Một chương của bác dài quá, bác Nick ạ. Em xin phép bác cắt ra làm hai nhé, cho nó dễ đọc
*
* *
Người đàn bà tới lấy hàng Bính đã gặp ở chợ trời. Đoạn sang đường, qua một đại lộ tới cổng chỉ là một hành lang ngầm bày đầy những hàng từ các nước tư bản. Dưới hành lang có thể tìm đủ các thứ hàng trên thế giới, từ một đồ chơi nhỏ của Nga như con lật đật, con ma-tơ-rút-xca, các loại búp bê, tới áo quần Tây Đức, máy ghi âm của Nhật. Đây cũng không thiếu gì các mặt hàng giả làm theo mẫu mã của nước ngoài. Những người vui vẻ co cụm đứng bán hàng ở đây có vốn nhỏ, trốn thuế, không có chỗ ổn định ở chợ, thích tự do đi tìm khách hàng, không câu thúc bởi thời gian, vị trí, xong việc là thôi. Một số tư thương sắm những ô tô nhỏ bán hàng, vừa chở hàng lưu động, vừa rao bán ở các địa điểm khác nhau trong thành phố. Đoạn đường này chỉ là khúc dạo đầu cho việc tiếp cận với các chủ hàng lớn hơn.
Những chủ hàng trong chợ là những người có vốn lớn, ổn định chỗ ngồi, có liên quan trực tiếp với các cơ sở sản xuất. Họ bán buôn là chính. Hàng trong chợ chạy đi khắp thế giới. Người Ba Lan, người Đức, người Tiệp... tới đây mua từng gói hàng lớn chuyển đi. Chợ trơiø Ba Lan có cái không khí sôi nổi, vui nhộn vào những ngày nắng ấm, ẩm thấp u ám, nhưng vẫn đông đúc vào những lúc tuyết rơi. Ngay cổng chợ dân buôn đô-la đứng hàng dẫy, phần lớn là những thanh niên vui vẻ, mặt quần áo bò, măng tô ngắn, hoặc com-măng-đô để hàng xếp đô-la, đê-mác trong tay, chào mời, xòe tiền ra như những lá bài và đếm rất nhanh. Chỉ cần khách là những người lơ đễnh, quá chân thật là dễ cầm phải tiền giả hoặc từng xếp bạc lẻ mất giá thay vào đồng ngoại tệ của mình. Giờ nay, Bính đã biết cách đếm tiền đô tránh lừa đảo. Anh thương đếm từng tờ một, riêng rẽ, không khuất lấp trong nhau. Khi thấy anh thận trọng có dân buôn đô la đã giật lấy đồng tiền trong tay anh và quay sang một khách hàng khác. Chúng can những người dễ tính hơn. Nghĩa là ở nay người ta vẫn lừa đảo khi có thể.
Có vài cánh cửa khiêm tốn khép kín ở ngay giữa chợ, nhưng đấy lại là trung tâm chuyển đổi vàng và đô-la. Những khách cỡ bự đều tới đây để đảm bảo sự an toàn nhất. Những cửa hàng này đo được sự biến đổi của các mặt hàng châu Âu, và liều lượng chúng thả qua các biên giới.Nước Ba Lan không kiểm soát được đồng tiền nằm trong tay các tư nhân. Họ rất thích ngoại tệ và nhất là đồng tiền mạnh đô la. Việc có thói quen tiêu bằng tiền mặt ở những địa điểm như chợ trời là một thói quen được chấp nhận ở Ba Lan. Dân Ba Lan đi làm ở nước ngoàøi cũng tích cóp tiền để về dự trữ trong nước. Họ cũng không bao giờ khai báo với chính phủ thu nhập bằng ngoai tệ của mình. Nhiều người còn không gửi tiền vào ngân hàng mà đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau hay dùng chủ yếu để buôn lậu. Trái ngược với tính cởi mở, dễ gần gũi, sởi lởi của người Ba Lan, trong thâm tâm họ lại không thích các nước lớn cận kề. Nhiều người coi nhà văn hoaôÇc vút, khắc khổ tại trung tâm thành phố được xây dựng từ thời Xít-ta-lin là sự áp đăt của nước lớn vào nước nhỏ. Cũng như họ không mấy tin tưởng vào nước Đức vì sợ Đức thôn tính một phần lãnh thổ của mình. Người Ba Lan hãi hùng nhìn vào quá khứ. Có rất nhiều nước mắt và sự đau khổ cũng như những ý chí quật cường. Nhưng một tinh thần Ba Lan hay tinh thần phản kháng, trí tuệ và dân chủ vẫn có dịp bộc lộ khi cần thiết. Và Ba Lan dưới con mắt Bính cũng là một thành luỹ của hòa bình. Anh nhìn thấy trong dáng vẻ các cô gái hoa hậu của Ba Lan một thông điệp vĩnh cửu về vẻ đẹp. Người Ba Lan tin vào bản thân nhiều hơn là các chính phủ. Bởi vậy họ cũng thích tiêu tiền ở chợ trời ngang với việc đến các hàng đổi đô la một các tự do, dù các quầy đổi đô la đó không phải lúc nào cũng thuộc về nhà nước. Sự thỏa thuận và trao đổi cũng rất nhanh chóng. Bính cũng tới đây đổi đô-la mấy lần, tích no mắt những cảnh đời trái ngược nhau.
Lang thang trong chợ trời có cái thú là có thể quan sát nhu cầu đa dạng của con người mà không tốn xu nào. Anh thích đi bộ, du ngoạn, không mảy may quan tâm đến nhu cầu buôn bán. Có lẽ chỉ có những người vô công rồi nghề như anh mới làm chuyện ấy. Anh nhìn ngắm dòng người di động, tìm những vui thú của bản thân, thưởng thức những nhu cầu bất tận, đến khi lẩn thẩn như xem những giây đeo chìa khóa có ảnh các cô đào khoả thân, hay cười đùa với mấy cô bán hàng vui tính. Bính lấy làm ngạc nhiên là tại sao trong nước không bao giờ mình lại nghĩ rằng cuộc sống có nhu cầu nhiều tới như vậy. Hình như thói quen kham khổ, chịu đựng trong những năm chiến tranh đã ăn sâu vào anh, nên anh cũng dửng dưng một cách quá đáng với những nhu cầu tối thiểu của con người. Cho đến khi Ba Lan đến với anh, Bính mới thấy rằng thế giới có thể nhìn theo nhiều cách khác nhau. Việc đọc một văn bản hay về con người có thể đưa lại những giá trị khác nhau. Dù văn bản ấy không thay đổi, những điều anh đọc được ở Ba Lan khác hẳn với những gì anh đọc được ở Việt Nam. Nó thấm thía hơn và nhân văn hơn, nó cũng không còn khô cằn như thế giới khoa họcï anh hiểu. Có lẽ bởi anh đã thâm nhập một phần vào đời sống, tìm cách phân định nó, tìm cách đưa bản thân gần hơn với thế giới hàng hoá, với quan niệm tim óc cũng là một thứ hàng hoá. Và anh càng hiểu cái ưu việt cũng như cái bất lực thẩm hại của các kiến thức khoa học khi áp dụng vào đời sống. Vấn đề ở chỗ anh phải biến trí tuệ của mình thành một thứ hàng hoá cần thiết cho mọi người.
