Dynamo Kiev

Ngộ Nhỡ

New member
Ngày 6/11/1943, Hồng quân Liên Xô quét sạch những tên lính Đức cuối cùng, giải phóng hoàn toàn thủ phủ Kiev của Ukraina trong cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai. Lửa vẫn cháy khắp thành phố. Ukraina không có thời gian để đau buồn trước cảnh điêu tàn, bởi cuộc chiến chống Phát-xít vẫn còn rất ác liệt. Gót giày của lính Đức vẫn còn hiện diện trên lãnh thổ Liên bang Xô viết.
Chỉ trong 3 tuần, số liệu thu được từ mớ hồ sơ mà phát-xít Đức chưa kịp thủ tiêu cùng lời kể của các nhân chứng đã đủ để khắc họa sự dã man của quân xâm lược. “Địa ngục” Babi Yar, nơi từng có lúc thiêu sống hơn 3.000 người, được tái hiện. Trại tập trung Siretz cũng tàn bạo không kém. Sau 2 năm chịu đựng ách thống trị, dân số Kiev đã giảm đến 80% và hầu như mọi người Ukraina gốc Do Thái đều bị giết sạch. Trong thời gian thu thập chứng cứ về tội diệt chủng này, những ai hợp tác với quân Đức trong thời gian chiếm đóng lần lượt lộ diện. Tất cả đều bị trừng phạt bằng cách này hoặc cách khác.

Cũng trong thời gian thu thập hồ sơ chiến tranh ấy, câu chuyện về một vài trận bóng đá đặc biệt đã được truyền miệng, ban đầu là ở hậu phương, sau đó lan dần ra tiền tuyến, đến tai các lực lượng Hồng quân đang ngày càng gia tăng sức ép về phía Berlin. Người ta bảo rằng không phải một mà là rất nhiều trận bóng đã diễn ra ngay tại Kiev trong thời gian bị Đức chiếm đóng. Đấy là các trận bóng đá giữa các cầu thủ từng là ngôi sao của bóng đá Ukraina, đa số khoác áo Dynamo Kiev trước chiến tranh, với các chiến binh Đức. Thế thì đáng giận thật. Họ thản nhiên tận hưởng niềm đam mê bóng đá trong lúc hàng triệu đồng hương, anh em, đồng đội của họ phải ngày đêm chiến đấu trước làn đạn Phát-xít trong đói lạnh. Tệ hơn nhiều, họ lại chơi bóng với chính quân thù, những kẻ hàng ngày vẫn tàn sát đồng bào, thân nhân họ. Suy nghĩ lúc ấy của nhiều người là thế.
 
Câu chuyện về các trận bóng đá đáng “khinh bỉ” ấy cứ sống mãi theo năm tháng. Mười năm sau khi chiến tranh kết thúc, nó vẫn lan truyền khắp Liên Xô. Ít ai tận mắt chứng kiến các trận đấu ấy. Người ta chỉ nghe kể lại. Nhưng nào phải chuyện bịa đặt? Danh sánh những cầu thủ ấy được ghi rành rành: Makar Goncharenko, Mikhail Putistin, Feodor Tyutchev, Ivan Kuzmenko, Nikolai Trusevich, Alexei Klimenko... Ngoài một số đã bị lính Đức bắn chết “vì ăn cắp” như Trusevich, Klimenko, những cầu thủ khác như Goncharenko hoặc Putistin vẫn còn sờ sờ ra đó. Họ vẫn sống trong âm thầm, lặng lẽ, bị hắt hủi và không kiếm được việc làm.

Đa số thanh niên, chiến sĩ, giới chức lãnh đạo Liên Xô đều nghe kể về những cầu thủ đáng ghét ấy trong suốt những năm 1945 - 1956. Nhưng không phải tất cả đều tin đấy là sự thật. Cũng có người tin vào câu chuyện xúc động hơn, được ghi chép cẩn thận bằng bút chì vào cuốn sổ tay cũ rích của một người đàn ông tên là Vladimir Klimenko. Ông ta thường lang thang đến các công viên và kể cho bất cứ ai muốn nghe về câu chuyện do chính tay mình ghi chép. Ông ta là một cổ động viên bóng đá cuồng nhiệt, không bỏ sót bất cứ trận đấu nào trong đời, kể cả thời kỳ Đức chiếm đóng Kiev. Đáng nói hơn, ông ta là anh ruột của Alexei Klimenko - một trong các cầu thủ đã chơi bóng với lính Đức và sau đó bị sát hại trong trại tập trung
 
