nhau cũng nên”.

Chiến ngủ gà ngủ gật suốt dọc đường bay. Khi máy bay đỗ lại tại các sân bay như Can-cút-ta, Ta-sơ-ken đều không thấy anh đi vào phòng đợi như các vị khách khác. Phía trước mặt Chiến để một chiếc túi Thái đen trông không khác mấy túi Bính. Ngược lại, Bính háo hức khi máy bay hạ cánh. Mọi cái với anh đều mới lạ.

Sân bay Se-re-me-chép-vô đón Bính không mấy hồ hởi; Để tới Ba Lan, ở nhà đã phải tốn bao nhiêu công sức đăng ký vé máy bay đi thẳng, nhưng ở sân bay Liên Xô, các nhân viên đã giữ anh lại với lý do là không có tên trên máy tính. Đi một ngày đàng, học một sàng khôn, bây giờ anh mới tiếc là đã không nghe lời khuyên của bạn, nên cầm theo chai vốt-ca Việt Nam trong trường hợp lỡ chuyến.

Bính gặp lại Chiến ở cửa ra, đang băn khoăn tính toán chuyện gì đó. Bính, Chiến mừng ra mặt:

- “Cậu chưa chuyển được máy bay à?"

- “Không có tên trên máy tính, phải ở lại”.

Chiến huýt sáo dài:

- “Láo toét. Nhưng cũng chẳng sao đâu. Có khi lại đâm hay”.

Nhìn cái túi Thái của Bính, Chiến chợt nảy ra một ý:

- “Này, cậu giúp mình một tý nhé”.

Bính đưa mắt, dò hỏi.

- “Túi của cậu rất giống túi mình, chúng mình chỉ đổi nhau một chút khi đi ngang qua cửa soát hàng, thế là xong”.

Thấy Bính ngần ngừ, Chiến giải thích thêm:

-“ Trông bộ dạng cậu thế kia, chẳng có ai khám đâu. Rõ là lần đầu xuất ngoại. Mình lại khác, có tên trên máy tính của tụi nó rồi, nó giã thuế khiếp lắm”.

- “Nhưng mình cũng mang hàng”.

Bính lắc đầu từ chối.

Đang nói chuyện, bỗng Chiến hồ hởi khua hai tay lên làm hiệu. Phía ngoài cửa kính, nhìn theo tay Chiến thấy một thanh niên người to bè, mặc cái áo pan-tô màu ghi nhạt, quàng chiếc khăn len nâu sáng đang giơ hai ngón tay lên.

- “Mình có bạn đây rồi, tạm biệt nhe”.

Chiến lách ra trước. Đi qua chỗ soát hàng, nhân viên hải quan giữ Chiến lại. Chiến mở nhanh phéc-mơ-tuya, phía trong toàn những đồng hồ giả kiểu Nhật lỏng chỏng, loại bán tại Hàng Đào. Không hiểu Chiến nói gì, người nhân viên hải quan nhìn ra cửa, thanh niên thấp, to bè khoát hai tay lên trời, anh nhân viên hải quan mỉm cười, đóng phéc-mơ-tuya, cho Chiến ra.

Bính kéo chiếc va ly và chiếc túi Thái lững thững ra sau.

Bước ra khỏi tấm kính ngăn phía trong và sảnh, hàng chục người Việt Nam xúm xít lại quanh anh. Vài người hỏi thẳng:

- “Có hàng không, để cho em cho?"

-“Thôi, để cho tụi này đi, giá phải chăng, thế nhe”.

-“Phấn, son, đồng hồ, bật lửa, cắt móng tay Trung Quốc, cân tuốt. O.K đi”.

-“Cho em kiếm tý lãi, em đi kiếm xe cho ông anh”.
...
Những tiếng chèo kéo vang lên bên tai thành những âm thanh hỗn độn, khó phân biệt. Ai cũng có vẻ chào đón, đon đả, vồn vã. Giữa một không gian to lớn, mùi vị không rõ ràng, những dáng người lướt qua bất chợt lúc có, lúc không, Bính như lạc vào một thế giới khác.

Không khí chợi giời làm Bính hốt hoảng. Anh không hình dung nổi tại sao ở Liên Xô mình có thể gặp nhiều người Việt Nam đến thế. Kéo chiếc va ly và cái túi Thái đến cạnh một cột to trong phòng đợi rộng thênh thang của sân bay, Bính tạm ngồi nghỉ. Bây giờ, anh mới kịp trấn tĩnh ít nhiều để nhìn ngắm xung quanh.

Hai dãy kiểm tra hai bên cánh của sân bay là nơi khách đang xếp hàng, đợi tới chuyến bay. Những hàng ghế xếp ngay ngắn theo từng dãy, có những vị khách áo xanh, áo đỏ đang ngủ gà ngủ gật, trước mặt họ là những chiếc xe đẩy xếp va ly, đứng lộn xộn, không thành hàng lối. Anh đang định tìm một chiếc xe đẩy để đặt va ly lên thì nghe tiếng ồn ào ở cửa ra. Một đoàn người mặc đồng phục, tha theo những chiếc va ly đến tụ ở một chỗ. Đoàn trưởng là một người đàn ông, mặc bộ com-lê đen phía trong là chiếc sơ mi nhàu nát, cổ áo cáu ghét. Kiểu ăn mặc của anh ta không có vẻ gì là người thông thạo đường sá ở đây. Còn toàn bộ nhóm người là các cô gái vui vẻ trò chuyện với nhau.

- Các cháu lắng tai nghe chú nói này. Hôm nay tất cả tam nghỉ ở nhà khách sứ quán, chỗ ở không rộng lắm vì nhà khách ít giường nhưng gắng chịu vậy. Còn ngày mai chúng ta sẽ đi bằng tàu hỏa sang Ba Lan. Vé đã có sẵn rồi.

Bính nhận ra đoàn công nhân Hà Nội đi cùng chuyến máy bay với mình. Thoạt đầu, anh cứ tưởng họ chỉ đi cùng mình tới Liên Xô thôi, ra chặng đường của họ vẫn tiếp tục. Bính để ý tới một cô gái có vóc cao, mông nở, tóc thề cắt ngang vai. Cô không mặc đồng phục như các cô gái khác mà mặc một chiếc áo dài màu ngọc, phía ngoài khoác một chiếc áo len ghi nhẹ. Chiếc áo dài cắt theo kiểu Sài Gòn bó sát vào người, làm eo của ô như hơi nhỏ lại, lồng ngực nhô cao được các đường viền cắt rất héo của chiếc áo dài năng chiếc áo con lên, tạo cho cô gái một vẻ trẻ trung, yêu đời hiếm có. Đứng giữa các cô gái khác, cô bé vẫn có vẻ tách bạch, lạ lẫm hẳn. Thấy Bính chăm chú nhìn mình, cô gái hơi ngước mắt lên, cặp mắt to, nhiều lòng đen mỉm cười. Mặt Bính hơi đỏ, anh quay sang nhìn chỗ khác.

Bính đang ở tình thế khó xử. Đường xá không thạo, không có đồng rúp nào trong túi, mấy địa chỉ của bạn bè thì không biết gần hay xa. Còn ngồi chờ ở sân bay để đợi tới chuyến thì mất ngày mất buổi mà không có điều gì hứa hẹn là anh sẽ lên được máy bay.
Mặt Bính chợt biến sắc. Chiếc va ly của anh đã không cánh mà bay. Không có lẽ lại có sự ăn trộm tài tình như vậy. Bính lặng người, chỉ một thoáng lê đễnh mà hỏng cả.

Bính quan sát chung quanh. Phía sau cột có hai thanh niên Việt Nam đang ngồi trên một thùng giấy trò chuyện. Họ không để ý gì đến thái độ lúng túng của anh. Bỗng Bính phát hiện ra mẩu dây buộc quanh va ly lòi ra ở phía dưới chiếc thùng giấy. Đúng nó rồi, chính sợi dây vợ anh đã cẩn thận choàng qua chiếc va ly, sau nó bị tháo tung ở sân bay Nội Bài, anh chỉ kịp cuộn lại vội vàng. Mặt Bính đỏ dần lên, anh bước tới xô người thanh niên ngồi trên thùng giấy. Không kịp phản ứng, anh ta ngã xoài ra mặt đất, người thanh niên bên cạnh bật dậy, giáng vào Bính một đòn nặng bằng tay trái. Bằng một phản xạ tự nhiên, Bính sẽ né người ra, thuận tay cho một chưởng vào hàm dưới theo lối đi quyền của phái Vĩnh Xuân. Trúng đòn, hắn ngã xoài ra đất. Đám đông người Việt Nam tụ lại. Tiếng ồn bắt đầu nổi lên.

- Biến đi, không công an đến bây giờ.
...
Bính thấy một cái dáng to, chắc quan sát mình với vẻ thiện cảm. Đấy chính là người thanh niên mặc chiếc áo màu ghi nhạt ra đón Chiến. Anh ta bước lại, nhấc chiếc thùng giấy lên, giọng hài hước:

- Lại một cú đùa quen thuộc.

Bính không nhầm. Mặt dưới chiếc thùng rỗng không, phía trong là chiếc và ly của anh. Mọi người đứng xung quanh cười ầm lên. Hai thanh niên lủi vào đám đông, chuồn mất. Bính cúi xuống xách chiếc va ly.

- Này, cậu đi Ba Lan đấy à?

Người thanh niên hỏi. Bính ngạc nhiên nhìn anh ta.

- Sao cậu biết?

- Trông va ly của cậu thì biết chứ sao, chẳng cần phải tinh tường lắm.

Bính chợt hiểu, phía ngoài va ly anh đã ghi dòng chữ: “Poland”. Người thanh niên tự giới thiệu:

- Mình tên là Nhân.

Nhân hỏi tiếp:

- Thế bây giờ cậu định về đâu?

- Tôi đang tính, ở đây chẳng quen ai cả.

- Mời cậu về chỗ mình vậy, dù sao cũng lỡ chuyến rồi.

Nhân cúi xuống xách chiếc va ly của Bính:

- Đưa mình mang giúp ra bến tắc-xi.

Thời gian này Nhân sống nhờ một người bạn ở Liên Xô, chỉ sang Ba Lan khi có việc. Sống ở Liên Xô tiêu ít tiền, và thuận tiện cho việc giao tiếp và buôn bán. Trên chiếc tắc-xi từ trung tâm về Thành Phố Mát, Nhân cho Bính biết rằng anh vừa đụng độ với nhóm “Bộ đội” ở Sân bay. Đấy là những công nhân bị đuổi hoặc trốn việc ở lại quá thời hạn, kiếm ăn bằng cách lợi dung sơ hở của người khác. Ở Sân bay chúng liên kết với cả Công an và Hải quan tìm cách kiếm lợi. Nếu là người không có bản lĩnh thì chắc chắn cú vừa rồi Bính bị cướp không mà không làm gì được.

- “Vậy sao Hải quan, Công an Đất lớn không can thiệp?".

- “Câu hỏi của cậu quá ngây thơ. Trong điều kiện hiện nay dù muốn họ cũng không làm nổi. Đất nước này đang lâm vào một cuộc khủng hoảng mà chuyện này so với chuyện khác chỉ là chuyện vặt”.

Thành phố Mát hiện ra trước mắt Bính rộng lớn và đồ sộ. Dọc con đường từ Sân Bay về trung tâm Bính thấy những ngôi nhà cao, những khách sạn, những dẫy ôtô đậu thành từng khu, từng khu, sau những hàng bạch dương thưa thớt. Càng đi sâu vào trung tâm mật độ các ngôi nhà càng dày hơn. Anh nhớ lại những câu thơ Ê-xê-nhin đọc từ nguyên bản, và cảm thấy một nỗi buồn khó tả tràn ngập tâm hồn mình. Anh rất thích bức ảnh nhà thơ Nga ngậm tẩu thuốc với đôi mắt xanh và mái tóc vàng bồng bềânh. Có lẽ những đợt tóc lượn sóng ấy đã gợi cho nhà thơ những câu thơ tuyệt đẹp về đồng lúa. Không hiểu sao nhà thơ lại từ giã cõi đời vào lúc đang sung sức nhất. Chàng cao bồi Nga lang thang ở các quán rượu đọc thơ tình có cái gì lạc lõng với thời xô viết nhưng lại có vẻ phù hợp với tâm trạng của Bính lúc này. Những câu thơ về nông thôn tuyệt vời của xứ sở xa lạ của Ê-xê-nhin rất gần gũi với tâm hồn Bính. Anh lẩm nhẩm đọc những câu thơ rơi rớt trong trí nhớ mình. Loang loáng bóng bach dương lướt qua đường. Những ngôi nhà lại những ngôi nhà nối tiếp, tràn ra khoảng chân trời, đầy lên dâng lên làm đất đai và những dòng sông bị biến đi. Anh sẽ lẫn vào thành phố này như một hạt bụi và không dễ tìm kiếm nó.

Nhân hỏi:

- “Lần đầu tiên cậu ra nước ngoài à?"

Bính gật đầu.

Nhân trầm ngâm:

- “Mình trước học ở Mát. Khác xưa nhiều lắm rồi. Chúng mình sống trong những ký túc xá vui vẻ và nhộn nhịp. Cuộc sống sinh viên không thiếu việc phải làm. Từ lúc kéo nhau ra trượt băng trong những điệu nhạc trữ tình tới khi kéo nhau vào đốt lửa trại trong rừng già. Đôi lúc mình tự hỏi: Cái gì đã xẩy ra với Liên Xô vĩ đại trong kỷ niệm. Một niềm nuối tiếc ư? Không, cũng không phải. Xót xa ư? Cũng không. Chỉ có điều sự yên ổn thì đã vĩnh viễn mất rồi”.

Xe dừng lại trước cổng chính của trường đại học Tổng hợp Mát. Nhân nhanh nhẹn nhẩy xuống xe, trả 20 rúp cho người lái xe. Người lái xe vẫy tay tỏ ý thân thiện, rồi chiếc xe vụt đi. Anh quay sang phía Bính:

- “Đợi chút, mang đồ đạc qua cửa, hai thằng cùng đi thì khó mà vào”.

Nhân xách va ly, mất hút sau cánh cửa xoay tròn màu nâu sáng. Cánh cửa bóng lên vì mồ hôi và thời gian. Bính ngước mắt nhìn lên đỉnh cao của ngôi nhà. Ngôi nhà xây trên một ngọn đồi, nơi đây là một điểm cao nhất Mát, đây cũng là một trung tâm khoa học lớn của Liên Xô. Bính hơi ngợp. Từ bé, anh vốn quen với những gì nhỏ bé và xinh xắn. Công trình kiến trúc thuộc diện lớn nhất Hà Nội có lẽ là nhà thờ lớn làm hồi Pháp. Nhưng so với ngôi nhà này thì chẳng thấm tháp bao nhiêu. Các công trình kiến trúc của Việt Nam dường như nghiêng về nét khéo và tinh tế phù hợp với tâm thức hài hòa với thiên nhiên hơn là tìm cách chế ngự, nên thường nhỏ bé và ít chú trọng tới độ bền vĩnh cửu. Còn ở đây những kiến trúc lớn như lấn át con người. Chúng có cuộc sống riêng và lâu bền.
Những dòng người ra vào không dứt. Dường như ai cũng bận một công việc gì đó.Bính thấy là lạ khi những sinh viên mang theo các cặp da lớn. Có anh còn dừng lại trước cửa trường, rút ra một chai sữa kê-phi uống ừng ực. Bính thấy mình trở nên xa lạ với khoa học. Mới cách đây ít hôm anh vẫn còn mường tượng và dự định cho công trình về phân đoạn thực tại trong ngôn ngữ học. Còn bây giờ anh chỉ là một người ngoại đạo.
Nhân đã trở lại mang theo một tấm thẻ sinh viên.

- “Mấy tay công an không nhớ mặt đâu. Cậu cứ thế mà vào. Cố gắng cho tự nhiên”.

Bính bước theo Nhân. Ngoài cửa chính, phía sau lại có thêm một dãy cửa. Hai công an mặc đồng phục đứng kiểm tra thẻ của những người ra vào. Bính xách chiếc túi Thái, chìa tấm thẻ sinh viên. Anh công an hỏi.

- “Ở khu nào?".

- “Khu D”.

Bính nhoẻn miệng cười. Công an không mở thẻ, gật đầu cho Bính đi qua. Họ vào phòng lớn, nơi có nhiều ngả rẽ ra các khu. Nơi đây có những tấm pan-nô lớn dán đầy những bài báo và các bản viết tay. Có những đám đông lộn xộn đứng chung quanh mấy quầy bán báo. Nhân ngoảnh sang phía Bính nói:

- “Đây là trung tâm của mọi thứ tư tưởng. Cách đây ít năm, tại đây mình đã được gặp Súc-sin, xem những phim hoang tưởng của Ta-rơ-cốp-xơ-ki, nghe Ai-ta-ma-tốp nói về tác phẩm của ông, những buổi sinh hoạt như vậy rất đông người. Có lần, xem đã đời phim Tráp-plin vua hề Sác-lô cười đến nôn ruột. Còn bây giờ người ta nghiện báo chí, thể hiện quan điểm của mình. Mỗi lúc như vậy dân Việt cộng hết sức lo lắng, Đại sứ quán lại có chỉ thị nhắc nhở cho các đơn vị là không được để anh em ra khỏi nhà. Sống như vậy cậu bảo sao mà không căng thẳng. Khu trường này cũng vậy. Ai bây giờ có thẻ mới được vào, còn trước kia tự do hơn. Đành phải giở trò “mèo” ra thôi”.

Nhân phân trần:

-"Nhưng cánh làm kinh tế thì bất chấp mọi sự, càng loạn càng dễ làm ăn. Trong giới sinh viên cũng không ít người quay sang buôn bán. Các khu nhà ở biến thành các quầy hàng. Tủ quần áo, tủ đựng sách chất đầy hàng hoá. Có tiền, khẩu vị cũng đổi khác. Bữa ăn không có bia thì có rượu. Ra đường là lo tới chuyện mua hàng. Dân Việt Nam ra đường trong túi lúc nào cũng có dăm bảy trăm rúp, tiện có hàng là mua. Cũng trở thành một thứ đối tượng cho dân tắc-xi, dân buôn và dân đầu gấu săn lùng. Với những người ưa qui củ, quen với luật pháp thì mình bị giảm giá, nhưng với cánh làm ăn ta tại trở thành con mồi béo bở. Hiện thực ở đây là thế đấy”.

Họ leo lên chiếc thang máy, Bính nắm mắt lại, nghe tiếng thang máy cuốn dưới chân. Cuối cùng, thì họ cũng dừng lại trước một cánh cửa phòng. Nhân mở cửa. Căn phòng hẹp chỉ đủ đặt một giường đệm, một giá sách cao, đầy những cuốn sách toán và vài tác phẩm văn nghệ. Trên bàn là một máy chữ bên tập giấy trắng. Một bản thảo cẩn thận đặt trong cặp giấy. Xem ra thì có vẻ Nhân cũng chẳng thuộc giới làm ăn.

Buổi tối hôm ấy, Nhân luộc một con gà và mua một chai rượu cô-nhắc. Đầu mệt mỏi sau một chặng đường vất vả, Bính vẫn thấy có phần sảng khoái vì không còn phải lo lắng như lúc ban đầu. Vả lại, sau khi tắm, anh đã bắt đầu cảm thấy quen với không khí của Mát và bắt đầu thích trạm dừng bất đắc dĩ này.

Vừa lai rai, họ vừa ngồi xem vô tuyến.

Nhân nói:

- “Cậu định thế nào? tiếp tục ra sân bay hay đi tàu hỏa”.

Bính bối rối:

- “Chưa tính”.

Nhân nói:

“-Thôi thế này nhé: Một là nếu cậu thích đi máy bay thì trưa mai ra sân bay ngay để kịp chuyến buổi chiều. Còn nếu muốn đi tầu mình sẽ mua vé cho. Mà này, đi tàu đi. Lại còn cái va ly và cái túi. Đi tầu thì sẽ dễ lọt hơn đấy”.

Nhân với cốc, rót thêm rượu vào cốc Bính. Bính đưa cốc lên môi. Rượu nặng làm anh hơi choáng váng. Anh xé một miếng thịt gà đặt vào lưỡi. Sao thịt gà lại nhạt thế.

Bính thức giấc lúc nửa đêm. Anh thấy khát nước ghê gớm. Anh mò dậy lấy cái bình thủy tinh đầy nước uống ừng ực. Nhân vẫn nằm dưới sàn, trên một tấm nệm, căn phòng nồng mùi rượu. Bính đã uống nhiều, nhưng lúc này anh chỉ còn thấy hơi nặng đầu. Anh cố vùi đầu ngủ thêm nhưng không ngủ được.

Không biết giờ này ở nhà vợ anh đang làm gì. Anh nhớ gương mặt buồn buồn của chị khi chia tay. Anh thương chị, người chăm bẵm cho hai đứa con. Có chị, có lẽ đời anh mới có thêm chút ý nghĩa nào đấy. Tình yêu rồi cũng qua nhanh, nhưng còn tình vợ chồng thì còn mãi. Anh nhớ những lúc đầu gối tay ấp mà bùi ngùi. Anh chẳng để lại cho vợ mình chút tài sản nào cả, nhỡ có lúc đau ốm, cơ nhỡ thì lấy đâu ra tiền để lo thuốc thang. Cuộc sống cực nhọc đã vắt kiệt sức lực của cô ấy. Những kiến thức cũng chẳng giúp cho người ta tồn tại vào lúc khó khăn này.

Đời anh sao lại xoay chiều thế nhỉ? Ở trường phổ thông người ta dạy cho anh bao nhiêu điều tốt đẹp. Nhưng lẽ ra anh không nên hứng lấy những chân lý tốt đẹp mà sống theo nó. Bản chất của con người hình như chỉ tiếp cận với chân lý khi sống trong nó, chứ không phải qua những điều rao giảng. Xã hội loài người là xã hội bí ẩn. Nó ký thác cho hậu thế những bài học mang mã di truyền, nhưng cũng chính nó lại dạy rằng phải thu lượm chân lý bằng cuộc sống của mình. Phải chăng, đấy mới chính là ý nghĩa của cuộc sống. Cả tình yêu cũng chỉ tồn tại trong sự tìm kiếm, trong một niềm khao khát thiện lương. Nhưng rút cục con người còn lại điều gì nhỉ? Hay chỉ còn lại những khao khát tìm kiếm ấy là có giá trị.

Nhân cùng Bính mang đồ đạc ra sân ga trước hai tiếng. Họ đi vào phòng bán vé cho khách đi sang Đông Âu. Sân ga ồn ã trong tiếng người, tiếng xe cộ ngoài đường phố vọng vào, tiếng chương trình truyền hình phát ở góc nhà. Đây là chỗ bán vé riêng cho khách nước ngoài cho các chuyến tàu chạy trong ngày. Mấy vị khách trông mệt mỏi, phờ phạc, ngáp ngắn, ngáp dài đứng trong hàng. Một vài người ngả ngốn ở dãy ghế tựa, họ tranh thủ ngả lưng, mơ màng trong chốc lát. Họ đợi đã lâu. Nhân vớ lấy bản danh sách ghi số thứ tự. Con số xếp hàng đã lên tới 50. Nhân tặc lưỡi:

- “Cậu đưa tớ hộ chiếu”.

Bính lấy tấm hộ chiếu màu xanh, có bọc bìa ni-lông đưa cho Nhân. Nhân đi tới cánh cửa dành cho các nhân viên bán vé. Anh gõ ba tiếng, cánh cửa mở ra, anh lọt hẳn người vào trong. Khoảng năm phút sau, Nhân mở cửa, đi ra. Anh ra hiệu cho Bính mang đồ đạc theo. Ra đến cửa, Nhân mới nói:

- “Vé của cậu xong rồi, mình phải thêm ba chục rúp nữa. Bây giờ cậu có thể yên tâm. Tầu sắp tới, lên tìm chỗ đi”.

Bính loay hoay xếp va ly vào gác trên, xếp cái túi Thái dưới giường, ra khỏi cúp-pê. Nhân thọc tay vào túi áo pan-tô đang mở phanh các cúc trước ngực, nhìn Bính:

- “Ổn cả rồi chứ?"

Anh nói thêm:

- “Gần giữa đêm cậu sẽ tới ga biên giới. Ở đó, tầu đổi bánh mất một giờ. Sau đó là Vác”.

Nhân chìa bàn tay dày dặn, những ngón tay cứng cáp, cho Bính:

- “Tớ bận một số việc, phải đi ngay bay giờ. Rồi chúng mình sẽ gặp lại nhau. Chúc cậu nhiều may mắn. Sang Ba Lan, cậu cứ gọi theo số điện thoại này. Hỏi Trinh, sẽ tìm được tớ”.

Bính bắt tay Nhân thật chặt, không nén được những bột phát nồng nhiệt, anh ôm choàng lấy Nhân:

- “Cảm ơn cậu nhé”.

Tới Ba Lan, Tín gặp Bính rất hồ hởi, xếp ngay cho Bính một chỗ ở bên cạnh buồng cậu ta. Đấy là một căn hộ có đủ tiện nghi, chỉ không có điện thoại. Sau này, Bính mới biết phần lớn những dân làm ăn đều chạy ra thuê nhà ở ngoài. Giá nhà thuê ở đây từ 50 đến 100 đô la một tháng, nhưng bù lại có điện thoại và có thể tự do buôn bán, thoát khỏi mọi sự kiểm soát. Họ vẫn giữ những căn hộ do trường cấp để ở trong thời gian học tập và làm luận án, dành cho khách quen và cộng sự của các phi vụ. Ký túc xá của các trường không kiểm tra chặt các khách ra vào. Qua khỏi cổng thường trực là đâu lại vào đấy cả. Họ chỉ biết đến ngày đổi ga trải giường, vỏ gối trong tuần là được. Đôi khi có những vị khách bất ngờ lên khoa cũng không tìm thấy người mà về ký túc xá cũng không tìm được, lại phải đi không nhắn nhủ được một lời.

Vào thời điểm này, gặp một người Việt Nam ở Ba Lan không phải dễ. Khi gặp Bính, cả những người quen với anh bên nhà cũng chỉ hỏi thăm qua loa, sau đấy, họ lặng lẽ rút lui, không hẹn trước một cuộc gặp, cũng không để lại dòng địa chỉ nào. Để có được một số điện thoạïi, điều cần thiết là phải có mối quen biết từ trước hoặc là phải có lòng tin. Sang Ba Lan, dân nghiên cứu sinh có trăm người thì buôn bán cả trăm. So với dân nghiên cứu sinh bên Liên Xô thì số người buôn bán thành đạt ở đây đông hơn và giàu có hơn. Họ ít túm tụm lại với nhau mà chia thành từng nhóm và kinh doanh những mặt hàng độc. Thị trường Nga qủa là lý tưởng với Ba Lan. Chỉ cần qua biên giới là hàng có lãi ngay rồi. Sau hàng chục năm toàn dùng các đồ sản xuất hàng loạt tại các nước xã hội chủ nghĩa, hàng phương Tây, hàng ngoại qua Ba Lan trở thành của hiếm dưới mắt người xô viết. Đôi khi chỉ một cuốn lịch treo mang hình khoả thân cũng trở thành một món hàng dễ bán.

