Cửu vạn - tiểu thuyết của Vũ Đức Tân

Tiếng xe ô tô giảm ga mệt nhọc lao qua bãi trồng đầy cỏ xanh tiến vào khu nhà nghỉ, nơi các công nhân Việt Nam ở. Vài cánh cửa sổ bật ra, mấy cái đầu thò ra, lại nhanh chóng thụt vào, có tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng chân chạy, chẳng mấy chốc từ phía cửa chính của cả hai khu nhà đã ùa ra những cô gái ăn mặc đủ các kiểu trang phục sặc sỡ mùa hè, có người trên tay còn dính bọt xà phòng như mới vội rửa ở chậu giặt đứng dậy. Chiếc xe đỗ lại ngay giữa sân. Từ trong xe, Chí bước ra, khệnh khạng tiếng đến gần các cô gái. Một cô gái thắt khăn đầu rìu để chùm tóc ngược lên, khoát tay nhỏ một bãi nước bọt:

- “Tưởng thằng chủ tới, hóa ra bọ Chí, chán ốm. Thôi, vào nhà đi chúng mày”.

Vài cô gái tản ra, rục rịch trở vào nhà.

Chí chụm hai tay lại, thét bằng cái giọng kim yếu thế, cố ra vẻ hài hước:

- “Loa, loa, loa... có thông báo của chủ, mời bà con ra nghe”.

Đám đông dừng lại, nghe ngóng.

Tay lái xe riêng của chủ quay cho cửa kính hạ xuốn ngó đầu ra.

Từ khoảng một tuần nay, Chí đã đến hẳn với chủ ở gần xưởng. Hắn còn dụ dỗ thêm mấy cô trong đoàn cùng lên ở với hắn trong ngôi nhà mới. Chí muốn thông qua các cô gái để vận động nhóm công nhân đình công đi làm lại. Chủ đã phát lương cho mấy cô đó, hứa sẽ tăng lương nếu nghe theo lời hắn. Nhưng với cả đoàn thì chủ càng tỏ ra quyết liệt hơn. Ông ta tuyên bố sẽ đuổi bất kỳ ai nếu cứ ngoan cố không nghe theo lời ông ta theo cách như ông ta đuổi Hương. Ông cũng nói ông chỉ cần một số người trong sáu chục người đã sang. Với những người ấy ông sẽ trả lương tử tế hơn so với trước kia, số còn lại ông sẽ đuổi về nước. Các cô gái không muốn tin vào lời hứa suông một lần nữa, các cô họp nhau lại và thống nhất hoặc là chủ đáp ứng đủ các điều kiện các cô nêu ra về nhà ở, ăn uống và lương cho cả đoàn, hoặc là các cô sẽ không đi làm, đòi ông đưa các cô về nước.

Chí bước vào giữa đám đông. Y chống hai tay vào sườn, cố giữ vẻ bình tĩnh:

- “Chủ thông báo rằng từ hôm nay trở đi ông ta sẽ không thuê khu trại này nữa. Nếu ai đi làm việc thì lên khu nhà của tôi ở hiện nay: còn nếu ai không đi làm thì chủ không có trách nhiệm”.

Nhâm bước tới trước mặt Chí, mặt cô ta đanh hẳn lại:

- “Thế những yêu cầu của chị em thì sao. Phải cho ăn uống đầy đủ, khi làm về muộn không được cắt suất ăn một cách tuỳ tiện. Người ốm phải được chăm sóc. Còn lương, lương phải trả chúng tôi ra sao?"

- “Chủ chỉ yêu cầu đi làm còn thì xét sau."

- “Lại như lần trước chứ gì. Anh nên nhớ rằng chúng tôi đã đình công đến lần thứ hai. Vậy mà ông ta có nhượng bộ đâu. Cứ trả lời thẳng cho chúng tôi đi, ông ta định trả bao nhiêu. Không đủ sống thì chúng tôi không đi làm đâu."

Cô gái thắt khăn đầu rìu chen vào:

- “Trả hộ chiếu cho chúng tôi đi."

Chí lúng túng:

- “Tôi không biết."

Nhâm gằm giọng:

- “Mày biết hết, đừng có giả vờ."

Chí thả hai tay xuống, gượng cứng cỏi:

- “Tôi chỉ thông báo thế tôi, còn mặc kệ các cô."

- “À, mày nói “mặc kệ” phải không?"

Nhâm căm hờn hét lên:

- “Chị em ơi, nó bảo mặc kệ này. Nếu không có nó sao chị Hương phải về nước. Không có nó tại sao chị em phải khổ thế này mà không làm gì được."

Đám đông xung quanh trở lên ồn ào:

- “Mày có biết rằng tao bị ốm vì rửa nước lạnh khi hành kinh không?"

- “Thằng chó chết, hôm nay mày lôi con nào lên cho chủ. Chủ nó thí cho mày cái gì hả?"

Nhâm túm cổ áo Chí, y lấy tay gỡ, nhưng không được. Các cô gái vây chặt, lời tuôn xối xả, bừng bừng:

- “Đả đảo Rômếch!"

- “Đồ chó săn!"

- “Đả đảo thằng Chí!"

...
Chí hốt hoảng lùi về phía cửa xe ô tô.

Nhâm bám riết:

- “Chị em ơi đừng để nó thoát."

Chí càng hoảng hơn, gọi tài xế mở cửa, y ngã vào ghế trước. Cửa ngoài. Nhâm lôi ra, phía trọng, Chí cố ghì lại. Tài xế chửi mắng om xòm bấm còi inh ỏi. Chiếc xe lùi lại, rồ máy tiến lên trước. Đang giữ cửa xe, mất đà. Nhâm ngã ngồi, chân thọc vào gầm xe. Bỗng Nhâm gào lên đau đớn: -" Á!"... Bánh sau của xe lăn qua chân cô. Xe đi được vài thước, tài xế nhô đầu ra, nhìn thấy Nhâm bất tỉnh, máu xối ướt quần. Chí gào to, tài xế rụt đầu vào, chiếc xe tiếp tục chuyển bánh, chạy ra khỏi khu nhà nghỉ. Đám đông sững người, khi rùng rùng đuổi theo thì xe đã ra khỏi khu trại. Họ xúm lại quanh Nhâm, một vài người òa lên khóc, tất cả đám đông đều khóc.

Nghe tiếng ồn ào ở khu trại, Bính và Minh đang dạo chơi trong rừng chạy về. Họ bàng hoàng trước cảnh các cô gái ôm mặt khóc.

Minh chạy tới, quỳ xuống, ôm choàng lấy Nhâm:

- “Nhâm ơi, Nhâm... Chị làm sao thế này."

Cô hốt hoảng, hoa mắt khi nhìn thấy máu bắt đầu loang thành vũng trên đất.

Sẵn chiếc máy ảnh tự động trong tay Bính bấm lia lịa. Khung cảnh kỳ lạ này làm anh nhức nhối, đau đớn. Anh bấm liên tục cho đến kiểu cuối cùng. Cả cảnh Nhâm nằm bất tỉnh trong vũng máu lẫn những giọt nước mắt giàn dụa trên gò má Minh.

Vài người Ba Lan gần đấy chạy tới. Họ sửng sốt, cùng các cô gái băng bó tạm thời, và gấp rút đưa Nhâm vào bệnh viện.

Từ bệnh viện trở về Minh trở nên rầu rĩ, mặt tái ngắt. Nhâm ở cùng phòng với cô, tính thẳng thắn, hay giúp đỡ bạn bè. Không chịu nổi sự vi phạm nhân phẩm, bị đối xử bất công. Nhâm hay nói với Minh về chuyện mình muốn trở về nhà. Việc cô bị thương phải vào bệnh viện đối với Minh quá bất ngờ.

Ở nhà Nhâm không đến nỗi túng bấn. Chồng cũng kiếm được đủ tiền ăn tiêu và xây dựng nhà cửa cho gia đình, nên anh cũng không muốn cô phải đi làm ở nước ngoài. Nhưng Nhâm bướng bỉnh, không chịu nghe theo lời chồng. Trong trí tưởng của cô đồng tiền làm ra như hái hoa, cuộc sống đầy tiện nghi và những trò giải trí cuốn hút. Đặt chân sang Ba Lan, Nhâm mới thấy điều đó thật viển vông.

Nhâm được những lá thư đằm thắm, da diết mong đợi của chồng, Nhâm càng ân hận về quyết định của mình. Nhâm thường cho Minh xem những bức thư mà cô đọc đến thuộc lòng. Có lẽ, ngay cả cô cũng không nghĩ tới một kết cục buồn thảm thế ở nước ngoài.
Bính theo Minh trở về căn phòng nơi ở của cô với Nhâm. Thấy Bính về cùng với Minh, các cô gái cũng tò mò thăm hỏi ít câu rồi lặng lẽ rút lui, chỉ còn Bính và Minh ở lại trong phòng. Bính ở một tâm trạng gần như bất lực. Anh không thể làm gì gúp cô, ngoài chuyện an ủi, nhen nhóm hy vọng mọi việc sẽ trở lên tốt hơn. Cái việc đem con bỏ chợ này quả là một lỗi lầm cay đắng. Mỗi ngày dài thêm của hợp đồng là mỗi ngày nặng nề và buồn khổ cho các cô bé, mọi việc cũng đâu chỉ dừng lại ở đó. Anh thấy Minh đứng ở góc phòng, lấy những lá thư của chồng Nhâm đọc từng đoạn, từng đoạn, những lá thư mà chính cô cũng đã thuộc theo Nhâm. Bính nhìn những mảnh giấy dán tường đang bị bong ra, cái cửa sổ lâu không sơn sau nhiều lần lau rửa đã cũ mèn. những chiếc giường sứt hỏng lò so và những chiếc đệm cũ. Người ta không cho các cô gái thay chăn đệm đến nỗi chính các cô phải đi giặt và phơi phóng bừa bãi khắp nhà. Các cô gái mua bếp điện tử nấu nướng trong phòng nồi niêu xoong chảo để một góc nhà tựa như trong một ký túc xá cũ của sinh viên.

Đột nhiên, Minh bật khóc, cô đứng ở góc phòng để những dòng nước mắt chảy tràn qua mi, qua má. Bính bước tới gần Minh, anh thấy mình lóng ngóng, vụng về:

- “Minh em, đừng khóc em."

Minh càng hòa khóc to hơn. Cô quay người, ôm choàng lấy Bính, đôi tay bám riết lấy anh, Bính đứng im, khẽ vỗ vai Minh, anh thấy Minh như đang lên cơn sốt, người nóng hầm hập. Tự nhiên, anh cũng cảm thấy buồn, anh muốn nói to, muốn lao vào một công việc nào đấy cho quên hết thảy những gì đang xảy ra xung quanh. Anh thấy mình vị kỳ lạ, anh chỉ còn nghĩ tới nỗi buồn của lòng mình. Anh xiết vai Minh, cô chừng như đã hơi tỉnh lại.

- “Anh Bính, em không muốn ở đây nữa đâu, em sợ lắm."

- “Đừng sợ, Minh. Bính như nói với chính mình, chẳng có gì là đáng sợ cả."

- “Sao tất cả đều xấu xa thế anh, từ thằng chủ, thằng Chí tới thằng tài xế của chủ. Chúng em làm gì nên tội, chúng em lao động bằng sức của mình, còn đấy là công chúng nó trả bọn em. Em căm thù nó, anh Bính ơi. Em căm thù những thằng khốn nạn ấy, chúng nó phá hỏng những mơ ước của tụi em. Đời thật đáng chán phải không anh."

Bính muốn nói với Minh rằng không, không phải như vậy, rằng cuộc sống này không đến nỗi độc ác và buồn tẻ, rằng vẫn còn những người tốt, những người biết hy sinh và đáng kính, rằng bên cạnh những cái xấu xa bẩn thỉu vẫn còn những cái rất tốt đẹp... nhưng anh nghẹn lại. Chính điều đó, có khi Minh còn hiểu hơn anh, trong tình trạng bi kịch như thế này, không có lời khuyên nào tốt hơn là sự im lặng. Trong nỗi cô đơn, con người trở lại bản thể của mình, và nếu thắng được nỗi buồn, con người sẽ trụ vững suốt cả cuộc đời. Anh lấy làm tiếc không thể truyền lại cho cô những kinh nghiệm có thể tạm thời dùng để chế ngự những cuộc nổi loạn của tâm hồn. Minh sẽ sống khỏe khắn, và anh tin rằng Minh sẽ sống ngay cả khi tai họa ập bên đầu cô. Hoàn cảnh không phải là cái duy nhất chi phối con người, nó chỉ là cái tạo nên con người, giúp con người trở nên sáng suốt, thông minh nếu con người biết vượt qua trở ngại. Cái chủ yếu là con người phải có đức tin vào lý do tồn tại cuộc sống của mình. Bính buông cô ra. Minh vấn lại mái tóc và gạt những dòng nước mắt.