Anh thích những người phụ nữ Ba Lan. Họ ăn mặc đẹp, thích được người khác khen ngợi và nhìn ngắm. Ở thủ đô, anh hầu như không tìm thấy hai người ăn mặc giống nhau, ngay cả khi có chung một mốt áo quần thì họ cũng có nét riêng của mình. Cách họ quàng những chiếc khăn duyên dáng, khiến anh say đắm. Các miss trên vô tuyến truyền hình như những bản nhạc dịu dàng ném vào giữa những âm thanh ầm ào, hỗn độn của cuộc sống. Vẻ đẹp qua sự phô diễn thân thể hòa quyện với vẻ tinh khiết của tâm hồn (ít ra là Bính cảm thấy như vậy). Anh cảm thấy mình có dư cảm xúc để hoà nhập với những điều lặng lẽ diễn ra trong lòng anh. Anh biết rằng nó phải thay đổi, cái tâm hồn vốn u tịch của mình, anh phải tiếp cho nó một sức mạnh lớn hơn mới có thể tồn tại để qua hiểm hoạ tâm hồn bị phá nát, chao đảo giữa những tư tưởng. Thế giới ổn định của anh đã có phần bị tan vỡ. Và nhiều mảnh vunï vẫn còn lấp lánh nhưng không còn tồn tại một cách vẹn nguyên nữa. Anh biết mình sẽ không tiếp nhận được những khái niệm mới nếu cứ đeo đẳng cái gì cũ nát đang tồn tại. Đó cũng là một điều phi thực tế, và dù còn ở trong nước thì rồi anh cũng phải chấp nhận thế giới này thôi. Vấn đề chỉ là ở chỗ sớm hay muộn. Thời gian cũng có vai trò khá lớn trong đời người. Nếu anh nắm bắt được vấn đề nhanh hơn, anh có thể sẽ là người chiến thắng.
Khi gặp một cái dáng thấp bé khoác chiếc áo lông to xù của thiếu phụ bán hàng ở chợ, anh lập tức chú ý, vì chị ta có mái tóc đen và đang chăm chú quan sát anh. Trên tay cầm một chiếc áo Thổ Nhĩ Kỳ, rao bán.
Gặp nhau lần thứ hai, họ nhận ra nhau ngay. Khuôn mặt tròn, mái tóc ngắn màu đen, đôi môi mở to và cặp môi hơi hếch nhưng có duyên thầm nói với Bính rằng người đàn bà này từng là một cô gái đẹp. Cử chỉ nhanh nhẹn và tự nhiên, chứng tỏ chị là người dày dạn trong giao tiếp:
- “Hình như anh có một chút hàng cần bán."
- “Vâng, mời chị ngồi uống nước đá”.
Bính mở tủ lạnh lấy chai cô-ca-cô-la, cầm một chiếc cốc thủy tinh sạch, đập đá bỏ vào. Chị không uống nước ngay, vắt đôi chân một cách tự nhiên và sửa lại váy, chị có cách xử sự gần giống các cô gái Châu Âu.
- “Khi thấy chị ở chợ tôi đã ngờ ngợ chị là người Việt Nam."
- “Ở đây, người ta biết tôi nhiều hơn anh tưởng đấy."
- “Ồ, tôi không biết”.
- “Có gì đâu, số bạn bè người Việt Nam biết tôi cũng không thiếu. Còn anh, tôi mới gặp lần đầu, thấy anh ngơ ngác. Ồ, xin lỗi, cô hơi mỉm cười vì cách dùng từ của mình – tôi định tới làm quen, nhưng sau lại thôi, lúc đó, tôi đang bán hàng, hơn nữa, chắc gì anh đã muốn quen biết tôi."
Bính hơi ngạc nhiên nhìn vào mắt chị, anh thấy một nỗi buồn thoáng qua trong mắt người đàn bà. Anh mời:
- “Chị uống nước đi."
- “Vâng, anh cứ để tôi. À, anh có hàng gì nhỉ?"
Bính đưa chiếc va ly ki-mô-nô và những chuỗi vòng ốc ra. Số ki-mô-nô anh mang theo không mấy hợp với thị hiếu lúc này ở Ba Lan, người ta chuộng mốt ki-mô-nô có thêu hai con rồng. Nền áo ki-mô-nô cũng vậy, lẽ ra nên mua hàng ki-mô-nô làm bằng vải đen thì anh lại mua thứ làm bằng vải màu xanh và đỏ. Kể ra cũng hơi kỳ, ki-mô-nô là mặt hàng của Nhật lại được làm giả ở Việt Nam. Nó cũng là món ưa chuộng với dân Ba Lan. Nhất là những người thích mốt trầm lắng, mạnh mẽ của Đông Phương.