Còn một lý do nữa, khiến những dân làm ăn thích sống ở ngoài là các phi vụ “Đỏ”. Khách có hộ chiếu “Đỏ” thích kín đáo, lịch sự, tiện nghi, ít ai biết tới. Nhưng mỗi khi họ sử dụng hộ chiếu của mình qua biên giới lại rất có hiệu quả. Khách mang hộ chiếu đỏ rất ít khi bị hải quan kiểm tra. Sô lượng hàng hoá mang theo cũng không hạn chế. Những mặt hàng buôn lậu đi bằng hộ chiếu đỏ bao giờ cũng dễ lọt. Những người mang hộ chiếu đỏ thích sống kín đáo, vừa buôn bán được, kiếm chút tiền lại vừa có được những quan hệ giao tiếp khá hay ho, không mất tiền. Họ có thể vào quán ăn theo sở thích, vào trung tâm giải trí để xem vũ công khoả thân nhảy múa hay đi tắm biển ở bãi tiên hưởng thụ những thú vui trần tục khá xa lạ với công việc hàng ngày. Bởi vậy việc đi, đến của những hộ chiếu đỏ cũng là một thông tin thương trường quan trọng. Chỉ cần các hộ chiếu đỏ lên lịch công tác là các tướng, soái Ba Lan đã tìm cách tiếp cận. Họ đón khách bằng nhiều con đường khác nhau, thông qua những môi giới khác nhau. Có những hộ chiếu đỏ thường xuyên đi lại khá tinh quái, ông hay bà ta cũng chẳng trung thành với một chủ chi, họ có quyền chọn lựa người đưa đón mình. Trong số đó có cả những người ngờ nghệch, thường đó là những người mới ra nước ngoài lần đầu. Họ mang hàng theo quan hệ tình cảm, có lúc chẳng hiểu trong hàng có gì. Có lúc họ cầm cả cân vàng đi mà không hề hay biết hành lý mình mang theo là cái gì. Thường khi nhận ra mọi việc thì đã cưỡi trên lưng hổ rồi.

Dần dần, khi tìm hiểu cặn kẽ hơn, Bính mới biết rằng ở đây có một nếp sống khác dựa trên tiêu chuẩn quan hệ và tiền bạc. Mọi tiêu chuẩn đạo đức bị vỡ vụn và trở nên không đáng kể. Khi hướng về đồng tiềân con người ta trở lại những thú tính mông muội, đôi khi, có những con người bề ngoài trông đạo mạo nhưng bên trong lại đầy toan tính và ti tiện.
Bính khao khát một công việc khả dĩ có thể kiếm ra tiền nhưng mọi việc không đơn giản như anh nghĩ. Anh không phải là người có hộ chiếu đỏ để mọi người có thể chiều chuộng, nâng hứng. Cũng còn may anh có hộ chiếu công vụ, cái hộ chiếu chứng tỏ rằng anh là người có công việc ở Ba Lan chứ không phải đi thăm thú người nhà. Ít nhất, cái hộ chiếu ấy còn có thể giúp anh tồn tại và hứa hẹn một khả năng nào nay. Chỉ cần anh có hộ chiếu phổ thông thì mọi việc sẽ phức tạp hơn. Lúc đó việc đi từ nước này sang nước khác đều phải xin phép qua đại sứ quán. Ở đó, việc một cá nhân nào đó chỉ là công việc that phụ, không đáng để ý. Và dĩ nhiên công việc xin phép không có xu nào là một điều không tưởng. Dù cộâng đồng ở Ba Lan không thật lớn, nhưng công việc của mỗi người tưởng kín đáo nhưng đều lộ ra trước cổng sứ quán. Một cách đơn giản và bình lăng, qua từng người nho nhỏ đến thăm sứ quán trong những lúc buồn công việc làm ăn của mỗi người đều lộ ra như trên một sân khấu nhỏ. Và không phải chỉ ở Ba Lan, ở những nơi khác trong khu vực châu Âu thông tin cũng truyền đi khá nhanh nếu dính vào các phi vụ làm ăn nổái đình đám. Có những nhân vật cả năm không tới thăm sứ quán, nhưng đến dịp Tết họ đi xe con đến hàn huyên vài ba câu rồi lặn mất tăm. Kỳ thực, không cử chỉ nào của họ lọt qua tầm mắt của dân buôn Ba Lan. Họ có thể đếm của nhau từng chuyến hàng, và đoán định ai sẽ phất lên cũng như ai sẽ bị xoá sổ trong quá trình hành tiến. Bính cứ lần mò theo từng chi tiết và chắp nối lại để hình dung ra bức tranh thật của Ba Lan sau khi công đoàn Đoàn Kết lên nắm chính quyền.

Bính lang thang đi khắp các chốn ở Ba Lan. Anh xem hàng hóa, thưởng ngoạn cảnh dòng sông Vít-sơ-la lặng lẽ uốn quanh thành phố. Tâm trí chẳng để vào đâu cả. Cảnh ở Ba Lan có vẻ đẹp riêng cuốn hút, anh thích những thảm cỏ được xén phẳng trong các công viên, những ngôi nhà tầng xen lẫn những khoảng sân chơi thoáng đãng, những hàng cây xanh ven đường yểu điệu và mềm mại. Nếu đi sâu vào trung tâm, anh chen lẫn giữa các dòng người, giữa những tiếng ồn ào tưởng như vĩnh cửu của cuộc sống, khi men theo bóng những ngôi nhà tầng cao, vượt qua những đại lộ hoặc dừng chân giữa những vỉa hè mênh mông, anh lại có cảm giác mình như một người thất nghiệp, chẳng kiếm đâu ra việc làm, và cũng chẳng có hy vọng gì ở ngày mai.

Có lúc Bính thần người ra đứng trước tượng Sô-panh. Vị nhạc sĩ đang có trạng thái, cảm hứng kia hóa thân vào vĩnh cửu có cần biết đâu tới một kẻ như anh đang lang thang nơi đất khách quê người. Có lần, một nhóm nhạc sĩ tới chơi nhạc dưới chân tượng. Những âm thanh của những bản nhạc không lời rót vào tai anh những giai điệu buồn và đưa Bính vào cái bình ổn của tâm trạng, xa lánh với những ấn tượng đời thường. Vườn Oa-den-kin thật đáng yêu. Anh rất thích cái khung cảnh trữ tình của nhưng hồ nước bên những hàng cây. Trong công viên vẻ đẹp của thiên nhiên tĩnh tại và trầm lặng một cách hiếm có. Tâm trạng buồn, trong sáng của âm nhạc Sô-Panh hướng tới cái gì đó lớn lao, vừa sâu sắc, thâm trầm, vừa thánh thiện.

Nhưng những phút giây thánh thiện ấy cũng qua nhanh. Anh lại nhanh chóng trở lại với vị trí của mình, và tự trách về chuyện không được tháo vát, không biết xoay xở bằng người. Bằng ấy thời gian bỏ ra nhưng anh vẫn chống chếnh, trong tâm trạng cô đơn và buồn bã. Mỗi buổi tối về nằm trong gian buồng nhỏ ơ ký túc xá, Bính hay nhìn vào xó bếp ga ở ngay chỗ cửa ra vào, nhìn mấy gói mì vơi dần, mấy cái vỏ đồ hộp ở góc bếp, rồi ấm trà đặc trên bàn để suy ngẫm. Trong lòng không có ý tưởng nào. Anh thấy kiến thức đời sống của mình thật hạn hẹp. Anh cũng không được giáo dục để hiểu cách kiếm tiền ở đời thế nào. Anh chưa hiểu được bằng cách nào người ta có thể kiếm sống và tồn tại trên đời. Đúng ra thì anh chỉ biết có một cách. Đó là sau khi học hành tử tế hết sức mình, có được một kiến thức nhất định, anh tìm cách đầu quân vào một cơ quan nhà nước và hưởng lương từ cái quỹ lương do nhà nước quản lý. Cuộc đời anh tuỳ thuộc vào quỹ lương ấy. Nó to hay nhỏ cũng nhằm vào cái đích ấy. Nhà nước là người đặt hàng cho anh và anh cũng làm ra sản phẩm để bán cho nhà nước. Nhưng anh cũng không được làm việc quá nhiều vì sự làm việc của anh cũng đụng chạm đến quyền lợi của người khác. Sự tích cực của anh cũng có thể bộc lộ sự không tích cực của người khác. Và điều đó thật kinh khủng. Nó hạn chế sự tư duy của anh và không khuyến khích anh tới những hoài bão và khám phá to tát hơn. Việc này cũng ví như một đĩa nho, mỗi người chỉ được hưởng một vài hạt dù công lao anh có bao nhiêu. Khái niệm công bằng trở thành khái niệm cào bằng. Từ khi rời khỏi đất nước, Bính mới suy nghĩ lại, nếu ví anh là người làm ra hàng hoá thì đúng ra anh không có chỗ để bán hàng hoá của mình. Và như vậy anh cũng không muốn làm ra hàng nữa. Những cố gắng tinh thần chỉ là những cố gắng nhất thời không thể nâng bổng người ta lên mặt đất được. Nhưng khi ở vị thế mất đi tất cả người ta mới suy nghĩ, đặt vấn đề về khả năng của mình để tồn tại. Con người anh đang vận hành theo hướng đó: đi tìm đồng tiền để minh chứng cho sự tồn tại của bản thân. Anh muốn nhìn từ một góc độ khác, về chính bản thân mình trong cơn lốc lặng thầm đang cuốn cả châu Âu đi theo.

Một buổi tối, chợt nhớ lời dặn của Nhân trước khi chia tay. Bính lục tìm cuốn sổ tay có ghi số điện thoại của Trinh.

Trên con đường từ ký túc xá của Trường Đại Học Tổng Hợp Vác ra chỗ xe điện tuyết mới được vun lại thành những đống nhỏ. Hàng cây bên cạnh đường chìa ra những cành lởm chởm đen mù, không có láùø, thỉnh thoảng lại quệt vào khách đi đường: ở một cành cây nhô ra, Bính thấy một chiếc găng tay da của ai đã nhặt lên chụp vào chỗ dễ nhìn nhất. Ngoài trời, thoáng đãng, dễ thở, vài bóng người xách cặp vội vã đi lại trên đường. Anh ra bến xe, đợi một lúc tầu điện mới đến. Trên tầu, có vài người ngồi ở ghế, mắt lơ đãng nhìn ra cửa sổ. Một cô bé ôm con chó bông trong lòng, dùng tay vuốt ve cái lưng bù xù trắng muốt, con chó mở to đôi mắt nhìn cô chủ, rên lên khe khẽ. Bính đứng ngay ở gần cửa ra vào. Anh đưa tay nắm lấy chỗ cầm ở ngay thành xe, nhìn về phía trước. Chiếc xe chậm rãi lắc mình lăn trên đường ray. Trong buồng lái, qua lớp kính trong suốt, người lái xe nghịch ngợm dán hình mấy cô gái khỏa thân cắt từ tạp chí. Đi được hai ga, Bính nhẩy xuống. Anh nhìn thấy một dãy máy điện thoại tự động nằm ở dẫy tường khuất trong bóng tối, một hai máy đang có người, một cô gái đang xối xả nói với bạn, tay đôi lúc vung lên. Anh chọn chiếc máy trông bề ngoài còn mới, bỏ xu vào, anh nghe tiếng máy reo, một giọng đàn bà trong trẻo cất lên, chị nói bằng tiếng Ba Lan, Bính không hiểu. Anh bối rối nói bằng tiếng Việt:

- “Tôi đây, chị Trinh đấy à, tôi là Bính đây, anh Nhân có bảo tôi gọi điện đến chỗ chị”.

–“ Chào anh” – lần này người phụ nữ nói bằng tiếng Việt Nam.

“Chắc anh mới từ trong nước sang phải không?"

-“Vâng, tôi là bạn anh Nhân”.

- “Có, anh Nhân có nhắc với tôi về anh, nhưng không hiểu sao bây giờ mới thấy anh gọi tôi”.

- “Tôi để lạc mất số điện thoại, bây giờ mới tìm thấy”.

- “Thế hiện giờ anh sống ở đâu?"

- “Tôi sống ở ký túc xá của trường Đại Học Tổng hợp."- Bính nói số phòng.

- “À, tôi biết khu ấy rồi. Hình như anh có mang chút hàng từ trong nước sang”.

- “Vâng, tôi vẫn để ở ký túc xa”.

- “Bây giờ khuya rồi, ngày mai tôi sẽ tới chỗ anh."

- “Vâng”.

- “Chào anh nhé”.

Bính gài ống nghe lên máy. Anh thở phào nhẹ nhõm. Đống quần áo ki-mô-nô và vòng ốc của anh từ khi mua đến giờ vẫn để nguyên một chỗ. Đấy là số vốn duy nhất anh có lúc này. Không biết bao nhiêu lần Bính đã chạy ra Hàng Ngang, Hàng Đào để lùng sục những mặt hàng này. Đi ra đất khách quê người mà không có xu nào trong túi thì thật vớ vẩn. Sống chết, anh phải có được ít vốn trong túi. Việc mang thật nhiều đô la theo là mạo hiểm và không cần thiết. Anh phải hỏi bằng được cách lần ra mặt hàng đang chạy ở Ba Lan. Và Bính đã đạt được mục đích của mình. Việc mang vác với anh tuy vất vả những còn chịu đựng được. Anh chỉ thấy gánh nặng trách nhiệm đè nặng trênvai mình. Số tiền này là một khoản thật lớn với gia đình anh. Trong khi không có việc làm, anh vẫn dùng số tiền mấy trăm đô vay tạm ở nhà để tiêu dần. Nhất là khi thấy Tín bận, anh đâm ngại, không muốn làm mất thì giờ của bạn.

*
* *
 
Cái vụ buôn bán máy tính này hay đấy bác Nicky ạ, bác post tiếp đi nhé. Trong tiểu thuyết bác cũng hay dùng từ viết tắt nhỉ, ví dụ như Mát, Vác...nghe đậm không khí của một thời.
Em đã được uống rượu với bác rồi đấy nhé, nhưng lâu lắm rồi, lâu lắm rồi....
 
Một chương của bác dài quá, bác Nick ạ. Em xin phép bác cắt ra làm hai nhé, cho nó dễ đọc :D



*
* *

Người đàn bà tới lấy hàng Bính đã gặp ở chợ trời. Đoạn sang đường, qua một đại lộ tới cổng chỉ là một hành lang ngầm bày đầy những hàng từ các nước tư bản. Dưới hành lang có thể tìm đủ các thứ hàng trên thế giới, từ một đồ chơi nhỏ của Nga như con lật đật, con ma-tơ-rút-xca, các loại búp bê, tới áo quần Tây Đức, máy ghi âm của Nhật. Đây cũng không thiếu gì các mặt hàng giả làm theo mẫu mã của nước ngoài. Những người vui vẻ co cụm đứng bán hàng ở đây có vốn nhỏ, trốn thuế, không có chỗ ổn định ở chợ, thích tự do đi tìm khách hàng, không câu thúc bởi thời gian, vị trí, xong việc là thôi. Một số tư thương sắm những ô tô nhỏ bán hàng, vừa chở hàng lưu động, vừa rao bán ở các địa điểm khác nhau trong thành phố. Đoạn đường này chỉ là khúc dạo đầu cho việc tiếp cận với các chủ hàng lớn hơn.

Những chủ hàng trong chợ là những người có vốn lớn, ổn định chỗ ngồi, có liên quan trực tiếp với các cơ sở sản xuất. Họ bán buôn là chính. Hàng trong chợ chạy đi khắp thế giới. Người Ba Lan, người Đức, người Tiệp... tới đây mua từng gói hàng lớn chuyển đi. Chợ trơiø Ba Lan có cái không khí sôi nổi, vui nhộn vào những ngày nắng ấm, ẩm thấp u ám, nhưng vẫn đông đúc vào những lúc tuyết rơi. Ngay cổng chợ dân buôn đô-la đứng hàng dẫy, phần lớn là những thanh niên vui vẻ, mặt quần áo bò, măng tô ngắn, hoặc com-măng-đô để hàng xếp đô-la, đê-mác trong tay, chào mời, xòe tiền ra như những lá bài và đếm rất nhanh. Chỉ cần khách là những người lơ đễnh, quá chân thật là dễ cầm phải tiền giả hoặc từng xếp bạc lẻ mất giá thay vào đồng ngoại tệ của mình. Giờ nay, Bính đã biết cách đếm tiền đô tránh lừa đảo. Anh thương đếm từng tờ một, riêng rẽ, không khuất lấp trong nhau. Khi thấy anh thận trọng có dân buôn đô la đã giật lấy đồng tiền trong tay anh và quay sang một khách hàng khác. Chúng can những người dễ tính hơn. Nghĩa là ở nay người ta vẫn lừa đảo khi có thể.

Có vài cánh cửa khiêm tốn khép kín ở ngay giữa chợ, nhưng đấy lại là trung tâm chuyển đổi vàng và đô-la. Những khách cỡ bự đều tới đây để đảm bảo sự an toàn nhất. Những cửa hàng này đo được sự biến đổi của các mặt hàng châu Âu, và liều lượng chúng thả qua các biên giới.Nước Ba Lan không kiểm soát được đồng tiền nằm trong tay các tư nhân. Họ rất thích ngoại tệ và nhất là đồng tiền mạnh đô la. Việc có thói quen tiêu bằng tiền mặt ở những địa điểm như chợ trời là một thói quen được chấp nhận ở Ba Lan. Dân Ba Lan đi làm ở nước ngoàøi cũng tích cóp tiền để về dự trữ trong nước. Họ cũng không bao giờ khai báo với chính phủ thu nhập bằng ngoai tệ của mình. Nhiều người còn không gửi tiền vào ngân hàng mà đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau hay dùng chủ yếu để buôn lậu. Trái ngược với tính cởi mở, dễ gần gũi, sởi lởi của người Ba Lan, trong thâm tâm họ lại không thích các nước lớn cận kề. Nhiều người coi nhà văn hoaôÇc vút, khắc khổ tại trung tâm thành phố được xây dựng từ thời Xít-ta-lin là sự áp đăt của nước lớn vào nước nhỏ. Cũng như họ không mấy tin tưởng vào nước Đức vì sợ Đức thôn tính một phần lãnh thổ của mình. Người Ba Lan hãi hùng nhìn vào quá khứ. Có rất nhiều nước mắt và sự đau khổ cũng như những ý chí quật cường. Nhưng một tinh thần Ba Lan hay tinh thần phản kháng, trí tuệ và dân chủ vẫn có dịp bộc lộ khi cần thiết. Và Ba Lan dưới con mắt Bính cũng là một thành luỹ của hòa bình. Anh nhìn thấy trong dáng vẻ các cô gái hoa hậu của Ba Lan một thông điệp vĩnh cửu về vẻ đẹp. Người Ba Lan tin vào bản thân nhiều hơn là các chính phủ. Bởi vậy họ cũng thích tiêu tiền ở chợ trời ngang với việc đến các hàng đổi đô la một các tự do, dù các quầy đổi đô la đó không phải lúc nào cũng thuộc về nhà nước. Sự thỏa thuận và trao đổi cũng rất nhanh chóng. Bính cũng tới đây đổi đô-la mấy lần, tích no mắt những cảnh đời trái ngược nhau.

Lang thang trong chợ trời có cái thú là có thể quan sát nhu cầu đa dạng của con người mà không tốn xu nào. Anh thích đi bộ, du ngoạn, không mảy may quan tâm đến nhu cầu buôn bán. Có lẽ chỉ có những người vô công rồi nghề như anh mới làm chuyện ấy. Anh nhìn ngắm dòng người di động, tìm những vui thú của bản thân, thưởng thức những nhu cầu bất tận, đến khi lẩn thẩn như xem những giây đeo chìa khóa có ảnh các cô đào khoả thân, hay cười đùa với mấy cô bán hàng vui tính. Bính lấy làm ngạc nhiên là tại sao trong nước không bao giờ mình lại nghĩ rằng cuộc sống có nhu cầu nhiều tới như vậy. Hình như thói quen kham khổ, chịu đựng trong những năm chiến tranh đã ăn sâu vào anh, nên anh cũng dửng dưng một cách quá đáng với những nhu cầu tối thiểu của con người. Cho đến khi Ba Lan đến với anh, Bính mới thấy rằng thế giới có thể nhìn theo nhiều cách khác nhau. Việc đọc một văn bản hay về con người có thể đưa lại những giá trị khác nhau. Dù văn bản ấy không thay đổi, những điều anh đọc được ở Ba Lan khác hẳn với những gì anh đọc được ở Việt Nam. Nó thấm thía hơn và nhân văn hơn, nó cũng không còn khô cằn như thế giới khoa họcï anh hiểu. Có lẽ bởi anh đã thâm nhập một phần vào đời sống, tìm cách phân định nó, tìm cách đưa bản thân gần hơn với thế giới hàng hoá, với quan niệm tim óc cũng là một thứ hàng hoá. Và anh càng hiểu cái ưu việt cũng như cái bất lực thẩm hại của các kiến thức khoa học khi áp dụng vào đời sống. Vấn đề ở chỗ anh phải biến trí tuệ của mình thành một thứ hàng hoá cần thiết cho mọi người.

Anh thích những người phụ nữ Ba Lan. Họ ăn mặc đẹp, thích được người khác khen ngợi và nhìn ngắm. Ở thủ đô, anh hầu như không tìm thấy hai người ăn mặc giống nhau, ngay cả khi có chung một mốt áo quần thì họ cũng có nét riêng của mình. Cách họ quàng những chiếc khăn duyên dáng, khiến anh say đắm. Các miss trên vô tuyến truyền hình như những bản nhạc dịu dàng ném vào giữa những âm thanh ầm ào, hỗn độn của cuộc sống. Vẻ đẹp qua sự phô diễn thân thể hòa quyện với vẻ tinh khiết của tâm hồn (ít ra là Bính cảm thấy như vậy). Anh cảm thấy mình có dư cảm xúc để hoà nhập với những điều lặng lẽ diễn ra trong lòng anh. Anh biết rằng nó phải thay đổi, cái tâm hồn vốn u tịch của mình, anh phải tiếp cho nó một sức mạnh lớn hơn mới có thể tồn tại để qua hiểm hoạ tâm hồn bị phá nát, chao đảo giữa những tư tưởng. Thế giới ổn định của anh đã có phần bị tan vỡ. Và nhiều mảnh vunï vẫn còn lấp lánh nhưng không còn tồn tại một cách vẹn nguyên nữa. Anh biết mình sẽ không tiếp nhận được những khái niệm mới nếu cứ đeo đẳng cái gì cũ nát đang tồn tại. Đó cũng là một điều phi thực tế, và dù còn ở trong nước thì rồi anh cũng phải chấp nhận thế giới này thôi. Vấn đề chỉ là ở chỗ sớm hay muộn. Thời gian cũng có vai trò khá lớn trong đời người. Nếu anh nắm bắt được vấn đề nhanh hơn, anh có thể sẽ là người chiến thắng.

Khi gặp một cái dáng thấp bé khoác chiếc áo lông to xù của thiếu phụ bán hàng ở chợ, anh lập tức chú ý, vì chị ta có mái tóc đen và đang chăm chú quan sát anh. Trên tay cầm một chiếc áo Thổ Nhĩ Kỳ, rao bán.

Gặp nhau lần thứ hai, họ nhận ra nhau ngay. Khuôn mặt tròn, mái tóc ngắn màu đen, đôi môi mở to và cặp môi hơi hếch nhưng có duyên thầm nói với Bính rằng người đàn bà này từng là một cô gái đẹp. Cử chỉ nhanh nhẹn và tự nhiên, chứng tỏ chị là người dày dạn trong giao tiếp:

- “Hình như anh có một chút hàng cần bán."

- “Vâng, mời chị ngồi uống nước đá”.

Bính mở tủ lạnh lấy chai cô-ca-cô-la, cầm một chiếc cốc thủy tinh sạch, đập đá bỏ vào. Chị không uống nước ngay, vắt đôi chân một cách tự nhiên và sửa lại váy, chị có cách xử sự gần giống các cô gái Châu Âu.

- “Khi thấy chị ở chợ tôi đã ngờ ngợ chị là người Việt Nam."

- “Ở đây, người ta biết tôi nhiều hơn anh tưởng đấy."

- “Ồ, tôi không biết”.

- “Có gì đâu, số bạn bè người Việt Nam biết tôi cũng không thiếu. Còn anh, tôi mới gặp lần đầu, thấy anh ngơ ngác. Ồ, xin lỗi, cô hơi mỉm cười vì cách dùng từ của mình – tôi định tới làm quen, nhưng sau lại thôi, lúc đó, tôi đang bán hàng, hơn nữa, chắc gì anh đã muốn quen biết tôi."

Bính hơi ngạc nhiên nhìn vào mắt chị, anh thấy một nỗi buồn thoáng qua trong mắt người đàn bà. Anh mời:

- “Chị uống nước đi."

- “Vâng, anh cứ để tôi. À, anh có hàng gì nhỉ?"

Bính đưa chiếc va ly ki-mô-nô và những chuỗi vòng ốc ra. Số ki-mô-nô anh mang theo không mấy hợp với thị hiếu lúc này ở Ba Lan, người ta chuộng mốt ki-mô-nô có thêu hai con rồng. Nền áo ki-mô-nô cũng vậy, lẽ ra nên mua hàng ki-mô-nô làm bằng vải đen thì anh lại mua thứ làm bằng vải màu xanh và đỏ. Kể ra cũng hơi kỳ, ki-mô-nô là mặt hàng của Nhật lại được làm giả ở Việt Nam. Nó cũng là món ưa chuộng với dân Ba Lan. Nhất là những người thích mốt trầm lắng, mạnh mẽ của Đông Phương.

Cũng như, Bính không hiểu tại sao phụ nữ ở đây lại thích trang sức bằng vòng ốc, có thể chính hơi thở miền biển đã dội trong trí óc họ một ký ức hoặc một tưởng tượng về những vùng đất xa xăm, gợi nhớ về bản thể và sự hiện hữu của mình. Phần mình, anh thấy chúng bất tiện, phù phiếm và mong manh, dễ vỡ bao nhiêu, “đẩy” chúng cũng không dễ, quả tình anh chưa có cái dũng cảm của những người buôn hàng xén giăng từng cái ki-mô-nô ra bán hoặc treo những vòng ốc trên tay rao hàng.

Người đàn bà giũ từng chiếc ki-mô-nô xem hàng một cách thành thạo, chị chỉ cho anh những khiếm khuyết khi chọn hàng không kỹ, thỏa thuận giá cả và đưa ngay số tiền đô cho Bính. Cầm những tờ đô la mới có thể cạo râu được trong tay, Bính nhẹ nhõm như vừa trút được một món nợ, thế là xong một công việc mà từ khi sang đây vẫn lo lắng, người đàn bà lại gây cho anh một cảm giác thoải mái như anh mới được gặp một người bạn cũ. Chị có tầm vóc trung bình, không đến nỗi thấp như anh tưởng, đôi mắt to giàu tình cảm.

- “Anh đưa giúp chiếc va ly qua cửa thường trực, dù sao tôi cũng không muốn mang một chiếc va ly qua thường trực."

Ngôi nhà Bính ở có hai hệ cửa, một cửa có thường trực là nơi treo chìa khóa, cửa khác dùng đôm-ma-phôn, những người Việt Nam tới đây thường ít mang vác. Khi mang vác đồ đạc dân ký túc xá thường đi qua cửa chính để tránh những tiếng không hay về giới sinh viên và nghiên cứu viên. Chỗ ở tại ký túc xá chủ yếu dùng để tiếp khách và không phải là nơi tập kết hàng. Người trong ký túc xá cũng thận trọng khi tiếp khách. Họ phải biết rõ ai đang đến ở với mình. Trong ký túc xá nơi Bính ở cũng có nhiều thành phần người Việt khác nhau. Có người đến từ Tiệp Khắc, có người đến từ Liên Xô, từ Đức, từ Hung Ga Ri… Họ tới với những câu chuyện lạ lẫm ở xứ người rồi lại đột ngột ra đi không một lời chào tạm biệt. Bính cũng không nhớ hết những tên tuổi của họ, nay chỉ là những người qua đường, hiện hữu thoáng chốc, rồi lại biến đi trong trí óc anh.