- “Uống chè đi em, anh đã pha chè rồi đây này."

Bính nói với Minh sau một lúc im lặng.

- “Anh cứ làm như ở nhà anh ấy."

Minh ngúng nguẩy.

- “Tốt rồi” – Bính nghĩ bụng anh nói tiếp:

- “Thế em mời anh uống chè vậy nào."

Bính cười.

- “Con gái thật khó chiều quá hè?!"

Minh đã hơi mỉm cười:

- “Đấy, nhà của tụi em anh thấy thế nào?"

- “Có mơ anh cũng không nghĩ rằng đi Tây lại ở sang trọng như thế này."

- “Lại thêm nhà tắm chung, nhà xí chung, và không có bếp nữa chứ..."

- “Đủ tất cả tiêu chuẩn của một khách sạn sang trọng nhất còn gì nữa."

- “Vắn tắt nhé: Em không muốn ở lại phòng này một mình đâu. Chiều nay, em trở lại Vác với anh."
 
*
* *

Bính ngồi nghe tiếng nước ào ào chảy vào bồn tắm. Anh với một cuốn sách trên giá, cố tập trung ý nghĩ để đọc, vậy mà anh vẫn không tập trung được. Cuốn “Một người Mỹ trầm lặng” của Gram Grin vốn nổi tiếng là thế lại trở lên vô duyên ở phút này. Bính hơi mỉm cười, tự diễu mình. Cái làm anh không yên tâm vẫn là cái tiếng nước vọng ra từ buồng tắm. Đã hai hôm nay, Minh lên ở cùng với Bính, thực ra điều đó chẳng làm cuộc sống của anh xáo trộn bao nhiêu, nhưng anh cứ ngài ngại và lúng túng, nhất là trước khi đi ngủ. Minh thì lại khác, cô cư xử vô cùng tự nhiên thoải mái, đến nỗi có lúc Bính lại có cảm giác rằng chính Minh là chủ chứ không phải là anh. Anh làm nhiệm vụ đi chợ, còn mọi việc trong nhà Minh quán xuyến hết. Bính lấy làm mừng là Minh không trở lại trạng thái xốc như khi ở trại. Vác đã làm cô gái vui lên chỉ trong nháy mắt.

- “Ai mà sau làm chồng em thì bị em bắt nạt đến chết thôi."

- “May cho anh đấy, chứ hiền như anh thì không phải đến tay em trị."

- “Thế em thích một ông chồng như thế nào?'

- “A, điển trai này, cao như Tây chiều em như chiều vong ấy, tiền lại thu như nước."

- “Theo anh thế thì cứ lấy Tây cho xong."

- “Tây cũng đẹp chứ, chỉ tiếc không có Tây ở ta."

Cứ với cái giọng nhấm nhẳng ấy, quả Minh đã làm vui cửa vui nhà. Thật khác cái cảnh mỗi khi Bính về thấy Tín nằm dài ôm cuốn sách và cái tai nghe nhạc, chẳng nói chẳng rằng. Bính như biến đổi hẳn, anh hay nói và nói dài hơn. Những suy nghĩ của anh cũng cụ thể và ít hướng vào nội tâm hơn trước.

Ở bên Minh, Bính thấy những ngày sống của anh thực sự có ý nghĩa, ít nhất hình như anh đã làm vơi bớt những nỗi buồn của một cô gái đang đau khổ. Nhưng trong thâm tâm, anh thấy anh đang tự dối anh. Có lúc, anh thấy không phải anh cần cho Minh mà chính anh đang cần Minh.

Có tiếng Minh từ buồng tắm vọng ra.

- “Anh Bính ơi, mang cho em cái khăn tắm, ở đầu giường ấy."

Bính đứng dậy tìm chiếc khăn. Anh thận trọng gõ cửa buồng tắm.

- “Cửa mở đấy đưa cho em khăn nào."

Bính khẽ đẩy cánh cửa. Cái nhìn của anh khựng lại.

Anh mở toang cánh cửa ra, và trước anh là Minh với nước da con gái mịn màng. Hai tay cô khép lấy ngực, bộ ngực tròn lộ ra dưới hai cánh tay trẻ trung, đầy sức sống. Ở phía dưới bụng cô là những sợi tơ ướt nước, cập đùi hơi khép lại, cháy bỏng những khao khát.
Minh không nhìn Bính, mắt cô hơi nhắm lại và khẽ nói:

- “Anh Bính, anh không thích em à?"

Bính để rơi chiếc khăn tắm xuống chân.

Anh bước lại ôm lấy tấm thân ướt nước của Minh, anh thấy trong lòng mình trào lên nỗi khao khát mãnh liệt của một cơn lốc bất thần, dường như nó xoáy mù tất cả, làm đầu anh rực lên và cả tấm thân anh như tuân theo những cử chỉ sai khiến của Minh. Anh đưa hai tay vào làn tóc cô, để hơi ấm của nước ngấm vào làn da khô khát, ngấm vào đôi mi hơi hé mở một cách say đắm, anh cảm thấy bàn tay của Minh riết chặt lại, thấy bộ ngực, chiếc bụng của Minh kề sát như muốn hút lấy tấm thân anh.

Anh đặt lên môi Minh một nụ hôn, cặp môi của Minh đầu tiên như muốn phản ứng, sau mềm ra và hé mở, anh đưa đầu lưỡi vào giữa kẽ răng, cảm thấy những chiếc răng và chiếc lưới ẩm ướt của cô đang đáp lại anh.

Anh bế Minh đặt lên giường. Hơi lạnh của phòng ngoài làm Minh hơi co người lại. Cô mở mắt ra và nhìn anh, một cái nhìn chứa đựng bao dịu dàng, âu yếm, đắm say. Cô đưa tay lên cởi từng cúc áo của anh.

- “Hai hôm nay, em cứ mong anh mãi, em muốn em là của anh, của anh thôi."

Bính vuốt dọc thân mình cô gái, một thân hình thật đẹp và trinh trắng. Bây giờ anh biết rõ cái cảm giác săn đuổi mình bấy lâu nay. Đấy là cảm giác của một người đàn ông đến với một người đàn bà, đấy là cái cảm giác của một nỗi cô đơn này đến với một nỗi cô đơn khác. Minh đã bắt đầu sống trong anh từ buổi gặp gỡ đầu tiên, từ khi cô gặp anh ở sân ga trong chiếc áo dài mầu xanh, tôn lên những đường nét kiều diễm trên thân hình đẹp của cô. Những ngón tay của Bính thấm dần hương ấm mịn màng của làn da con gái. Minh khẽ rên lên trước những cử chỉ sẽ sàng của Bính và Bính cũng ngập dần vào nỗi đam mê. Anh thấy mình đang bơi trong biển của những ảo giác, và tất cả thình lình anh thấy chấn động mạnh ở nơi Minh, cả người Bính trùng xuống, còn Minh, cô đã sang bên kia giới hạn của một đời, cô đã trở thành một người đàn bà.

Minh cúi xuống hôn nhẹ vào cặp môi mệt mỏi của Bính. Khi anh đã nằm vật ra giường, mái tóc ướt của cô trùm cả lên mặt Bính, nỗi đam mê nguôi dần, nhưng sự gắn bó và những tình cảm sâu lắng lại dường như chỉ mới bắt đầu, giờ đây Bính thực sự là của cô.

- “Anh tuyệt quá, em thích một người đàn ông đã có vợ như anh."

Bính định nói một câu gì đó, nhưng Minh làm hiệu ngăn lại.

- “Không anh đừng nói gì cả, như thế tốt hơn. Em không ân hận đâu, em đã lựa chọn, và đây là kỷ niệm với Ba Lan. Đấy, em điên như thế đấy."

Họ lại nằm bên nhau một lúc nữa.

- “Anh có muốn uống cà phê không?"

Bính gật đầu.

Minh trở dậy, cô đặt ấm cà phê, rồi cầm máy sấy tóc:

- “Anh sấy cho em với."

Bính để cho máy chạy. Minh để tay lên đùi anh và khẽ vuốt ve. Minh và Bính nhấm nháp cà phê và bánh ngọt, sức lực dần trở lại với anh. Minh đến phía sau bịt mắt anh ghé vào tai anh thì thầm.

Một lần nữa nỗi đam mê lại thức trong anh, lần này dai dẳng hơn, đằm thắm hơn và chỉ trong ít phút ngắn ngủi, Bính như đã sống bằng cả một cuộc đời, một cuộc đời Minh đã cho anh, dành cho riêng anh.

*
* *

- “Minh, chẳng lẽ anh là người đầu tiên của em sao?"

- “Anh vẫn không tin ư, anh Bính."

- “Nhưng tại sao em lại làm như vậy."

- “Em thích, anh Bính ạ, em muốn anh là của em. Vả lại, anh đâu biết nỗi cô đơn nó giằng xé em thế nào. Chung quanh là cuộc sống, còn em là ai? Một số không. Anh tưởng những đứa con gái như em không tỉnh táo ư? không phải thế đâu, trong mọi trường hợp thì rồi em cũng vẫn làm chủ được cuộc sống của mình. Mà này, hay anh sợ, anh hối hận với em phải không?"

Trước mắt Bính bỗng hiện lên hình ảnh của vợ anh.

- “Không."

- “Em không tin, rồi anh lại sẽ buồn đấy. Nhưng em muốn nói trước với anh rằng em chẳng đòi hỏi gì ở anh. Anh cho em khoảng thời gian bên anh là đủ rồi. Anh biết em nghĩ gì không, chẳng lẽ em sang bên này để rồi đến nỗi trắng tay sao? Em cảm ơn anh đấy, ít ra người đầu tiên của em lại là anh”.

Minh đưa bàn tay tìm lấy tay Bính.

- “Để mãi mãi không có điều gì làm em sợ hãi nữa, anh Bính ạ."

Bính cảm động.

- “Minh ơi, anh muốn nói rằng..."

- “Không, anh Bính ạ, đừng nói với em điều gì thì hơn."

Bính ứa nước mắt. Những lời lẽ của Minh xuất phát từ đáy lòng, cô không tin vào bất cứ sự hứa hẹn vĩnh cửu nào của anh, bởi cô biết, trước sau, trong cuộc đời họ sẽ không mãi ở bên nhau. Bính không thể từ bỏ tất cả những gì anh đã có, anh không có dũng cảm làm lại toàn bộ cuộc sống. Kể cả với tình cảm mãnh liệt của mình. Anh đã quá gắn sâu vào cội rễ của quá khứ với tất cả những sợi dây tình cảm và vật chất, anh cũng không dễ dàng phụ bạc lại người vợ của mình, khi anh cũng không dễ dàng phụ bạc lại người vợ của mình, khi biết người khác đau khổ, lòng anh cũng âm thầm day dứt theo.

Minh đã đến lấp đầy khoảng trống của đời anh – Một “cửu vạn” con nhà lành, nhưng cô cũng là cơn bão đánh dấu sự đi xuống của thể chất và tinh thần anh trước cám dỗ của đồng tiền?! Bính có cảm tưởng rằng chỉ ít lâu nữa thôi, anh sẽ trở nên con người hoàn toàn khác hẳn, nỗi cô đơn có sức mạnh như một liều thuốc độc dược, chỉ cần hơi quá là sẽ đưa người ta sang bên kia dốc của cuộc sống. Sau Minh, chắc số phận “cửu vạn” của anh sẽ chẳng ra sao, cứ đà này rồi anh chấp nhận mọi số phận ngã vào tay anh như những quân bài. Khi ấy, chẳng có gì thay đổi về bản chất trong mối quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà dù một hay nhiều.

Bính nói:

- “Ngày mai, anh phải sang Đức, anh có chút việc không trì hoãn được."

- “Anh về nhanh với em nhé, anh Bính."

- “Bây giờ anh chỉ muốn có em thôi."

Minh cười, khuôn mặt cô rạng rỡ:

- “Trong khi không có người khác chú ý. Đàn ông các anh ai chả nói như vậy."

- “Em có thành kiến quá đấy."

- “Với anh thì không, chỉ hơi tiếc là anh có vợ quá sớm."

- “Đôi chân của em thẳng, mặc váy rất đẹp."

- “Em là người đầu tiên mặc váy trong đoàn."

- “Anh muốn tặng em một cái váy, do em chọn”.

- “Ôi thích quá."

- “Chúng mình đi ra cửa hàng đi."