Cũng như, Bính không hiểu tại sao phụ nữ ở đây lại thích trang sức bằng vòng ốc, có thể chính hơi thở miền biển đã dội trong trí óc họ một ký ức hoặc một tưởng tượng về những vùng đất xa xăm, gợi nhớ về bản thể và sự hiện hữu của mình. Phần mình, anh thấy chúng bất tiện, phù phiếm và mong manh, dễ vỡ bao nhiêu, “đẩy” chúng cũng không dễ, quả tình anh chưa có cái dũng cảm của những người buôn hàng xén giăng từng cái ki-mô-nô ra bán hoặc treo những vòng ốc trên tay rao hàng.
Người đàn bà giũ từng chiếc ki-mô-nô xem hàng một cách thành thạo, chị chỉ cho anh những khiếm khuyết khi chọn hàng không kỹ, thỏa thuận giá cả và đưa ngay số tiền đô cho Bính. Cầm những tờ đô la mới có thể cạo râu được trong tay, Bính nhẹ nhõm như vừa trút được một món nợ, thế là xong một công việc mà từ khi sang đây vẫn lo lắng, người đàn bà lại gây cho anh một cảm giác thoải mái như anh mới được gặp một người bạn cũ. Chị có tầm vóc trung bình, không đến nỗi thấp như anh tưởng, đôi mắt to giàu tình cảm.
- “Anh đưa giúp chiếc va ly qua cửa thường trực, dù sao tôi cũng không muốn mang một chiếc va ly qua thường trực."
Ngôi nhà Bính ở có hai hệ cửa, một cửa có thường trực là nơi treo chìa khóa, cửa khác dùng đôm-ma-phôn, những người Việt Nam tới đây thường ít mang vác. Khi mang vác đồ đạc dân ký túc xá thường đi qua cửa chính để tránh những tiếng không hay về giới sinh viên và nghiên cứu viên. Chỗ ở tại ký túc xá chủ yếu dùng để tiếp khách và không phải là nơi tập kết hàng. Người trong ký túc xá cũng thận trọng khi tiếp khách. Họ phải biết rõ ai đang đến ở với mình. Trong ký túc xá nơi Bính ở cũng có nhiều thành phần người Việt khác nhau. Có người đến từ Tiệp Khắc, có người đến từ Liên Xô, từ Đức, từ Hung Ga Ri… Họ tới với những câu chuyện lạ lẫm ở xứ người rồi lại đột ngột ra đi không một lời chào tạm biệt. Bính cũng không nhớ hết những tên tuổi của họ, nay chỉ là những người qua đường, hiện hữu thoáng chốc, rồi lại biến đi trong trí óc anh.
Trinh dường như cũng là một trong muôn ngườøi ấy. Bính giúp chị mang chiếc va ly ra xe điện, không khí sạch và thoáng đãng. Trời hôm nay ấm lên, đôi chỗ tuyết tan lộ ra những mảng đất màu đen, thành phố vào đêm có vẻ quyến rũ, với những cửa sổ thao thức đèn của khu túc xá, những dãy điện đường ném ánh trăng xanh đỏ kéo thành vệt dài của ôtô trong thành phố. Trong cái ánh sáng lờ mờ trộn lẫn nhiều gam màu ấy, Bính thấy mình cử động được tự nhiên và gần gũi với người đàn bà. Anh hít đầy lồng ngực khí trời, thoát ra khỏi các lồng sắt là niềm vui nhỏ, anh chợt nhớ tới ngôi nhà lắp ghép tại Hà Nội. Cái nắng chói gắt, bụi bậm quạt lửa vào các ô cửa, không gian chật chội khiến người ra dễ xích mích, nặng nhẹ, gây gổ với nhau cho bõ tức. Trong lúc chờ xe, người đàn bà rút bao thuốc lá ra:
- “Anh có hút thuốc không?"
- “Cảm ơn, tôi không hút”.