Trinh dường như cũng là một trong muôn ngườøi ấy. Bính giúp chị mang chiếc va ly ra xe điện, không khí sạch và thoáng đãng. Trời hôm nay ấm lên, đôi chỗ tuyết tan lộ ra những mảng đất màu đen, thành phố vào đêm có vẻ quyến rũ, với những cửa sổ thao thức đèn của khu túc xá, những dãy điện đường ném ánh trăng xanh đỏ kéo thành vệt dài của ôtô trong thành phố. Trong cái ánh sáng lờ mờ trộn lẫn nhiều gam màu ấy, Bính thấy mình cử động được tự nhiên và gần gũi với người đàn bà. Anh hít đầy lồng ngực khí trời, thoát ra khỏi các lồng sắt là niềm vui nhỏ, anh chợt nhớ tới ngôi nhà lắp ghép tại Hà Nội. Cái nắng chói gắt, bụi bậm quạt lửa vào các ô cửa, không gian chật chội khiến người ra dễ xích mích, nặng nhẹ, gây gổ với nhau cho bõ tức. Trong lúc chờ xe, người đàn bà rút bao thuốc lá ra:

- “Anh có hút thuốc không?"

- “Cảm ơn, tôi không hút”.

Chị gõ đuôi thuốc vào lòng bàn tay, dưới ánh đèn đường, Bính nhìn thấy những ngón tay được chuốt và đánh bóng một cách kỹ lưỡng, đôi mắt chị thảng thốt như đang trôi vào một miền ký ức xa xăm nào đó. Bính dựa vào thanh chắn của bến đợi, đặt cái va ly bên cạnh, nhìn ra phố, đường ray của tàu điện trải dài ra phía xa ánh màu trắng đêm. Cái nhìn này đã trở lên quen thuộc với anh. Có cảm tưởng nếu như anh đặt những ý nghĩ của mình lên đường ray ấy chúng sẽ trĩu nặng và làm những thanh ray cong xuống.

- “Cứ mỗi lần gặp những người bạn mới từ Việt Nam sang tôi lại cảm thấy nhớ Việt Nam, đã lâu lắm rồi tôi không về nay”.

- “Chắc chị đã ở đây lâu”.

- “Nhà tôi là ngưòi Ba Lan, nhưng anh mất đã tám năm nay, gia đình chồng lại không thích tôi, họ đuổi tôi ra khỏi căn hộ của anh ấy, tôi buộc phải thuê căn hộ khác để kiếm sống và nuôi các con”.

Tám năm trong cuộc đời một người đàn bà, khoảng thời gian không ít để một cuộc đời mất đi thay bằng một cuộc đời khác. Bính cũng có gia đình nên anh hiểu người phụ nữ khi phải bươn bả kiếm sống sẽ vất vả thế nào, chị cho anh biết chị đã có hai con, bây giờ cuộc sống đã dễ chịu hơn trước nhiều, đứa con gái lớn học giỏi và đỡ đần được trong mọi chuyện.

Lấy chồng người nước ngoài là một sự kiêng kỵ ở Việt Nam. Những người Việt Nam cố hữu ít khi hình dung ra sự tách khỏi quê hương mình. Từ “ngoại quốc” còn quá xa lạ với dân Việt, và họ hình dung ra đã đến Việt Nam thì cũng phải mang theo mình một ý đồ nào đấy. Và cũng không tránh khỏi điều đó thật. Ai đến Việt Nam một mảnh đất đang đầy rẫy những bất trắc để mang vạ vào thân. Cần phải có một lý tưởng để soi sáng, hay là một vũ khí để phòng thân. Cái vạ với người lấy chồng nước ngoài còn đeo đẳng lâu trong đời sống gia đình. Bởi tại sao lại không lấy người Việt. Nhất định ở đây có vấn đề. Chẳng ai tách bạch được tình yêu với công việc mà mình có trách nhiệm. Để ngăn ngừa, tốt nhất là tránh xa ra. Người lấy người nước ngoài được coi là người không yêu nước, chỉ biết lo phần sung sướng ích kỷ cho bảïn thân. Họ hay bị kiểm tra, săm soi và đánh giá như những người xa lạ với chính trị của đất nước này.ø Sau chiến tranh mọi việc đã ít nhiều thay đổi. Sư cởi mở dần trở lại với những người dân. Con mắt thù địch, soi xét, truy hỏi cũng không còn mang tính đối đầu nữa.

- “Bây giờ chị có thể về thăm nhà, chính sách của mình cơiû mở và dễ dãi hơn”.

- “Tôi cũng có ý định ấy nhưng chưa tiện”.

Suy nghĩ lại trở về quá khứ:

- “Tôi quen nhà tôi hồi Hội nghị bốn bên, anh ấy thích tôi ngay và muốn đưa về Ba Lan, mãi hai năm sau anh mới thực hiện được ý định ấy. Chúng tôi sống hạnh phúc cho đến khi anh ấy mất. Yêu anh ấy, Ba Lan trở thành tổ quốc thứ hai, có điều nơi cha sinh mẹ đẻ thì không bao giờ quên được”.

Bính bỗng thấy nỗi buồn nhẹ lan tới.

Cuộc đời con người có những bước ngoặt không định trước, chỉ một giây phút quyết định và thế là tất cả thay đổi. Có những bước đi tốt và có những bước đi không lấy già đảm bảo lắm, chị đã vật lộn để kiếm sống nuôi con, nhưng điều căn bản là làm sao vẫn giữ được bản chất con người đích thực, cái đó lại xa xôi bao nhiêu với thứ đạo đức giả, thứ đạo đức chỉ biết đến mình. Hạnh phúc cũng eo hẹp lắm, nó chỉ ban thưởng cho một số con người thực sự xứng đáng. Bính cảm thông với số phận cô đơn của người đàn bà. Khi đã sống ở Ba Lan, đời chị cũng có nhiều truân chuyên lame. Để có được tình yêu và nắm bắt nó đâu có dễ dàng. Anh thấy mình cũng cô đơn và kém hiểu biết trong thế giới của đồng tiền. Đôi khi, chỉ có thể dựa vào bản thân mình, và những lúc ấy là lúc trỗi dậy những tiềm năng còn ẩn náu, hun đúc lên chất người hoặc buông tay cho số phận.
Người đàn bà rít điếu thuốc lá, vứt mầu tàn xuống dưới dhân:

- “Tôi tới mua của anh ít hàng, nhưng cũng còn có một việc cần bàn với anh”.

Bính chăm chú nhìn người đàn bà:

- “Việc gì ạ?"

-"Nhân có nhờ tôi mời anh cùng làm việc với chúng tôi”.

- “Làm việc?" – Bính không tin vào tai mình.

- “Công việc thực sự đơn giản thôi. Chỉ cần có một chút thỏa thuận với nhau”.

- “Thế tôi có thể giúp gì được chị?"

- “Anh có biết không, ở Ba Lan hiện nay chúng tôi đang buôn một loại hàng đặc biệt: máy tính. Chúng tôi chuyển từ Ba Lan sang Liên Xô. Nhu cầu máy tính ở đây rất lớn. Muốn vậy, chúng tôi cần có người chuyển hàng. Theo chỗ tôi biết thì anh có hộï chiếu công vụ có thể làm được việc này dễ dàng. Bước đầu, để làm quen với công việc, chúng tôi nhờ anh ở công việc lộn thùng, chủ yếu là dấu kín các nhãn hiệu, mỗi đợt như vậy tôi có thể trả anh 20 đô-la. Còn nếu anh tham gia “cửu vạn” chúng tôi sẽ trả anh 200 đô-la một chuyến”.

Trời, nhiều vậy sao? Bính không thể tưởng tượng nổi lại có một công việc ở Ba Lan nhiều tiền đến như vậy. Thế mà cả tháng trời nay giam chân ở ký túc xá anh lại chẳng hề biết gì chuyện này.

- “Nhân đã giới thiệu anh nên cũng không cần có thủ tục nào hơn nữa”. – Người đàn bà nói tiếp.
- “Tôi, tôi..."

Bính ấp úng.

- “Mọi việc là tùy ở anh thôi. Nếu anh nhận thì mọi việc có thể bắt đầu từ ngày mai."

- “Nhanh thế sao?"

- “Đúng đấy, chúng tôi đang cần người” – có thể nói thẳng với anh như vậy – “Theo tôi chẳng có gì đáng suy nghĩ nhiều cả. Tôi nghĩ rằng anh sang đây cũng cần đến tiền”.

- “Vâng."

- “Thế là thỏa thuận với nhau rồi nhe”.

Tàu đã tới, Bính giúp người đàn bà đưa va ly lên tàu điện.

- “Anh nhớ tới đúng 11 h nhé, tại ga phụ, nơi có bến xe ngoại ô”.

Anh nắm lấy tay người đàn bà, chào tạm biệt. Người đàn bà để bàn tay lâu hơn trong tay anh.

Một mắt xích đã vỡ ra trong sự trói buộc từ hơn một tháng trời nay ở Ba Lan. Tất cả đều giản dị và như sắp đặt trước. Đằng sau nó là những con người. Cái thế giới bác học của anh không có những chuyện này, hay đúng hơn người ta đánh giá nhau từ một góc độ khác. Trước hết là những cống hiến chứ không phải là sự cảm thông. Thế mà, Bính như vừa khám phá ra một khía cạnh mới trong cuộc đời của người đàn bà anh mới làm quen.
 
hungmgmi thân mến. Vụ máy tính cũ kỹ này bác cũng quan tâm à?Đoc mấy dòng viết của bác bỗng nhớ nước Nga quá. Bao giờ lại được nhìn lại những hàng bạch dương và các cô gái tuyêt diệu của nước Nga.Và lại được viết về Nga như nụ hôn đầu:
"Cái khăn đỏ như lửa tình đang cháy/Tuyết quay cuồng ở dươi chân ta"...
Và bao giờ lai được uông vôt-ka trên đồi Lê Nin.
 
Hộ chiếu đỏ được Nhân dùng chiếc méc-xê-đéc của “soái” đưa ông tới bãi tắm tự nhiên.
Bãi cát ven sông được dịp đón hai vị khách tóc đen ngượng ngập của phương Đông. Khu vực này có một luật lệ: tất cả những ai bước vào đây đều không có một mảnh vải trên người. Sau khi cho ôtô vào ga-ra trút tất cả những gì có trên người họ bước vào cổng. Cảnh ồn ào làm hộ chiếu đỏ hơi chùn bước. Hôm nay là ngày thi hoa hậu bãi cát. Các cô gái, các bà già, nhóm thanh niên và ông già đứng chen vai nhau thành một đám đông tươi vui, nhộn nhịp. Nhân và ông khách đã phải nằm xuống bãi cát một lúc mới trở lại trạng thái bình thường.

Có lẽ trong đời hộ chiếu đỏ chưa bao giờ có cảm giác kỳ lạ như vậy. Giữa bãi cát, nắng và những ngọn gió nhẹ thổi tới từ mặt sông rộng và yên tĩnh, chỉ có những ngọn sóng xanh dập dờn khẽ đập vào bờ cát, nhưng ở trên bờ cũng là thiên nhiên thứ hai mà con người trần trụi với con người. Ông không phải gánh một thứ trách nhiệm nào trên vai, không phải băn khoăn về một thứ quan hệ nào, ông ngang bằng với mọi người không có những trang sức phù hoa và no chán trong các kiểu nhìn. Sức sống và sự gợi cảm của những tấm thân, những bầu vú căng tròn sức sống của các cô gái trong nhóm dự thi làm gương mặt ông mãn nguyện, tươi tỉnh, căng ra. Có lẽ cũng chẳng khi nào ông được nhìn nhiều thế những cái eo thon thả, những cặp mông rám nắng, những sợi lông tơ ướp hương nắng và những vệt cát in trên thân hình đám thanh niên. Ông suýt bật cười khi nhìn Ban giám khảo. Họ trịnh trọng ngồi trên dãy ghế tựa, phô những cặp đùi ẽo ợt, những cái bụng đầy mỡ, vài mái tóc điểm hoa râm, ngực chảy xuống không còn sức hấp dẫn, lôi cuốn của tuổi trẻ giữa đám công chúng đủ vẻ kỳ hình, dị tướng, bao khuyết tật lộ ra giữa thanh thiên bạch nhật. Từ những nốt ruồi đậu không đúng chỗ, tới những khuỷu xương, những cặp đùi có tỷ lệ không cân xứng với người. Có những thân hình bạc đi vì lao lực, lại có những thân hình núng nính dư thừa sức sống, khi họ lăn tới đâu cũng tưởng chừng như xung quanh bị đè bẹp. Vài phóng viên ảnh lăng xăng quanh nhóm hoa hậu chọn lọc đã được đưa vào chung kết. Những chiếc máy Nhật hiệu Ni-công, Pentax lủng lẳng bên người, thỉnh thoảng đèn flát lại loé lên.

Ngắm no chán những cảnh ấy, hộ chiếu đổ và Nhân lui vào một chỗ vắng vẻ, nằm chống tay xuống cát. Vị khách lãng tử ở tâm trạng vui vẻ và phấn khích:

- “Tôi nay, chú kiếm cho anh mấy con mẽo. Chắc chú không cảm thấy phiền chứ”.

Nhân cười:

- “Ta sẽ thuê một phòng ở khách sạn Ma-ri-ốt”.

- "Ở đâu cho tiện thì tùy chú thôi. Cái chính là thử cho nó biết”.

Ông chuyển đề tài:

- “Này, chú có bao giờ đọc Hăng-ri Đa-vít Tô-rô không?"

Ông lắc lắc cái đầu như quả dưa, hếch cặp lông mày giao nhau, vẻ như suy nghĩ, đợi câu trả lời của Nhân.

- “Không” – Nhân nhìn vào cái bụng béo trắng của ông.

- “Anh có đọc cuốn “Về rừng” của ông tổ Híp-pi và anh thích cái lý thuyết của ông ta vô cùng. Con người cần quay về với thiên nhiên và bản ngã của mình. Chú thấy có chí lí không. Chỉ có điều cả đời anh chẳng bao giờ dám làm theo cái lý thuyết ấy cả. Anh bị bó buộc và anh sợ”.

- “Muốn vậy phải có tiền anh a”.

Nhân đế vào.

- “Tiền cũng là vật chất thôi chú em ạ. Tô-rô cho rằng chính thế giới văn minh và vật chất đã tha hóa con người. Nhưng chú biết anh không thoát khỏi cái gì không: sự giả dối. Anh sống phải sử dụng nhiều đến thủ đoạn mới giữ được ghế của mình.Thế giới quyền lực cầøn đến những thủ đoạn. Người ta tung hô anh cũng vì họ có quyền lợi trong ấy. Anh cười vào cái khẩu hiệu công bằng. Bởi liệu có công bằng thật sự không giữa một thằng nay tớ của nhân dân và ông chủ. Đầy tớ thì đi xe, tiêu tiền bạc mang, làm bất cứ cái gì mình thích, chỉ can nhân danh cái chúng, cái mọi người. Còn ông chủ thì đi kiếm ăn lần hồi, từng hạt thóc một. Để che dấu cái đó chỉ có một cách là phải mỵ dân và ban ơn cho chúng một ít. Anh là người hư hỏng, anh thừa nhận với chú như vậy, nhưng anh không hư hỏng thì cũng chết. Người ta không đi đến cấp trên với cái lưng thẳng”.

Đôi thanh niên ngồi bên cạnh họ đương hôn nhau, không để ý gì đến xung quanh, coi đây là ngôi nhà của họ. Nhân ngắm đôi thanh niên, trong anh cũng thoáng đôi chút cô đơn, một khoảng trống mơ hồ. Nhân nghĩ tới chiến dịch máy tính mà vị khách đỏ cũng là một công cụ của “soái”. Anh nhớ lại buổi nói chuyện cách đây đã lâu:

- “Tại sao “soái” lại chú ý tới máy tính?"

Soái nhăn mặt, làm cặp kính trắng trên mắt hơi nâng lên, cái nhìn thản nhiên:

- “Lẽ ra, mày cũng chẳng nên hỏi câu ấy làm gì. Nhưng cũng chẳng sao. Mọi việc bắt đầu từ mấy thằng chuyên gia tin học Việt Nam. Chúng nó được cử sang Liên Xô để sửa chữa vài máy tính cá nhân mang sang theo chương trình hợp tác Việt Nam – Liên Xô. Trong quá trình sửa, chúng nó đi tới kết luận rằng, thà để lại những chiếc máy tính cần sửa cho vài cơ quan khác của Liên Xô, và đưa mấy chiếc máy mới từ trong nước sang lại có lợi hơn. Một vài chuyên gia bỗng tính ra nguồn lợi của việc chuyển máy vi tính vào Liên Xô. Liên Xô dường như cái gì cũng có hết, những lại không có máy tính cá nhân. Nó là sản phẩm bị phong toả ở phương Tây. Hai thằng đang hùng hục đánh nhau thì không tội vạ gì cũng cấp vũ khí cho nhau. Máy tính cá nhân quá tiên lợi, nó sẽ mang lại một kỷ nguyên mới cho xã hội loài người. Và tất nhiên là làm giàu cho những người đi theo nghề tin học nữa. Rồi thì ai cũng cần máy tính cả. Từ một nhà khoa học tới một ông thợ cắt tóc. Đấy là mới nói tới những người tiêu dùng. Còn với những người sản xuất phần mềm thì lợi nhuận còn tăng nhiều hơn nữa. Nhưng đó là nói tới một tương lai gần."

- “Chà, hay nhỉ, thế ra bắt đầu từ Việt Nam”.

- “Chúng nó chuyển qua đường sân bay. Ban đầu, có giấy tờ chính thức của cơ quan, sau đó thì không. Các nhân viên hải quan Việt Nam đã nhận ra việc này, họ tìm cách chặn lại không cho giới khoa học tham gia vào buôn bán”.

- “Anh biết nguồn tin từ đâu thế?"

- “Mày lại tò mò rồi. Về nguyên tắc tao chỉ thảo luận và rút ra kết luận có tính chất kinh tế thôi”.

- “Nghĩa là nguồn lợi nhuận sẽ chắc chắn”.

“Soái” cười, vẻ thông cảm:

- “Vậy là mày đã nghĩ theo đúng hướng rồi đấy. Tao nghĩ rằng lợi nhuận sẽ chắc chắn và còn lâu dài nữa. Chỉ có điều phải chớp lấy thời cơ. Chẳng ai biết điều gì sẽ xảy ra trước mắt cả. Mày hãy tin tao đi, thế giới này sẽ còn nhiều biến đổi. Đừng có lúc nào cũng giương bộ mặt như con cừu non ra mà bàn luận việc đời. Sang đây là để kiếm tiền, có thế thôi. Nhưng muốn làm ăn thì lại có cái đầu, cái đầu là quyết định. Thay cho mày tải hàng bao hàng thì mày chỉ cần cầm theo mấy con chip là đủ tươm tất rồi. Không phải cái gì to lớn, vĩ đại cũng là ưu việt cả đâu. Thế giới siêu nhỏ cũng có cái hay ho của nó. Thằng nào đi vào siêu nhỏ có cả một tương lai chào đón. Mày đừng có quá tin vào sự tuyên truyền. Người ta viết cả hàng đống bài báo để thuyết phục nhau về điều nọ, điều kia, nhưng rút cục thế giới có thay đổi theo cách nghĩ ấy đâu”.

- “Một năm, hai năm?"

- “Tao chỉ cần chơi các kiểu trong một năm thôi. Tao có đề nghị mày thế này. Mày phụ trách chuyển hàng từ đây sang Liên Xô, đưa vào chỗ cần thiết. Tao sẽ điện cho thằng Chiến ra đón tại ga. “Đỏ” tao sẽ sử dụng ở những thời điểm quan trọng”.

- “Thằng “Đỏ” có chịu chuyển hàng cho tụi mình không? Mà lỡ nó phản thì sao?"

- “Không có thằng này thì dùng thằng khác. Mày đừng nghĩ rằng thế giới hết người có hộ chiếu đỏ. Còn thằng nào làm phản thì sẽ có cách xử lý. Nó phản thì bước đường công danh của nó sẽ chấm hết. Thôi tao đã nói nhiều quá mức cần thiết rồi”.

Nhân không nói gì. Anh cúi đầu xuống, mặt hơi buồn. Tuy là viên tướng của “soái” thật, nhưng anh thích nhìn sự đời một cách tươi đẹp hơn.

Hộ chiếu đỏ nằm ngửa mặt lên trời nhìn những tảng mây bồng bềnh trôi. Ông nghĩ cuộc sống cũng phù vân thật. Những người như ông chỉ là một số ít thôi, và ông biết sớm muộn gì ông cũng phải lo tới tương lai của mình. Ông phải tích lũy thật nhiều và phải làm sao khi ông ra đi khỏi vị trí của mình, ông vẫn còn quyền lực.

–“Thật ra cuộc đời là gì chứ. Nếu ông không hư hỏng thì có bao giờ ông thăng tiến đến bước đường hôm nay. Kinh nghiệm của ông là trong khi cả một tập thể nghĩ về người khác thì mình hãy nghĩ về mình. Làm sao mình có lợi được nhiều nhất. Và hãy lôi kéo những thằng đồng sàng, dị mộng trong lũ kia theo ủng hộ mình. Khi cần thiết thì hãy sử dung chúng là người phát ngôn. Người Việt mình thường gọi là gì nhỉ. À phải rồi “ném đá giấu tay”. A rồi dần dần anh cũng sẽ chiếm được vị trí và anh sẽ không bao giờ chết. Những người có mưu đồ là những người nằm trong bóng tối, còn những kẻ giữa thanh thiên bạch nhật chỉ có chết mà thôi. Trước khi giả làm quân tử thì phải học võ của kẻ tiểu nhân."

Ông nhớ lại chuyến đi cùng vợ một viên tướng chở hàng đi một nước láng giềng.
Người đàn bà tháo vát, đẹp, có mái tóc uốn và bàn tay dịu dàng, vợ một vị tướng đã chinh phục được ông:

- “Anh cùng đi với tôi chuyến này. Nhà tôi bận quá, mà một mình tôi thì không yên tâm”.

- “Tôi cũng cần vào Nam thật, nhưng tại sao chị lại không đi máy bay mà đi ô tô tải”.

- “Tôi thích thế” – vả lại, vợ viên tướng kề sát bộ ngực ngộn sức sống vào ông – “tôi muốn ngắm phong cảnh miền Trung, chả lẽ anh lại từ chối cho tôi một cơ hội như thế”.

Ông mơ màng nghĩ về chuyến đi. Ông biết con đĩ này rồi cũng sẽ lợi dụng mình. Bận gì thằng chồng nó. Chúng nó mưư mô cả với nhau thôi. Nhưng thế giới này thật bé nhỏ. Thể nào rồi chẳng có lúc ông phải nhờ họ. Người đàn bà đặt bàn tay lên bàn tay ông, hơi nóng từ bàn tay bà truyền sang ông làm ông không còn tự chủ được nữa:

- “Vâng, tôi sẽ đi cùng bà”.

Chiếc xe tải mải mốt lăn bánh trên đường. Chuyến đi khá thú vị vì ông cùng ngồi ở thùng xe với vợ viên tướng. Một thời gian rất lâu như thế trôi qua, có lúc ông đã ngủ gật vì lái xe không tính đến chuỵện nghỉ ngơi. Rồi trời tối dần, ông nhìn qua khe bạt, xe đã tới khu vực miền Trung.

Đột ngột xe dừng lại, một giọng nói vang trong bóng đêm:

- “Đề nghị xuẩt trình giấy tờ xe”.

Im lặng. Ông nghe tiếng chân người lái xe bước xuống.

Vợ viên tướng nhảy từ thùng xe xuống:

- “Chúng tôi chở hàng đặc biệt có giấy tờ, kèm theo”.

Tiếng loạt xoạt của giấy tờ.

- “Chị cho phép chúng tôi kiểm tra”.

- “Không”. Tiếng vợ viên tướng dứt khoát.

Ông thấy một người mở tấm bạt, một luồng gió ùa vào phồng căng bạt xe. Ánh đèn pin chiếu vào người ông và những chiếc hòm. Ông nhìn thấy vợ viên tướng và người công an đứng với nhau.

- “Rắc rối to rồi đây”. Bây giờ thì ông đoán được vợ viên tướng đang làm gì, có thể đây là một vụ áp phe lớn. Bà muốn ông cùng là người đồng minh để có thêm vây cánh. Dù sao thì việc cũng lỡ rồi, đành chờ cách xử lý của thị”.

Vợ viên tướng đồng ý với người công an mang chiếc xe vào đồøn cách đấy không xa. Để người công an ngồi trên ca bin, thị leo lên với ông thầm thì:

-"Ông phải giúp tôi vụ này. Ông tìm cách báo cho địa chỉ này để họ tới đây nhận hàng”. Bà nói địa chỉ.

Ông chợt nghĩ rất nhanh.

- “Trong đồn cũng có điện thoại, mình gọi trong đồn cũng được”.

Vợ viên tướng im lặng một giây, thốt lên:

- “Hay, ý kiến của anh rất hay. Phải tự mình gọi và đừng để họ biết. Báo cho nơi nhận hàng rồi tuỳ cơ ứng biến”.

Họ chỉ trao đổi được thế thì xe đã lao vào đòn công an, có hai người công an ở trong đồøn bước ra, một người mặc thường phục, tay cầm điếu cày:

- “Xe gì mà bắt vô, mầy. Đêm hôm khuya khoắt thế này, ai coi được”.

- “Giấy tờ không rõ ràng, lại mang nhiều hàng, đòi khám không cho khám, sao êm được”.

Vợ viên tướng từ trên thùng xe nhảy xuống.

- “Toàn người Nhà nước cả, giấy tờ đàng hoàng chứ có sao đâu. Mấy chú cho chị đi mới phải, chứ làm gì dữ day”.

Ông nghe tiếng vợ viên tướng ngọt xớt. Ông cười thầm:

- “Bà này cũng sành lắm, đi với bà cũng yên tâm”.

Giọng của bà vẫn chèo kéo:

- “Nếu các chú còn chưa thông cảm thì cho chúng tôi ngồi nghỉ đợi xe sau tới, lúc ấy các chú tha hồ khám, chứ bây giờ thì còn hơi sớm”.

Ông nhảy xuống xe.

- “Chắc mấy anh mới cơm nước xong, để tôi bảo anh lái đi kiếm ít nước uống chơi”.

Bà quay sang người lái xe:

- “Em ra cái quầy trước cổng, kiếm cho chị thùng bia ba ba, nhớ kèm theo mấy con mực nhé."

Anh tài chạy phắt ra phía cổng, phía đó có một quán bán đêm, lễ mễ bê về một két bia, hơn chục con mực.

Vợ viên tướng nhanh chóng khui hộp bia trước mặt mấy anh công an.

-“Trong lúc chờ xe sau, mời các anh cốc bia gọi là buổi đầu làm quen”.

Vẻ ngần ngại dần biến mất trên mặt mấy anh công an. Một anh cầm hộp bia:

- Bà chị cứ khách sáo quá. Thôi, tụi bay nhận lai rai chút chơi, việc để đấy đã.