So với Vladimir Klimenko, địa vị của Timofei Strokach và Timofei Malsevich cao hơn hẳn. Strokach là người đứng đầu ngành thể thao Ukraina sau chiến tranh. Ông từng cầm súng bảo vệ Kiev trong những ngày đầu bị Đức tấn công, và khi ấy Strokach luôn nhớ rõ, sát cánh với ông có không ít cầu thủ đang khoác áo Dynamo Kiev. Strokach luôn muốn “làm một điều gì đó” khi nghe chuyện về các cầu thủ phản quốc. Nhưng cũng như chuyện truyền miệng, những gì ông nhớ không được ghi vào bất cứ hồ sơ nào. Malsevich còn quan trọng hơn Strokach. Ông là người cầm đầu lực lượng du kích Kiev trong suốt 2 năm bị Đức chiếm đóng. Chính Malsevich đã lập danh sách những ai hợp tác với địch trong chiến tranh. Ông biết rõ 3 cầu thủ Klimenko, Trusevich, Kuzmenko bị Đức giết hại không phải vì tội ăn cắp. Ông cũng biết rõ đồng đội của họ không phải là những người tham sống sợ chết. Đắn đo suốt 14 năm, Malsevich và Strokach mới quyết định đưa sự thật mà họ biết ra ánh sáng. Họ cung cấp tư liệu cho “Trận đấu cuối cùng” - cuốn sách xuất bản năm 1959 ở Liên Xô và ngay lập tức được cả thế giới chú ý. Từ cuốn sách ấy, sự thật về các cựu cầu thủ Dynamo Kiev được phơi bày. Họ chẳng những không “đáng khinh bỉ”, mà còn đích thực là những anh hùng.


Còn có 2 tên tuổi lớn, quan trọng hơn cả Malsevich và Strokach. Đó là Nikita Khruschev, Bí thư thứ nhất đảng C/ộng s/ản Ukraina từ năm 1938, sau này là Bí thư thứ nhất đảng C/ộng s/ản Liên Xô; và Leonid Brehznev, Tổng bí thư Đảng c/ộng s/ản Liên Xô. Cả hai đều là người Ukraina. Sau khi thay Stalin vào năm 1953, Khruschev chính thức công nhận “huyền thoại về trận đấu tử thần”. Bảy năm sau khi thế chỗ Khruschev (1971), đến lượt Brehznev cho xây đài tưởng niệm các cầu thủ bên ngoài SVĐ Dynamo
 
Dynamo Kiev từng đoạt cúp C2 (1975 và 1986), Siêu Cúp châu Âu (1975), có 2 cầu thủ từng đoạt Quả Bóng Vàng châu Âu: Blokhin (1975) và Belanov (1986), nghĩa là không hề vô danh trong thời còn thuộc Liên Xô. Song, có một điều mà Dynamo Kiev còn có thể tự hào hơn hẳn nhiều CLB khổng lồ khác: Một thế hệ cầu thủ của họ đã được dựng tượng để đời sau còn tưởng nhớ và tự hào về họ với tư cách là những biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và fair-play trong thể thao.


[size=18:0d1eaa31b3]Dynamo Kiev - Một tập thể ăn ý [/size]

Trước Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ 3 năm, Liên Xô tổ chức giải Vô địch bóng đá quốc gia lần đầu tiên. Có 2 giải VĐQG diễn ra trong năm 1936. Tại các giải ấy, Dynamo Kiev (vừa thành lập trước đó 9 năm) lần lượt xếp thứ nhì và ba. Ở các giải kế tiếp, Dynamo Kiev xếp thứ 5 (năm 1937) và thứ 4 (năm 1938). Đội có đến 7 thành viên có tên trong danh sách cầu thủ tiêu biểu của giải Vô địch Liên Xô năm 1938 sau khi ghi đến 76 bàn - một kỷ lục ở giải này.
Dynamo Kiev không phải là CLB Bóng đá đầu tiên ra đời ở Ukraina, nhưng luôn luôn là CLB mạnh nhất. Vào giữa những năm 30, các hội đoàn công nhân ở Bỉ và Pháp mời Ukraina làm một “tua” du đấu. Kết quả, với 8 cầu thủ Dynamo Kiev trong đội hình, Ukraina chẳng những trở thành đội bóng nghiệp dư đầu tiên trong lịch sử bóng đá Liên Xô thi đấu với các đối thủ chuyên nghiệp, mà còn chiến thắng một cách vẻ vang. Chuyến đi của họ khởi đầu bằng trận thắng 6-1 trước CLB Red Star Olympic của Pháp và kết thúc với tổng số 88 bàn thắng trong khi chỉ thủng lưới 3 bàn. Cũng trong thời gian ấy, Dynamo Kiev đã thắng ĐTQG Thổ Nhĩ Kỳ 9-1 khi đội này thi đấu hàng loạt trận giao hữu tại Liên Xô
 