(Hết chương sáu)
 
ban Trung DN thân mến,
Tôi cứ có cảm giác như anh là dân-máy tính. Bởi chưa có thời gian lặn lội khắp các chuyên mục của 3N.nên chưa thể quen hết với mọi người. Nhưng ấn tượng về 3N của tôi rất tốt. Tôi cảm ơn vì sự quan tâm của mọi người với những dòng viết. Tôi nghĩ 3N có thể tổ chức tốt hơn nếu mọi người cùng chung lòng và có chiến lược xa hơn.Nếu có thời gian nhiều hơn tôi sẽ tham gia vào chuyên mục dịch thi ca, vì đây cũng là môn khoái khẩu,dù rất vất vả và mất nhiều công sức.Cảm ơn.[color=darkblue:1c95bd3fef][/color]
 
“Soái” đưa chiếc méc-xê-đéc đến đón Bính để đưa tới ga vào lúc thành phố còn rực rỡ ánh đèn, nhưng đã bớt đi những bóng người di chuyển trên lề đường xám, trên các chuyến xe điện thưa thớt có vài bóng người im lặng ngồi trên các ghế xe. Hơi đêm ẩm ướt lùa vào xe qua kẽ cửa kính khẽ mơn man trên cái cổ đầy đặn của Bính. Suốt buổi chiều hôm ấy, Bính cố ngủ để lấy sức, anh biết tối nay khó có thể chợp mắt được. Chuyến tàu sang Đức khởi hành vào lúc nửa đêm. “Tý nữa, tao giao cho mày một chiếc cặp, mày đến chỗ Thục đưa cho nó cái cặp ấy”. “Soái” không nói với Bính những rắc rối có thể xẩy ra tại biên giới.

Trong phương án dự phòng “Soái” đã tính tới chuyện đó. Nếu chiếc cặp có mất thì Bính cũng không có gì đáng trách. Vả lại, phương án nào chẳng có độ liều.

“Soái” đã tính kỹ cả hai tuyến đường sắt từ Ba Lan sang Đức. Đường qua Dresden thì dài và kiểm soát có vẻ lỏng lẻo, nhưng như vậy thì số tiền anh gửi sang để nhập vào ngân hàng Đông Đức phải trải qua một chặng đường dài, mà Bính mới sang Đức lần đầu, rất dễ lỡ hẹn với Thục. Chỉ có chuyến tàu xuất phát ở Vác lúc nửa đêm, tới biên giới lúc trời mờ sáng, ngồi lẫn với đám người bình dân từ Ba Lan sang Đức là có khả năng an toàn hơn cả. Trường hợp này lại không cần tới một hộ chiếu đỏ dễ gây sự chú ý. Hộ chiếu công vụ và một chiếc cặp nhỏ ngồi xen lẫn với những người dân Ba Lan mang nhiều hàng qua biên giới dễ qua mắt đám hải quan bận rộn, bối rối, không ổn định về tâm lý.
Hai người còn đi uống một ly cà phê cho ấm bụng rồi mới vào ga.

Chỗ ngồi của Bính trong cúp-pê gần ngay cửa sổ. Cúp-pê có đến tám chỗ ngồi. Nó được ngăn bởi hành lang bằng một cửa kính lớn nhìn rõ từ trong ra ngoài. Từ phía ngoài hành lang có thể nhìn rõ mọi đồ vật xếp trên ngăn hành lý. “Soái”để chiếc cặp gần một chiếc va ly ca rô màu tím đỏ của một thanh niên Ba Lan có bộ râu quai nón, vóc dáng cao lớn.
“Soái” bắt tay Bính, rồi xuống ga, bước ra phía cửa ga, Bính nhìn theo những bước đi tự tin của “Soái”, thấy yên tâm hẳn. Sau những chuyến đi cửu vạn liên tục sang Liên Xô, Bính thầm phục sức dẻo dai, độ quyết đoán cũng như cách tính toán sát sao của “Soái”. Những con người như vậy dễ thành đạt trong đời.

Anh thanh niên Ba Lan quay trước, quay sau quay sang Bính:

- “Anh là người Triều Tiên hay Việt Nam?"...

- “Việt Nam”.

Anh giơ ngón tay cái:

- “Việt Nam. O.K”.

Anh nói bằng tiếng Nga, giọng lúng túng:

- “Com-mu-ni-xtơ?"(cộng sản?)

- “Chưa”.

- “Nhét. Com-mu-ni-xtơ. (không. Cộng sản).

Anh ta làm dấu bắt chéo.

- “Nhét. Va-oen-xa. Haven. Nhét Pô-li-tích”. (Không. Va-oen-xa. Haven. Không chính trị).

Điệu bộ anh trông thật buồn cười. Anh rút một chai rượu cô nhắc, một chén nhỏ ra. Anh rót rượu, tợp một chén rồi lại rót rượu mời mọi người. Mời đủ một lượt, anh đóng nút, làm bộ thở dài:

- “Còn một ít, để tới ngày mai”. Anh nháy mắt với Bính – “Nhét pô-li-tích”.

Rồi anh huyên thuyên kể chuyện anh đi làm thuê ở Tây Đức, anh kiếm được ít tiền, bây giờ lại đi nữa, được nhiều tiền anh sẽ dành dụm và cưới vợ. Anh nói tiếng Nga với Bính.

- “Con gái nước tao thích được tặng quà. Đầu tiên thì quà nhỏ thôi, sau đấy thì quà càng to càng tốt. Tao đi làm về kiếm quà cưới vợ nay”. Anh cười hì hì.

Bính đã gặp không ít những thanh niên như thế ở Ba Lan. Cái quan tâm chủ yếu của họ là kinh tế. Đất Ba Lan là mảnh đất phì nhiêu, màu mỡ, giàu khoáng sản, sản lượng than ở đây khá cao so với các nơi khác trên thế giới, nhưng dân ở đây tiêu sài dữ, hàng năm họ sử dụng đến một nửa sản lượng than làm ra.

Vậy mà thanh niên ở đây lại thích đi buôn, đi làm thuê kiếm ngoại tệ. Bính thường nghe Nhân nói dân Ba Lan không biết có bao nhiêu ngoại tệ trữ trong nhà. Nhà nước không sao kiểm soát nổi, họ chỉ đoán đại khái qua số lượng người ra, người vào.

Anh thanh niên ba hoa một câu chuyện tiếu lâm với Bính:

- “Trước đây, người do thái đi buôn, dân Ba Lan đấu tranh cho hòa bình, dân Đức gây chiến tranh, còn bây giờ anh biết sao không? dân do thái thích chiến tranh, dân Ba Lan đi buôn còn dân Đức thì đấu tranh cho hòa bình”.


*
* *


Nhóm nhân viên hải quan rầm rập đi vào, họ mở các cửa kính, kiểm tra hộ chiếu và đồ đạc, Viên sĩ quan Đức hỏi từng người xem đồ đạc của họ ở đâu. Anh ta yêu cầu mang chiếc va ly ca rô xuống. Anh thanh niên Ba Lan mở phanh chiếc và ly. Phía trong chỉ có mấy chai rượu, vài bộ quần áo và ít ví đầm.

Nhóm hải quan đã rút khỏi các cúp-pê, rục rịch chuẩn bị xuống tầu, thì một thanh niên Việt Nam từ cúp-pê bên cạnh hớt hải chay theo họ:

- “Tờ khai, cho tôi xin một tờ khai”.

Đúng là nhóm hải quan cũng không phát tờ khai cho một hành khách nào, họ chỉ vào cúp-pê Bính hỏi một cách chiếu lệ là có ai cần khai gì không.

Nhóm hải quan đi ngược trở lại.

Lần này, họ kiểm tra kỹ và mời hai thanh niên Việt Nam mang đồ đạc tới phòng khám. Hai thanh niên cùng theo họ tới một ngôi nhà đá xám ở ngay sân ga.

Bính nhìn vào cánh cửa của ngôi nhà phía trong là một chiếc bàn rộng. Nhóm hải quan đang mở va ly, một nhân viên hải quan mở chiếc túi gai lớn, ném hàng chục tút thuốc Ga-lăng vào, túm chặt lại.

Hai thanh niên trở lại tầu. Với hai chiếc va ly nhẹ bỗng. Họ cầu nhàu, bốp chát với nhau.

- “Mà không có tờ khai thì có chết ai nào”.

- “Thế khi ra thì nó thu mất nhẵn thì sao”...

- “Ngu bỏ mẹ. Thằng nào thu của mày. Mà tao như mày thì bán quách cho bụi Việt Nam ở đây, đỡ phải cầm theo, lại có lãi. Mày không biết giá vàng ở Đức hơn ở Liên Xô à?"

- “Ừ nhỉ, tao không nghĩ ra”.

- “Thứ mày còn ngu lâu. Bây giờ biết tính sao đây, hết mẹ nó thuốc rồi, tưởng trúng quả đậm hóa ra lỗ vốn”.

- “Khi ra thì nó trả lại ma”.

- “Thôi bố ạ, đừng dạy khôn. Bố mang ngược Liên Xô chắc”.

Bính tiến tới hỏi chuyện: Việc xẩy ra không có gì nghiêm trọng, một thanh niên có đeo chiếc nhẫn ba chỉ vào Đức, thấy hải quan không đưa tờ khai, anh lo lắng, đòi tờ khai để ghi mang chiếc nhẫn trở lại được bảo đảm. Nhóm hải quan nghi ngờ quay lại khám. Họ phát hiện ra hai thanh niên mang theo khá nhiều thuốc lá trong các va ly. Thuốc lá là mặt hàng cấm buôn bán ở Đức trong thời điểm hiện tại. Các sĩ quan hải quan dẫn hai thanh niên đi làm biên bản. Đường vào trạm khai báo không phải xa lắm nhưng vâäy kín bởi những bức tường bao. Nó gây cho những thanh niên cảm giác ớn lạnh khi nghĩ rằng sắp phải lên bàn thẩm vấn. Thực ra, mọi việc đơn giản hơn nhiều. Họ đề nghị để lại số hàng ở kho biên giới.

Một trong hai thanh niên Việt Nam là công nhân ở Đức. Anh ta mới chuyển một chiếc xe máy về Liên Xô, từ đấy lại chuyển hàng theo máy bay chậm về nước. Để làm được điều ấy, anh đã phải cưa khung xe ra làm ba đoạn, nhét gọn vào một thùng cùng với tất cả số phụ tùng, mới qua được hải quan Đông Đức vì họ không cho xuất xe máy khỏi nội địa vào thời điểm này. Xong việc, anh rủ một người bạn mang thuốc Ga-lăng, đánh quả ngược. Thuốc lá từ trước đến nay ở Đức vẫn là mặt hàng được giá.

Đợi không khí tranh cãi giữa hai người dịu trở lại. Bính hỏi kỹ thêm về đường đi ở Béc-lin:

- “Này từ ga tới chỗ tượng Các – Mác có xa không?"

- “Dễ ẹc. Anh cứ leo lên xe buýt của nhà ga, đi vài ga là tới. Trước khi lên anh phải mua vé ở ki ốt trước ga, và bấm một ve”.

- “Các cậu có tới Béc-lin không?"

- “Tụi em còn đi tiếp nữa. Cách Béc-lin vài chục cây cơ”.


*
* *


Bính xách cặp bước xuống ga. Các thanh niên Đức đứng ở các đường ngầm các pê-rôn rao bán báo ầm ĩ. Theo chỉ dẫn của hai thanh niên. Bính mua vé, leo lên một xe buýt. Chỉ vài phút sau xe đã đầy khách. Những phút đầu tiên đặt chân xuống Đức, Bính có cảm tưởng dễ chịu, thích thú. Người Đức trên xe thích im lặng, họ ăn mặc gọn gàng hơn dân Ba Lan, kiểu cách sơ-pho (thể thao). Cũng ít thấy người mặc quần bó như các thanh niên Ba Lan. Đường phố Đức sạch sẽ và ngăn nắp, xe cộ đi lại trật tự, biểu hiện một dân tộc kỷ luật, lịch sự, sang trọng. Đất nước có vẻ lành lạnh, công thức, kỷ luật một cách máy móc ấy lại làm Bính có cảm tình một cách kín đáo. Những người sống một cuộc sống lang thang như anh ít thích những người khác thực sự chú ý tới mình. Trong tâm thức anh vẫn cho rằng tốt nhất sống ở Đông Âu nên giấu biến đi cái lý lịch thực của mình. Như vậy, kể cả khi nói dối một ai đó, mình cũng đỡ ngượng. Anh vẫn cho rằng công việc buôn bán không phải là một công việc đàng hoàng với những người tri thức như anh. Đây là việc cực chẳng đã, nó không phải là tiêu chuẩn để cân đong đo đếm một người có kiến thức khoa học như anh.

Bính hỏi thăm xuống quảng trường Các – Mác, anh lần theo các số nhà rẽ vào một căn hộ ở tầng một, bấm chuông.

Một thanh niên có mái tóc bù xù, mặc một áo len đỏ pha đen ra mở cửa cho Bính:

- “Cho tôi hỏi anh Thục”.

- “Thục đây. Mời anh vào”.

Thục sốt sắng, anh liếc nhìn chiếc cặp của Bính.

Bính bước vào nhà, để chiếc cặp dưới chân và ngồi trên ghế sa-lông. Trên tường treo một thảm lớn, mô tả một thầy phù thủy đang thổi kèn, một đàn rắn ngóc đầu dậy, đung đưa.