Ông cũng ngồi vào bàn, uống từng ngụm nhỏ, cố giữ cho đầu óc thật tỉnh táo. Ông tranh thủ đổ thật nhiều bia vào cốc mấy anh công an. Không khí cái đồn nhỏ bỗng chốc vui vẻ, chộn rộn. Một anh còn vui chuyện tiếu lâm làm tất cả cười như pháo nổ. Anh tài lại bưng ra một két bia nữa. Chắc cũng đã lâu mấy anh công an mới được bữa chiêu đãi xả láng như vậy. Anh mặc thường phục đã mấy lần đứng lên ra ngoài, sau chịu không nổi, lăn ra giường trong ngủ. Mấy anh khác cũng đã say lơ mơ, đứng lên ngồi xuống rất khó nhọc. Từ nãy, ông đã nhấp nháy mấy lần nhìn chiếc máy điện thoại góc phòng, bây giờ, ông mới đứng lên, nói gần như thì thầm:

- “Các anh cho gọi nhờ điện thoại nhe”.

Không đợi ai đồng ý, ông quay số điện vợ viên tướng nói với ông. Những phút trôi đi trong chờ đợi, ông cứ nhấp nhỏm, cầm cốc bia, giữ những ngụm đắng ngắt trong miệng, rồi cái gì đến cũng phải đến, ngay từ tiếng chuông reo đầu tiên, ông chụp lấy ống nghe. Đường liên lạc đã nối, ông thấy bà tướng miệng nói luyên thuyên, tay đổ bia tiếp, mắt vẫn không ngừng theo dõi ông. Chỉ sau mấy phút, ông đã thông báo đủ tình hình của chuyến đi.

Làm xong chừng ấy công việc, ông thấy mồ hôi ướt đầm vai áo, ông có cảm tưởng như mình mệt mỏi hơn cả ngày chịu xóc trên xe. Ông báo hiệu đã hoàn thành công việc. Bà tướng vui vẻ gật đầu thoả mãn. Từ lúc đó câu chuyện của hai người quay sang những chỗ quen biết ở Bộï này, Bộ kia. Mấy anh công an cứ há miệng ra nghe. Họ đã gặp những nhân vật thật sự quan trọng. Ở thời buổi những cái giấy viết tay từ một người có chức vị, những cú điện thoại từ trên này, tạo cho những người làm công vụ ở dưới cái tâm lý không phải pháp luật là trên hết. Pháp luật cũng có kẽ hở của nó. Nếu mình thực thi đúng quá có khi cũng chết vì thủ trưởng không bằng lòng. Tốt nhất là cứ lờ đi coi như không có gì xảy ra. Người Việt Nam mình có tính vậy: việc to thì coi như nhỏ, còn việc nhỏ thì coi như không có gì. Thế là giữ được tình hàng xóm.

Những tin tức báo đi từ cái đồn công an nhỏ ấy gây ra một buổi tối sôi động âm thầm. Một chiếc xe nhỏ loại sang của Nhật đã tới cái đồn nhỏ, và trong lúc mấy anh công an chưa tỉnh đã dỡ đi hơn một chục hòm quan trọng nhất đựng toàn đồ cổ.

Ông đã có một chuyến đi thích thú với bà tướng. Con mẹ ấy khéo chiều, biết ăn chơi ra trò. Họ tận hưởng những thú vui của cuộc sống một cách hồn nhiên và ngây thơ nhất. Có tiền, có gái, có cả những khách sạn lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ. Cái danh của ông, của bà cũng khá lừng lẫy để mọi người cung phụng.

Từ đấy, cuộc đời ông sang một bước ngoặt khác. Ông học được thêm chiêu đi thực tế cuộc sống. Hàng năm ông đi vòng quanh đất nước chừng hai chuyến, giữa năm và cuối năm, trước Tết. Các đơn vị ông đến khá tử tế. Họ không bao giờ để ông về tay không. Như thế thì còn mặt mũi nào nữa. Duyệt kế hoạch do một tay ông ký cả. Chữ ký ông là tiền, là bạc, không khi nào người ta ký không cả. Được gần ông là một vinh hạnh, là dịp để đền đáp. Đành rằng lên Bộ có tiền cho ông rồi, những đi thực tế thì cũng phải có tiền cho ông để ông mua quà về cho vợ con chứ. Cái hợp lý ấy sẽ làm guồâng máy của nước ta chạy, chạy đều. Mỗi chuyến đi của ông đều tích luỹ được một khoản tiền không nhỏ. Lương ông chẳng là gì cả, nhưng vị trí của ông chính là lương bổng đấy. Bây giờ, ông biết mình có khả năng vô tận để kiếm ra tiền. Chỉ cần ông khôn khéo một chút, có máu thương trường một chút.

Những phi vụ ở Đông Âu chỉ là một phần của những chiến tích ông hoàn thành. Ông vẫn tin vào vận may của mình, vận “đỏ”.

*
* *
 
*
* *
Hoa hậu của bãi tắm đã được bầu. Đám đông hò reo, xô đẩy nhau chiêm ngưỡng cô gái trong vòng nguyệt quế vinh quang. Đây là một cô gái trẻ, có mái tóc hơi ngả bạch kim. Người cô cao, với bộ ngực căng phồng, đầy và nhọn. Bộ mông của cô khá ấn tượng. Hộ chiếu đỏ có vẻ khoái trá, ông thích các cô gái Tây vì sự nồng nhiệt và giàu nữ tính ấy. Vị khách già cũng đứng dậy xem , gió thổi mái tóc ông bay ngược lại phía sau, cái đầu quả dưa của ông lắc lắc.

Nhân nghĩ tới chương trình buổi tối. Sau khi đi uống cà phê và xem vũ “sex” ở cung văn hóa, anh sẽ đưa ông vào khách sạn Ma-ri-ốt, chắc ông sẽ hài lòng.

*
* *

Để vào ga trung tâm của Vác, tàu cần chui vào một đoạn đường hầm dưới lòng đất. Bao giờ, tàu cũng đỗ ở ga phụ chừng mươi phút. Phía bên kia đường hầm cũng có một ga phụ như vậy.

“Soái” chọn ga phụ làm nơi xuất phát cho chuyến du hành của Hộ chiếu đỏ sang Liên Xô. Gọi là ga phụ, nhưng ở vị trí giáp các đường đi ra ngoại ô Vác, lại liền bên ga xe buýt tới các nẻo đường nhằng nhịt của Ba Lan. Có một bãi đậu xe lớn, một phòng đợi rộng mênh mông đầy những bảng giờ tàu và xe lớn dành cho các tuyến. Phòng đợi được bao bọc bằng kính, có hàng chục chiếc ghế băng dài dành cho khách nghỉ chân. Từ đấy còn có các hành lang ngầm dẫn tới các pê-rôn.

Trước giờ tàu chạy chừng một giờ, “soái” lái chiếc méc-xê-đéc ra ga. Anh cẩn thận vòng vèo quanh mấy phố vắng xem có xe nào bám đuôi không.

Sau đó anh cho xe tăng tốc độ, len vào dòng xe nhộn nhịp của Vác, kịp tới điểm hẹn. Bộ máy của anh đang hoạt động nhịp nhàng, chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ nó bị trục trặc cả. “Soái” có cái phấn khích của người đang ở trong trạng thái giành chiến thắng. Từ vài ba tháng nay công việc rất chạy.

Ở Liên Xô, anh chọn được một điểm chuyển hàng đặt gần sứ quán Việt Nam, trong một ngôi nhà cũ tám tầng. Đấy là chỗ ở của Chiến một “đầu gấu” từng làm ăn với anh nhiều phi vụ. Điều “soái” thấy Chiến kém cỏi so với mình là hắn quá tham và ít có đầu óc chiến lược. “Soái” chỉ thực sự yên tâm khi bên cạnh Chiến có Nhân, con người của hành động, biết tiến, biết thoái, Nhân cũng có nhược điểm là hơi mơ mộng, một điều Soái không thích lắm.

Điểm chuyển máy cuối cùng là Đôm V, ngôi nhà của những con quỷ đầu đen. Đây không hoàn toàn là vương quốc của “soái”, nhưng anh có khả năng sai khiến bằng đồng tiền, cùng một lúc, anh chi phối ở đây vài nguồn lợi nhuận khác nhau, anh bỏ vốn ra và cùng chia lãi. “Soái” cũng dự trữ một số phương tiện “bạo lực”: các vệ sĩ. Chúng chỉ có nhiệm vụ hưởng lương và khi cần thanh toán các phi vụ theo một sự tính toán trước: Xin một vết sẹo, đổ một ít a-xít, làm hỏng một cái phanh ôtô...

Từ ít lâu nay, “soái” quyết định mỗi ngày có một chuyến máy tính qua biên giới. Chuyển toàn bộ số vốn thành máy tính và cho nó vào cuộc vận hành, đồng tiền sinh lãi nhanh đến chóng mặt. Anh còn lo lắng một điểm: cánh cửa hải quan luôn luôn có thể đóng với những chiếc máy tính. Trong thời buổi này, cái chính phủ phập phù sẵn sàng có những cái lệnh tréo ngoe, phá sản công việc kinh doanh của anh.

“Soái” coi Nhân là người thân cận. Anh đề nghị Nhân cùng góp vốn “đánh” máy chung. “Soái” muốn Nhân trở thành một viên tướng có thực lực, không phải quá vất vả như hồi anh buôn thuốc. Mua được thuốc ở Ba Lan cực kỳ khó khăn, nhất là những loại thuốc quý hiếm, cần tới sự bảo đảm của y tế. Buổi ban đầu, anh đi nhặt thuốc ở các quầy, mỗi nơi một ít, theo đơn thuốc bác sĩ cho. Những thứ thuốc như Ri-pha-mi-xin, B1, sinh tố C... được tích cóp trở thành những gói hàng quý cho các vị khách ở nước ngoài về. Các cửa hàng thuốc ở Trung tâm dần quen thuộc với giới buôn bán ở Việt Nam. Họ cử người đại diện sang liên lạc với anh. Lúc “soái” bắt được những mối thuốc lớn thì cũng là lúc anh có liên hệ với “đỏ” và vài cơ sở buôn bán ngoại tệ.

Nhân đồng ý, vì anh cũng tin vào cách tính toán của “soái”, chiến dịch máy tính làm hai người gắn bó thân thiết với nhau.

Chuyến đi bình thường nào của hộ chiếu đỏ “soái” cũng chuẩn bị rất kỹ. Anh mua một cúp-pê riêng với tất cả bốn giường đệm. Một giường là nơi ngủ cho hộ chiếu đỏ. Tầng trên và bo chỗ còn lại có thể để một loạt máy tính, tuy nhiên, hai giường dưới anh sẽ xếp rất ít đồ đạc.

Nhân thay “soái” lao đi, lao lại như con thoi. Anh không thể trực tiếp làm “cửu vạn” mà đến kho nhận máy tính, giao hàng và giao việc cho Trinh.

Đội quân “cửu van” của Trinh cũng đa dạng, đủ màu sắc, phần lớn là hộ chiếu công vụ, hộ chiếu A – B có cộp dấu đi trong một, hai tuần của giới nghiên cứu sinh. Trinh phân cho họ đủ các công việc khác nhau từ xếp hàng mua vé, lộn thùng, khuân vác, đôi khi cả kiểm tra các máy.

Ban đầu, mỗi “cửu vạn” thường chỉ mang một máy tính theo, vì mặt hàng này hải quan Liên Xô chưa kịp đánh thuế nên “soái” được hưởng phần lãi rất lớn. Ở Ba Lan, hình thành một đội quân ra chuyển máy tính, thanh toán máy tính và một số rất lớn thu lượm vàng chuyển ngược lại Ba Lan. Thu vàng về, “soái” mang ra chợ trời, tới các cửa hàng chuyển đổi đô-la và vàng, ăn thêm một giá nữa.

Sinh viên, công nhân, cán bộ, nghiên cứu sinh Vịệt Nam ở Liên Xô đua nhau ra đứng xếp hàng ở các cửa hàng mỹ nghệ vàng bạc. Trong dãy hàng vô tận của người Nga, người Ba Lan và các người ngoại quốc khác, ở cửa hàng vàng bao giờ cũng lấp ló mấy cái đầu đen của dân Việt Nam trông thấp bé, ngắn tun tủn. Chỉ nhìn thấy một xe hàng chở đổ về, nhất là đồ mỹ nghệ vàng bạc, thì chỉ ít phút sau đã thấy dân Việt Nam được thông báo chạy tới, mỗi người cố mua lấy một sợi dây chuyền, một cái vòng tay hoặc một cái nhẫn... Những thông tin quan trọng được trả giá một cách xứng đáng.Vàng trở thành vật ngang giá hữu hiệu nhất của những ngày loạn lạc này. Nó là tiêu chuẩn để đánh giá sức mạnh của các “soái” trong cuộc chiên chinh phục đồng tiền. Vô hình chung nhiều hình tháp được cấu thành một cách ngẫu nhiên theo quy luật cung cầu. Ở dưới là tầng lớp những người làm thuê, xếp hàng thuế, chuyên chở thuê, còn phía trên là người thâu vàng và lên kế hoạch cho các chuyến đi biến vàng thành hàng hóa.

Nước Liên Xô không phải hoàn toàn không biết gì về công nghệ thông tin. Nhưng những thế hệ máy tính của Liên Xô quá lớn, quá cồng kềnh, và chỉ dành cho một số nghiên cưu đặc biệt trong các trường đại học và cơ sở nghiên cứu. Máy tính cá nhân là một thành tựu làm biến đổi xã hội công nghệ. Sự tham gia của rất nhiều trí tuệ vào quá trình vận hành của cuộc sống đã làm thế giới thông tin trở nên đa dạng và đáng tin cậy hơn. Nước Liên Xô bị cấm vận về khoa học kỹ thuật từ phương Tây, đang thở những hơi cuối cùng, lại đón nhận một cách không lựa chọn các loại máy PC hết sứa cần thiết cho cuộc sống.
Việc “đánh” máy tính của “soái” chỉ sau hai tháng bị giới làm ăn Việt Nam tại Ba Lan phát hiện. Nhưng anh đã tranh thủ được quãng thời gian đáng kể để giành được phần thắng. Bây giờ anh đã có thể chấp tất cả các “soái” khác ở Ba Lan. Nhưng anh thấy cần đẩy gấp tiến độ của chiến dịch.

Chiếc Méc-xê-đéc chầm chậm đi một vòng trước cửa ga, rồi lao xuống một dốc nhỏ, vòng ra cửa sau của sân ga. Một nhóm người đương ngồi, đứng lên, lố nhố đợi “soái”. Trinh nổi lên giữa đám người với chiếc áo màu vàng sẫm, và cái dáng thấp bé của cô. Bên cạnh cô là Bính và mấy người nữa. Xe chưa đỗ hẳn, Trinh đon đả chạy ra đón:
- “Tôi đã tập hợp tụi nó đến đây rồi, có Bính, có hai dân toán, hai tran-sít”.

- “Đủ rồi. Tý nữa chị cho lộn thùng và chất hàng lên nhé”.

“Soái” nhìn đồng hồ, còn khoảng hai mươi phút nữa tàu sẽ vào ga.

Một chiếc xe tải ngoặt vào đỗ cạnh xe “soái”. Từ cửa sau của xe, Nhân nhảy xuống, anh làm hiệu cho lái xe lùi vào sâu tý nữa. Chiếc xe đỗ sát vào hè đường.

“Soái” bước đến:

- “Mày có lấy đủ máy không Nhân?"

Nhân vừa lúi húi gỡ bạt, vừa trả lời:

- “Có bảy chiếc máy loại AT và ba chiếc XT. Ngoài ra còn có một máy phô-tô-cốp-pi nữa”.
Nhân bê một hòm, hướng về đám “cửu vạn”.

- “Này, giúp một tay nhanh lên”.

Cả nhóm người ùa đến. Trinh hướng dẫn cả nhóm xếp một đống hòm vào một góc. Sau đó, họ bắt đầu lộn vỏ thùng máy, dùng băng dính dán lại. Chuyển hết số hàng xuống, trả tiền cho lái xe, Nhân lao ngay vào ga, chỉ hai phút sau, hai công nhân khuân vác lực lưỡng Ba Lan mang hai chiếc xe kéo ra.

Nhân lệnh cho cả nhóm nhanh chóng chất máy lên hai chiếc xe kéo. Đám thùng ngật ngưỡng với hơn ba chục chiếc hòm lớn nhỏ đi vào thang máy. Thang máy chật chỉ đủ cho một xe và Nhân vào trước, “soái” và một xe khác lên sau. Khi cả hai chiếc xe đã lên đường ray chính thì cũng là lúc tàu đang vào ga.

Trinh tập trung cả đám “cửu vạn” lại dặn dò:

- “Hôm nay chỉ có một người là Bính đi theo “đỏ” thôi. Chuyển hàng lên tàu xong, tất cả sẽ giải tán. Ngày mai sẽ lại gặp nhau ở đây”.

Khách đi tàu xếp hàng chờ người trưởng toa ra soát vé. Các toa đều trống trơn không có một bóng người. Hai công nhân khuân vác tìm ra số toa của hộ chiếu đỏ rất nhanh. Đấy là toa đặc biệt, khi sang đất lớn không phải đổi bằng toa khác. Nhân nhảy vào kéo cửa kính, hai công nhân cùng đám “cửu vạn” ùn ùn chuyển cả hơn ba mươi cái hòm vào cúp-pê. Người trưởng toa cao lớn, có mái tóc điểm bạc bước ra gắt gỏng:

- “Vé đâu, đưa đây xem, chuyển gì mà lắm thế này”.

“Soái” đưa vé cho ông già coi toa xem kèm theo một tờ 20 đô-la. Ông già cũng chẳng buồn ngó tới tấm vé, càu nhàu:

- “Nhanh lên, hết giờ bây giờ."

Xếp gọn đống hàng, người Bính mồ hôi chảy ra ròng ròng. “Soái” gọi Bính ra một cái ghế đợi, ghếch chân, mở chiếc cặp đíp-lôm-mát, lấy một tệp 100 đô la, rút mười tờ đưa cho Bính:

- “Này, cầm lấy phòng mọi sự bất trắc. Hải quan Ba Lan không cho mang quá 500 đô la ra biên giới đâu. Cậu đưa cho hộ chiếu đỏ một ít”.

Nhân tới bắt tay Bính.

Con tàu chuyển bánh, rùng rùng lao vào bóng tối của đường ngầm, năm phút sau tàu đã ở ga trung tâm.

Hộ chiếu đỏ, bước lên tàu, với một cặp đíp-lôm-mát nhỏ trong tay, mái tóc điểm bạc, cái đầu dài như quả dưa, cặp lông mày giao nhau hếch lên, bước đi đĩnh đạc, trịnh trọng. Bính ngồi đợi ông ở bàn trà. Mới bước vào, Bính nhận ra ông chính là người đi cùng mình chuyến tàu sang Ba Lan vài tháng trước đây. Hộ chiếu đỏ cũng nhận ra anh, cặp mày ông hơi nhướng lên, lộ vẻ ngạc nhiên, cái miệng ngoác ra cười:

- “Cậu đấy à”.

Ông chăm chú xem xét cả đống hàng rồi vui vẻ vỗ vai Bính:

- “Mọi việc đều ổn cả phải không cậu. Qua biên giới cậu cứ để anh lo. Mấy thằng lợn ấy không dám đụng đến cậu đâu”.

Ông rút ra một chai vang trắng, món quà “soái” đưa lúc chia tay, đặt lên bàn cẩn thận lau hai chiếc cốc:

- “Anh với chú uống một cốc vang mừng cuộc tái ngộ."

Bính mỉm cười gật đầu. Vị khách “đỏ” là người thích vui vẻ.

Tàu chuyển bánh, ầm ầm lao về hướng biên giới Ba Lan- Liên Xô.
 
CHƯƠNG III

- “Cái đáng kể nhất mà mình có thể có được trong đời ở Liên Xô là tình yêu, mối tình đầu của tuổi vị thành niên”...

Nhân mở đầu câu chuyện tâm sự với Bính.

Anh không làm sao quên được đôi mắt xanh biếc, cái miệng nhỏ và cặp môi mọng nước tươi tắn của người thày dạy tiếng đầu tiên. Cái cặp môi mà sau này Nhân có cảm tưởng rằng anh đã hút nhụy để sống cả cuộc đời mình. Cái cặp môi dạy anh nói bập bẹ bằng tiếng Nga, cái từ thiêng liêng và trang trọng: anh yêu em. Thực ra, cô giáo chỉ hơn anh một tuổi. Cô mới ra trường là vào khoa dạy tiếng Nga cho người nước ngoài. Những buổi lên lớp rất thú vị. Mỗi ngày cô giáo lên lớp với một bộ trang phục khác nhau. Có lúc cô đổi hẳn kiểu tóc làm tụi cùng lớp học anh thật ngỡ ngàng. Từ một đất nước chiến tranh, trong đời sống mọi người ít quan tâm tới vẻ ăn mặc thường ngày sang một đất nước tươi đẹp như Liên Xô, với anh đấy là sự đổi đời. Khi rời xa đất nước anh cùng các bạn đi trên những chuyến tàu vượt qua biên giới Trung Quốc, vào Liên Xô. Tâm lý háo hức với cái mới thường trực trong anh. Mỗi người trong đoàn được phát một chiếc va ly và hai bộ quần áo mới và những chiếc áo len ấm.Khi tàu qua biên giới Việt Nam-Trung Quốc, những sinh viên Việt Nam trút bỏ hết các bộ cánh bẩn thỉu, nhàu nát thường mặc ở nhà. Họ có chút máu sĩ diện, muốn bước ra nước ngoài với những bộ quần áo mới. Đi nước ngoài với tất cả những người trong nước nay là một điều mơ ước. Nhất là đi học tại Liên Xô. Mọi người coi đó là một diễm phúc. Ban đêm, họ ném những đồ bỏ đi qua cửa sổ các con tàu. Những gói nhỏ nằm la liệt trên mặt đất. Buổi sáng mai chắc người dân ven đường lại đến dọn dẹp. Những chuyến tàu từ Việt Nam đi chở theo bao nhiêu nhớ nhung và buồn. Nhân nhớ ánh trăng vằng vặc đi theo anh suốt những ngày ở trên tàu. Sau bóng núi là bóng trăng. Con tàu càng lao về phía trước thì lòng anh lại càng xa xót đi ngược lại phía sau. Từng ga, từng ga…Bằng Tường, Liễu Châu, Hán Khẩu…Anh càng thấy xa hơn cái mảnh đất thân thương của mình.

Chỉ có ít ngày trên tàu mà mọi người béo hẳn ra. Những bữa ăn hợp khẩu vị của Trung Quốc làm tất cả cánh sinh viên hào hứng. Dịch vụ trên tàu hỏa Trung Quốc đúng là tuyệt hảo. Trong khi ngồi ăn, chỉ cần Nhân thấy thiếu thứ gì, đưa mắt nhìn, thoáng có chút băn khoăn là người phục vụ đã mang đến nơi và phục vụ đến nơi, đến chốn. Qua mỗi ga lớn, khi tàu dừng lại, lại có những đoàn học sinh ra đón tai sân ga và múa hát. Nhân nhìn những gương mặt béo hồng, đỏ má màu cờ, vui vẻ gào hết cỡ của các em bé Trung Quốc, nhưng vẫn thấy lòng mình không vui. Gương mặt của mẹ, của những người thân cứ như hiện lên trước mắt anh thầm thì, như dặn dò, như tâm sự.

Anh thường nhớ lại những cuộc dạo chơi trong những mùa thu. Vào những ngày nghỉ, cô giáo thường rủ cả lớp đi dao chơi trong rừng. Những ngọn đồi nhấp nhô nối đuôi nhau trải dài ngút mắt. Nhiều khi con đường mòn dẫn qua những bụi cây, những thân bạch dương màu trắng loang lỗ và những lá cây rủ xuống thướt tha trong gió. Cỏ sạch và mịn trong nắng nhẹ, một màu vàng dịu làm ấm mắt. Natasa-tên của cô giáo-có niềm yêu thích không mỏi với những nhà văn cổ điển Nga. Một trong những tác giả cô yêu thích là nhà văn Tuôcghênhép. Trong những chuyến đi dạo cô hay nói về những trích đoạn thú vị của Tuôcghênhép, về niềm yêu thích thiên nhiên của nhà văn, về tình yêu của nhà văn và thái độ tôn trọng của nhà văn với phái nữ. Những lúc chỉ có hai người với nhau, cô đọc thuộc lòng cho anh nghe tác phẩm “Lũ Xuân” của Tuốcghênhép. Nghe câu chuyện tình yêu từ cái niệng nhỏ nhắn của cô, với những hơi thở lúc gấp gáp, lúc trải dài trữ tình, hồn hậu, đầy sức sống, Nhân cảm thấy rung động thật sự với ngữ điệu và tình cảm của tiếng Nga. Tuốcghênhép vô tình đã là cầu nối cho anh hiểu nước Nga, con người Nga hơn.

Họ đã cùng nhau bay về thành phố Orôn, tới thăm bảo tàng và trang trại của gia đình Tuốcghênhép. Đấy là trang trại lớn, với những căn nhà cũ của gia đình ông vào thời nước Nga còn chế độ nông nô. Nhưng ngôi nhà được giữ nguyên như thời mẹ Tuôcghênhép sống cùng với những người nông nô. Bà là người mẹ tha thiết yêu con, nhưng lại là một người thuỷ chung với chế độ nông nô và tàn ác với người nông nô trong trang trại. Tuôcghênhép đã chứng kiến những cảnh đánh đập nông nô từ bé, nhưng ông không làm sao quen được cảnh tượng ấy. Trái lại ông phát hiên ra một sức mạnh trầm lắng trong tâm hồn Nga. Những người mu-zich ấy có sức sống thật mạnh mẽ và cũng là những con người tháo vát, thông minh hết mực. Giữa những cánh rừng cao vút, họ nằm trên bờ cỏ, nghe tiếng chim hót từ những rặng cây cao. Chính nhờ trang trại này, Tuốcghênhép có thể phân biệt được giọng chim trong rừng. Và ông cũng hiểu được đời sốâng người nông dân và trí thức Nga. Sau này, ông đã viết “Bút ký người đi săn” trong trạng thái đầy cảm hứng của tình yêu với nước Nga thiêng liêng và thành kính. Và dù xa tổ quốc, không muốn trở về với trang trại nô lệâ của cả nước Nga, nhưng trái tim ông vẫn gần bên nước Nga.

Nhân bỗng nhiên như đọc được tâm hồn của Tuốcghênhép. Trong tâm trạng của người xa đất nước anh nhìn thấy một nước Nga mới trong trái tim nồng nhiệt, âm thầm chịu đựng của Tuốcghênhép. Những vẻ đẹp ấy làm tâm hồn trở nên trẻ trung và trái tim trở nên thánh thiện. Natasa đã trở thành cái cầu nối cho anhvới văn hoá Nga.

Điều kỳ lạ là chiến tranh gần như đã tàn phá Orôn, cả thành phố không còn lấy một ngôi nhà nguyên vẹn. Nhưng khu nhà bảo tàng Tuốcghênhép may mắn sao vẫn còn lại với thời gian. Natasa tặng cho Nhân nụ hôn ngỡ ngàng đầu đời ở khu trang trại này. Nhìn đôi mắt xanh, trong trẻo của cô, Nhân hiểu rằng suốt đời anh sẽ không bao giờ có thể quên cô giáo và nước Nga.

Cô giáo dạy Nhân một bài hát tiếng Nga; “Nơi đây, những cánh đồng nước Nga, vầng trăng chiếu sáng, trăng nhẹ lướt và nhẹ trôi...” Một bài hát mà mỗi lần cất giọng, Nhân lại bị lôi cuốn vào cái không khí huyền diệu của nông thôn Nga, với khung cảnh thanh bình và êm ái. Ngay cả những lúc đau khổ tâm hồn anh cũng được làm dịu đi, được tái tạo lại.