Nikolai Trusevich là một trong những cầu thủ nổi bật của Dynamo Kiev thuở ấy. Trusevich có lẽ là thủ môn đầu tiên trên thế giới khai sinh lối chơi rời xa khung thành. Trong thời buổi mà các thủ môn đều hiếm khi rời khỏi vạch cầu môn, Trusevich lại thường xuyên lao lên phá bóng như một hậu vệ, rất hiệu quả. Ngoài Trusevich, hàng thủ Dynamo Kiev thời ấy còn có Alexei Klimenko, một hậu vệ rất điêu luyện về kỹ thuật và Fyodor Tyutchev rất nổi tiếng. Các cầu thủ tỏa sáng ở tuyến trên là tiền đạo Ivan Kuzmenko, tiền đạo Nikolai Makhinya, cầu thủ chạy cánh Makar Goncharenko, các tiền vệ Shylovsky, Fomin, Konstantin Shchegotsky... Sự xuất sắc của các ngôi sao ấy thật ra vẫn chưa phải là điểm mạnh đáng kể nhất của Dynamo Kiev. Trên hết chính là lối chơi đồng đội rất ăn ý của họ. Idzkovsky, thủ môn từng khoác áo Dynamo Kiev giữa những năm 30 kể lại: “Khi ấy, Dynamo vẫn chưa vươn đến đỉnh cao thật sự, bởi đa số các cầu thủ giỏi của đội đều còn khá trẻ. Nếu sinh hoạt bóng đá vẫn diễn ra bình thường, có thể Dynamo Kiev đã là một trong những CLB mạnh nhất châu Âu vào đầu những năm 40”.
Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ gần 2 năm thì Đức bắt đầu tấn công Liên Xô. Loạt đạn đầu tiên bắn vào Ukraina được ghi nhận lúc 3 giờ sáng ngày 22/6/1941. Lviv, Kiev, Odessa đều bị đánh bom vào buổi sáng sớm hôm ấy, khi các cầu thủ Dynamo còn đang say giấc nồng, không ít người mơ đến trận đấu tuyệt vời vào buổi chiều cùng ngày. Theo kế hoạch, SVĐ mới Republic Sports Stadium sẽ được khai trương vào đúng hôm ấy. Ngoài trận bóng đá hấp dẫn giữa Dynamo Kiev với CDKA (tiền thân của đội CSKA Moskva sau này), còn có các trận quyền Anh cũng rất hứa hẹn và các bài biểu diễn thể dục, môn thể thao mà Ukraina bao giờ cũng là một trung tâm mạnh của Liên Xô. Mới chiều hôm trước, Shchegotsky và đồng đội còn đang mải khen mặt cỏ quá đẹp trong buổi tập làm quen sân. Vậy mà giờ đây...
( còn nữa ) .......
 
Trusevich là một trong những cầu thủ đầu tiên của Dynamo Kiev hay tin chiến tranh bùng nổ. Ai đó hay được thông tin từ Lviv (thành phố của Ukraina nằm sát biên giới Ba Lan) đã gọi điện báo tin chiến tranh cho Trusevich lúc 6 giờ sáng. Anh lập tức chạy đến khách sạn Continental để gặp HLV Mikhail Pavlovich Butusov. Nhưng không ai có thể đưa ra một quyết định hay. Thế là cả hai lại trực chỉ SVĐ Dynamo để gặp gỡ toàn đội. Phản ứng đầu tiên của Trusevich cũng không khác mấy so với mọi thanh niên yêu nước lúc bấy giờ. Hai ngày sau khi Đức bắt đầu oanh tạc Ukraina, Trusevich cùng các đồng đội Makhinya, Kuzmenko đã tình nguyện gia nhập quân đội. Các cầu thủ lớn tuổi hoặc đang chấn thương, không hội đủ điều kiện chiến đấu với quân thù thì tình nguyện giúp chính quyền trong việc di tản dân chúng. Đa số cầu thủ Dynamo đều quyết tâm ở lại, tham gia bảo vệ thành phố Kiev sau khi đã thu xếp đưa gia đình đến Odessa, nơi được xem là an toàn hơn. Sân vận động Dynamo được trưng dụng làm nơi tập kết và di tản dân cư. Dù trong bóng đá hay trong cuộc chiến gian khổ mà ai nấy đều đã thấy trước mức độ khốc liệt, các cầu thủ Dynamo vẫn siết chặt tay nhau hẹn ước: họ sẽ mãi mãi là đồng đội của nhau, chơi bóng cũng như chiến đấu, trong cũng như ngoài sân cỏ, đều vì nhau...
 