Thục lấy lại chè ngon của Việt Nam, pha nước: Bức thảm ám ảnh Bính khiến anh ngước mắt lên nhìn lần nữa. Thục cũng ngoái theo:

- “Thằng bạn mới tặng tôi đấy. Trông cũng vui mắt phải không?"

Bính gật đầu.

- “Anh từ đất Ba Lan sang”.

Bính lại gật đầu.

- “Tôi từ chỗ “Soái”.”

Thục rót nước xong, nhìn thẳng vào mắt Bính:

- “Tôi đợi anh từ lâu. Nếu hôm nay anh không đến tôi đã ra ga tìm anh rồi. Trưa nay, mời anh ở lại ăn cơm với tôi. Bên này sẵn đồ Việt Nam, anh có thích ăn một bữa mắm tôm không? Thứ này bên Ba Lan chắc ít”.

Trước hết ta phải làm chuyện này đã.

Bính sốt ruột.

Bính giao lại chiếc cặp cho Thục. Thục mở khóa số. Anh lấy ra từng tập tiền rúp lớn loại một trăm. Thục đếm theo tập.

- “Đủ rồi đấy”.

Thục đóng cặp lại, cất vào tủ đứng ở tường. Anh quay lại ngồi với Bính:

- “Công việc không có gì thay đổi. Tôi sẽ gửi số rúp vào ngân hàng. Từ rúp sẽ đổi sang mác theo tỷ số hối đoái”.

Những biến đổi của xã hội Đức nhanh đến chóng mặt. Mới hôm qua hai nửa nước Đức còn thù địch với nhau, bây giờ đã sắp thống nhất với nhau. Đối với những người làm kinh tế thì nay là thời điểm thuận lợi số một. Khi nước Đức thống nhất thì từ mác sẽ đổi sang đê-mác theo tỷ lệ một một. Cầm chắc là sẽ thắng. Tình hình ở Đức dạo này lộn xộn lắm. Anh đi qua biên giới có thấy gì khác không.

- “Họ không khám kỹ lắm, chỉ những lúc nào nghi thôi”.

- “Đúng đấy, dạo này biên giới tương đối đỡ. Công an ở đây nắm vững từng người một. Dân mình rất khó buôn bán. Có vụ, trước khi mình về nước vài ngày họ mới tạo cớ đến khám, có bao nhiêu mất sạch cả. Bây giờ, tình hình có khá hơn. Cậu ngồi đợi một lát, mình chuẩn bị bữa ăn”.

Thục là một tay nấu ăn giỏi. Cũng lâu, Bính mới lại được ăn một bữa cơm ngon như vậy. Trong bữa ăn, Bính tò mò hỏi Thục về “Soái”.

- “Anh quen “Soái” chắc lâu lắm rồi?"

- “Thằng ấy khá đấy. Biết nhau thì lâu nhưng mới đánh quả với nhau vài ba bận. Một lần tìm cách chuyển ít xe con từ Liên Xô sang Thổ. Tụi Thổ mua xe con về tân trang lại, đổi mác mới bán sang phương Tây. Một lần, phối hợp với tụi Liên Xô, chuyển một toa đồng qua biên giới”.

- “Thế có bao giờ các anh bị gãy chưa”.

- “Có. Vụ chuyển máu khô từ An-giê về gẫy hoàn toàn”.

Lần ấy “Soái” và Thục cùng dồn vốn chuyển một va ly máu khô từ An-giê về Liên Xô. Nhưng người mang hàng gặp sự cố ở sân bay. Và hàng bị giữ lại. Người mang hàng thì bị trục xuất khỏi An-giê. Họ bị mất cả chì lẫn chài.

Sau bữa ăn, Thuc khuyên Bính:

- “Chẳng mấy khi cậu sang đây. Nên thăm thú cho nó biết. Mình có tấm bản đồ đây, cậu xem kỹ rồi tự đi cũng được. Mình phải chuyển cái cặp vào ngân hàng”.
Thục chỉ dẫn cho Bính cách đi xe vào trung tâm và đưa anh vài trăm mác.


*
* *


Bính làm quen rất nhanh với hệ thống xe điện của Đức. Trong tay anh có bản đồ nên anh thấy tự tin. Anh vào khu trung tâm.

Quảng trường, Alêcxanđrơ bốn chung quanh bị vây bọc bởi tháp vô tuyến, những căn nhà cao, hộp kính lấp lánh ánh mặt trời. Bính thích thú quan sát đường cong của các mái vòm trong ga lớn, đường gãy khúc công nghiệp của một khu nhà, những ô vuông lạ lẫm của các khung cửa kính lớn, những bức tượng kiểu ba-rốc rườm rà, vài dáng gô-tích cao vút của các thánh đường.

Đây ít có cảnh người ngồi đọc sách như ở Đất lớn. Dân dạo chơi cũng không nhiều. Bính nhập vào một nhóm người trên quảng trường. Đây là một nhóm thanh niên cạo trọc đầu, mặc áo vàng. Họ mang những nhạc cũ hiện đại gõ, hát và hò hét. Người xem khá đông, im lặng không cười và không có vẻ gì tán thưởng. Thỉnh thoảng, một người áo vàng lại nhảy ra, đi quanh đám đông, phát những tờ giấy. Bính thấy chán, bỏ đi lang thang trên quảng trường.

Bên cạnh một cột đá ốp lớn, Bính thấy, một người đàn ông cầm cây đàn ghi ta say sưa gảy. Thỉnh thoảng, lật môt trang nhạc trên khuôn sắt. Phía cạnh ghế đặt một chiếc mũ phớt lật ngửa, phía trong có vài chục mác. Giai điệu của một bản nhạc cổ điển. Anh lấy mười mác bỏ vào chiếc mũ. Người đàn ông không để ý, vẫn cắm cúi đàn. Bính rời quảng trường trong tiếng ghi ta rộn rã đuổi theo anh. Những nghệ sĩ đường phố làm thành nét độc đáo của các nước Châu Âu và phương Tây. Đường phố trở thành nơi chia xẻ những cảm xúc cuộc sống, những trăn trở của con người, cả lối sống tạm bợ, buông thả ru mình theo những âm thanh xứ lạ. Thành phố của nước Đức bỗng trở nên xa lạ và gợi cho anh cảm giác cô đơn. Anh chợt nghĩ tới Minh và cái thân hình trắng và những núm vú căng vồng sức sống của cô.

Bính ngồi tra bản đồ, và anh chợt nẩy ra ý định rẽ vào bảo tàng Péc-gam.

Thế giới cổ đại Hy Lạp trưng bày trong bảo tàng làm Bính sửng sốt. Anh không ngờ từ bao nhiêu đời trước những nhà điêu khắc và kiến trúc lại tài tình như vậy. Các cổng thành tráng lệ, rực rỡ màu sắc được đào lên và dựng nguyên tại Péc-gam.

Bính không phải là người có thẩm mỹ sắc sảo, nhưng anh cũng phải thừa nhận rằng anh bị những con mắt tinh tế thời xưa chinh phục. Anh ngắm mãi bệ đá thờ thần A-pô-lông, một kiệt tác về kiến trúc và điêu khắc. Một vài bức phù điêu bị dập nát, không hoàn chỉnh, nhưng vẻ toàn mỹ của bệ đá, đường thẳng của các cột, đường ngang của các bậc lên điện chính, đường nối và nét chìm mềm mại của các bức phù điêu sinh động biểu hiện hình ảnh con người; thú vật, hoa cỏ... tạo cho Bính một trạng thái tình cảm tuy hỗn độn, nhưng thanh sạch, không u tối. Những thớ đá im lặng biết nói nhiều hơn tới một cuộc đối thoại giữa anh và sự vĩnh cửu hiện diện trước mặt anh trong đá trắng với cảm xúc bồng bột, hoang sơ của con người. Anh bơi giữa những cảm xúc đương đột ngột bùng lên, và anh không sao chối bỏ được những quyến rũ của nó.

Những ý nghĩa của anh trở lại vỡi Minh. Anh nhớ lại Minh có tâm sự rằng nếu sang Đức cô sẽ tới thăm một nơi duy nhất, nơi có bức tranh của Ra-pha-en.

Bính trở về chỗ Thục, nghỉ lại đấy một đêm, sáng hôm sau anh mua vé đi Dresden, anh muốn tới xem bức tranh của Ra-pha-en. Anh chưa từng được trông bức tranh, nhưng anh nghĩ rằng chắc nó phải có vẻ kỳ diệu nào mới có thể chinh phục người khác bằng phiên bản. Và điều cốt yếu là mẹ Minh và Minh lại rất tôn sùng bức tranh này.
Bính gặp may khi tới Dresden. Hôm anh tới cũng là hôm bảo tàng nghệ thuật mở cửa.

Suốt buổi sáng, anh quanh quẩn trong phòng treo bức tranh của Ra-pha-en. Căn phòng chỉ treo một bức tranh duy nhất. Vẻ đẹp hoàn hảo của bức tranh, đường nét kỳ diệu và màu sắc của nó như lặn vào tận bên trong mọi ngóc ngách của cảm thụ. Anh mải mê ngắm gương mặt của Đức mẹ đồng trinh. Một khuôn mặt hoàn toàn trong trắng, không vương chút bụi đời, cái nhìn thẳng, đôi mắt to không u uẩn, bịp đời. Hình ảnh của Minh thỉnh thoảng lại nhập vào hình ảnh Đức mẹ làm anh bối rối lạ lùng. Chả lẽ đây lại là cô, Đức mẹ không kiêu xa mà đang bước xuống gần tới loài người. Hình ảnh ông già với giải áo choàng màu vàng rủ xuống. Những thiên thần nghịch ngợm góc dưới bức tranh, những tảng mây bồng bềnh, và đứa con trong tay. Đức chúa. Đấy không phải là một người phụ nữ bình thường. Đây là vẻ đẹp và tình thương bao trùm nhân loại. Bính không tin rằng chỉ mình anh nhìn nhận bức tranh như vậy. Sự hiện diện của vẻ đẹp vĩnh cửu cứu rỗi bao linh hồn tội lỗi. Anh nhớ lại những lời Minh thì thầm với anh mới hôm nào.

- “Mẹ em bảo đấy là bức tranh mẹ em yêu thích nhất đời mà không bao giờ được nhìn nguyên bản. Mẹ em không thích La-giô-công. Mẹ em không thích cái cười bí ẩn và gương mặt hình Ô-van nhạt nhẽo, chẳng có chút đàn bà. Mẹ em thích cái đẹp giản dị, vĩnh hằng, thiên tài và trong sáng của tâm hồn con người”.

Bính cố ghi nhận từng nét bức tranh để về thuật lại cho Minh. Anh muốn thay cô chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoàn hảo có một không hai này. Anh lấy làm tiếc là có quá ít thiên hướng nghệ thuật để có thể hiểu kỹ hơn bức tranh. Nhưng anh thấy tình yêu thương tràn ngập tâm hồn mình, và mong chóng muốn trở về bên Minh.

Bính mua một phên bản của bức tranh, phiên bản này in tại Pháp, và có bán tại viện bảo tàng.

Anh có cảm tưởng rằng thế giới sẽ mãi mãi biến đi nếu bức tranh đó mất.
 
Ít lâu nay, “Soái” chuyển máy tính theo đường hàng không. Con đường này vừa nhanh, vừa có vẻ chắc chắn, và ít chịu sự kiểm soát khắc nghiệt của hải quan. Sau khi giao hàng xong, “cửu vạn” ở lại ngay sân bay, mua vé trở lại Ba Lan. Công việc chuyển máy tính từ sân bay về Đôm năm được giao cho Chiến đảm nhận.

Nhưng “Soái” vẫn không thoát được cảm giác lo lắng cố hữu, anh linh cảm rằng sớm hay muộn cũng có một cái gì xảy ra. Tên “Soái” được lưu trong máy tính của các sân bay và chỉ cần anh xách cặp chuẩn bị vào sân bay là được mời vào phòng khám kiểm soát kỹ lưỡng. Nhóm “Soái” hoạt động tương đối độc lập nên thường dặn Nhân phải hết sức chú ý mỗi khi giao máy, nhận tiền, đổi rúp ra vàng.

Bính chở một chuyến hàng sang cho Chiến. Nhân và Chiến giữ anh ở lại chơi Liên Xô vài ngày.

- “Bây giờ mày về cũng chưa có việc gì mới đâu. Còn phải đợi chán. Ở lại với chúng tao cho đỡ buồn”.

Bính đánh một bức điện cho “Soái” rồi trở lại với Nhân, cùng lên ô tô của Chiến, vào trung tâm Mát.

Tối hôm ấy, Nhân và Chiến đã hẹn với Đôm năm để nhận số tiền chuyển thành vàng. Cơ sở này từ ít lâu nay vẫn là nơi chung chuyển vàng từ Xi-bi-ri và các nước cộng hòa tới Mát, là nơi nhóm “Soái” có quan hệ mật thiết nên không có gì đáng ngại.