Một vụ nghỉ hè, họ đi về nông trang tham gia vào công việc đồng áng. Trang trại nằm bên một dòng sông thanh bình chảy qua đồng bằng mênh mông. Những con đường chưa trải nhưa nay bui cát bốc lên theo mỗi chuyến xe tải từ trang trại ra cánh đồng. Con đường lồi lõm nhiều ổ gà. Từ sáng tinh mơ tới tối mịt, họ phải ra đồng làm việc. Công việc không thật vất vả, chủ yếu là thu gom dưa chuột, phân loại và chở đến xe ô tô đưa về trang trại. Trên cánh đồng, họ đi từ ruộng này sang ruộng khác trong cái nắng nóng và gió thổi từ bờ sông làm rối cả những mái tóc trẻ. Chính tuổi trẻ đã làm nên không khí sinh động trên cánh đồng. Thỉnh thoảng lại có một giọng hát vút lên làm Nhân nôn nao trong một nỗi nhớ mơ hồ nào đấy. Trong mắt anh tất cả đều vừa lạ, vừa quen.

Họ nghỉ trong một căn nhà gạch nhỏ có những chiếc giường sắt khi bước vào đầy bụi ken chặt gần nhau. Ban đêm còn nghe cả những con chuột chạy xô trên mái vì những giọng nói ồn ào của những người từ đất khác đến. Căn phòng rộïng được chia làm hai. Phía trong là các cô gái, còn phía ngoài là các chàng trai. Các chàng trai chắn của ban đêm. Khiến các cô gái khó có thể xoay sở khi muốn đi ra ngoài. Thế là họ bàn cách chui qua cửa sổ. Đám con trai phát hiện ra, cười rả rích cả đêm. Cuối cùng, họ hé cửa, đủn vào mấy cái chậu giặt. Thế là những giọng nữ phá lên cười giữa đêm. Những giọng cười trong trẻo vang lên trong bóng đêm làm Nhân giữ mãi cái ấn tượng về một cuộc sống hoà bình. Với anh, tất cả thật đẹp. Anh có tiếng Nga, có cả một tình yêu lớn, gần như không gặp trở ngại gì.

Natasa thường hay dạo về ban đêm với anh trên những con đường đầy bụi ban ngày. Những bụi cúc nở trong đêm trông xám xịt, thỉnh thoảng loé lên những bóng trắng nhỏ. Bóng cô thật kiều diễm trong cái váy dài đoan trang. Gió chạy lồng lên trên cánh đồng Nga. Dưới ánh trăng cao vòi vọi chúng rền rĩ ở công nhà thờ với những vòm cao rồi lại lẩn vào giữa những căn nhà gỗ. Nhân nghe giọng hát ấm và trong từ cô giáo: “Những cô gái ơi, yêu các chàng trai đẹp làm gì? Làm gì có ở họ, những tình yêu thuỷ chung…” Giọng dân ca thấm vào hồn anh dịu nhẹ, có chút đau đớn, dường như không có hy vọng trong tương lai. Nhưng lúc này anh chỉ biết sống, với những mái nhà gỗ Nga, những con đường, những đĩa xúp Xalianka hơi chua lẫn vị bùi của xmêtana.

Từ sáng sớm, họ leo lên những chiếc xe tải, qua những đoạn đường gập ghềnh, nhiều ổ gà do bị máy cày băm nát, vừa đi, họ vừa hát, hết bài này đến bài khác. Từ những bài ca từ thời chiến tranh vệ quốc đến những bài ca xây hoà bình, những bài ca tình yêu nay chất lãng mạn.

Những ngọn gió thổi tung chiếc khăn bịt tóc của Natasa, cô cứ bíu lấy cánh tay khỏe chắc của Nhân. Một buổi chiều, sau giờ hái dưa chuột, họ rủ nhau xuống một con sông nhỏ tắm. Sau một hồi đùa rỡn thoái mái, người lái xe của nông trang bắt đầu tấn công cô giáo, anh ta ôm ghì lấy cô dưới nước và tìm mọi cách hôn vào đôi môi mọng đỏ như trái anh đào. Những quầng nước bắn lên tung tóe. Cô giáo gọi Nhân: “Nhân ơi, cứu tôi với”.
Nhân nhảy lên bờ, và bằng tất cả sức khỏe của mình, anh đã ném một cục đất vào lưng anh lái xe. Đau đớn và tức tối, anh ta bỏ cô giáo, đuổi theo Nhân. Nhưng rồi anh ta cũng không rượt theo nổi cái dáng thấp nhưng thoăn thoắt của Nhân. Cuối cùng, anh ta phải bỏ con mồi. Nhân theo một lái xe khác trở về nông trang.

Buổi tối hôm đó, Nhân cùng cô giáo đi dự một buổi sinh hoạt của các nông trang viên. Đám người khá đôäng, họ mặc trang phục dân tộc của dân Nga. Vài chàng trai to khoẻ với những cặp mắt xanh vừa láu lỉnh, vừa khao khát. Tiếng nhạc đã làm những bước chân xích lại gần nhau. Nhân ôm cô giáo nhảy trong tiếng phong cầm. Lồng ngực cao và tròn của cô chạm vào ngực anh. Đôi mắt màu xanh của cô ánh lên vẻ dịu hiền, ngoan ngoãn. Anh thấy cặp đùi của cô sát vào chân anh. Anh thấy sức nóng của nó đốt lên một ham muốn vô bờ bến, muốn chinh phục tất cả và làm tất cả vì cô, tay trong tay, họ cùng đi về trong bóng tối. Những ngôi sao thắp sáng trên cánh đồng. Gió thổi lộng, chúng ve vuốt những hàng bạch dương đang rì rào ven đường. Chỉ khi đến gần khu trại nghỉ cô giáo mới nói với anh:

- “Sau này, khi Nhân nói thạo tiếng Nga sẽ nhớ tôi chư”.

- “Vâng, thưa cô."

Anh muốn giữ cô và cùng dạo chơi trong vừơn của khu trại nghỉ, nhưng rồi ở lại một mình với nỗi buồn trong sáng và sâu sắc trong lòng. Từ phút ấy, anh biết thế nào là tình yêu với vị ngọt ngào và cay đắng của nó.

Sau này Nhân đã có nhiều cuộc hẹn với Natasa. Cô không chỉ mê ngôn ngữ, văn học, có giọng hát khá hay mà còn là một con người cới mở và yêu hội hoạ. Những ngày nắng ấm, họ ra vẽ ở ngoại ô. Nhân mang giá vẽ cho cô giáo. Đôi lúc, anh còn cần mẫn ngồi chọn những tuýp màu và nhìn những bức tranh phong cảnh lần lượt hiện lên dưới ngòi bút của cô giáo. Natasa có năng khiếu với màu sắc. Có có khả năng phân biệt nhiều sắc độ trong cái nắng miền trung ấm áp của nước Nga. Côù thích cái nắng dịu nhẹ ôm lấy các tháp của hành chói loá, những thân cây bạch dương yểu điệu nối nhau lớp lớp tạo thành cả một khu rừng không biết lối ra. Và bầu trời cao, thoáng đãng khá đặc trưng cho các cánh đồng Nga. Nhiều lần, họ xuống nông thôn đi ra những cánh đồng trải bát ngát, với màu lúa mì vàng xậm, và cả những chiếc máy gặêt hung hãn xông xáo giữa cánh đồng. Trong cái không khí tràn đầy công việc ấy, bao giờ Nhân cũng nhận thấy Natasa có nét Nga, thanh thản và dịu dàng đến lạ lùng.

-“Em đã cho tôi những ấn tượng đẹp nhất về đất nước này."

-“Những chàng Ivan ở nước em hung hãn lắm. Họ thích uống rượu và gây gổ với nhau hơn là lắng nghe những câu chuyện về nghệ thuật, văn học. Đúng ra là vẫn có nhiều người như vậy. Bằng cứ là cứ đến các bảo tàng của thành phố là sẽ gặp họ. Nhưng dù sao em vẫn thích tiếp xúc với những người ngoại quốc như anh hơn. Ở anh có một nỗi buồn khó hiểu, có nét văn hoá phương Đông nào đó em chưa nắm bắt được. Có thể em cũng chỉ tưởng tượng ra thôi. Cúng có thể đó là tình yêu của em dành cho anh. Nhưng gì thì gì em với cứ thích quan niệm về thuỷ chung của người châu Á. Thích được hôn vào mũi anh, thích bắt nạt anh, bắt anh gọt khoai tây và rán nó với bơ suốt một buổi trưa nào đo. Đó là sự lựa chọn của em."

Nhân đã sống hạnh phúc trong những năm tháng ấy. Nụ hôn đầu tiên trong đời anh ở trang trại Tuôcghênhép cũng là nụ hôn dành cho cô gái tóc vàng. Cô là người hiểu biết và nhiều hơn Nhân bốn tuổi, họ bên nhau chân thành nhưng không vụ lợi. Nhân nói với Bính:

- “Khi muốn yêu thực sự một vùng đất nào đấy, tốt nhất là cậu hãy yêu một người con gái ở vùng đất ấy."

Anh còn nói thầm:

- “Cũng từ khi ấy, trong mình có hai Liên Xô: Một Liên Xô của Lép Tônxtôi, Trê Khốp, Goóc Ki, Tuốcghênhép và những tâm hồn cao thượng. Cái nước Nga ấy mãi mãi trường tồn. Vì nó đã trở thành máu thịt của văn hoá nước này.Còn một Liên Xô của những linh hồn đồi trụy, thô bạo, cơ hội, hãnh diện, những kẻ vị kỷ cá nhân với đầu óc Sô Vanh, hẹp hòi, cái Liên Xô ấy vĩnh viễn bị mình tẩy chay."

Bính nhìn đôi mắt buồn buồn vẻ tư lự, cái dáng khỏe chắc và những bắp thịt ngắn vồng lên mạnh mẽ ở cánh tay của Nhân. Tuy cảm thấy gần gũi với Nhân, nhưng anh lại chưa bao giờ thực sự hiểu Nhân cả. Đợt dừng chân tạm trong căn phòng của Nhân ở Mát, sau khi chuyển một đợt máy tính, lại là dịp Bính nhìn sâu vào tâm trạng của người bạn đồng hành.

Câu chuyện xảy ra hôm qua làm chấn động suy nghĩ của Nhân.

Càng ngày nước Nga càng trở nên hỗn loạn. Những lưu học sinh, người du học ở tâm trạng về cũng không xong mà ở cũng không giải quyết được gì. Một bộ phận người Việt ở Mát chuyển sang nhậïp vào dòng người buôn bán đông đúc ở Matxcơva. Trong bước chuyển hỗn độn ấy có biết bao nhiêu bi kịch xảy ra : Người thì mất tiền, người bị mất hộ chiếu, người thì hết hạn làm nghiên cứu sinh không xin được ở lại làm cho xong…Những người Nga càng hỗn loạn hơn. Cả nước như cái chảo nóng. Một nhà thơ quá bức xúc đã dùng súng bắn vào đầu tự tử. Trên diễn đàn các thủ lĩnh chính trị nói về đổi mới, có người chỉ trích bộ máy vận hành của nhà nước, lên án nó về sự trì trệ, các nhà khoa học than thở vì kinh phí eo hẹp, về thời gian dỗi không làm gì, về những công trình khoa học bị xếp xó không đưa vào cuộc sống.

Trong số những người sang Liên Xô thì những người lao động làm việc ở các nhà máy, xí nghiệp ở trong tình trạng tồi tệ nhất. Một đoàn lao động chỉ có một phiên dịch là cái cầu nối duy nhất cho mọi người. Có tình trạng người phiên dịch trở thành người cai quản cả phần xác lẫn phần hồn của một số lao động. Họ trở thành những ông vua nhỏ cho nhưng người lao động kiếm ăn và cung phụng. Những cái bóng nhỏ bé của các cô gái Việt bao giờ cũng khiến Bính xúc động. Nó khiến anh nhớ tới những con kiến cần mẫn đang kiếm ăn ở xứ tuyết, ở xa tổ của mình. Tình trạng này ở các nước Đông Aâu cũng không khá hơn bao nhiêu. Để có một chút vốn liếng họ phải chịu đựng bao nhiêu điều vất vả mà khó ai có thể tưởng tượng nổi.

Một trong những hướng làm ăn ở Liên Xô lúc này là tập trung vào các kiện hàng (contennơ) gửi theo đường biển. Để có một tiêu chuẩn đăng ký những người chủ hàng khá vất. Họ phải chạy vạy hàng tháng trời. Đôi khi, để chuẩn bị cho một kiện hàng có khi phải chuẩn bị tới cả năm trời. Trong tất cả các thùng hàng gửi về Việt Nam đều có những mặt hàng sinh hoạt như dụng cụ điện : nồi áp xuất, bàn là ,may so, những vật dụng như nồi niêu xông chảo dùng đủ cho vài ba gia đình, có người còn chuyên chở cả những hàng chiến lược như thiếc, niken, thép tấm, các vật dụng bằng đồng… Với cái giá rẻ như bèo của thời bao cấp, những ông chủ Việt nho nhỏ lúc nào cũng sẵn sàng hàng trăm rúp trong túi chỉ để mua đồ. Làm thế nào nhét được một thùng lớn là cả một vấn đề. Có những đường dây riêng để chạy hải quan. Ví dụ như nếu có tiêu chuẩn ở sứ quán thì hàng trong thùng chỉ cần nhìn qua là kẹp chì, chuyển xuống cảng. Những thùng hàng chiến lược ấy cần thiết biết bao với những cái dạ dày lép kẹp, thiếu thốn đủ thứ sau chiến tranh. Chỉ cần một cái dây may so đun nước là cũng ra tiền rồi. Còn những cái quạt tai voi, những cái máy lạnh, những chiếc tủ gỗ, đồ trang trí nội thất trong nhà, đồ nấu ăn…tất tật những gì người ta có thể vơ vào để làm cho đầy thùng. Một thùng hàng như thế người chủ hàng tính theo hàng chục, có khi hàng trăm cây vàng, nên họ không ngại tốn công, tốn sức đầu tư. Khi những thùng hàng ùn lên, đọng lại ở các cửa khẩu, ở hải quan, lại hình thành những đường dây để xử lý công việc. Có người phải đợi hàng tháng hải quan mới chỉ định kiểm tra thùng hàng của mình. Mỗi khi kiểm tra họ phải dậy từ mờ sáng, kéo theo bạn bè để khuân vác, điều chỉnh lại thùng hàng. Lại có cả những đường dây liên lạc từ Matxcơva tới cảng biển như Oâđetxa để theo dõi đường đi của côntennơ. Chỉ khi thùng hàng nằm trên tàu rồi các chủ mới yên tâm về thùng hàng của mình và chuẩn bị cho trận chiến mới ở cảng Hải Phòng để nhận hàng. Không biết bao nhiêu nhưng bi hài kịch đã xảy ra sau thùng hàng. Có lúc thùng hàng được cẩu lên tàu biển do nặng quá bị gẫy cần cẩu. Thế là một cuộc thanh tra lại bắt đầu được xới xáo lên, và những cái tên xuất hiện trên trang báo.

Với những thùng hàng nhỏ hơn có một phương thức gọn nhẹ là chuyển qua đường máy bay. Để chuyển hàng qua máy bay điều cần thiết nhất là phải xếp hàng đúng chuyến đi và đưa hàng kịp vào chuyến bay. Có những người không kịp chuyển hàng đành phải rút vé máy bay lại và lang thang hàng tuần lễ ở Matxcova. Trong cái không khi căng thẳng, tối sáng lẫn lộn, đầy những bức xúc, uẩn ức, và những xung đột nội tâm về đạo đức, tình trạng ở các sân bay cũng hỗn loạn, không có chuẩn mực. Quen với những người dân Việt Nam luôn chịu đựng, mặc sương và gió tuyết, kiên nhẫn xếp hàng, những người bảo vệ sân bay bày ra đủ trò để hành xác dân đầu đen với mục đích bóp nặên, tranh thủ kiếm ít tiền. Chỉ cần phát lộ một cơ hội có tiền là những người trong cuộc không dừng lại ở một thủ đoạn nào chấn lột. Đương nhiên, những người không biết tiếng Nga là khổ nhất. Họ không có cơ hội để than vãn với cấp trên của những người bảo vệ. Trong số những nạn nhân của sân bay không chỉ có các công nhân mà còn có cả các sinh viên, nghiên cứu sinh và cả những đoàn khách sang thăm thú Liên Xô. Những gói hàng từ Matxcơva trở về Việt Nam luôn xộc xệch, ẩm ướt, có khi bị rút ruột ở sân bay Liên Xô, sân bay Việt Nam. Chúng mang dấu ấn của mồ hôi, không ít nước mắt và đôi khi cả máu.
 
Từ sáng sớm, Bính tiễn chân Nhân cùng hai cô gái là công nhân từ Xê-bi-ri về, ra sân ga gửi hàng máy bay chậm về nước. Tài sản của cả hai người chỉ là một chiếc máy điều hòa nhiệt độ nặng gần sáu chục cân. Buổi chiều, Nhân về một mình, quần áo xộc xệch, mệt mỏi và chán nản. Anh trở nên cau có, lầm lì một cách đáng sợ.

Nhân vốn thấp, các cô gái lại còn thấp tới vai anh, trông họ như những cái nấm lùn ngơ ngác giữa trời tuyết. Họ đi tắc xi từ trung tâm thành phố tới chỗ gửi hàng mất một giờ đồng hồ. Tuyết rơi lả tả. Vết ôtô và chân người ướt nhoèn, lầy lội. Ngay cổng vào để cân hàng có hai người gác cổng, họ chỉ cho vào khi có giấy vào cổng. Nơi phát giấy vào cổng là một trạm ở ngay gần đó. Phải xếp hàng tới một tiếng đồng hồ, Nhân mới lấy được giấy vào cổng cho hai cô gái. Nhân và hai cô gái cố lách qua đám đông. Một chiếc xe tải chạy vào, bánh xe quay tít làm bùn bắn lên tung toé. Hai người gác ra mở cổng. Bỗng cả đám đông chạy ùa tới, hai người gác cổng rượt theo dùng dùi cui đánh tới tấp. Nhân làu bàu :

-« Hôm nào cũng thế này thì loạn thật ».

Mấy cái bóng ôm mặt chạy ngược trở lại, tình trạng thật bất ổn và khó coi. Đợi cho mọi sự lắng xuống. Nhân chen vào, dẫn hai cô gái đưa tới chỗ người gác. Một người gác cổng trở vào nhà trong. Anh đưa giấy, đề nghị cho hai cô gái vào gửi hàng :

- Hàng đâu ?

Người gác hỏi với cái giọng ồm ồm.

Người gác dùng hai bàn tay thô bạo nắn khắp người cô gái có vóc nhỏ nhắn. Nhìn thấy cảnh tượng ấy, Nhân đang kéo cái thùng giấy đựng máy điều hòa nhiệt độ bất giác run lên.

Tuyết vẫn rơi, ngày càng dày, bùn tuyết nhão ngấm vào thùng giấy làm đôi chỗ bị bục ra, người gác cổng cao lớn chống nạnh hỏi Nhân :

- Thế tiền đâu ?

- Tiền nào ạ ? Nhân ngạc nhiên, anh không hiểu câu hỏi.

Thấy thế người gác cồng cười khẩy, bất thần dùng sức xô cả ba người ra cửa, để chiếc thùng giấy ướt nhoẹt trơ trọi trên mặt đất. Hai cô gái không hiểu tiếng Nga, hốt hoảng, nằng nặc lao vào túm lấy người gác :

- Trả lại cho tôi cái giấy vào cổng.

Cái bóng mặc áo ca pốt lừng lững vung dùi cui lên. Một cô gái ngã lăn xuống tuyết bất tỉnh. Nhân chạy vào đỡ cô gái dậy. Anh thấy cô gái nhẹ bỗng trên tay mình, một dòng máu nhỏ rỉ ra trên trán cô. Anh chuyển cô gái cho một người đứng ngoài ba-ri-e, và lao vào gã gác cổng. Anh sàng một đường quyền rất đẹp, cho hắn lĩnh trọn một cùi trỏ vào ngực và một đầu gối vào hạ bộ. Hắn ngã ngửa người, vập đầu vào nền tuyết. Rên rỉ không dậy được.

Nhân nhảy ra khỏi ba-ri-e. Anh đỡ lấy cô gái, chạy về một chiếc tắc xi đậu ở chỗ khuất. Hai ba bóng Việt Nam chạy theo anh. Một cậu mở cửa tắc xi :

- Anh đi quyền đẹp lắm, mọi việc để tụi em lo cho. Tụi em là « bộ đội » ở đây mà. Cái hòm thế nào cũng gửi được. Anh đi không lại rắc rối to với tụi nó. Hẹn gặp lại.

Trên ôtô, Nhân lấy khăn mùi xoa lau máu cho cô gái. Anh giữ cái bóng tái xanh, men mét của cô gái trong lòng mình. Đất nước này biến đổi đến nỗi chính anh cũng không nhận ra nó nữa. Con người ngày nay có thể tàn bạo, nhẫn tâm đến kỳ lạ. Họ có thể vùi dập một cô gái yếu ớt, mảnh mai như vùi dập một thứ sinh vật xa lạ, không hề thương xót.

Nhờ mấy cậu ”bộ đội” chiếc thùng cũng được chuyển vào, nhưng ấn tượng của cú đánh lại dội mạnh vào trí não Nhân. Anh nhớ tới mặt tuyết trắng bị dẫm nát, bị quằn quại, dưới vệt bánh xe và những giọt máu chảy theo vết chân người chỗ cửa chuyển hàng máy bay chậm.

- Tao biết người dân ở đất nước này. Nhưng, dù sao cũng không thể tin được. Khi rời khỏi những lý tưởng cao đẹp và trong sáng, con người trở nên vị kỷ, lạnh lùng và đáng kinh sợ bao nhiêu. Chả lẽ sự thô bạo lại trở thành bản chất của cái bản thể vốn khỏe mạnh, nhân hậu xưa kia.

Anh đi đi, lại lại trong phòng, vẻ bực bội :

- Lắm lúc tớ muốn bỏ quách đây để về nhà. Kể ra cũng chẳng ai cấm mình thật, luận án cũng xong rồi. Tuy vậy, tớ vẫn muốn xoay xở kiếm ít tiền.

Bính nhìn ra ngoài trời. Tuyết vẫn rơi, mấy hôm nay Mát trở trời. Anh vẫn nghĩ rằng Nhân khó thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của đồng tiền.

-"Cậu ta rồi vẫn lụt sâu vào đấy thôi. Cả mình nữa”bộ đội”.

- Này, Nhân ơi, tao ra Ka-lê-nhin mua gạo chuẩn bị quay lại Ba Lan đây.

- Ừ, mày đi đi. Tao sẽ lấy vé đi ngày mai. “Soái” mong rồi đấy.

Tuyết vẫn rơi, Mát ngập tuyết trắng, chiếc xe ủi tuyết màu nâu vàng lùi lũi lăn bánh đẩy tuyết trên đường. Lúc tuyết rơi, Bính lại cảm thấy không khí ấm áp và dễ chịu. Anh rời khỏi những bức tường chật hẹp của trường Đại học tổng hợp, chui xuống bến tàu điện ngầm. Trong lúc chờ tàu, Bính ngắm những bức tượng trên tường đường xe điện ngầm. Công trình xe điện ngầm ở đây quả là có một không hai trên thế giới. Mỗi nhà ga thực sự là một tác phẩm nghệ thuật kiến trúc tổng hợp nhìn không chán mắt.Thật khó hình dung ra Matxccơva không có tàu điện ngầm. Với thành phố bao la này tàu điện ngầm là hệ thống giao thông lý tưởng. Mặc dù tàu điện ngầm xuất hiện ở Đức lần đầu tiên nhưng phải sang nước Nga nó mới thành một hệ thống giao thông hoàn chỉnh và hữu hiệu. Bất kỳ trong thời tiết nào người ta cũng có thể đến với nhau bằng tàu điệân ngầm. Cứ khoảng 5 phút, lại có một chuyến tàu. Tàu đã tới. Bính lên một toa còn nhiều chỗ ngồi. Bính thấy những hành khách ngồi cắm cúi vào một trang báo, một quyển sách hay, đang lắng sâu vào tâm tạng mình. Thảng hoặc, mới có một nhóm thanh niên ùa vào, với những gương mặt vui vẻ, hồn nhiên. Người Liên Xô ăn mặc không đẹp, không có màu sắc và kiểu cách sinh động như dân Ba Lan. Và người Ba Lan thích chú ý tới mốt và tính cách của mình nhiều hơn.

Ra khỏi tấm cửa kính dày, Bính bị chen lấn xô đẩy, dẫm vào chân, tuyết rơi xuống bị dẫm nát nhàu những bước chân. Anh dừng lại trước một bàn bán hoa. Anh thích những bông cẩm chướng vẫn tươi thắm trong trời tuyết, màu đỏ của nó gợi những ước mong cháy bỏng. Mát đang trong cuộc vận động những đại diện vào thành ủy. Qua những tờ báo in, viết tay, đánh máy, phô-tô-cóp-py dán tại các bến xe, Bính thấy Mát đang sôi lên trong không khí nóng bỏng của những cuộc đọ gươm tư tưởng. Lang thang trên phố, thỉnh thoảng đọc những dòng chữ, Bính cảm thấy buồn buồn. Liên Xô đang trở thành một phòng thí nghiệm của những tư tưởng, những định kiến, những tâm trạng. Ở phố Ác-bát, anh thấy những bức tranh thánh được bày bán bên những bức tượng khỏa thân. Anh còn tìm thấy ở nay những huân chương thời nội chiến, huân huy chương anh hùng Liên Xô. Những sự tôn vinh của quá khứ không còn mấy giá trị. Có những cựu chiến binh mũi đỏ, giọng lè nhè, say sưa ngồi bệt trên tuyết, họ ngồi ôn lại quá khứ, một mình nói với mình. Tại quầy sách trung tâm khách ra vào nườm nượp. Trước quầy sách là những người phe sách. Bính thấy sách của các nhà tư tưởng phương đông, các nhà Yôga, sách bói toán và kinh thánh... Mỗi cuốn sách bán vượt giá bìa tới ba mươi, bốn mươi lần. Người dân Liên Xô vẫn ham đọc sách, điều đó làm anh thích thú. Dù sao vẫn là sách. Anh mua một cuốn sách triết học gồm trích đoạn văn bản các tác phẩm của các nhà tư tưởng Trung Quốc. Anh cảm thấy mình ngấm dần cái không khí hỗn độn, đủ mùi vị của Mát, và nhận thức nó một cách chân xác hơn.

Nhân rẽ vào cửa hàng thực phẩm lớn nhất đại lộ Ka-lê-nhin. Anh leo lên tầng hai, rẽ vào quầy bán các loại mì và gạo. Cửa hàng Lớn này có ưu điểm so với các nơi khác là bao giờ cũng sẵn gạo. Anh chọn mua thêm một ít cá hộp, xúc xích loại ngon để mang sang Ba Lan. Đi nhiều cửa hàng ở Ba Lan, nhưng anh cũng chỉ kiếm được loại mỳ ống vừa dày, vừa dai, không thích hợp với khẩu vị. Vả lại, mọi thứ thực phẩm ở Ba Lan đều bán theo tỷ giá đồng đô la nên hết sức đắt đỏ. Mỗi lần sang Liên Xô, chỉ cần chịu khó một chút là anh có đủ gạo và thức ăn cho nửa tháng trời. Mỗi chuyến trở lại Ba Lan, dù đi máy bay hay tàu hỏa, Bính đều mang theo túi Thái đựng đầy gạo, đồ hộp. Vài nhân viên hải quan có lúc đã mang các túi gạo ra chọc thử xem có dấu vàng không, anh chỉ cười, thấy họ bất lịch sự một cách kỳ lạ.