Chị gõ đuôi thuốc vào lòng bàn tay, dưới ánh đèn đường, Bính nhìn thấy những ngón tay được chuốt và đánh bóng một cách kỹ lưỡng, đôi mắt chị thảng thốt như đang trôi vào một miền ký ức xa xăm nào đó. Bính dựa vào thanh chắn của bến đợi, đặt cái va ly bên cạnh, nhìn ra phố, đường ray của tàu điện trải dài ra phía xa ánh màu trắng đêm. Cái nhìn này đã trở lên quen thuộc với anh. Có cảm tưởng nếu như anh đặt những ý nghĩ của mình lên đường ray ấy chúng sẽ trĩu nặng và làm những thanh ray cong xuống.
- “Cứ mỗi lần gặp những người bạn mới từ Việt Nam sang tôi lại cảm thấy nhớ Việt Nam, đã lâu lắm rồi tôi không về nay”.
- “Chắc chị đã ở đây lâu”.
- “Nhà tôi là ngưòi Ba Lan, nhưng anh mất đã tám năm nay, gia đình chồng lại không thích tôi, họ đuổi tôi ra khỏi căn hộ của anh ấy, tôi buộc phải thuê căn hộ khác để kiếm sống và nuôi các con”.
Tám năm trong cuộc đời một người đàn bà, khoảng thời gian không ít để một cuộc đời mất đi thay bằng một cuộc đời khác. Bính cũng có gia đình nên anh hiểu người phụ nữ khi phải bươn bả kiếm sống sẽ vất vả thế nào, chị cho anh biết chị đã có hai con, bây giờ cuộc sống đã dễ chịu hơn trước nhiều, đứa con gái lớn học giỏi và đỡ đần được trong mọi chuyện.
Lấy chồng người nước ngoài là một sự kiêng kỵ ở Việt Nam. Những người Việt Nam cố hữu ít khi hình dung ra sự tách khỏi quê hương mình. Từ “ngoại quốc” còn quá xa lạ với dân Việt, và họ hình dung ra đã đến Việt Nam thì cũng phải mang theo mình một ý đồ nào đấy. Và cũng không tránh khỏi điều đó thật. Ai đến Việt Nam một mảnh đất đang đầy rẫy những bất trắc để mang vạ vào thân. Cần phải có một lý tưởng để soi sáng, hay là một vũ khí để phòng thân. Cái vạ với người lấy chồng nước ngoài còn đeo đẳng lâu trong đời sống gia đình. Bởi tại sao lại không lấy người Việt. Nhất định ở đây có vấn đề. Chẳng ai tách bạch được tình yêu với công việc mà mình có trách nhiệm. Để ngăn ngừa, tốt nhất là tránh xa ra. Người lấy người nước ngoài được coi là người không yêu nước, chỉ biết lo phần sung sướng ích kỷ cho bảïn thân. Họ hay bị kiểm tra, săm soi và đánh giá như những người xa lạ với chính trị của đất nước này.ø Sau chiến tranh mọi việc đã ít nhiều thay đổi. Sư cởi mở dần trở lại với những người dân. Con mắt thù địch, soi xét, truy hỏi cũng không còn mang tính đối đầu nữa.
- “Bây giờ chị có thể về thăm nhà, chính sách của mình cơiû mở và dễ dãi hơn”.
- “Tôi cũng có ý định ấy nhưng chưa tiện”.
Suy nghĩ lại trở về quá khứ:
- “Tôi quen nhà tôi hồi Hội nghị bốn bên, anh ấy thích tôi ngay và muốn đưa về Ba Lan, mãi hai năm sau anh mới thực hiện được ý định ấy. Chúng tôi sống hạnh phúc cho đến khi anh ấy mất. Yêu anh ấy, Ba Lan trở thành tổ quốc thứ hai, có điều nơi cha sinh mẹ đẻ thì không bao giờ quên được”.
Bính bỗng thấy nỗi buồn nhẹ lan tới.