Bính hết sức hồi hộp khi thấy Nhân đưa cho mình một con dao thợ săn sắc ngọt. Anh nhận thấy Nhân đã quen với công việc ít lưu tâm tới cái gì đang xáo động trong anh. Nhân có khả năng biết quên đi mọi việc, tập trung vào công việc chính yếu. Nhân dặn dò Bính:

- “Lúc cầm được cặp đựng vàng, mày phải cuống ngay thang máy. Chiến sẽ đợi ngoài đường. Tao chặn phía sau. Dù có cái gì xảy ra mày vẫn phải đi trước, ở đây đã có người lo, đừng có ngại. Cũng nên nhớ khi cầm vàng là bản thân hết sức nguy hiểm”.

Nhân cười thoải mái:

- “Đấy là dặn dò tới củ tỉ, chứ theo tao chẳng có gì xảy ra đâu”.

Bính nghĩ tới lưỡi dao.

Chiến đã đợi trên chiếc ô-tô ngoài đường, đậu sát mép vỉa hè. Hai người ngồi vào ghế sau. Nhân để chiếc cặp có đựng số tiền bán mười hai chiếc máy tính bên cạnh, nhìn thẳng phía trước, khiến Bính cũng lấy cái cảm giác tự tin.

Đôm năm đã nổi tiếng với những câu chuyện buôn bán ly kỳ truyền đi khắp liên bang. Nhìn bề ngoài đây chỉ là một ngôi nhà buồn tẻ như trăm vạn ngôi nhà khác tại Mát. Trước cửa nhà có một quầy bán báo, vài ba quầy bán thuốc lẻ, một bến xe điện và một ga tắc-xi. Cái đặc biệt của ngôi nhà chỉ ở chỗ đây là nơi ở và làm việc của hơn một trăm nghiên cứu sinh và thực tập sinh Việt Nam. Nơi đây hình thành một chợ trời vô hình, len lủi vào từng góc phòng, từng chiếc ghế. Suốt từ sáng đến tối người vào ra nườm nượp. Khách từ trong nước sang thì tới đây đổ hàng gồm các loại phấn rôm, cắt móng tay Trung Quốc, bánh đa nem, đồng hồ giả, lịch con gái, sách kiếm hiệp... Khách từ các tỉnh về lại gom những hàng đó tỏa ở khắp chốn, thâm nhập vào các thị trường lớn còn trống trải của Liên Xô. Từ đó, hình thành nên các mối quan hệ chằng chịt, móc nối nhau không chỉ bằng điện báo và điện thoại mà còn đủ mọi phương tiện di động từ đi bộ, đi xe điện ngầm tới đi bằng máy bay, từ những thành phố dân cư đông đúc tới những nơi heo hút ít người lui tới. Có thể hình dung mỗi đầu mối ở đây như một con nhện khổng lồ chăng tơ khắp Liên bang và có nhiều khi kéo đường tơ của mình vượt biên giới sang các quốc gia khác và trở về Việt Nam.

Chiến đỗ xe ngay ở bến tắc xi, kín đáo quan sát chung quanh ra hiệu cho Nhân. Nhân quay sang Bính: “Ta ra đi”.

Phòng thường trực có một bà già to béo ngồi đọc báo. Nhân kéo Bính vào chỗ để thư, giả đồ lật vùi cái thư. Bà già hơi ngẩng đầu, rồi lại cắm cúi xem. Họ thong thả bước lên tầng trên rồi mới dừng lại trước cửa thang máy, ấn nút.

Họ gõ cửa một ngôi nhà ở tầng sáu, phòng này chỉ cách cầu thang máy một đoạn ngắn. Cửa phòng mở, một thanh niên có bộ ria mép nhìn Nhân, gật đầu bảo: “vào đi”. Lưỡi dao trong bụng Bính động đậy. Anh đưa mắt quan sát khắp phòng. Có một chiếc giường bố trí ba góc, được ngăn với nhau bởi những tủ đứng to, chăn đệm trên hai chiếc giường được gấp cẩn thận, ở trên giường thứ ba có một đống chăn.

Cậu thanh niên có ria mép bước tới chiếc bàn giữa phòng, ở đó có hai thanh niên ngồi im lặng, trước mặt họ là chiếc gạt tàn đầy những mảnh vụn của đuôi thuốc, vài chiếc cốc thủy tinh bám cặn nâu của cà phê.

- “Mời các tướng vào”.

Một thanh niên mặc chiếc áo thun đỏ nói.

Nhân tiến lại gần bàn, ngồi xuống chiếc ghế trống, một chiếc cặp đíp-lôm-mát cạnh chân. Bính vẫn đứng gần cửa, anh nhẹ nhàng khép cửa phòng lại. Tất cả những đôi mắt nhìn về phía Nhân chờ đợi. Nhân thong thả:

- “Các cậu đã lo xong việc chưa? Không có nhiều thời gian đâu”.

Cậu thanh niên có bộ mặt béo, có đeo một dây chuyền vàng lớn lấp lánh trên ngực, khuỳnh tay:

- “Kìa, pha nước đi chư”.

Anh hướng về thanh niên có ria mép. Cậu ta đứng dậy, rút ấm điện đang sôi sùng sục, lấy nước tráng ấm vào cốc. Áo thun đỏ rút một bao thuốc ba số, mở nắp mời Nhân. Nhân rút một điếu thuốc, khẽ xoay trên tay:

- “Các cậu không lỡ hẹn chứ?"

- “Xong rồi”.

Áo thun đỏ đáp cụt ngủn. Cậu đeo dây chuyền vàng đế theo:

- “Không nghĩ các cậu tới sớm vậy. Bây giờ mới bảy giờ, nên khi nghe tiếng gõ cửa mình đâm lo”.

- “Mọi lần khác, lần này khác. Tới cảm thấy đang bị theo dõi”.

Áo thun đỏ hơi nóng nảy:

- “Ai vậy?"

Không khí trong phòng im lặng. Những gương mặt trở nên đăm chiêu.

- “Không nên để mất thời giờ nữa”.

Áo thun đỏ phá vỡ không khí im lặng.

- “Các cậu mang vàng ra đi”.

Dây chuyền vàng đứng dậy, lấy ở tủ ra một cặp đíp-lôm-mát màu ghi:

- “Hàng đây, xem lại cho chắc”.

Nhân mở cặp. Trước mắt Bính lóe lên hàng chuỗi các loại vàng. Mỗi chiếc đều buộc những mảnh giấy nhỏ ghi trọng lượng vàng. Nhân xem từng chuỗi nhẫn rất hanh, anh loại ra vài vòng, rồi xem lại số dây chuyền. Anh gạt số vòng bị loại, nói với ba thanh niên:

- “Các cậu kiểm tra lại, mình nghĩ là gia”.

Cậu thanh niên mặt béo cầm lấy chuỗi vàng xem qua:

- “Của tụi Khác-cốp, rồi mình sẽ kiểm tra lại”.

Nhân đóng cặp, đưa cho Bính:

- “Cậu giữ lấy”.

Bính đỡ chiếc cặp, chuyển nó sang tay trái, đứng đợi Nhân. Đến lượt Nhân mở chiếc khóa số của cặp mang theo, trước mắt anh là những tập tiền năm mươi rúp mới cứng.
Đang đếm tiền thì có tiếng gõ cửa. Nhân bật dậy. Theo phản xạ. Bính cũng lùi vào góc cửa. Ria mép định mở cửa. Áo thun đỏ gạt đi:

- “Khoan, đếm xong rồi hãy mơ”.

Tiếng gõ cửa gấp hơn; một lát có tiếng chân bước xa dần ngoài hành lang.

Dây chuyền vàng đặt chiếc cặp khi Nhân vừa trao vào chỗ của cái cặp cũ. Nhân đứng dậy, xã giao vài câu, hẹn cuộc gặp tới, rồi nháy mắt với Bính. Bính mở cửa.

- “Này, không uống nước a”.

- "Vội lắm – Nhân chối.

Chiếc chốt cửa vừa bật ra thì một cái bóng to ùa vào, lừng lững giữa phòng:

- “Tất cả đứng yên!"

Giọng nói tiếng Nga khàn đặc. Chiếc đầu tròn và đen của dân Trung Á.

Bằng một động tác đẹp và nhanh, Nhân cúi xuống, một tay phòng thủ, một tay tung một quả đấm vào ức kẻ mới xô vào. “Hự” cái bóng hơi gập xuống. Nhân hét lên:

- “Bính, biến!"

Bính nhào ra cửa trước Nhân, khư khư ôm lấy cái cặp. Cửa ngoài có hai người đứng chắn hai bên, dáng cao lớn và hung dữ. Lúc này chỉ có nước liều. Bính hiểu tình thế bi kịch của anh Nhân. Anh rút phắt lưỡi dao đâm thẳng vào giữa hai người. Vừa thấy ánh thép loé lên, hai người cao to sợ hãi dạt ra hai bên, chừa ra một khoảng trống. Chỉ lừa cơ hội ấy. Bính lọt ra tung hai cú đá động tác giả mở đường, lọt ra hành lang. Anh chạy thục mạng ra phía cầu thang, từ đấy chạy xuống ba tầng nữa. Anh dắt lưỡi dao vào bụng, đổi hướng, lọt ra cầu thang phía bên kia và tiếp tục chạy xuống. Thấy Bính hớt hải chạy ra, Chiến hiểu ngay.

- “Vàng đâu?"

Bính vỗ cặp:

- “Trong này”.

Chiến rồ máy. Bính nói:

- “Còn Nhân?"

Cậu lên nhanh đi, Nhân sẽ đi được.

Bính hoang mang lọt thỏm vào ghế ngồi sau, xe phóng bạt mạng qua những đường tắt, ngõ hẻm. Chốc sau, Chiến hỏi:

- “Thế chuyện thế nào?"

Bính thuật lại từng chi tiết của đợt giao vàng.

Chiến đăm chiêu:

- “Lần này giao tới 12 chiếc máy. Không hiểu sao tụi này dính vào. Nhóm Trung Á đấy. Không thể đợi Nhân được, còn vàng, tụi nó còn bám riết. Cậu thông cảm. Luật chơi nó thế”.

Bính bàng hoàng:

- “Còn Nhân”.

- “Chắc thoát thôi”.

Bính im lặng.

*
* *

Nhân không thoát.

Anh đã được đưa vào viện để chữa vết thương ngay sau đó. Ba thanh niên trong phòng bị trói chặt, còn số tiền rúp trong tủ bị trấn ngay tại chỗ.

Đường dây của “Soái” đã bị một nhóm khác bí mật theo dõi. Họ nhận ra muộn màng nên phải trả giá.

Bính dằn vặt, nếu hôm ấy anh ở lại thì có thể Nhân sẽ thoát chăng.

Chiến thì khẳng định với Bính rằng việc chạy thoát đi là kịp thời, lúc đó cửa dưới còn có ba tên cướp, việc vỡ lở và phải đưa vào công an thì không những mất hết vàng, mà còn mang thêm một cái án và có khi phải vào tù.

Bính vẫn không yên tâm với cách giải thích ấy của Chiến. Anh nhớ lại gương mặt thảng thốt của Nhân lúc gào tên anh:

- “Bính, biến”. Và anh thấy hết những sự vô nghĩa mà mình theo đuổi. – “Một công việc chó chết”! Anh tự nhủ. Cái giá Nhân phải trả cho chuyến hàng thật quá đắt. Đành rằng có sự không may, nhưng nói cho cùng nó là cái vòng luẩn quẩn mà đồng tiền đã buộc vào.

Còn anh? Bính đâm sợ mình. Không biết anh đang lên hay xuống dốc nữa, anh đã rút dao ra sẵn sàng trả giá. Việc đao búa thật xa lạ với công việc nghiên cứu khoa học của anh. Vài miếng võ ham mê thời thanh niên đâm đắc dụng, biết đâu, thậm chí một tý anh đã bỏ lại chiếc cặp và cả tính mạng mình nữa rồi.

Bính nhớ lại những buổi tập võ khi anh còn ở tuổi thiếu niên, ông thầy của anh là một chàng trai đánh xe ngựa, thích tự do rong ruổi trên đường. Bính đam mê bởi tiếng đàn quyến rũ, cái giọng tán mượt mà mê hồn vào những đêm trăng sáng.