Bính về nhà thì thấy Nhân đã đưa ra hai chiếc vé tàu hỏa cho chuyến đi ngày mai.

Việc chuyển máy tính qua biên giới ngày càng trở nên khó khăn. Trước hết, do quy mô của quá trình máy tính chuyển qua biên giới hầu như không kiểm soát nổi. Mạnh ai người nấy đi. Bây giờ không riêng “soái” mà còn nhiều nhóm khác tham gia vào công việc. Có người ôm giấc mộng thành “soái” vay một một lúc vài nghìn đô la mua mấy cái máy chuyển sang Liên Xô đánh quả đậm. Sau ba tháng trời bị giới làm ăn Liên Xô chặn lại, anh đành phải bán với giá rẻ mạt, chịu cái nhục “thất tín” và rời bỏ mộng làm “soái”. Có người đủ tiền mua một máy tính cũng tìm cách nhân vốn bằng cách mua máy mang qua biên giới, ăn nhờ, ở đậu tìm cách thanh toán.

Căn phòng Bính ở cũng nhiều khách khứa tìm đến. Có người anh mới biết lần đầu, có người đã từng cùng làm “cửu vạn” một hai lần, có người đến theo giới thiệu của người quen đến tìm một chỗ nghỉ qua đêm.

Thỉnh thoảng lại có những cậu sinh viên từ tỉnh xa tới, lễ mễ bưng một bao tải áo mông-ta-ghi (áo len dệt) hay khăn voan, ngủ lại với Bính một đêm rồi lại bay về tỉnh nhỏ.

Có lần, Bính tò mò hỏi một cậu người đen, gầy như que củi, mái tóc xơ dựng đứng như không bao giờ chải:

- Chúng mày đi đâu kiếm được lắm áo thế.

Cậu ta giương đôi mắt to ngạc nhiên nhìn Bính.

- Thế anh không biết thực à?

- Không.

Cậu ta vui vẻ giải thích:

- Kiếm ăn cũng khó lắm anh ơi. Áo em mang lên cũng vài ba loại. Loại này, mua được rẻ nhất, thực ra là đồ phế phẩm. Loại này cũng mua ở cửa hàng, nhưng tụi em vào làm quen với nhân viên bán hàng, khi có hàng thì họ gọi. Nhưng cũng không chỉ đợi mà ăn sẵn nhé. Cứ phải rập rình luôn. Dân cộng mình nhiều, hàng thì hiếm. Thường thì mỗi đứa trong tụi em đều có một số cửa hàng ổn định, giấu không cho thằng khác phát hiện.

Bính đảo đống quần áo:

- Tao chẳng thấy màu nào thích cả. Chẳng hiểu dân mình mua cái đồ khỉ gió ấy làm gì.

- Đấy là anh ở bên này, nhìn đồ Tây quen đi, chứ dân mình thì chuộng đồ này vì nó bền, dễ giặt, mặc sạch. Nhất là các bà, các cô nông thôn.

- Ừ, nói thế còn tạm nghe được. Nhưng dù sao những màu như màu gạch, màu xanh lá cây và mấy cái màu nhăng nhố này không sao chịu nổi.

- Tụi em lấy xô, có được chọn đâu. Có lãi là mừng rồi.

- Này, thế mang hàng nhiều thế này trên tàu không bị hỏi à?

- Em chưa bị ai hỏi cả. Mấy lại ở Ba Lan, dân cũng thạo buôn bán lắm, chẳng ai trách mình đâu.

Bính ra tủ lạnh, lấy mấy quả trứng, mấy lát hành và đặt chảo lên bếp điện. Trứng ốp lếp cháy xèo xèo, vàng ươm. Anh rắc một tí hạt tiêu, mang vào nhà. Anh lấy một cái bánh mỳ, cắt ra từng lát nhỏ, lấy hai cái cốc để đổ ít rượu vang đỏ:

- Tao lười quá, chẳng muốn nấu cơm nữa, cùng ăn với tao một tí bánh mỳ cho vui.

- Vâng.

Cậu sinh viên cũng không khách sáo gì, ngồi vào lấy dĩa xiên mấy lát trứng, ăn ngon lành. Đi từ tỉnh ngoài về Vác, cậu đã phải mất nửa ngày ở sân ga và một đêm mất ngủ trên tàu coi cái bao tải khổng lồ của mình. Cậu ta uống thêm một ít rượu, mặt trở nên hồng hào, dễ chịu.

- Ngoài mông-ta-ghi, mày có buôn gì nữa không.

- Có chứ, còn khăn voan và thuốc nữa, nhưng vốn yếu chỉ tập trung vào mông-ta-ghi và khăn voan thôi.

- Thế các thứ hàng này đi đâu?

- Khăn voan thì sang Tiệp lợi hơn. Còn mông-ta-ghi chủ yếu về Việt Nam. tụi em viết thư hẹn trước, có người ở các nước ấy sang là tụi em mang hàng l ên. Mỗi chuyến như vậy cũng lãi vài chục đô.

Bính không nói gì thêm, anh yên lặng ngồi ăn. Anh cũng quen sống cảnh tạm bợ, ăn cho qua bữa như thế này. Cảnh sống lúc nào cũng chỉ băn khoăn về các chuyến đi, việc mau vé, mua hàng. Quen với mọi việc nên anh cũng không thấy vất vả lắm, nhưng nhiều lúc anh cảm thấy bải hoài; chống chếnh. Anh không đủ thời gian để thăm ai, giao tiếp kiểu bạn bè một cách chân tình. Phần lớn những người quen anh cũng về nước, hoặc bận rộn trong guồng quay của đồng tiền. Thời gian ở Ba Lan, anh cũng ít đi ra phố. Các cửa hàng quần áo, các công viên, chợ búa không mấy lôi cuốn. Anh trở nên quen thuộc và chán gnán với phong cảnh nơi đây.

Một buổi sáng, mở cửa phòng, Bính suýt đá ngay phải một”cửu vạn” đang nằm ngáy khò khò trước phòng anh. Anh giật mình vì trưa hôm qua anh xếp hàng cho “cửu vạn” nọ chở hàng tới biên giới. “Cửu vạn” được dựng dậy trông xơ xác vì trải qua một đêm đói và rét.

- Sao cậu không gõ cửa phòng tớ.

- Mới quen, không dám phiền nhiều, gõ cửa sợ ầm hành lang lên.

- Có chuyện gì xảy ra phải không?

- Số mình đen quá.

- Đợi mình nấu ít nước chè uống cho ấm đã.

Bính chạy đi pha nước, chuẩn bị bữa sáng.

Thì ra bốn chục cái máy trong chuyến đi ấy đều bị hải quan Liên Xô gạt ra nằm chỏng trơ trên tuyết. Các “cửu vạn” phải chịu rét mướt, lội xì xụp trong tuyết, rồi cử vài người về gọi các ông chủ tới cứu nguy. Nhóm “soái” của Bính hôm qua mới chuyển có bốn cái. Bính mặc quần áo đi gọi điện cho “soái” ngay lập tức:

- Mày chắc nó nói đúng chứ.

- Thì nó đang ở đây mà lại.

- Mày phải báo ngay cho Nhân và Trinh lệnh cho hoãn chuyến đi hôm nay lại, tạo ra biên giới thu mấy cái máy về.

Bính về nhà thấy tay “cửu vạn” nọ đã vùi đầu trong đống chăn, ngủ mê mệt.

Chưa đầy một tuần sau đó, câu trả lời đã rõ ràng. Bắt đầu từ lúc này, hải quan Liên Xô sẽ đánh thuế mặt hàng máy tính nhập vào nội điạn, với giá trung bình mỗi chiếc 330 đô-la tiền thuế.

”Soái” thở phào, dù sao vẫn còn đường thoát. Nhưng tiền của giới “cửu vạn” cũng sẽ giảm xuống một cách đáng kể.

*
* *
 
Đây rồi, đây rồi, mãi mới được đọc tiếp tiểu thuyết của bác. Em cứ tưởng bác bận quá, quên post nốt tiểu thuyết trên NNN. Như thế thì "tức" lắm đó ạ. Đang đọc dở mà không được đọc tiếp như là gì ấy nhỉ ...?

Cám ơn bác về bộ tiểu thuyết này, em và các bạn trong NNN vẫn đón chờ các chương tiếp theo của bác. Có lẽ, bác thấy post bài mà bọn em không ai hưởng ứng, không ai trả lời, nên bác chán ạ? Không đâu bác ơi, tỉ dụ như em, thích đọc lắm, nhưng vẫn còn trẻ chẳng có kinh nghiệm gì, và không sống thời các bác nên chỉ biết đọc thôi. Chẳng nhẽ post mấy dòng "cám ơn". Như thế là spam, lão admin BAN nick em chết. Tiểu thuyết của bác rất thú vị, và luôn luôn có người đón đọc. Xin cảm ơn bác.

Từ rày, cứ hễ khi nào lâu lâu không thấy bác post tiếp thì em sẽ post bài giục bác đó ạ.

Kính chào bác! Một lần nữa xin cảm ơn bác.
 
@Virus: Xin cảm ơn sự chia xẻ của bạn với tác giả. Do bận rộn nên tôi không trả lời kịp thời. Mong nhận được những phản ứng thật với văn bản, để rút kinh nghiệm cho những cuốn sau. Sáng tác là một điều thú vị, nhưng còn thú vị hơn khi được trà dư tửu hậu với người đọc văn bản. Nước Nga thật rắc rối vì nó thu hút khá nhiều sự quan tâm của chúng ta. Không biết bác nghĩ thế nào, nhưng tôi cho rằng tượng đài Nga đang trở lại sau khi lý tưởng xhcn bị tan vỡ.

Cuốn tiểu thuyết này ngắn, nên cũng nhanh chóng cung cấp toàn bộ văn bản cho bác đọc.

Mong được sự chỉ dẫn về những điểm chưa được của cuốn sách. Tạm biệt.
 
Biết tên tuổi bác lâu rồi, dưng mà hết sức bất ngờ khi đọc tiểu thuyết của bác-một công việc hoàn toàn trái tay với bác Nicky.
Nhưng xét đến cùng, đó cũng là công việc ghi lại những khoảnh khắc, những thời điểm của lịch sử, đúng không bác Nicky?
Em chờ những phần tiếp theo của bác. Nhắn nhe là bác phải post đều tay vào đấy nhé.
 
Rất cám ơn bác đã lưu tâm đến những dòng viết của cháu. Cháu là người không thích đọc tiểu thuyết, nhưng lại đặc biệt thích đọc những câu chuyện ngắn, nói về cuộc sống hàng ngày bình dân, hoặc những câu chuyện về thời trước đây của các bác tại Liên Xô. Những câu chuyện đó rất thu hút cháu, qua đó cháu có thể tưởng tượng được những gì đã từng xảy ra với Liên Xô cũ, những gì đã từng xảy ra với cộng đồng người Việt tại Nga nói chung, và tại Moscow nói riêng. Thay vì đọc lịch sử, cháu sẽ đọc những câu chuyện đó vì nó sinh động hơn, lại phản ánh được con người và xã hội thời bấy giờ.

Câu chuyện của bác, cuốn hút cháu bởi vì nó chân chất quá, bình dân quá. Bác dùng những ngôn ngữ đời thường, nên có thể vì thế câu chuyện dễ dàng ăn nhập được vào với người đọc. Và cũng có thể, câu chuyện của bác đơn giản, tình tiết thật, nó khiến cho những người đã từng sinh sống học tập ở Nga như sống lại một thời tuổi trẻ của mình, câu chuyện đơn giản như chính những người Nga sống rất đơn giản.

Cháu văn không giỏi, chỉ xin một vài dòng cảm nhận sau khi đọc một số phần câu chuyện của bác.

Cháu vẫn mong chờ các phần tiếp theo!!!
 
Đây là chuyến đi đầu tiên có nộp thuế của nhóm “soái” đợt này Nhân và Bính cùng đi, mang theo bốn máy tính.

Bính ra ga từ sớm. Nhà ga ồn ào, tiếng loa, tiếng chân người vội vã, tiếng rì rầm của nhứng lời trao đi, đổi lại chẳng có gì rõ ràng, cụ thể mà cứ chờn vờn, bảng lảng ở tận đâu đâu. “Soái” cho chuyển hàng đi từ ga trung tâm.

Cảm thấy mỏi chân, anh bước vào phòng đợi của ga. Ngồi bên anh là một đôi vợ chồng trẻ, anh chồng diện một bộ com-lê màu sáng, còn chị vợ mặc bộ váy nhạt màu be, có đôi mắt xanh trong sáng và dễ chịu. Chị vợ dựa vào vai chồng, để vài sợi tóc rơi qua trán. Vài người khác để đồ đạc ngay ở dưới chân. Những chiếc du lịch đủ các kiểu màu đỏ, nâu, vàng nhạt la liệt trên sàn. Bính vẩn vơ so sánh cái túi Thái màu đen của mình với những chiếc túi khác. So với những chiếc túi khác nó không đến nỗi nào, còn có vẻ sang trọng là khác nữa. Lúc ấy, anh nghĩ dân Việt Nam mình thật khổ, đi đâu cũng phải mang vác, đến vất vả, lợi lộc tất nhiên là có rồi, nhưng cực nhục thì cũng trăm phần.

Anh bật cười: - “Số mình đúng là số cửu vạn”.

- Thế nào, mày ra đã lâu chưa?

Vừa từ trên thang máy xuống. Nhân đã nhìn về phía Bính. Dòng người hơi nghẽn lại, rồi lại tản ra trên sân ga. Bính gật đầu cười, không nói:

- Tao tranh thủ ra chợ kiếm ít hàng kèm thêm.

Nhìn bộ dạng Nhân thật tức cười. Cái dáng thấp bè, to ngang của nó tải thêm một cái túi du lịch bên hông và hai cái túi xách tay, càng kéo nó lùn tịt xuống. Cứ nhìn trang phục thì biết nó không phải là người thích màu mè. Cái áo khoác màu ghi xám, chiếc quần nhạt màu tro, đôi giày lông ngắn cổ đã cũ màu đen. Nhưng toàn bộ người Nhân vẫn toát ra vẻ tự tin, nhất là cái cười mỉm, quyến rũ.

- Cái gì mà nặng thế?

Bính đỡ lấy một cái túi xách tay, la lên.

- Hơi nặng một chút thôi, nhưng gọn.

Nhân tủm tỉm.

- Còn mươi phút nữa sớm chán. Vé đây rồi. Đợi một chút, xem tầu vào đường phía bên nào rồi chạy cũng kịp.

Bính và Nhân quay vào phòng đợi.

Những hàng Nhân mang trong túi là những hộp cúc bò. Nhân mua để sang bán bên Liên Xô, bù vào số tiền “cửu vạn”. Anh đã chạy tới khu chợ buôn lớn nhất Vác để lùng. Sau khi len lỏi nhão người giữa những quầy hàng che kín, chia thành sạp riêng. Nhân đã tìm đượcc ái quầy hàng có những chiếc cúc kim loại hiệu levis ấy. Nhân mua vài trăm bộ cúc. Mỗi bộ cúc vài loại to, nhỏ khác nhau cùng tập nhãn dày cộp. Anh còn mua thêm vài chục hộp phấn và một chục tút thuốc lá Mal-bô-rô. Mỗi cây thuốc sang Liên Xô trị giá gần bằng cả tháng lương của một công nhân. Những hàng này có bói cũng không thấy ở các cửa hàng lớn.

- Tàu sắp tới rồi đấy. Ra nhanh lên kẻo muộn.

- Nhân đứng lên. Bính xăm xăm xách cái túi của Nhân bước ra cửa. Anh bỗng nghe tiếng gọi giật giọng phía sau. Anh quay lại, đôi vợ chồng trẻ nhìn anh cười và trỏ cho anh chiếc túi du lịch anh bỏ quên lại. Bính quay lại cầm cái túi và cám ơn họ.

Từ phía cuối sân ga, một chiếc xe chở hàng nhanh nhẹn len giữa những dòng người. Trên xe chất đầy những hòm trắng ghi nhãn hiệu máy tính. Người công nhân khuân vác đẩy chiếc xe tải băng băng. Bên anh là một mái tóc đen ngắn len giữa những người da đen và da trắng. “Soái” bước lại bắt tay Nhân và Bính. Lúc này khuôn mặt “soái” có vẻ béo lên, cặp mày rậm, sắc nhìn sau cặp kính lạnh, sắc sảo. “Soái” ăn mặc chỉnh tề, đầu chải mượt.

Nhân quay lại giục Bính:

- “Nhanh lên cậu, tàu sắp tới rồi đó. Mình với cậu lên toa trước, mở cửa cúp-pê đỡ hàng vào. Vé mình cầm nay”.

Trưởng toa cầm đôi vé, cho Nhân và Bính vào cúp-pê. Bính dò dẫm xách được đồ đạc vào thì đã thấy Nhân nhanh chóng vứt những hòm trắng nhỏ qua cửa sổ. Nhân nói, giọng gấp gáp:

- “Cậu ở đây, mình ra đầu toa mang mấy hòm to vào”.

Bính nhanh nhảu thế chân Nhân. Anh đỡ những hòm giấy từ tay anh công nhân Ba Lan và “soái”. Chỉ một thoáng, cúp-pê đã đầy những chiếc hòm. Nhân quay lại, lễ mễ bưng cái hòm giấy to.

- “Mày kiểm lại đi, có 12 hòm tất cả."

Bính đếm rất nhanh.

- “Đủ rồi còn gì nữa không”.

“Soái” bước vào toa, anh đưa mắt kiểm tra một lần nữa, nhìn đồng hồ, bắt tay Bính và nói:

Bính gật đầu, nhìn theo cái lưng hơi nghiêng của “soái”. Tàu đã chuyển bánh, anh ta nhảy từ tàu xuống sân ga, tay vẫn cầm chiếc cặp đíp-lôm-mát.

Sự việc xảy ra trong vòng năm phút. Cũng không có cảm giác của những cuộc chia tay. Nhân vào, thấy Bính ngồi thở, anh cười.

- “Bây giờ phải xếp gọn đống hàng này đa”.

Xếp xong những chiếc hòm, Bính và Nhân ngồi đối diện với nhau trò chuyện. Nhân nhìn vào mắt Bính cười thân mật:

- “Bây giờ mọi chuyện phụ thuộc vào cách xử trí của chúng mình. Tùy cơ mà ứng biến thôi. Mọi chuyện đều có thể xảy ra cả. Sau ba tiếng nữa, mình sẽ có mặt ở biên giới”.
Nhân đưa cho Bính mấy tờ giấy in đã điền chữ, sáu trăm đô la, và nói:

- “Đây là tờ giấy mua máy tính, còn đây là tiền thuế. Tốt nhất là mua được tụi nó, khỏi thuế”.

- “Đóng thuế ở đâu?"

- “Cửa khẩu chứ còn ở đâu. Thế này nhé, hải quan Ba Lan lên thì đưa giấy tờ, thế là đủ rồi. Đừng vội xì tiền ra. Nói chung, về khoản này dân Ba Lan tử tế, nhưng cũng không loại trừ những trường hợp đặc biệt”.

Tàu hỏa đến gần biên giới.

Có tiếng gõ cửa phòng. Một người hải quan Ba Lan xuất hiện. Anh ta ngó qua hộ chiếu, nhìn những thùng giấy, nheo nheo đôi mắt như cười:

- “Máy tính?"

Nhân đang lọ mọ nhai bánh mỳ, giương cặp mắt lên nhìn. Bính hai tay giữ gối, nhưng ngực thấy khó thở, tim đập dữ dội.

- “Còn đồ đạc gì nữa không”.

Bính chỉ vào chiếc túi lộn xộn để dưới góc bàn, gần cửa sổ toa tàu.

- “Các anh có mang giấy tờ không?"

Nhân và Bính đưa giấy tời chuyển máy tính ra. Anh hải quan cầm giấy, nhìn qua, đưa tay lên chào, rồi đi.

- “Cha này dễ tính”.

Nhân bình luận.

- “Hết rồi à?"

- “Hết gì, kiểm tra ấy mà, mới bắt đầu thôi”.

Nhân ngừng một lát, nói thêm:

- “Cậu phải bình tĩnh, quan trọng nhất là đừng để mất máy”. Chiếc tàu hỏa kéo lên một hồi còi dài, giảm dần tốc độ, rồi dừng lại, các toa va nhau ầm ầm. Bính ngó đầu nhìn qua cửa sổ. Những sĩ quan biên phòng và hải quan Ba Lan đã lục tục nhảy xuống ga xép gần biên giới. Nhân tỉnh khô ngồi giở tờ tạp chí. Bính bỗng thấy người lạnh, đầu gối run, anh cố trấn tĩnh, hít một hơi thật sâu. Dù sao cũng có Nhân. Đã nhiều lần đi qua biên giới nhưng anh vẫn chưa thể nào quen được với mọi tình huống. Chiếc tàu lại chuyển bánh, Bính có cảm giác nó lao thật nhanh, quãng giữa hai biên giới là một quãng đồng rộng, còn vương lại những vệt tuyết trắng chưa tan hết trên nền đất ẩm đen. Tàu chưa dừng lại, Bính đã thấy bóng những sĩ quan Liên Xô mặc quân phục, có vài áo ca pốt màu cứt ngựa đứng thành từng tốp dọc theo đường sắt. Tàu đã dừng. Các sĩ quan Liên Xô rầm rầm lao lên chắn các cửa toa. Bính ngồi thu lu, lắng nghe những âm thanh hỗn độn ngoài hành lang.

- “Mở cửa cúp-pê ra, mở ra”.

Tiếng giầy đinh lộp cộp và tiếng hét ngoài hành lang. Bính nghe tiếng kéo cửa roàn roạt. Anh nhìn sang Nhân. Nhân vẫn ngồi xem báo, nét mặt không có gì thay đổi. Bính bồn chồn, anh nóng ruột muốn mở ra nhìn hành lang tàu, xong lại thôi.

- “Mở cửa ra”.

Tiến giày đứng ngay ở cửa cúp-pê.

Nhân với tay mở chốt cửa. Trước mắt họ sừng sững hai sĩ quan có vóc dáng cao lớn, đi ủng da. Sau lưng họ là người trưởng toa.

- “Paspo – Việt Nam?"

- “Yes”.

Nhân trả lời. Anh đứng lên, tay vịn vào hai cánh giường hai bên trong cúp pê. Hai sĩ quan lọt vào cúp-pê một cách nhanh nhẹn, họ đẩy Nhân ra cửa, kéo tay Bính thật mạnh, Bính bị bất ngờ bật dậy, cánh tay ê ẩm. Anh theo Nhân bước ra cửa ngoài. Bính quan sát ngoài hành lang. Những người dân Nga, dân Ba Lan đã ra đứng ngoài. Các sĩ quan Nga nhìn qua các hòm giấy họ lật gầm giường, xem trên gác trần để kiểm tra xem có vũ khí không, sau đó cầm hộ chiếu bước sang phòng khác.

Chưa yên vị, lại thêm một nhóm nhân viên hải quan tiến tới cúp-pê của Bính. Nhân lẩm bẩm:

- “Tụi rách việc nay”.

Anh quay vào phòng ngồi với Bính. Một trong những nhân viên hải quan có vóc dáng thấp, người to bành vạm vỡ lao vào. Anh ta nhìn đống hòm trắng, hỏi giọng vang vang:
- “Bao nhiêu máy tính?"

Nhân xoay xoay tờ tạp chí trong tay, trả lời:

- “Có bốn máy, anh này hai máy – Nhân chỉ Bính – còn tôi hai máy, chúng tôi chỉ tran-zít qua Nga thôi”.

- “Cho chúng mày biết thế nào là tran-zít”. Gã thanh niên bỗng gầm lên. Anh ta vớ một thùng trắng ném qua cửa cúp-pê.

- “Dẹp ra kia nhanh lên, đến ga phải cho máy xuống hết”.

Nhân xịu mặt:

- “Anh nhẹ nhẹ tay cho. Có thể anh làm thuế trên tàu được không”.

- “Không, mặc xác chúng mày. Ai bảo chúng mày mang nhiều”.

Tàu đã dừng lại ở ga chính. Nhân quay sang Bính:

- “Thôi chuyển hòm xuống. Nhanh không tàu đi thay bánh nay”.

Bính hối hả tha mấy chiếc hòm ra đầu toa. Từ đó họ lại tuồn hòm xuống đất. Sân ga hơi thấp, nên phải chồm lên mới với tới những chiếc hòm trắng. Còn một chiếc hòm, gã thanh niên đã từ trên sàn tàu kéo xuống Bính phải nhào ra, suýt bị chiếc hòm lôi dúi xuống đường tàu. Mặt đỏ phừng phừng, mồ hôi nhễ nhại, anh văng tục bằng tiếng Nga. Gã thanh niên cười hề hề:

- “À ra chúng mày cũng biết nói tiếng Nga”.

Nhân không nói gì, chỉ lặng xếp các hòm vào một chỗ. Trên sân ga không phải chỉ có mình Nhân và Bính. Thấy rải rác từng đống hòm của người Việt Nam, người Ba Lan, người da đen. Dân bốc vác Liên Xô ào ra, mỗi người kéo theo một chiếc xe đẩy. Nhân ghé tai người phu khuân vác hỏi.

- “Anh có thể chở hàng cho chúng tôi không?"

- “Mỗi thùng mười lăm rúp”.

- “Một đoạn ngắn mà cao giá thế. Năm rúp, xong chưa”.

- “Mười rúp”.

- “Được rồi, chở đi”.

Nhân nói với Bính:

- “Cậu đi theo xe nhé. Đưa tiền rúp chẵn đây. Tụi Nga cáo lắm. Chỉ giữ lại đồ thôi. Tao phải giấu mấy túi cúc bò, không bị thu hết bây giờ”.

Bính nhìn gã thanh niên to bành đang đếm số hòm trên xe đẩy. Anh thấy Nhân tuồn ra ở cửa toa bên kia với đống túi lễ mễ. Anh biến nhanh vào dòng người đi qua đường hầm. Chiếc xe đẩy đi vòng một đường khác, leo qua đường ray, qua một quãng đường tối, rẽ về cửa chính. Bính gợi chuyện:

- “Anh làm ở đây lâu chưa?"

- “Lâu rồi. Tôi là cựu chiến binh. Anh là người Việt Nam phải không?"

- “Vâng, tôi là người Việt Nam”.

- “Các anh là thương gia à?"

- “Vâng” – Bính đáp liều.

- “Các anh giỏi lắm. Người dân chúng tôi không lấy đâu tiền nhiều như vậy. Mỗi tháng tôi lĩnh một trăm rúp, mua vài chia vốt-ca là hết. Anh biết bây giờ một chai vốt-ca bao nhiêu tiền không? Hai mươi nhăm rúp. Hồi chiến tranh ở Việt Nam, tôi có đọc nhiều về các anh. Chỗ chúng tôi còn có Hội hữu nghị với Việt Nam nữa, nhưng bây giờ tan rồi”.

- “Tại sao các nhân viên hải quan đối xử với chúng tôi không tốt”.

- “Thời thế khác rồi. Tay kia ấy à, quên nó đi. Nó còn xử tệ với cả tụi tôi chứ không cứ gì các anh, tôi sẽ đợi các anh cho đến khi cân xong, kiểm tra rồi chở hàng ra tàu. Hay anh đưa tiền tôi trước, không tí nữa tụi kia khám lấy hết”.

- “Tôi không mang theo người”.

- “Này, tôi không có làm không đâu nhe”.