Cuộc đời con người có những bước ngoặt không định trước, chỉ một giây phút quyết định và thế là tất cả thay đổi. Có những bước đi tốt và có những bước đi không lấy già đảm bảo lắm, chị đã vật lộn để kiếm sống nuôi con, nhưng điều căn bản là làm sao vẫn giữ được bản chất con người đích thực, cái đó lại xa xôi bao nhiêu với thứ đạo đức giả, thứ đạo đức chỉ biết đến mình. Hạnh phúc cũng eo hẹp lắm, nó chỉ ban thưởng cho một số con người thực sự xứng đáng. Bính cảm thông với số phận cô đơn của người đàn bà. Khi đã sống ở Ba Lan, đời chị cũng có nhiều truân chuyên lame. Để có được tình yêu và nắm bắt nó đâu có dễ dàng. Anh thấy mình cũng cô đơn và kém hiểu biết trong thế giới của đồng tiền. Đôi khi, chỉ có thể dựa vào bản thân mình, và những lúc ấy là lúc trỗi dậy những tiềm năng còn ẩn náu, hun đúc lên chất người hoặc buông tay cho số phận.
Người đàn bà rít điếu thuốc lá, vứt mầu tàn xuống dưới dhân:
- “Tôi tới mua của anh ít hàng, nhưng cũng còn có một việc cần bàn với anh”.
Bính chăm chú nhìn người đàn bà:
- “Việc gì ạ?"
-"Nhân có nhờ tôi mời anh cùng làm việc với chúng tôi”.
- “Làm việc?" – Bính không tin vào tai mình.
- “Công việc thực sự đơn giản thôi. Chỉ cần có một chút thỏa thuận với nhau”.
- “Thế tôi có thể giúp gì được chị?"
- “Anh có biết không, ở Ba Lan hiện nay chúng tôi đang buôn một loại hàng đặc biệt: máy tính. Chúng tôi chuyển từ Ba Lan sang Liên Xô. Nhu cầu máy tính ở đây rất lớn. Muốn vậy, chúng tôi cần có người chuyển hàng. Theo chỗ tôi biết thì anh có hộï chiếu công vụ có thể làm được việc này dễ dàng. Bước đầu, để làm quen với công việc, chúng tôi nhờ anh ở công việc lộn thùng, chủ yếu là dấu kín các nhãn hiệu, mỗi đợt như vậy tôi có thể trả anh 20 đô-la. Còn nếu anh tham gia “cửu vạn” chúng tôi sẽ trả anh 200 đô-la một chuyến”.
Trời, nhiều vậy sao? Bính không thể tưởng tượng nổi lại có một công việc ở Ba Lan nhiều tiền đến như vậy. Thế mà cả tháng trời nay giam chân ở ký túc xá anh lại chẳng hề biết gì chuyện này.
- “Nhân đã giới thiệu anh nên cũng không cần có thủ tục nào hơn nữa”. – Người đàn bà nói tiếp.
- “Tôi, tôi..."
Bính ấp úng.
- “Mọi việc là tùy ở anh thôi. Nếu anh nhận thì mọi việc có thể bắt đầu từ ngày mai."
- “Nhanh thế sao?"
- “Đúng đấy, chúng tôi đang cần người” – có thể nói thẳng với anh như vậy – “Theo tôi chẳng có gì đáng suy nghĩ nhiều cả. Tôi nghĩ rằng anh sang đây cũng cần đến tiền”.
- “Vâng."
- “Thế là thỏa thuận với nhau rồi nhe”.
Tàu đã tới, Bính giúp người đàn bà đưa va ly lên tàu điện.
- “Anh nhớ tới đúng 11 h nhé, tại ga phụ, nơi có bến xe ngoại ô”.
Anh nắm lấy tay người đàn bà, chào tạm biệt. Người đàn bà để bàn tay lâu hơn trong tay anh.
Một mắt xích đã vỡ ra trong sự trói buộc từ hơn một tháng trời nay ở Ba Lan. Tất cả đều giản dị và như sắp đặt trước. Đằng sau nó là những con người. Cái thế giới bác học của anh không có những chuyện này, hay đúng hơn người ta đánh giá nhau từ một góc độ khác. Trước hết là những cống hiến chứ không phải là sự cảm thông. Thế mà, Bính như vừa khám phá ra một khía cạnh mới trong cuộc đời của người đàn bà anh mới làm quen.