Những đường quyền của anh lúc ghì sát mặt đất, lúc tung cao trong gió, lúc nhanh mạnh như mãnh hổ, lúc lại chậm rãi dịu dàng. Người thầy toàn năng ấy rót vào tâm hồn Bính cái điệu nghệ của sự chế ngự kẻ khác. Có những buổi họ tập trong bóng tối. Không nhìn thấy đối thủ đâu, chỉ nghe tiếng chân di động và tiếng gõ đoán hướng, ánh dao loang loáng ở hai tay đôi lúc làm Bính khiếp hồn.Cái hay của môn võ Vịnh Xuân là sự mềm dẻo đối đầu với sức mạnh của các cú đấm.Từ bài tiểu niệm đầu, cho tới bài tầm kiều, 108 động tác của Vịnh Xuân đều tuân theo quy luật của chuyển động tự nhiên. Chỉ cần đòn địch thủ dính vào tay là đòn thế của Vịnh Xuân phát ra liên miên không có hồi kết thúc. Những buổi tập thở, tập niêm dính để lại ấn tượng khá sâu trong Bính. Hiểu được quy luật lớn cũng là lúc anh phát hiện ra cái hay của các thế võ tưởng rất khiêm nhường nhưng có sức mạnh thực sự. Dần dần, Bính cũng học được đôi điều từ những buổi tập ấy. Anh biết đánh theo bản năng.

Bính đã lấy việc tập võ làm niềm vui, cú đấm, đá hoặc đạp làm ngã kẻ khác tạo cho anh một hào quang so với lũ trẻ cùng xóm. Nhưng một lần, một thằng chọi con đã đánh gục anh hoàn toàn. Anh phát lợm mỗi khi nhớ lại bộ mặt hung ác của nó khi liều mạng. Nó thọc một thanh nứa vào sườn, làm anh chảy máu, phải đưa vào viện. Bị thương, anh mới thấy việc học võ của mình là vô bổ. Khi tính thú vật thức dậy, con người trở lại ngang với loài cầm thú. Đặt địa vị của mình vào thằng chọi, anh thấy vũ khí của nó chính là lòng căm thù.

Vậy mà anh lại chỉ coi việc học võ như một trò chơi. Từ đấy, Bính chỉ giới hạn việc tập võ trong rèn luyện sức khỏe.

Cho tới hôm nay, nếu lưỡi dao của anh tung ra đúng vào một địch thủ nào đấy. Chao ôi, lại máu. Anh không đến nỗi yếu mềm đến mức trông thấy máu là sợ, nhưng máu chảy với mục đích gì?

Bính nhớ lại cái bóng vạm vỡ của Nhân và nước mắt anh ta trào ra. Cái số “cửu vạn” đặt trên đầu mũi dao.

Những ngày ở cùng Chiến không hôm nào anh ngủ thật yên, ấn tượng của cuộc đấu làm anh suy nghĩ nhiều hơn tới vận mạt của thằng trí thức, anh muốn bỏ cuộc để tiếp tục một cuộc sống khác.

Sáng sớm, Chiến dậy tắm, chải mượt tóc, ăn qua loa, rồi khoác áo đi biệt tới khuya mới về. Thức ăn sẵn trong tủ lạnh, Bính chỉ việc lôi ra nhào nặn cho đúng khẩu vị.

Suốt ngày, Bính xem Vi-đi-ô. Phim võ hiệp Hồng Kông, phim găng xtơ của Mỹ, “chưởng mềm” của Pháp, Mỹ, Anh. Rời Vi-đi-ô anh lại rơi vào trạng thái cô đơn, buồn. Anh thấy buồn cho Nhân, nhưng cũng không quá thù địch với những tên ăn cướp. Khi những căn bệnh xã hội chín muồi thì cũng nảy sinh ra những kẻ như vậy, cuộc đời chúng là một tất yếu. Tất yếu của những kẻ võ sĩ, vô đạo đức và bất hạnh. Bính tự nhủ:

- “Nói cho cùng cánh trí thức Việt Nam mình trong thời buổi này thật gian nan. Cuộc đời không nương nhẹ bất cứ đứa nào. Phải tự kiến trúc cuộc sống sao cho phù hợp với qui luật xã hội. Muốn thành người có ích, than ôi, chẳng dễ dàng gì”.

“Nhưng lại có những ý nghĩa khác lôi kéo anh: “Dù muốn hay không mày cũng đã nhập cuộc. Đừng băn khoăn nữa. Này sợ à? Đừng có cường điệu lên làm gì. Đồng tiền nó không tha ai cả. Mày thử nghĩ xem, khi mày già yếu và chẳng làm được gì mày tưởng người xung quanh sẽ thương xót mày à? Nhầm rồi, họ lo thân họ còn chưa đủ nữa là lo tới mày. Đã vào guồng rồi đừng bỏ chạy”.

Chiến về, thấy Bính nằm trong bóng tối, trên chiếc sa lông và đang nhấm nháp rượu vang.

Chiến bật đèn, cởi chiếc áo dạ ngoài, bước vào phòng, tự tay rót cho mình một cốc vang, uống một hơi cạn cốc, thả mình vào chỗ tựa của ghế, nói với Bính:

- “Ngày mai cậu sẽ trở về Ba Lan nhé. Tụi này lo xong vé rồi”.

Bính nhổm dậy:

- “Mai à, mình muốn gặp Nhân một chút được không?"

Chiến lắc đầu:

- “Không cần thiết. Cái chính là cậu đang dính vào một việc quan trọng. Tụi mình muốn cậu an toàn hơn. Ngày mai cậu sẽ đi ra ga với mình, cậu sẽ xách hai cặp đíp-lôm-mát lên tàu đi cùng với một hộ chiếu đỏ. Cậu sẽ ở cúp-pê bên cạnh hộ chiếu đỏ và theo dõi ông ta, đừng để xảy ra những tiếp xúc làm thất thoát hai chiếc cặp. Khi tới ga Vác-sa-va chính cậu sẽ vào phòng xách cập ra. Còn ông ta sẽ đi theo cậu, có vậy thôi”.

Bính cúi đầu suy nghĩ.

Chiến nói tiếp:

- “Dù thành hay bại cậu cũng sẽ có phần”.

- Lại “cửu vạn” – Bính nghĩ – Thâm tâm anh không muốn dính vào vụ này. Nhưng như một thứ phản xạ anh gật đầu:

- “Đồng ý”.

- “Thế mà mình đã vội lo cậu sẽ từ chối”.

Chiến mỉm cười nói tiếp:

- “Thế mà tớ đã hơi lo là cậu sẽ từ chối. Cậu sẽ thay Nhân trong vụ này”.

Chiến đứng dậy đi vào bếp chuẩn bị bữa tối.

Không hiểu sao thấy rất nhớ Minh. Anh đã xa cô hơi lâu.
 
CHƯƠNG IX

Hộ chiếu đỏ xọc một tay vào dây Bơ-rơ-ten, ngúc ngắc cái đầu có gương mặt viên mãn, tay kia chìa ra bắt tay Bính:

- “Lại cậu”.

Đôi mắt ông giảo hoạt, sinh động.

Sau khi đặt hai chiếc cặp vào góc bàn, Bính lặng lẽ rút lui về chỗ của mình ở ngay cúp-pê bên cạnh. Anh ta hạ chiếc giường xuống, ngả lưng sớm. Từ đấy, anh quan sát cúp-pê bên cạnh. Được một chốc, hộ chiếu đỏ nhoi ra hành lang hút thuốc. Mắt ông cứ đảo đi, đảo lại, trông không có chút gì tự tin so với cái dáng chững chạc, bệ vệ. Con tàu nghiến vào đường ray rít lên những tiếng khe khẽ, êm êm. Bính hơi có ác cảm với ông. Chữ danh và lợi ở đời khó tránh, nhưng được danh mà muốn cả lợi như ông thật là điều nghịch lý.

Không biết ông có bị lừa hay quá thờ ơ với số hàng magn theo không, chứ khi sờ tới hai chiếc cặp Bính đã sửng sốt tới giật mình. Số vàng ấy nhất định không chỉ là của riêng “Soái”. Khi quyết định dính tới những công việc như thế này người ta không nghĩ tới những vấn đề đạo đức nữa. Mọi việc được tính theo qui luật của đồng tiền. Không biết ông ta là quan khách cỡ nào. Ở cái sứ quán số hộ chiếu đỏ chẳng có bao nhiêu. Hay ông ta lại chính là một trong những dân sứ quán nên mới được tin tưởng trao cho nhiều vàng thế.

Suốt đêm hôm đó bên phòng của hộ chiếu đỏ cứ lục cục. Bính đoán ông ngủ không yên. Phần anh cũng vậy, chỉ chớp mắt được một lúc khi mới lên tàu, thời gian còn lại gần như thức trắng. Bính nghĩ vơ vẩn theo nhịp rung của con tàu.

Đến gần sáng, tàu tới biên giới.

Cửa cúp-pê bên đóng rồi lại mở. Chủ nhân của nó có vẻ không yên tâm. Bính bước ra ngoài. Hộ chiếu đỏ lo lắng nhìn về phía cửa toa. Ông ăn mặc chỉnh tề, thắt ca-la-vát, trông như sắp dự một hội nghị quan trọng.

Bính bước quanh quẩn trong cúp-pê. Vào phút này, anh không muốn tỏ ra quen biết ông.
Các nhân viên hải quan lên làm thủ tục. Bính thấy họ mang máy sục sạo ở hành lang rất lâu, sau đó mới vào khám từng phòng. Tới phòng Bính các nhân viên kiểm tra kỹ lưỡng. Họ căn vặn anh xem có mang chút hành lý nào không. Họ đục hộp sữa anh mang theo, cắt vụn chiếc bánh mì trong túi, mang máy dò vàng dí sát vào từng kẽ hở của cúp-pê. Một nhân viên trèo lên dỡ trần tàu. Cúp-pê này là cúp-pê của Ba Lan sẽ sang thẳng Vác. Tay nhân viên nhảy lên chiếc giường đệm, lấy chiếc tuốc lơ vít mở những chiếc ốc, định hạ trần xuống kiểm tra. Cạch, chiếc tuốc lơ vít rơi xuống sàn.

- “Nhặt hộ tao cái”.

Thấy Bính vẫn đứng ngay cửa, hắn nhờ anh. Nhìn thấy chiếc tuốc lơ vít rơi giữa hàng của nhân viên nọ, Bính quay mặt đi. Nhận thấy chỗ bất nhã, tay nhân viên đành tụt xuống. Sau khi mở trần không tìm thấy gì, hắn lấy tuốc lơ vít bật những thanh ván làm thành tường cúp-pê cạnh ổ điện. Chỉ nghe một tiếng rắc, Bính thấy một mẩu ván gãy nằm ở trên sàn. Anh cố tình lờ đi, cố ghìm lại cái cảm giác khinh thị ngày càng tăng.
Họ sang phòng bên.


Bính ra cửa.


Hộ chiếu đỏ giơ tấm hộ chiếu của mình ra. Ông nghĩ rằng với tấm hộ chiếu đỏ, những nhân viên hải quan không có quyền khám xét đồ đạc của ông ta. Các nhân viên đứng trước cửa cúp-pê, họ gọi qua máy bộ đàm.

Một nhân viên hải quan ở dưới tàu bước lên, tiến tới chỗ cửa cúp-pê của hộ chiếu đỏ. Bính thấy anh ta nháy mắt với tay nhân viên có cái mác tóc bạc vừa khám tại phòng anh. Mái bạc tiến vào cửa phòng hộ chiếu đỏ. Hộ chiếu đỏ cao giọng gay gắt. Hai tay ông giữ hai bên cánh cửa, choán lối ra vào cúp-pê. Mái bạc sỗ sàng gỡ tay ông ta ra.

- “Chúng tôi được lệnh khám phòng ông”.

- “Các ông làm thế là trái với nguyên tắc ngoại giao. Không ai có quyền đụng tới người tôi cả. – Chúng tôi có lệnh, mọi việc chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm”.

- “Các ông làm thế là vi phạm nhân quyền, vi phạm luật quốc tế. Tôi sẽ báo về Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xo”.

Mái bạc gạt tay hộ chiếu đỏ ra. Đám người xô vào cúp-pê.

Hộ chiếu đỏ rũ người, ngồi xẹp trên giường dưới. Điệu bộ ông thật đáng thương, chiếc ca-la-vạt trở nên xộc xệch sau những xô xát. Bính lạnh tanh. Anh ngao ngán muốn trở vào cúp-pê, nhưng óc tò mò giữ anh lại hành lang.

Anh nghe tiếng ho ở giường dưới lên. Có tiếng hỏi:

- “Hai chiếc cặp này của ông?"

Im lặng.

- “Hai chiếc cặp này có phải của ông không?"

Bính ngó vào cửa phòng. Mái bạc đã bắt đầu xách một chiếc cặp lên.

Hộ chiếu đỏ ngẩng đầu, đôi vai ủ rũ.

- “Không, không phải của tôi”.

- “Sao lại không phải của ông?"

Mái bạc ngạc nhiên:

- “Nó trong cúp-pê của ông cơ mà? thế của ai?"

- “Tôi không biết”.

Hộ chiếu đỏ lập lại.

Mái bạc bước ra hành lang, tiến lại phía Bính:

- “Anh để những chiếc cặp này ở phòng bên, những chiếc cặp này của anh?"

Bính nhún vai, lắc đầu.