Bính cười:

- “Kìa thỏa thuận rồi mà. Anh bạn ạ, đừng lo”.

- “Được. Anh nói tiếng Nga khá quá. Học ở đâu vậy”.

- “Ở nước tôi chứ còn ở đâu nữa”.

- “Ở nước các anh mà cũng dậy tiếng Nga được như vậy à? Ừ, mà nước anh cũng có nhiều người tài, tôi xem vô tuyến thấy có cả Đặng Thái Sơn chơi nhạc Sô-panh nữa”.

Chiếc xe vượt qua một ray tàu nữa, nghiêng sang một bên. Người công nhân la lên.

- “Này, đỡ những chiếc hòm phía bên phải hộ tôi kẻo nó rơi, chỗ này hẹp quá”.

Phòng kiểm tra hàng của ga là một căn phòng rộng có hai cửa lớn ở hai phía đối diện nhau. Một cửa thông với đường ngầm dẫn ra ga phụ và gia chính. Cửa khác thông với phòng đợi và nơi gửi đồ. Phía cửa gần đường hầm từng đám người lố nhố, đứng cạnh đống hàng, chờ khám. Kẻ đứng, người ngồi trông như xếp hàng trước cửa hàng bách hóa. Bước vào phòng, Bính thấy hàng dãy xe xếp máy tính ngút ngọn. Lác đác vài người dân da đen, còn phần lớn là dân Việt Nam. Bính nhận ra nhiều người anh từng gặp ở Ba Lan. Trong số đó có những giáo sư, tiến sĩ, thực tập sinh, nghiên cứu sinh, có những người anh mới thấy lần đầu, trong số đó có vài người nữ. Họ đứng lặng lẽ, chờ các nhân viên hải quan làm việc. Đến lượt ai, người ấy xưng tên, mở hòm kiểm tra, cho vào máy soi, đóng thuế.

Nhân đứng sau Bính từ lúc nào. Bính thấy Nhân chỉ còn khoác một túi du lịch. Anh hơi ngạc nhiên, Nhân mỉm cười. Gã thanh niên vóc thấp hoa tay gọi Nhân, Bính nét mặt cau có, khó chịu:

- “Vào đây, vào nay”.

Hắn khoát tay, nói với hai sĩ quan Nga đứng tại một góc phòng.

- “Mấy thằng này mang rúp nay”. Hắn nói với hai sĩ quan.

- “Từng người vào một” – Một sĩ quan trẻ nói.

Gã thanh niên ùn Bính vào trước.

- “Chắp hai tay lên đầu” – Sĩ quan trẻ ra lệnh, sờ nắn khắp người, anh ta tỏ vẻ thất vọng, nói tiếp:

- “Cởi giầy ra”.

Sau khi lục lọi hết đồ đạc, sờ nắn không thấy tiền ngoài số đô la mang theo người, các sĩ quan Nga trỏ họ sang chỗ thanh niên thấp lùn nọ.

Thanh niên cắm cúi phủ mấy tờ hóa đơn bằng những nét chữ ngều ngào, rồi đưa tờ giấy ra:

- “Đồ con lợn, ký vào nay”.

Bính trừng mắt, định quát, thì thấy Nhân giữ tay anh lại.

- “Đừng để ý đến nó. Cốt là giữ máy đa”.

- “Chúng mày nói gì đấy. Ký vào đây, không tao đi bây giơ”.

- “Kệ chúng tôi”.

Bính thong thả đáp, ký vào tờ hóa đơn nộp thuế.

Gã thanh niên đếm từng đồng đô la săm soi nhìn lên ánh điện, cách thức vụng về. Gã hỏi:

- “Có giả không nay”.

Nhân cười:

- “Anh phải biết chứ”.

- “Đừng chọc tức tao, đồ con lợn.

- “Này, ông anh ơi, giả lại tiền thừa đi, tiền thuế mỗi máy 333 đô-la. Tôi đưa hai máy 680 đô. Vậy còn mười bốn đô nữa chứ."

- “Tao không có tiền lẻ giả lại."

- “Chỗ các anh phải có tiền”.

- “Mặc xác mày”.

Gã thanh niên vơ vội giấy tờ và biến vào cửa phòng bên cạnh.

Những chiếc máy đã soi xong số đồ của Bính và Nhân. Người phu xe lại chất máy lên xe đẩy. Bính thấy gã thanh niên đứng từ một góc phòng, quan sát họ. Thấy Bính nhìn lại, hắn xoay mặt đi chỗ khác, vẻ hơi ngượng nghịu, rồi lại lỉnh vào phía trong. Họ làm xong thủ tục trước khi tàu hoả đi thay bánh trở lại chừng mười lăm phút. Nhân chạy ra lấy đồ. Trước khi vào phòng khám, anh đã nhanh nhẹn giấu chỗ cúc bò, phấn, thuốc lá Mal-bô-rô vào trong ca-me-ra giữ hàng tự động. Nhờ đó, số hàng này không bị đụng đến. Nhân nói với người phu khuân vác:

- “Anh chuyển lên tàu giúp chúng tôi, rồi chúng tôi sẽ trả tiền”.

- “Thế các cậu có tiền rúp không?"

- “Yên tâm, tối nay bố sẽ có rượu ngon mà uống”.

Nhân với tay vỗ vai người phu thân mật. Cái dáng thâm thấp của anh bên cạnh người phu xe như lùn tịt hẳn xuống.

Tàu vừa đỗ. Nhân và Bính bươn bả chạy đi tìm toa. Cái toa cũ được thay bằng dãy toa mới của Liên Xô.

Bính vừa vác chiếc hòm trắng đến đầu toa, định đưa lên thì hai người phụ nữ phụ trách toa chặn lại:

- “Vé đâu?"

Bính đưa vé – “Các hòm này chuyển xuống toa chở đồ chung”. Người đàn bà to lớn, béo, khuôn mặt còn trẻ, nhưng đã hơi phị ra nói vậy.

- “Các chị xem lại vé hộ, chúng tôi mua hai vé cho mỗi người. Như vậy, chúng tôi phải có bốn chỗ trên tàu. Hai chỗ nằm, còn hai chỗ để đồ."

Người đàn bà gày, trẻ hơn, nhanh nhảu:

- “Này, Xviết-ta, hay cho chúng nó lên đi."

- “Không được."

Người đàn bà ục ịch to béo cương quyết.

Bính năn nỉ:

- “Chúng tôi đã đóng thuế rồi. Hàng này là hàng hợp pháp sao lại giữ chúng tôi lại."

Họ cứ dùng cánh tay chắc và khoẻ gạt Bính và người phu xe ra, cho tất cả hành khách ở toa trong chuyến vào trước. Nhân không nói gì, anh lấy bao thuốc từ trong cái áo khoác màu ghi ra, rút một điếu. Bính thấy không khí hơi căng thẳng nên cũng dừng lại, bồn chồn. Đợi khách vào hết, Nhân tiến lại gần hai người phụ nữ:

- “Các chị cho chúng tôi lên, chúng tôi sẽ gửi cho các chị tiền cước."

Người đàn bà trẻ nhìn phụ nữ to béo, chị ta gật đầu.

Họ nhanh chóng chuyển hàng lên, vừa chuyển lên xong thì tàu rục rịch chuyển bánh. Nhân lấy tiền trong túi đưa cho người phu xe 150 rúp. Người công nhân cầm ba tờ 50 rúp đỏ, vẫy theo gật đầu cảm ơn. Bính thấy Nhân bước vào phòng trưởng toa. Một phút sau, anh bước vào cúp-pê, nói với Bính:

- “Nhờ phép thần của đồng tiền, xong rồi. Họ muốn ăn chặn một ít đấy thôi. Xếp gọn đồ đạc lại, nghỉ một chút, rồi uống chè đường.'

Người phụ nữ to béo mang cho Nhân và Bính hai cốc nước chè đường, trông ả bây giờ nhu mì, dễ mến và vui vẻ. Chao ôi, phải chăng chính thị là người đàn bà nghiệt ngã đã làm Bính chút nữa thì nổi cáu.

*
* *

Con tàu lao nhanh vào bóng đêm trải dài trên những cánh đồng mênh mông của nước Nga. Bính hiểu rằng kết cục của chuyến đi đã định sẵn, đoạn khó khăn nhất đã qua, anh sẽ được cầm hai tờ đô 100 màu xanh, vui vẻ nhét vào túi, chờ đợi một chuyến đi mới. Bính nhìn qua cửa sổ toa tàu. Những bóng đen của các khu rừng thưa in thành những vệt thẫm hun hút lao theo thân tàu với những vệt trắng nhờ nhờ của thảm tuyết trắng. Những thân cây bạch dương lác đác ven đường vẫn lộ cái thân lốm đốm sáng lên trong bóng đêm. Càng về khuya, cảm giác lạnh lẽo càng tăng, tiếng con tàu trên đường ray như nhịp tim của đêm. Mặc dù mệt mỏi vì những ấn tượng trong suốt một ngày chờ đợi trong tâm trạng căng thẳng anh vẫn không ngủ được.

Càng xa biên giới, con tàu càng lao nhanh như một mũi tên vô định. Có lúc nó dừng lại ở một thành phố rực rỡ những ánh đèn điện. Biên giới giữa những thành phố là khoảng trống đen thẫm, im lặng. Chỉ có bầu trời sao là chìm đắm trong sự di chuyển bí ẩn và ổn định của tạo hoá, nó như cái cầu nối đưa con người đến miền tâm linh nào xa vắng, trầm tĩnh. Sự bất ổn của tâm hồn anh cứ tăng theo quãng đường đi theo nhịp gấp gấp của con tàu. Sau những cố gắng để giữ mình ở trạng thái cân bằng anh cảm thấy lòng tự trọng và nhân phẩm bị xúc phạm ghê gớm. Nếu không vì những chiếc máy tính đáng ghét kia, thì có lẽ anh quyết tâm bảo toàn danh dự của mình. Có thể, cả bằng những cú đấm. Bính nhìn thấy nhân dáng của mình trong cửa sổ, nó ẻo lả, ẩn hiện, chập chờn như bóng ma. Anh giật mình, lúc ở nhà anh vẫn cho mình là đẹp trai lắm, với bộ nực nở, cánh tay có vồng, đôi đùi săn chắc, anh tưởng ăn đứt được mọi người. Vậy mà, mới ít hôm thôi, trên cửa kính hằn lên một bóng người đầy những ưu tư, lo lắng, dằn vặt khổ sở?
Tàu tới ga cuối vào lúc 9 giờ sáng.

Điểm hẹn.

Tàu vào ga, hai bên đường ray cộm những ngôi nhà xoay lưng lại, bố cục lộn xộn, trở ngược, Nhân kéo hai cánh màn che cửa sổ lại, bật điện. Anh kéo Bính ngồi xuống dặn dò:

- “Mày hãy ra hành lang, đứng thò đầu ra, kẻo cánh kéo xe nhìn thấy. Nếu có người Việt Nam nói đúng tên mày thì hãy nói chuyện. Xác định đúng là lấy hàng của “soái” thì gõ vào cửa năm tiếng. Cần hết sức cẩn thận."

Bính ra hành lang. Một luồng gió lạnh thổi vào hai tà áo blu-dông ngắn. Giá buốt thật, Bính sửa lại chiếc khăn, che kín cổ. Còi nổi lên, báo hiệu tàu dừng hẳn. Trên sân ga, hành khách co ro trong những chiếc pan-tô kín mít. Tuyết rơi. Từng bông tuyết to lả tả, ướt nhèm, ném vào mặt kính. Dù có mái che, sân ga vẫn phủ một lớp tuyết ướt át.

Từ các toa, dòng người túa ra như bày kiến, xanh, đỏ, nâu, trắng, áo dạ, áo lông bươn bả, tiếng nói, tiếng cười, tiếng gọi bộn rộn sân ga. Sân ga bỗng chốc như đầy lên, chật chội và lộn xộn.

Dân kéo xe len lỏi ngược dòng người, gọi nhau, bắt khách í ới. Vóc gấu lừng lững của họ tách khỏi đám người bằng những bộ đồng phục đường sắt. Họ xúm quanh mấy chiếc máy tính đã được mang xuống, cãi vã, hò hét, xô đẩy. Cúp-pê của Bính vẫn khóa. Anh nghe tiếng chân rầm rập. Ba người phu xe lực lưỡng bước nhanh trên toa. Họ dừng lại trước cúp-pê của anh, thấy đóng, thử mở, cánh cửa vẫn im lìm. Một người cuống quýt:

- “Lại đây, đây có hàng."

- “Aliôsa – chúng nó đóng cửa."

Anh ta nói với người có chiếc áo sọc vằn.

- “Mở ra, mở ra.

Aliôsa đập cả hai tay vào cửa cúp-pê."

Thấy không ăn thua, anh ta quay lại phía Bính.

- “Của ông đấy à, ông chủ. Cho chúng tôi chở hàng nhé. Mở cửa cho chúng tôi chuyển hàng xuống, không tàu chạy ngay bây giờ."

Bính trả lời:

- “Tôi không biết."

Đúng lúc đó, hai thanh niên Việt Nam bước tới, họ mới ở sân ga lên. Người thanh niên mặc áo dạ dài có cái cổ cao và thẳng, khuôn mặt tròn, đôi mắt lạnh lẽo. Bính nhận ra Chiến, người cùng đi với anh trong chuyến máy bay sang Liên Xô.

- “Kìa Chiến."

- “Chào cậu. Mình đến đón hàng của “soái”. Có Nhân trong này không."

- “Có. Để tao gọi."

Hai thanh niên giang tay chắn những người phu xe:

- “Chờ cho tý nào."

Bính gõ năm tiếng. Nhân mở cửa. Những chiếc máy tính đã được lôi xuống xếp ở giường dưới. Chiến nói với người mặc áo sọc vằn:

- “Aliôsa – cho hai người mang hàng xuống."

Aliôsa vẫy tay. Những người khác đứng dẹp sang một bên cho hai phu xe mang hàng xuống.

Chiến hỏi Aliôsa:

- “Bao nhiêu?"

- “Mười rúp một hòm."

- “Đặt hàng xuống đi."

- “Gì mà cuống lên thế. Tám rúp."

- “Tám cũng không."

Chiến nhún vai:

- “Đây không phải là lần đầu, cũng chưa phải là lần cuối”.

- “Cho tụi mình sống với chứ. Bảy rúp”.

- “Ôi, Aliôsa”.

Aliôsa nhăn nhở.

- “Cả một ê-kíp, tụi mình chia thế nào chứ."

Anh ta dùng ngón tay điểm từng người vẻ phân bua.

- “Lạ nhỉ. Tôi chỉ cần đúng hai người, hai xe. 60 rúp hai xe. Đi thì đi, không thì thôi.”
Chiến dứt khoát.

- “Tớ lấy ôtô cho cậu nhé” – Aliôsa đấu dịu.

Chiến khẽ vẩy tay:

- “Nhanh lên”.

Hai chiếc xe tiến ra cửa ra. Bính và Nhân lùi lại với tám người sau đấy hai ba mét. Chiến bám sát xe.

Aliôsa lại xuất hiện ở bến tắc xi.

- “Các anh tới đâu."

Chiến nói địa chỉ.

- “25 rúp một xe."

Một chiếc xe len lên đậu ngay chỗ để hai xe đẩy máy tính. Người lái xe vừa mở cửa xe, định tiến tới chỗ Bính, thì Aliôsa gầm lên, nhanh nhẹn chắn lối đi. Aliôsa túm cổ người lái xe, dúi anh ngã chúi xuống lề đường.

- “Cút đi, mẹ kiếp, ai bảo tới lượt mày."

Người lái xe lẳng lặng quay lại, mở cửa xe, ngồi vào, lái xe đi khuất.

Aliôsa quay lại:

- “Đi chứ."

Chiến cười nhạt:

- “20 rúp xong chưa. Không thì không cần đến cậu nữa đâu."

Aliôsa vẫy tay. Một chiếc tắc xi từ phía sau tiến lên. Chiến lấy ra ít tiền đưa cho Bính.
- “Mình đưa cậu 100 rúp. Tự lo liệu hôm nay, mai bàn tiếp, ổn rồi."

Xe đến gần nhà, đỗ tại một nhánh nhỏ. Họ chuyển máy tính vào thang máy. Chiến trả tiền người lái xe, cho anh thêm 5 rúp, bắt tay Bính và Nhân.

Còn lại hai người, Nhân và Bính vui vẻ:

- “Giá bây giờ ở Hà Nội thì vui nhỉ. Tao với mày sẽ đi làm ly cà phê phin. Ở đây chán quá, không có những quán nhỏ tâm giao như nước mình. Mày thấy không, Mát thật buồn."
 
bác Nicky ơi, bác cho ra đều đều đi bác nhé. Tự dưng bác ngưng lại 1 tý làm em cứ sốt ruột đợi chờ. Quyển này còn dài không hả bác? Em đọc tiểu thuyết hay liếc qua trang cuối xem ai còn ai mất mới yên tâm đọc tiếp. Em cứ thấy như gặp cái anh Bính ngô ngố mà chẳng ngố chút nào này ở đâu rồi ấy.
 
Tín vừa ở Liên Xô để lấy tài liệu cần cho luận án về lại Ba Lan thì Đại sứ quán Việt Nam tại đây đã gọi anh lên. Đích thân Đại sứ mời Tín vào phòng nói chuyện.

- “Cậu phụ trách công tác Đoàn, nên có việc này mình muốn trao đổi với cậu."

Ông vuốt vuốt mái tóc chải đường ngôi, nói chậm rãi, đầy ưu tư:

- “Mấy hôm nay mình rất băn khoăn về chuyện này. Đấy là chuyện 60 cháu công nhân sang đây đi làm theo hợp đồng của thành phố Hà Nội với một tư nhân. Thằng này nó là tư bản, nó cũng đối xử với các cháu tệ lắm. Mình nhận được hai ba cái thư của người dân Ba Lan gửi lên. Các cháu nó cũng cử đại diện lên kêu đủ thứ chuyện. Tình hình có vẻ căng thẳng, sớm hay muộn cũng phải giải quyết cho xong. Nhưng cái hợp đồng này của thành phố Hà Nội ký với tư nhân, cần phải đợi thành phố trả lời rồi lúc ấy sứ quán mới giúp đỡ giải quyết trực tiếp được. Cậu giúp mình xem xét tình hình, khuyên bảo các cháu hành động cho nó đúng đắn, đừng để phần lỗi về mình. Như thế không nên."

Tín nhận lời.

Anh mời hai cô gái đại diện nhóm công nhân ghé qua chơi nhà mình. Họ lên nghỉ ở nhà khách sứ quán từ hai hôm nay.

*
* *

Sau khi đi dạo chơi ở ngoài công viên về, Bính định tạt vào phòng thăm Tín, thì chợt nghe trong phòng Tín có tiếng con gái. Anh rút lui ra công viên. Vốn biết Tín là người không mấy thích tiếp xúc với giới nữ, anh cũng hơi ngạc nhiên. Khi trở về, muốn vào phòng Tín, anh bấm đôm-ma-phôn:

- “Ai đấy? Tiếng Tín lạo xạo trong ống nói."

Bính giật mình khi nghe tiếng con gái cười, vậy ra là họ vẫn ở trong phòng.

- “Bính đây."

- “À, Bính đấy à, vào phòng chơi nhé."

Cánh cửa tầng dưới kêu rồi mở ra. Bính lên gác, không vào phòng mình, mà gõ cửa phòng Tín. Đôi mắt sau cặp kính của Tín, lấp lánh, vui vẻ:

- “Vào chơi, mấy lần tao sang tìm mày mà không thấy."

Trên bàn ăn các đĩa thức ăn mới bầy ra, nghi ngút khói, các món mực xào, khoai tây nấu thịt, nem rán cắt từng miếng nhỏ, cà chua sống, lại thêm chai rượu sâm banh nhỏ và những chiếc cốc thủy tinh Tiệp mới khui hộp. Ngồi bên bàn là hai cô gái.

- “Kìa, đồng hương."

Bính la lên. Anh đã nhận ra các cô gái ở đoàn công nhân Hà Nội.

Căn phòng nhỏ của Tín bỗng chốc như bị xáo trộn lên, chiếc đệm trải giường nhăn nhúm những vết ngồi, các cuốn băng mở ra để bừa bãi, chiếc cát-xét đang phát ra những âm thanh trữ tình dịu dàng, say đắm.

- “Các anh sống ở đây thích thật, sung sướng, lại đầy đủ như thế này, ở dưới kia tụi em thiếu đủ thứ chẳng dám kêu ai."

- “Thì lên đây kêu vậy” – Bính đùa.

- “Kêu sứ (đại sứ quán) chớ."

Minh phụ họa thêm.

- “Eo ôi, tụi em bây giờ trông đứa nào cũng xác xơ như con mèo mướp."

Nhâm nói.

Bính bị chính phục bởi giọng nói vui vẻ, hơi gai gai, đỏng đảnh của Minh, cô gái mặc áo màu ngọc hôm nào, và bởi chính cái tâm sự mà các cô gái đang hé mở.

Bứt ra khỏi cội rễ, những người con gái sang Ba Lan mong manh, buồn bã và ướt át như những chiếc lá, khung cảnh ở đây xa lạ với tâm trạng của họ, sức cuốn hút của mảnh đất này cũng là sức cuốn hút của những hy vọng có thể thay đổi cuộc sống sau một thời gian làm việc khả dĩ có thể tích lũy được ít tiền làm vốn. Trong thời gian đầu, họ sống trong một khu nhà biệt lập với dân chúng, để tách họ ra, ông chủ đã làm một hàng rào dây thép gai có hai lớp. Họ bắt tay ngay vào làm quen với công việc của xưởng, buổi sớm ra đi từ tờ mờ, nghỉ trưa ở chỗ làm việc và chiều lại đi ô tô về nhà. Gọi là làm việc tám tiếng, nhưng thực ra họ đã mất vào đó mười một tiếng nếu kể cả thời gian đi trên xe. Trong hai tháng đầu, chủ không trả cho họ xu nào với lý do là đang học việc, căn phòng chung chỉ có chiếc vô tuyến là sợi dây liên lạc duy nhất với thế giới bên ngoài. Dưới chiếc áo thụng của Minh là một thân hình đẹp và gợi cảm, mái tóc cô xòa ngang vai, hơi uốn, phủ những đường lượn trên bờ vai hơi ngang và gầy, gương mặt cô nhẹ nhõm và trong sáng.

- “Chúng em sống như trong trại tập trung ấy, ai mà chịu được."

Minh kết luận, cô giơ đũa, gắp một miếng nem vào bát Nghĩa.

- “Các anh ăn đi, nguội cả rồi, chê tài nội trợ của tụi em phải không."

- “Này, tối nay anh em mình xem chương trình Miss-Pôlônhia nhé, các em có thích không?"

Bính chuyển đề tài.

- “Úi, tụi em thích lắm, mong xem mãi mà chẳng có dịp nào cả."

- “Anh chiêu đãi."

- Đồng ý.

Hai cô gái như muốn nhổm lên.

Minh nắm lấy cánh tay Bính, anh cảm thấy sức nóng của bàn tay! Bất giác anh hơi ngường ngượng, mặt đỏ lên.

Chương trình Miss Pôlônhia quả hấp dẫn các cô gái. Minh xuýt xoa, thán phục, khen vẻ duyên dáng của Angiêlíchca.

- “Thế mới là phụ nữ chứ, vừa duyên dáng vừa hấp dẫn, chứ cứ như mấy đứa ở nhà mình ấy à, chân thì vòng kiềng, khép chân lại con lợn chạy qua còn chui lọt, miệng cười hô hố, sợ ơi là sợ."

Bính ngồi trong bóng đen mờ quan sát các cô gái, họ tự nhiên như ở nhà và vui vẻ biết bao. Hai cô gái trêu chọc, đùa nhau và bình luận. Minh có một vẻ đẹp trời cho, nhân dáng của cô cao, mạnh mẽ và tự nhiên, thanh thoát. Đôi chân thẳng của cô giấu trong nếp váy ngủ duỗi ra, những ngón chân của bàn chân trắng, nhỏ. Khi cô nói say sưa và bạo dạn, cái môi như lúc nào cũng muốn cười và khao khát. Cái vẻ mộc mạc của Nhâm lại dường như làm tôn thêm cái sinh động, tràn đầy sức sống của Minh.

Bính thấy một cảm giác xao xuyến, dễ chịu lan tỏa khắp người anh. Đây là cảm giác khi hưởng thụ một bức tranh đẹp hay là được đọc những câu thơ hay. Phần thánh thiện trộn lẫn vào con người, tâm hồn trở nên nhu thuận và muốn làm những việc tốt đẹp. Nhưng cũng bừng thức trong anh một nỗi buồn xa vắng. Chao ôi, giá lại được chạm vào tay cô ta dù chỉ một chút thôi.

Hai cô gái đã lấp đầy lòng anh một nửa thế giới cái thế giới chỉ đạt tới khi có mặt người đàn bà. Cái thế giới mà từ ít lâu nay anh quên lãng để lo lắng vào chuyện kiếm tiền. Tự nhiên, Bính nghĩ rằng đấy như là phần thưởng mà mình được hưởng do một sự ngẫu nhiên tình cờ. Bính thích nhìn các cô gái Ba Lan nhưng anh không có một ý niệm gì về họ. Anh cảm thấy giữa mình và họ có một khoảng cách khá lớn về văn hoá. Những cảnh vật bên ngoài của Ba Lan chỉ là một phần nho nhỏ của thế giới mà họ có. Còn bao nhiêu điều khác nữa, anh làm sao biết được.

Chương trình Miss Pôlônhia kéo các cô gái ra khỏi tâm trạng ưu uất lúc ban đầu. Hai cô gái tranh nhau bình luận về cách ăn mặc của người Ba Lan. Các cô quay sang tấn công Bính:

- “Thế anh thích con gái phải mặc thế nào? Anh thích mặc váy hay mặc quần?"

Nhâm hỏi.

- “Anh thì chỉ thích mặc quần thôi”.

Bính đùa.

Minh đỏ mặt thụi vào lưng anh.

- “Thôi, bây giờ anh Bính kể chuyện tình yêu cho tụi em nghe đi."

- “Anh có biết yêu là gì đâu."

- “Anh lại chẳng yêu bao nhiêu người rồi ấy à."

- “Thực là anh chưa biết yêu đâu. Chỉ có hồi bé."

- “Đúng rồi, anh kể chuyện hồi bé đi."

Các cô gái chăm chú nhìn anh.

Bính nhẩn nha nhớ lại một kỷ niệm của đời mình.

- “Hồi ấy, anh còn nhỏ lắm mới có bốn năm tuổi gì nay”...

Bên hàng xóm của Bính có một gia đình mới chuyển tới. Gia đình đó có một cô gái trạc tuổi như anh. Một buổi, anh cùng tụi trẻ chơi cá ngựa. Con bé tới, nó bám vai anh, nhìn vào. Đang bị thua. Bính nổi cáu, hất một cái, con bé ngã lăn. Bính hoảng lên. Nhưng con bé lẳng lặng đứng dậy, không khóc, phủi quần áo đi vào nhà. Một lúc sau. Bính bắt gặp nó ở góc sân, đang soi gương, trên trán nó có một cái u sưng tướng. Nó đứng lấy cái que cời hơ nóng, áp vào cho đỡ sưng. Bính cảm thấy ân hận, bước tới hỏi chuyện.

Từ đấy, Bính trở nên mến con bé, chơi với nhau rất thân. Thân lắm. Có cái gì ăn được nó cũng dấm dúi nhường anh một nửa. Hai đứa học cùng trường, cùng lớp cho mãi tới năm lớp mười. Mẹ Bính bảo:

- “Lớn lên cho hai đứa nó lấy nhau."

Thì anh chẳng bao giờ xấu hổ về điều này. Anh còn thấy thích đùa nhau rằng anh là chồng, cô ấy là vợ nữa. Tuổi trẻ của anh có đủ những trò nhăng nhố lấp đầy.

Hết lớp mười, gia đình anh giải quyết sang một điểm khác gần Cầu Giấy. Thế là hai đứa tạm xa nhau.

Bính buồn mất một dạo. Đầu tiên anh cũng thấy nhớ, rồi mải vùi đầu vào học đại học năm thứ nhất nên cũng quên đi. Cô gái vẫn thỉnh thoảng ghé qua gia đình chơi. Cho tới một hôm, có người ở chỗ cô ấy lên nói cô ấy sắp cưới. Tự nhiên Bính thảng thốt. Nhưng anh tự nhủ lòng, tại sao mình lại cản trở hạnh phúc của người ta. Cũng định hỏi cho ra ngô, ra khoai, nhưng không thấy cô gái lui lại nữa. Anh ghìm lòng, lao vào học như điên.
Ba tháng sau, Bính nhận được thiếp mời dự lễ cưới của cô ấy. Bính không hiểu anh nghĩ rằng cô ấy đã cưới từ lâu rồi, nhưng không mời anh. Buổi chiều, trước khi cưới một hôm anh ghé thăm cô.

Nhìn thấy anh, cô gái khóc òa lên, chạy vào bếp, Bính lúng túng, đặt gói quà trên bàn, anh ngồi lặng ở giường. Một lúc sau, cô gái lau nước mắt vào buồng lấy ra hai cuốn sổ nhật ký, đưa anh.

- “Anh Bính đọc, rồi anh sẽ hiểu em."

Đêm ấy, Bính chong đèn, ngồi đọc hai cuốn sổ. Anh sống lại bao kỷ niệm của tuổi học sinh vất vả nhưng hạnh phúc với hình ảnh của cô gái luôn ở bên anh. Cô ấy đã yêu anh, đã đợi anh. Ngay cả chuyện cưới cũng là do cô bày ra, để thúc giục Bính trở về với cô. Anh không tới, vậy lẽ xin cưới giả thành đám cưới thật. Vậy là “đò đã sang sông”. Khi còn trẻ khó có thể không mắc sai lầm. Nhưng cái sai của anh không sửa được.

Bính còn trẻ, và vụng quá.

Anh định giữ lại hai cuốn sổ, nhưng rồi lại làm đúng theo lời cô gái: Đốt chúng đi. Anh ngồi lặng trước đống tro của hai cuốn sổ, cho những kỷ niệm bay theo gió. Bính không hiểu mình làm thế có đúng không. Đành rằng, nếu những cuốn sổ ấy lọt vào tay một người khác thì không biết hạnh phúc của cô ấy sẽ bị đe doạ thế nào. Những việc ôn lại từng chi tiết trong cuộc đời cũng là một lối sống không mấy tích cực. Anh sẽ bị chìm đắm vào đấy mất thôi.

Bính nhìn trong mắt Minh hai giọt nước mắt, cô bé thật nhậy cảm.

- “Thế sau này sao nữa anh."

- “Chẳng sao cả. Cuộc đời mỗi đứa đã mỗi hướng rồi. Cô ấy vẫn đến nhà anh chơi, nhưng chỉ là bạn thân thôi."

- “Anh chán bỏ xừ chẳng biết đường yêu. Khi yêu, anh phải dành giật lấy chứ. Anh cao đạo rồi để suốt đời ôm ấp những hoài niệm à.'

Minh ngúng ngoảy.

Bính cười, tự giễu mình:

- “Anh ngốc quá mà.'

Sáng hôm sau Tín lại lên sứ quán, Bính dẫn các cô gái đi thăm Cung vua. Anh mang theo cái máy ảnh tự động của Tín mới mua ở Hung về. Phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp ở đây làm cho họ trở nên sảng khoái, yêu đời. Ánh sáng nhạt, dìu dịu chiếu khắp công viên. Trời ở Ba Lan đang ấm. Họ đi vào một con đường vắt qua thảm cỏ xanh, có ngôi nhà thờ mái cong vút lên với nhứng đường nét kiến trúc hài hòa. Rồi bước vào một công viên rộng có những dàn dây leo và hoa đang nở, mỗi bức tượng ở đây đều có một vẻ đẹp hấp dẫn và lôi cuốn, thực sự là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ. Trên con đường quanh Cung vua, những đôi trai gái nắm tay nhau dạo chơi, các cụ già tâm sự, những đứa trẻ đùa rỡn. Không khí của mùa hè tràn ngập trong khu di tích.

Trên đường có những cây lớn um tùm các tán lá chùm lên che kín mắt nhìn lên khoảng trời cao. Minh nhìn thấy một con sóc nhỏ rỡn nhảy trên cành cây. Cô bíu lấy Bính:

- “Anh Bính ơi, gọi nó xuống đi, gọi xuống đi.'

Nhâm cũng ríu rít:

- “Kìa nó nhẩy đẹp không kìa.'

-“Đây, bánh mì đây này. Cho nó ăn đi nó sẽ xuống đấy.'

Bính nói.

Minh ném xuống đường một mẩu bánh mỳ, con sóc từ tán lá nghiêng đầu, xoay cái tai nhỏ óng mượt, vụt chạy xuống, chụp lấy mẩu bánh và gặm bằng hai chân trước. Minh gọi con sóc, giọng nhỏ nhẹ và âu yếm:

- “Sóc ơi, lại đây chị cho em ăn nào. Đừng sợ, chị chẳng làm gì cho sóc đau đâu. Lại đây, chị cho em ăn, rồi chị kể chuyện cho mà nghe, sóc nhé."

Đã quen với người, sóc nhẩy xuống thân cây và chạy lại chỗ Minh, gặm mẩu bánh mì từ tay cô. Người đi dạo bắt đầu xúm quanh xem sóc ăn bánh. Minh vừa cho sóc ăn, vừa nói chuyện với nó, giọng cô rất tình cảm và dễ thương.

Bính chớp liền mấy kiểu ảnh.

Bính nhìn cái dáng Minh ngồi chân trước chân sau, chiếc váy trắng có những bông hoa nhỏ màu hoa cà phủ hai đầu gối, với chiếc túi xách da nhỏ mầu đen với sợi dây dài quàng qua vai, mảnh dẻ, duyên dáng. Cũng đã lâu, anh mới có một cuộc đi dạo chơi không vướng bận với những suy nghĩ về đồng tiền. Anh thấy Minh rất đẹp, bộ ngực của cô sau lần áo trông tròn trịa, nhỏ nhắn và xinh xắn. Anh hít một hơi thật dài và nhìn lên những tán xanh trong công viên. Giá cuộc sống của người ta lại toàn những ngày vui như những ngày này, giá lúc nào anh cũng có Minh bên cạnh như một cô em gái nhỏ, anh có thể dắt cô đi chơi. Chiều chuộng những sở thích nho nhỏ và giúp nhau vượt qua những phút trống rỗng, cô độc.

Minh nhún nhẩy trên đường, cô se sẽ hát, rủ Nhâm len vào ngồi trên những chiếc ghế đặt trên đường ở giữa những lùm cây xanh và cao vút.

Lúc chỉ có hai người đứng với nhau, Bính nói:

- “Minh ạ, em đẹp thật.'

Minh tinh nghịch ngước mắt lên nhìn Bính:

- “Anh thấy điều đó từ bao giờ."

Cô lững thững nhìn ngắm những pho tượng. Các nghệ nhân thời xưa đã tạo ra những bức tượng tuyệt mỹ. Những thế kỷ lướt qua như không hề có gì suy chuyển. Những ông vua, bà chúa cuối cùng đã bị chôn vùi vào quá khứ xa xưa, chỉ còn lại hiu hắt vài mảng của nghệ thuật một thời lộng lẫy, huy hoàng.

Bính gọi Minh và Nhân ra gần một bức tượng trẻ con đường thổi tù và, bấm thêm một kiểu ảnh kỷ niệm. Anh rất thích nhân dáng của các cô in trên bóng xanh đậm của khu vườn phía xa.

*
* *
 
*
* *

Tín rủ Bính xuống thăm các cô công nhân may. Bính đồng ý ngay. Họ đi tàu mất gần một buổi sáng, mới tìm đến được nơi ở của các cô gái.

Đây là một khu nhà nghỉ mùa hè, có ba ngôi nhà hai tầng, ở sâu trong một khu rừng. Tín và Bính qua một chiếc cầu nhỏ bắc ngang con sông, đi men theo bức tường của một nhà thờ cổ, với những bức tường xám cũ kỹ, theo đường mòn ngoằn nghèo dẫn đến khu nhà nghỉ. Sau những ngày băng giá, cỏ bắt đầu mọc lại xanh tốt. Khu rừng như đang bừng dậy, với những mầm cây, những tán lá xanh thỉnh thoảng lao xao trong gió.

Trên đường đi, họ gặp vài cô gái mang túi áo ki-mô-nô ra chợ bán. Thấy họ, các cô rất hồ hởi:

- “Ở khu rừng này có mỗi tụi em thôi. Các anh vào chơi, có đoàn trưởng và chị em ở cả trong ấy. Tụi em phải tranh thủ ra chợ cho kịp phiên buổi chiều, chốc nữa, tụi em về, ở đây họ nghỉ sớm lắm.'

Một cô hăng hái trở lại dẫn hai người vào khu nhà nghỉ.

Họ nhìn thấy những hàng rào sắt đã được dỡ đưa đi một phần, cô gái nói:

- “Chủ đang chuyển những rào sắt đi, của ông ta mà. Còn khu nhà thì ông ta thuê cho tụi em ở."

Cô gái dẫn hai người tới một căn phòng ở tầng thấp. Cô gõ cửa:

- “Anh Tiến ơi, có khách."

Một người đàn ông mặc áo Py-gia-ma mở cửa. Gương mặt anh hốc hác, kém ngủ. Anh bắt tay hai người; nhìn thấy Bính anh nói:

- “Hình như mình gặp nhau ở đâu rồi.'

Bính trả lời:

- “Ở sân bay Se-re-me-chép-vô.'

-“ À," - anh chợt nhớ ra.
- “Anh là đoàn trưởng của Đoàn công nhân à?'

- “Vâng, ở nhà giao cho tôi trách nhiệm như vậy. Nhưng cho đến nay tôi bị vô hiệu hóa, không được lao động, cũng không làm tròn trách nhiệm của mình."

- “Mời anh vào nhà."

Đoàn trưởng kéo tấm rèm che cửa, ánh sáng soi rõ cái giường sắt có lò xo đặt một tấm đệm, phủ một khăn trải giường nhàu nát, cái chăn len chưa gấp. Trên cái bàn nhỏ để một bếp điện, một cái nồi đậy vung, bên cạnh giường nằm có cuốn truyện đọc dở, mép cũ kỹ, chiếc gạt tàn thuốc những mẩu thuốc vương bừa bãi trên sàn, có thể kể thêm chiếc và ly xếp ở góc nhà khóa chặt. Vài cái vỏ chai đựng ở góc nhà lộn xộn, bụi, mà mấy con gián cuống quýt tháo chạy khi luồng sáng ập vào.

- “Từ mấy tháng nay chúng tôi chưa nhận được đồng lương nào cả."

- “Thế anh em sống thế nào nếu không có lương?"

- “Riêng tôi thì cũng còn có thể sống được. Chẳng nói giấu gì anh, lúc tôi đi, tôi có mua mấy chỉ vàng đem theo. Vợ tôi nó cũng hy vọng tôi sẽ mua gửi quà về cho nó. Cho đến nay thì chẳng còn chút hy vọng nào nữa. Không biết tôi có đủ tiền mua vé mà về nữa không."

Tín gặng hỏi:

- “Sao lại đến nông nỗi này?"

Đoàn trưởng thở dài:

- “Câu chuyện dài lắm, có thể bắt đầu từ chuyện một hợp đồng."

Đoàn trưởng lặng lẽ pha trà, tráng lại mấy cái chén hạt mít, lấy hai cái ghế cho Tín và Bính ngồi, bản thân anh ngồi xếp chân bằng tròn trên giường. Trông anh cóm róm, già nua và thiểu não.

Rômếch, ông chủ của Liên hiệp may CHUC đã từ lâu để ý tới thị trường Việt Nam, đặc biệt là giá nhân công rẻ mạt. Hãng của ông chuyên may quần bò và các loại quần áo cho thị trường trong nước và cho nước ngoài như Tây Đức, Canađa. Tin tưởng vào khả năng có thể tìm được những tay nghề giỏi thay thế cho các công nhân Ba Lan, Rômếch sang Việt Nam, tìm cách ký một hợp đồng với Hà Nội, thuê thợ may sang làm việc cho Liên hợp của y. Trong quá trình làm việc, Rômếch đã thăm khắp các xí nghiệp may ở thành phố, mở một cuộc tuyển chọn thợ giỏi. Do chưa có kinh nghiệm làm việc với tư nhân, đại diện của ngành may đã ký một hợp đồng, trong đó mọi thoả thuận đều dựa trên hợp đồng zlôti, là đồng tiền Ba Lan, mà không phải trên cơ sở đồng ngoại tệ mạnh. Rômếch chọn được 60 người, ông tuyên bố long trọng sẽ tạo cho các cô gái một tương lai tốt đẹp.
Thành phố cử theo đoàn thợ may một trưởng đoàn, một phiên dịch nữ và một phiên dịch nam.

Họ sang Ba Lan vào lúc trời cuối mùa thu ở trong khu nhà nghỉ mùa hè, do ông Rômếch thuê với giá rẻ. Các cô gái rất hăng hái bắt tay vào công việc, họ làm quen với công việc nhanh chóng.

Nhưng Rômếch cũng không lường trước được biến đổi nhanh chóng của thị trường may mặc. Đồng thời, nền kinh tế Ba Lan đang xuống dốc kéo theo sự lạm phát của đồng zlôti.
Sau hai tháng làm việc không công với lý do còn học việc, các cô gái nhận đồng lương không đủ nuôi chính bản thân mình. Cuộc sống của họ trở nên khó khăn. Nhiệt tình với công việc giảm bớt, một số người do ăn uống không hợp khẩu vị, không ăn được càng yếu thêm. Trời trở lạnh, khu nhà nghỉ mùa hè không đủ sức chống chọi với băng giá mùa đông. Khu rừng ngập sâu trong tuyết, đêm về càng lạnh, lác đác có người ốm.

Rômếch thu hẹp sản xuất, công việc ít, y tìm cách bôi việc ra cho các cô gái, khi họ may vào, y lại bắt tháo tung ra may lại. Y lấy cớ họ không hoàn thành tốt việc để khỏi phải thưởng thêm cho các cô gái ngoài đồng lương, và đặt ra chế độ phạt khắc nghiệt.

Các cô thợ may sống trong nỗi nhớ nhà, xa quê hương, ngày quần quật làm việc, tối lại chịu lạnh và đói. Chịu đựng không nổi, họ bắt đầu phản kháng lại. Họ đòi được chuẩn bị bữa ăn cho người ốm, những người làm muộn ca, những người đang hành kinh. Họ đòi được tăng lương, ít nhất là có thể bảo đảm được cuộc sống của mình ở Ba Lan.

Rômếch rất bực bội với Hương, người phiên dịch nữ, vì cô thường lên phản đối lại trong những chính sách y áp dụng riêng với nữ công nhân Việt Nam. Rômếch lại thu tất cả hộ chiếu của các cô gái, vì sợ các cô bỏ xí nghiệp của y sang làm cho cơ sở khác.

Người phiên dịch thứ hai, Chí lại liên kết với chủ, trị các cô gái. Một cô gái nhẹ dạ đã bị y rủ rê đi nghỉ với chủ vào những ngày thứ bẩy, chủ nhật. Một số cô khác bị y dọa dẫm, rồi lại ngon ngọt rủ các cô ủng hộ y. Đoàn công nhân chia thành hai, ba nhóm, có những ý kiến khác nhau. Đoàn trưởng đã điện về Hà Nội, đề nghị thay đổi lại hợp đồng. Phái đoàn từ Hà Nội sang có một người, đấy là người đã hạ bút ký hợp đồng với chủ tư nhân. Các cô gái họp nhau lại kể cho bà bao nhiêu uất ức, mà họ đã tích tụ trong lòng. Bà ta lắng nghe an ủi.

Chủ đón đại diện như thượng khách. Chủ quấn quýt lấy bà ta. Bà đi nghỉ, thăm các cảnh đẹp, được chủ cho biết là sẽ gửi theo bà một thùng quà, với danh nghĩa là tặng cho các thân nhân của chị em thợ may lao động ở Ba Lan. Bà vui vẻ lên máy bay, mang theo thùng quà. Còn các cô gái lại đi làm theo hợp đồng cũ.

Sự chán nản lên đến cực điểm khi chủ trục xuất Hương về nước.

Một buổi, Hương nhận được tin nhắn của người quen ở Vác bảo cô lên nhận thư nhà. Cô đến xin phép đoàn trưởng, và nhờ Chí đưa giấy hộ cho chủ xin phép là sáng mai cô sẽ về trễ hơn giờ làm một chút. Chí làm sẵn một cái giấy bằng tiếng Ba Lan. Đến nói với đoàn trưởng, bảo giấy của Hương và bảo anh ký vào.

- “Sau này tôi mới biết đấy là cái giấy tố cáo Hương lên Vác không xin phép ai, đi liên hệ với các nơi làm việc khác” – Đoàn trưởng phân trần.

Sáng hôm sau, Hương vừa về tới xí nghiệp, thì chủ gọi vào phòng, nhốt cô lại. Y bảo Chí về phòng lấy va-ly của Hương, rồi ép cô lên xe bịt mui kín, đưa cô ra sân bay. Hương về không kịp báo cho ai biết, chỉ khi vào sân bay cô mới nhận được hộ chiếu.

Biết tin Hương về Việt Nam, tất cả đều bàng hoàng. Nhiều cô gái ôm mặt khóc.

Chí lên thay Hương làm nhiệm vụ phiên dịch chính. Y tuyên bố từ nay trở đi nếu ai vi phạm kỷ luật sẽ bị đuổi về. Chủ trương của chủ chỉ giữ lại một số người cần thiết cho xí nghiệp của hắn.

Cả đoàn lần này quyết định đình công. chỉ khi nào chủ chấp thuận tăng lương và cải thiện đời sống của chị em thì tất cả mới đi làm, còn nếu không phải cho tất cả cùng về nước.

*
* *

Tiếng xô xát ở hành lang ngày một to. Đoàn trưởng mở cửa, nhìn ra. Tiếng cô gái ồn ào, Bính nghe thấy tiếng đoàn trưởng hỏi:

- “Gì đấy Minh?"

- “Thằng Chí nó về”. – Giọng Minh vang lên chát chúa.

- “Vào đây, Chí, có chuyện gì nào?"

Mặt Chí đỏ bừng, một cúc áo bị giựt đứt, ngực phơi ra, y lúng túng, ngượng ngập. Bính nhìn con người giảo hoạt, có cặp mắt nhỏ, với cái vai co lại, y trông không có vẻ gì đặc biệt, thậm chí quá tầm thường.

- “Chủ bảo nếu anh cùng các cô ấy chịu đi làm thì ông ấy sẽ cho chuyển đến chỗ ở mới gần xí nghiệp."

- “Anh thuyết phục được bao nhiêu người cùng đi rồi”.

- “Năm người”.

- “Thế thôi à? Chúng tôi sẽ không đi làm chừng nào ông ấy chưa tăng lương."

- “Nhưng, hợp đồng”...

- “Không có nhưng gì cả, phải xé bỏ hợp đồng, ý kiến chị em là thế."

Bây giờ Chí mới nhận thấy Tín đang đứng dậy, chăm chắm nhìn y, hai tay run lên đang nắm chặt như đang kiềm chế hết sức. Bất giác, hắn đưa tay lên mặt, lùi lại. Tín gằn giọng:

- “À, ra mày đấy à, Chí. Thằng khốn nạn."

Bính ngạc nhiên nhìn Tín.

Chí lùi dần ra khỏi cửa. Hắn lùi trốn sau lưng những cô gái. Rồi có tiếng ôtô rồ lên ở cửa.
Minh tới gần Bính.

- “Anh Bính."

Đôi mắt cô trông nhu mì và đáng yêu lạ. Các cô gái ùa vào ngồi chật phòng.

*
* *

Trước giờ ăn, ba người cùng đi dạo trong rừng.

Tín lủi thủi đi sau Minh và Bính. Anh tưởng như mình là người có lỗi trong mọi việc xẩy ra ở đây. Đã mười năm trôi qua, và nó vẫn không thay đổi.

Hồi đấy, anh là đơn vị trưởng.

Cuộc họp bốn tiếng đồng hồ chỉ bàn về một việc: Những sai lầm mà Chí phạm phải khi đang còn là sinh viên. Trong lúc đang học, Chí bí mật cưới một cô gái Ba Lan. Hắn lại chụp ảnh khỏa thân với cô gái. Dùng số ảnh đó đến tống tiền bà mẹ. Sau khi đánh đập cô tàn nhẫn. Chí lại bỏ vợ. Bà mẹ vợ vừa xấu hổ vừa nhục nhã, lên tận sứ quán báo cáo, đề nghị sứ quán góp ý với Chí. Lúc đó, kỷ luật của sứ quán rất nghiêm ngặt.

Tín nhớ đến cái đầu nhỏ rũ xuống trong đôi vai co lại của hắn, hắn không dám ngước cặp mắt ti hí lên nhìn ai. Y lý nhí nhận lỗi, những sợi tóc rủ trước mặt bết mồ hôi.

- “Tôi rất cảm động vì tình cảm của các đồng chí dành cho mình. Tôi hết sức ân hận vì đã mắc phải sai lầm nghiêm trọng ấy. Tôi nghĩ mình là người đang bị phỉ nhổ và khinh bỉ. Tôi xin thành khẩn nhận hết mọi lỗi lầm và chịu mọi kỷ luật của sứ quán và đơn vị đề ra. Tôi hứa sẽ quyết tâm sửa chữa khuyết điểm để trở lên người tốt hơn”.

Tín đã xúc động, và thương hắn. Ngay sau đó, Tín hiểu rằng mình quá ngây thơ. Buổi tối hôm ấy, Chí trốn khỏi đơn vị.

Phải đến một tuần sau, đơn vị mới tìm được Chí, và Tín đã đưa hai người kèm Chí về nước trong một chiếc xe kín bịt bùng tới sân ga.

Vậy mà, Chí đã trở lại trong cương vị làm “linh hồn” cho sáu mươi cô gái. Thủ đoạn đầu tiên của hắn cũng là một chuyến xe kín chở Hương.

Tín rùng mình.

Anh vượt lên tham gia câu chuyện cùng với Bính và Minh, lòng vẫn ám ảnh không nguôi. Bính quay sang Tín:

- “Mình đề nghị với cậu một phương án này. Một mặt cậu cứ báo cáo với sứ quán và thảo luận cách giải quyết. Mặt khác mình sẽ tập hợp biên bản các cuộc họp, viết lại toàn bộ sự kiện này và gửi hồ sơ về nước cho báo Thanh Niên. Ở đây mình có quen một thằng bạn. Chắùc họ sẽ đưa lên công luận."

Đi lao động thế này thì ở nhà ăn cơm muối còn hơn.

Tín đồng ý:

- “Cậu cứ làm chuyện ấy đi. Càng hay. Theo mình, các cô gái về nước càng sớm càng tốt."

Bính nói:

- “Thằng chủ tệ thật, không nói gì tới ti-vi, ngay mấy cái giẻ lau sàn nó cũng thu lại hết. Đấy là chưa kể mấy ngày cuối đông vừa rồi cắt hết điện nước."

- “Từ khi đình công, chúng em không nhận được một xu nào trong đồng lương chết đói, em phải ra chợ buôn để kiếm sống."

Minh trở nên dữ dằn:

- “Biết thế chẳng bao giờ em đặt chân sang đây nữa. Khổ ơi là khổ. Lúc nãy, nếu đoàn trưởng không gọi, tụi em đã chùm chăn đập cho thằng Chí một trận chết thôi. Cứ guốc mà phang cho cái mặt nó méo xệch đi. Mấy đứa đi chơi với chủ bây giờ tha hồ mà khóc."

Bính hiểu rằng Minh vỡ mộng. Lần đầu tiên đi Tây cũng là lần đầu cô thấm thía nỗi tủi nhục, sự độc ác, cái nghèo và sự cô đơn. Thế giới xung quanh cô viên mãn, nhộn nhịp, còn với cô là những giờ khắc nghiệt nối nhau nặng nề, buồn bã giữa những chị em cùng cảnh. Lòng Bính trào lên một sự xúc động chân thành, anh muốn tìm lời an ủi cô, nhưng biết rằng lúc này là vô ích. Đôi khi, cũng cần phải nhớ lại những vết thương.

Tín cắt ngang:

- “Thôi, về không Nhâm và Đoàn trưởng đợi cơm lâu quá”.

Bính thấy khu rừng thưa rộng rênh dưới bước chân của họ.

Sau bữa cơm. Tín và Bính lại chụm đầu vào bàn bạc.

Minh chống tay vào cằm nhìn Bính. Dường như cô không nghe câu chuyện hai người đang nói với nhau. Cô thỉnh thoảng mỉm cười mơ hồ. Trên đầu gối cộ một tờ tạp chí mở rộng.

- “Nếu Minh mệt, lên giường nghỉ, tụi anh không quấy đâu."

- “Vâng, em nghỉ trước đây. Anh Bính rửa bát nhé”. – Minh cười.

- Cứ để anh. Em đi nghỉ đi.

Minh chui vào chăn, kéo chăn lên tận cằm. Mùi nước hoa tỏa ra trong phòng thơm nhẹ, dễ chịu. Cô nhắm mắt nhưng không ngủ. Giọng Bính chập chờn, khi gần, khi xa. Lần đầu tiên ở Ba Lan, cô cảm thấy mình sống giữa những người bạn chân tình, rất gần gũi với cô.
 
virus thân mến,
Những gì xảy ra ơ Liên Xô cũ là một bi kịch lớn. Một cá nhân như như mình chỉ biết nhìn sự sụp đổ mà...than thầm. "Cửu vạn" chỉ là một tiểu thuyết-phóng sự nhỏ, có nhiều cơ sở thưc tế. Có nhiều nét buồn trong câu chuyện làm ăn có tính đời thường đó. Chuyện các tiến sĩ, giáo sư ... tham gia vào thương trường là chuyện bình thường. Dù sao giữa những con người xa xứ vào lúc đó vẫn có mối liên kết lạ lùng, đầy thương cảm, nhất là trong những tình huống éo le. Có lẽ cuộc đời là vậy. Không có gì thực sự là không có lối thoát.Đọc lịch sử qua tiểu thuyết là một cách khôn ngoan. Các cuốn sử luôn luôn được viết lại. Có khi những cuốn tiểu thuyết còn thật hơn lịch sử. Chào virus nhé.
 
Cám ơn bác về những dòng phân tích. Tất cả những điều bác nói trên, cháu không được trải qua, nhưng qua những câu chuyện, đặc biệt qua tiểu thuyết của bác cháu càng hiểu rõ hơn tình hình thời bấy giờ. Và đặc biệt là những thăng trầm của cộng đồng, những tình cảm cũng như suy nghĩ của dân "Cộng" ta thời đó. Cám ơn bác.

Mà sao cháu chờ mãi vẫn chưa phát hành tiếp tiểu thuyết bác ơi? Cháu sốt ruột quá. Hay là bác phải gõ lại từ bản thảo ạ?
 
Back
Top