Anh đóng cửa cúp-pê của mình lại. Thế là hết một chuyến đi. Anh cứ ngồi như vậy cho tôi khi tàu chuyển bánh. Trời đã sáng dần, không khí buổi sớm thật dễ chịu. Những ngôi nhà rải rác ven đường của dân Ba Lan trông ấm cúng, xinh xắn, tạo ra khung cảnh điền viên của những trang trại nhỏ. Bính muốn quên đi hết mọi chuyện. Nói cho cùng, đối với anh chẳng có gì là quan trọng cả. Anh đã bắt đầu quen với trạng thái cô đơn của những người xa đất nước. Trời ấm dần. Anh đang để lại cái băng giá, lạnh lẽo của nước Nga ở phía sau lưng. Vác phía trước mặt.

Bính nghe tiếng gõ cửa. Anh mở cúp-pê:

- “Chào cậu”.

Hộ chiếu đỏ nói với Bính một cách khó nhọc – “Cậu làm chứng giúp mình nhe”.

Bính tựa lưng vào cúp-pê, nhìn thẳng vào đôi mắt bối rối của ông, lặng lẽ gật đầu.
Gương mặt của hộ chiếu đỏ tươi tỉnh lên chút ít. Ông hứng lên định kể tội bọn hải quan Nga. Nhưng thấy Bính thờ ở với mọi chuyện, ông liền quay lại cúp-pê của mình và từ lúc đó tới Vác ông không xuất hiện nữa.

*
* *

Khoảng một tuần sau, “Soái” tìm đến chỗ Bính ở. “Soái” đưa cho anh một số tiền chuyển máy, cùng với số tiền công lần về cùng hộ chiếu đỏ.

- “Lẽ ra cậu không được xu nào vì chuyến đi mất hết. Nhưng, sự thực vừa rồi đầu phải tại cậu. Nếu số vàng qua biên giới trót lọt thì công của cậu sẽ hơn nữa. Thông cảm. Một thằng đánh máy có khi thu nhập lại không chắc bằng một thằng “cửu vạn” đâu”.

Đôi mắt “Soái” lạnh, bình tĩnh, nhưng u trầm. “Soái” xoay xoay chén trà trong tay:

- “Đau quá. Nhân chuyện mất vàng ở biên giới, tụi thằng Chiến lại tìm cách nhập nhèm. Nó tính cả những số vàng trong hai va ly đã mất. Có lẽ mình phải nghỉ một thời gian để tính cách khác”.

Bính đặt một băng nhạc của Mô-da. Tiếng nhạc du dương dịu nhẹ lan khắp căn phòng. Tiếng nhạc trong sáng, vui vẻ như muốn xua đi tất cả mọi suy nghĩ buồn vã cuả Bính. Giọng “Soái” vẫn vang lên đều đều:

- “Tớ vừa tới chia tay với thằng Ban. Thằng ấy yếu đuối quá. Nó nghi vợ ở nhà lăng nhăng với thằng khác. Cộng thêm vụ đổ bể vừa rồi, bao gia sản hết sạch. Đêm trước vòn cùng đi uống rượu giải buồn. Sáng hôm sau nó để lại mảnh giấy, rồi nhảy qua cửa kính đâm đầu xuống đường”. Có lẽ cái số nó đến kỳ mạt vận. Mình đặt hoa lên mộ của nó mà tự hỏi:

- “Tại sao nó lại chọn một cái chết vô bổ thế? có lẽ nỗi cô đơn đã giết chết nó. Ở nước ngoài, có những phút giây như thế, không làm chủ được mình, thế là đi tong tất cả”.

Bính nhìn mái tóc cắt ngắn và gò má cao di động theo những câu hỏi của “Soái”. “Soái” đang mất thăng bằng. Trong óc anh hiện lên một nấm mồ lạnh lẽo và cô độc. Hàng năm, vào lễ tảo mộ, mọi người sẽ tới đặt hoa, những bông hoa xứ lạ:

Bính mời “Soái”:

- “Anh ở lại ăn với tôi bữa cơm nhé”.

“Soái” gật đầu, không khách sáo.

Giữa bữa cơm, “Soái” bỗng ngẩng đầu lên, cặp mày rậm ngước tới như tự nói với mình vu vơ:

- “Tớ định viết tờ di chúc. Biết thế nào, nhỡ mình đang đi máy bay bị rơi uỳnh một cái thì mọi người biết tìm tiền ở đâu”.

“Soái” bật cười, hơi xấu hổ về câu nói, chuyển ngay sang chuyện khác, anh ở lại trò chuyện với Bính tới nửa đêm, sau đó mới lái chiếc méc-xê-đéc về nhà: Vác-sa-va đã vào đêm. Tất cả những xe điện đã trở về bến. Riêng ánh điện trong thành phố vẫn cứ lung linh, với hàng vạn những ngôi sao dưới đất và trên bầu trời.

CHƯƠNG X

Chuyện Nhâm bị xe ô-tô của chủ chẹt gãy chân, cùng với bức ảnh do Bính chụp được đăng trên một tờ báo của địa phương. Vài tờ báo của Vác lấy lại tin này đăng trên báo gây ra một dư luận mạnh mẽ, sôi nổi.

Ở Hà Nội, các thân nhân của công nhân ở thành phố, vào trực tiếp tác động tại sứ quán Ba Lan.

Hà Nội quyết định hủy bỏ hợp đồng, bỏ tiền mua vé cho các cô gái trở về nước.

Tín nói với Bính:

- “Tao chỉ tiếc chưa trị được thằng Chí. Hắn trốn, ở lại với chủ rồi”.

- “Vợ con nó ở nhà thế nào?"

- “Nó thiết gì vợ con. Nó ở lại đây”.

- “Thằng ấy mà về Hà Nội thì có bữa bị tẩn chết”.

- “Đúng đấy, nó sợ nên chuồn luôn. Có một vài cô trước theo nó bây giờ cũng lật tẩy, đòi về nước”.

Các cô gái được quyền lựa chọn, người nào muốn về nước sứ quán sẽ mua vé máy bay cho về sớm, người nào muốn tiếp tục lao động, sứ quán tạo điều kiện cho tới các cơ sở mới kiếm việc.

Biết chuyện giữa Minh và Bính, Tín khuyên rất nhẹ nhàng:

- “Cánh đàn ông với nhau, tới bảo thật, cái Minh nó khổ chán rồi, đừng giữ nó lại làm gì”.

Bính ấp úng:

- “Không, tao có định giữ Minh ở lại đâu?!"

Bính cố tránh nghĩ về sự chia ly, anh sợ nó, và khó có thể tâm sự cụ thể. Lao đầu vào chuyện làm ăn, Bính thấy giữa mình và Tín có những điều không tiện nói ra. Anh chao đảo trong sự lựa chọn.

Với Minh, chẳng lẽ Bính thú nhận rằng đấy là tình yêu đích thực của đời anh. Những gì tốt đẹp nhất trong anh dường như đã thuộc về Minh cả, Ba Lan đã vĩnh viễn gắn họ với nhau.

Bính nói:

- “Mong cậu hiểu, đấy là số phận”.

Tín vỗ vai:

- “Thôi, ông ơi, cái số là ở mình. Chỉ có điều đừng để xảy ra cái gì quá đáng thôi”.
Bính cúi đầu.

*
* *
 
*
* *

Minh chạy ùa vào phòng Bính, ướt át, vui vẻ. Cô mang theo cả cái ẩm ướt của khu rừng, tay cầm nhành lộc có mấy nụ non mới nhú.

- “Anh lấy cho em cái cốc thủy tinh”.

Bính vui vẻ lấy cái cốc, đổ vào ít nước lọc. Minh cắm cành lộc.

Minh ngồi lên lòng Bính, ôm lấy cổ anh, đôi mắt mơ màng:

- “Đố anh biết, em đang nghĩ gì?"

- “Chịu thôi”.

- “Có thế mà không đoán được. Phải phạt!"

Cô cúi xuống tìm cặp môi của Bính:

- “Chàng ngốc a”.

Bính hơi đỏ mặt:

- “Trông em đẹp qua”.

- “Anh biết tin về tụi em rồi chứ?"

- “Anh Tín nói với anh. Em sắp về nước phải không?"

Minh cởi cúc áo Bính, tay xoa vào ngực anh:

- “Em nhớ mẹ. Mẹ em chắc mừng lắm. Lâu rồi em cũng có thư từ gì đâu”.

- “Anh cũng nhớ Hà Nội”.

- “Khu phố em rất đẹp. Mùa hè lũ ve nghịch ngợm kêu ran, hồi nhỏ, tụi em hay theo con trai leo trèo hái sấu. Về nhà xách nước ấm dội òa òa. Suốt ngày vẫn thấy nóng”.

- “Em có thích dạo chơi quanh hồ Gươm không?"

- “Giao thừa nào tụi em chả vòng vèo quanh hồ Gươm. Nhưng em thích nhất hồ Gươm vào lúc buổi sớm, khí trời còn sương, tháp rùa hiện ra trông như tranh thủy mạc. Mẹ em cũng hay vẽ hồ Gươm, nhưng chưa bức tranh nào em thấy ưng ý cả”.

Bính nhớ tới chiếc xe đạp lọc cọc của anh chen giữa dòng ô tô và xe máy, trước khi đi, anh còn cẩn thận lau chùi treo nó lên trần.

- “Em nhớ một bức ảnh em rất thích. Đây là cảnh một chiếc ghế đá, đơn độc, có bóng cây khẳng khiu in xuống mặt đường ướt nước, vài chiếc lá rớt trên mặt đất”.

- “Bức ảnh ấy thật buồn”.

- “Nhưng em thích”.

Bính vuốt ve mái tóc dài xõa vai của Minh:

- “Thế bao giờ tụi em bay”.

Giọng Minh trầm xuống:

- “Ngày kia, tụi em lên Vác tập trung, chúng em chia làm hai nhóm, đi hai chuyến, em đi chuyến đầu”.

Bính lấy mấy tờ đô trong túi đưa Minh:

- “Em cần có chút tiền mua quà cho gia đình chứ”

Minh giẫy nảy, vùng vằng:

- “Em không cầm tiền của anh”.

Cô nói thêm:

- “Em có bức tranh của anh là đủ rồi, mẹ em chắc cũng thích bức tranh ấy lắm”.

- “Em làm anh buồn”.

Minh xịu mặt, thoát ra khỏi lòng Bính:

- “Anh hay nhỉ. Chẳng bao giờ anh hiểu em ca”.

Bính đứng dậy, hoang mang:

- “Anh xin lỗi, Minh a”.

- “Lúc nào cũng xin lỗi, em chẳng thích đâu”.

Cô ôm choàng lấy Bính, ghì chặt đầu anh:

- “Vậy là em lại xa anh. Em không yêu ai được nữa đâu. Em chỉ muốn có một đứa con... Anh thực chưa biết yêu em, anh tệ lắm. Anh không biết rằng em cũng là một người đàn bà sao?!"

Bính không biết nói với Minh thế nào. Anh chỉ biết ôm lấy cô, hứng lấy những giọt nước mắt chảy xuống, tưới nhuần trên ngực áo.

*
* *

Bính đợi mãi cho đến khi chiếc máy bay mất hút trong những tầng mây xa tắp mới trở về nhà. Lòng trống trải, bâng khuâng. Hình bóng Minh như quanh quẩn với tất cả những gì vây xung quanh anh, từ những hàng cây trong công viên tới những dòng người vội vã trên đường, từng kỷ niệm rưng rưng.

Cành cây trong phòng nở những nụ xanh cho những chiếc lá đầu tiên.

Bính khóa cửa, gửi chìa khóa ở phòng thường trực, rồi lang thang đến tận đêm mới về.
Anh vào phòng Tín, thấy Tín đang nghe nhạc Mô-da. Tín nhìn anh nói:

- “Mày có thư từ Liên Xô gửi sang. Bính cầm thư lên xem. À, ra thư của Nhân. Anh mở phong bì. Tiếng nhạc Mô-da trong sáng tràn ngập quanh phòng. Anh nhìn những dòng chữ run run. Chà, cậu ấy đấy!"

“Bính thân yêu,

Đợt vừa rồi, “Soái” có ghé thăm mình, anh ta kể nhiều về cậu. Biết cậu vẫn mong, mình rất cảm động. Có lẽ cho tới nay cậu vẫn là thằng bạn duy nhất mà mình có tâm sự được.
Về phần mình mọi việc rồi cũng sẽ ổn. Một mắt bị kém, một tay mình không cử động được nữa, chân khập khiễng chút xíu, không đáng kể.

Nhưng biết nói với cậu thế nào nhỉ? Cái quan trọng không phải là ở thể xác, mà là cái gánh nặng tâm hồn trĩu nặng trên vai. Trước khi gặp cậu lòng mình đã tan nát nhiều.
Cái thế giới xung quanh trở nên khó hiểu, đầy xung đột và tội ác. Liệu mình có thể còn tin vào cái gì ở nơi đây nữa. Mình lại không muốn bị thất vọng, Bính à. Mình cũng không muốn trách thế hệ đã đẻ ra mình. Mình cho rằng mỗi thế hệ đều phải chịu trách nhiệm về chính bản thân.

Mình đã được sống những ngày hạnh phúc, và chính vì thế không chấp nhận những gì đang xẩy ra ở nơi đây.

Trong những ngày ở bệnh viện, mình đã nhìn nhận lại tất cả. Mình không thể đặt cuộc sống một lần nữa vào cuộc phiêu lưu không có mục đích. Tiền, không phải là cái đích sống của mình. Vả lại, mình cũng có chút ít rồi. Âu cũng là một cái giá phải trả cho nó.
Điều quan trọng hơn là mình bắt đầu thấy lại lòng tin vào con người. Le lói thôi, nhưng là có thật. Bây giờ thì mình tin chắc rằng mình lại có thể yêu thương con người và tin tưởng vào họ.

Mình nói thế chắc cậu nghĩ cho là mình viết vẩn vơ và buồn cười lắm nhỉ?

Cậu cũng chẳng nên để ý nhiều tới những lời lẩm cẩm của mình. Mình quyết định là sau khi ra khỏi viện sẽ về Việt Nam và tiếp tục công tác nghiên cứu khoa học.

Viết vài dòng để cậu khỏi mong tin mình.

Thân. Nhân.

Tái bút! Biết đâu, cho đến cuối đời mình lại chẳng giải được bài toán của FECMA."

Bính bỏ lá thư thẫn thờ trôi trong dòng nhạc của Mô-da. Lại thêm một bản nhạc nữa, bản nhạc này Tín rất mê. Đấy là hình ảnh các cô gái đang lau cửa sổ, nhịp hơi thỏ dồn và nhanh. Đêm Vác thật yên tĩnh, những con đường chìm trong bóng tối, chỉ đằng xa kia, phía trung tâm là những ngọn điện tập trung sáng như sao xa. Đến lúc này mình phải rời Vác thôi, nghiệp “cửu vạn” đến đây cũng nên chấm dứt. Bính không thấy ham muốn thêm một điều gì nữa. Đối với anh, thế là quá đủ.


*
* *

CHƯƠNG XI

Từ mấy tháng nay “Soái” vẫn chăm chú theo dõi thị trướng tem cốc tại Việt Nam. Mặt hàng này giá cả lên xuống thất thường con đường đi của nó cũng lòng vòng, nhưng mỗi lần chuyển chố, tùy theo thời điểm, nếu khéo tính toán, mặt hàng có lợi nhuận đáng kể.
Những chiếc tem cốc mang hình các cô gái mặc quần áo lót. Mỗi tờ tem đủ hình để dán một cốc sáu cái. khi đổ nước vào, hơi nước làm hình thể các cô gái nổi bật lên, quần áo biến sạch. Mặt hàng này dễ mang vì một trăm tờ tem cũng gọn, chỉ bằng một cuốn sách ảnh...

Việt Nam không phải là nơi sử dụng rộng rãi loại tem cốc, nó liệt vào mặt hàng mang tính đồi trụy. Dân Ba Lan nhập hàng từ Tây Đức sang, vào thị trường Ba Lan, tem chuyển sang tay dân Việt Nam, từ Ba Lan tem bay về Hà Nội. Bằng đường bộ, đường ô tô, đường máy bay tem sang Căm-pu-chia, Lào, để vào Thái Lan, một thương trường hấp dẫn, từ đó tem tới các nước Đông Nam Á, tới châu Âu. Tuy ở Đông Âu, tem cốc các loại đều có giá trị như nhau. Nhưng về Việt Nam, tem mang hình khác nhau lại có giá trị khác nhau. Có lúc loại tem có hình các cô gái tóc vàng lên giá, lúc thị trường lại yêu cầu loại hình các cô gái tóc đen hay hình cả người với giá trội hẳn.

Trước khi Bính về nước một hôm, “Soái” nhận được thông tin mới về tình hình tem cốc tại Hà Nội. “Soái” nói với Bính toàn bộ dự kiến của anh:

- “Mình nhờ cậu mang theo hai va ly tem cốc. Tới sân bay Nội Bài sẽ có người đón. Không dặn được cậu cụ thể điều gì cả, tùy cơ ứng biến, cần thiết lắm hãy nói tên người ra đón. Cẩn thận, vì mặt hàng này nước mình cấm. Nhớ đừng báo cho người nhà biết”.

Tại sân bay Ocanche, “Soái” ra tiễn Bính. Hai chiếc va ly thoạt trông có vẻ nhỏ, nhưng cân lên nặng tới hơn một tạ. Sau khi “Soái” trả tiền cước, Bính lấy sức mới lôi được hai va ly vào gầm băng chuyền. Một nhân viên hải quan đề nghị bính mở va ly ra khám. Anh nhăn nhó giả bộ khó khăn, rồi theo lời dặn của “Soái” anh chuyền vào tay nhân viên hải quan một tờ một trăm đô xanh. Anh ta mỉm cười vẫy tay cho Bính ném va ly vào băng chuyền. Bính thở phào. Anh ngoảnh lại nhìn “Soái” rồi vẫy tay: Tạm biệt Vác, Tạm biệt Ba Lan, tạm biệt những chiếc máy tính và những chuyến tàu.

Đến Liên Xô, Bính lại đổi máy bay để về Việt Nam. Anh nhớ tới Nhân và chuyến đi đổi vàng. Anh nhớ tới những giờ phút hạnh phúc bên Minh. Cho tới giờ phút này anh không còn mặc cảm nhiều với Liên Xô vĩ đại, đất nước đó đang khó khăn. Số phận của một đất nước cũng chẳng khác gì số phận của một con người. Nó cũng chao đảo và qua những thăng trầm. Không có thể khẳng định một cách vũ đoán rằng càng về sau càng tốt, nhưng cũng không thể nói rằng càng về sau càng xấu, trong một tổng số chung thì phần tốt và phần xấu chia đều.

Chặng đường dằng dặc trên chuyến máy bay về Việt Nam qua những vùng đất lớn, bay qua biển, vượt qua những tầng mây nguyên thủy vĩnh hằng... Thân máy bay run bần bật khi băng qua biển gió. Bính thoáng nghĩ rằng nếu vào giờ phút này, nếu máy bay có bị chạm vào một vật cản và có khi bị nổ tung thì cũng chẳng sao. Chỉ tiếc rằng anh sẽ không nhìn thấy đất nước thân yêu một lần nữa, anh thấy mình nôn nao, ngóng về Đất mẹ. Phút máy bay chạm xuống đường băng, Bính nhắm mắt lại, bồi hồi trong những cảm xúc trào lên, khó phân định:

- “Tới nơi rồi”.

Anh bước vào căn phòng rộng của sân bay để làm thủ tục hải quan. Anh bước tới băng chuyền đợi hai chiếc va ly của “Soái”.

Băng chuyền được ngăn đôi bởi một bức tường lớn làm bằng kính. Phần phía trong có nhiều nhân viên hải quan và có một máy soi lớn đang cho những va ly chạy qua. Hết vòng quay những chiếc va ly chủ nhân chưa kịp nhận được kéo xuống đặt một góc nhà.
Băng chuyền chậm rãi, nhả từng chiếc va ly. Bính hồi hộp theo dõi chiếc máy soi, không biết các va ly tem cốc cõ bị phát hiện không. Anh phấn khởi thấy chiếc và ly da của “Soái” chạy lại phía mình. Anh giơ tay sung sướng túm lấy quai da nhấc bổng, đặt nó xuống đất.

Một bàn tay nắm lấy vai anh:

- “Chiếc và ly này của anh?"

- “Vâng”.

- “Xin mời anh vào làm việc tại phòng hải quan”.

Bính sững người. “Bị” rồi. Anh lầm lỳ theo chân anh thanh niên nọ. Sao trớ trêu như thế này nhỉ, cho tới phút cuối cùng, cay đắng thật.

Trong căn phòng có hai nhân viên hải quan đang chờ anh. Họ mời anh ngồi vào bàn và lấy giấy bút ra chuẩn bị ghi chép. Một người hỏi:

- “Tên anh là gì?"

- “Tôi là Bính”.
- “Anh về từ đâu: Ba Lan hay Liên Xô?"

- “Tôi về từ Ba Lan”.

- “Chiếc va ly này là của anh?"

- “Vâng..."

- “Chúng tôi hỏi lại: Chiếc va ly này thực sự là của anh?"

- “Vâng..."

- “Thôi được rồi. Anh có biết trong va ly có gì không?'

- “Không..."

- “Tại sao anh nói không biết trong khi đó va ly anh lại nhận là của mình?'

- “Tôi đi vội. Bạn tôi xếp hàng cho tôi”.

- “Tạm coi là anh mang hàng hộ bạn anh. Vậy anh hãy nói thật với chúng tôi đi, anh có biết mang hàng hóa kiểu này cái gì sẽ chờ đợi anh không? Anh mang hàng cho ai, nói đi?"

Bính nhắm mắt lại, anh thấy mồ hôi chảy ra rần rần ở phía sau lưng. Việt Nam mình nóng thật. Thôi đến nước này cũng phải nói ra thôi.

- “Người đón tôi là anh Chung”.

Hai nhân viên hải quan mỉm cười. Một người nói:

- “Có thế chứ. Sao anh không nói ngay từ đầu. Tôi là Chung đây. Thôi anh mang va ly ra đi, để chiếc va ly vào chỗ xe Lađa màu trắng đậu ngay cửa. Chiếc va ly kia tôi sẽ mang ra sau”.

Bính hơi sửng sốt trước khốt đi của câu chuyện. Thì ra chính họ là người đợi anh. Họ chỉ tìm cách khẳng định thêm về anh và về món quà anh mang theo thôi. Dĩ nhiên, là khi qua máy soi họ đã biết tất cả rồi. Chỉ còn việc nhận diện người mang theo. Họ là đầu giây chuyền sẵn của “Soái”.

Anh đã được tự do.

Bính giao hàng cho Chung xong, lững thững đi bộ ra phía mấy bồn hoa. Anh từ chối lời mời của Chung cùng lên xe trở về thành phố. Anh muốn có một phút yên tĩnh sau những xáo trộn tình cảm vừa rồi.

Bỗng anh nghe tiếng gọi sau lưng:

- “Anh Bính”.

Nghe giọng nói quen quen, Bính từ từ quay lại.

- “Em, Minh!!!"

Minh mặc chiếc áo dài màu vàng, hơi bó vào người.

Gương mặt cô thanh thoát, đẹp kỳ lạ.

Bính từ từ giang rộng cánh ra ôm chặt lấy Minh. Cô áp má vào vai anh, một mùi hương con gái dễ chịu kề sát bên má Bính:

- “Sao anh ra muộn thế. Em đã nghĩ rằng hôm nay anh không trở về”.

- “Làm sao mà em biết hôm nay anh về?"

- “Anh Tín điện cho em”.

- “Chà, cái thằng!'


ĐOẠN KẾT

Theo đúng kỳ hạn, Bính ra bưu điện gọi điện cho “Soái”.

Từ đầu dây phía bên kia, anh nhận ngay ra giọng khỏe mạnh vui vẻ của “Soái”.

- “Khỏe chứ, Bính. Cậu có thể bắt tay vào việc tiếp không. Đang cần tới các “tướng” nay”.

Bính im lặng một giây. Sau anh trả lời chậm rãi:

- “Tôi không muốn tham gia vào việc nữa đâu, anh Phụ a”

Giọng Soái ngạc nhiên:

- “Sao, sợ à?"

- “Không phải vậy”.

- “Cậu không cần tiền nữa chắc?"

- “Cũng không phải”.

- “Thôi, mình hiểu rồi. Dù sao cũng cảm ơn cậu đã giúp chúng mình một thời gian. Khi nào nghĩ lại thì gọi điện thẳng cho mình. Chỗ quen biết cũ mà. Còn vụ này mình sẽ nhờ người khác. Rất tiếc, thời cơ đang thuận lợi”.

Giọng “Soái” vui vẻ trở lại.

- “Chúc cậu khỏe nhé. O.K”.

- “O.K”.

Bính đặt máy xuống.

Minh đang đứng cạnh chiếc hon đa đợi Bính. Cô đang mở rộng một tờ báo mới mua. Thấy Bính, cô nói ngay:

- “Anh Bính, xem báo này”.

Trang nhất tờ báo đăng tin một cuộc chính biến ở Liên Xô.

Bính đặt tờ báo xuống, nôn nao, nghẹn ngào trong lồng ngực: cơn bão đã giáng xuống Liên Xô. Bao hình ảnh chợt ùa vào đầu anh. Đấy là những con người như “Soái”, như Nhân, Trinh... họ cũng đang ở trong cơn xoáy lốc vô hình. Họ chỉ là những âm bản của một cuộc đời sôi động.

à Nội, ngày 14 tháng 5 năm 1992


HẾT
 
Back
Top