Ngày 19/9/1941, thành phố Kiev mà Liên Xô đã phá hủy tất cả những gì quân thù có thể sử dụng, chính thức rơi vào tay quân Đức. Cũng như ở những nước khác đã bị Đức chiếm đóng, khôi phục cơ sở hạ tầng và phân chia đẳng cấp xã hội là 2 việc làm đầu tiên của bọn phát-xít. Lò bánh mì số 3, nơi từng là xí nghiệp bánh mì nổi tiếng nhất Ukraina, được khôi phục với mục tiêu đầu tiên là cung cấp lương thực cho quân xâm lược, kế đến là duy trì nguồn thực phẩm - trên mức độ chết đói một tí - cho dân địa phương. Ba trăm công nhân và toàn bộ công việc ở nhà máy này được giao cho Iosif Ivanovich Kordik. Đối với một số người thuộc giới thể thao Ukraina ngày nay, Iosif Kordik có ý nghĩa gần như Oskar Schindler đối với người Do Thái.

Kordik là người Séc, sinh ra ở Moravia vào cuối thế kỷ 19, khi vùng này thuộc về đế quốc Áo - Hung. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Kordik chiến đấu cho Hapsburgs (dòng họ trị vì Áo - Hung đến năm 1918). Kordik bị thương và dòng đời đưa đẩy ông đến định cư ở Kiev. Thông thạo tiếng Đức, Kordik đã đổi tên lót Ivanovich thành Jorganovich và khai với quân chiếm đóng rằng ông là người Áo, sinh ra ở một nơi rất gần gũi với Đức. Thế là Kordik được liệt vào loại Volksdeutsche - “đẳng cấp số 2” trong xã hội, chỉ xếp sau người Đức chính hiệu Aryan! Những người thuộc nhóm Volksdeutsche như Kordik chẳng những không bị bắn bỏ bất cứ lúc nào như 2 tầng lớp phía dưới (dân chúng ở nơi bị chiếm đóng là tầng lớp thứ 3 và quan chức ở nơi bị chiếm đóng trước chiến tranh là tầng lớp thứ 4), mà còn được ưu tiên trong vài lĩnh vực, chẳng hạn buôn bán. Các cựu cầu thủ Ukraina có một cái may, bảo rằng định mệnh cũng được: Kordik rất thích thể thao và hâm mộ Dynamo Kiev một cách cuồng nhiệt.
 
Vào một ngày cuối năm 1941, khi đang dạo bước trên đường Mikhaiyovskaya ở Kiev, Kordik bỗng nhận ra một thân hình tiều tụy mà ông chắc chắn đã gặp nhiều lần nhưng không thể nhớ ra. Lục mãi trong ký ức vốn dành nhiều chỗ cho thể thao hơn bất cứ điều gì khác trên đời, cuối cùng Kordik cũng nhớ ra đấy là Nikolai Trusevich, thủ môn Dynamo Kiev có một cái sẹo trên má phải. Trusevich từng rất cao to, thanh lịch và luôn vui tươi đấy ư? Kordik mời ngay cái người có thân hình còm nhom và phải lê bước vì chấn thương ấy vào quán cà phê, cũng do ai đó thuộc loại Volksdeutsche làm chủ. Việc đầu tiên là Kordik kêu ngay một thứ gì đấy ăn được.
Họ nói chuyện với nhau. Hóa ra Trusevich cũng như bao cầu thủ khác của Dynamo còn ở lại thành phố sau ngày Kiev thất thủ đều bị đưa vào danh sách 630.000 tù binh. Chưa bao giờ trong lịch sử thế giới có một trận đánh có nhiều tù binh như thế. Để giải quyết, bọn phát-xít đưa một phần trong số tù binh ấy sang Đức, lao động như những nô lệ. Số còn lại thì dồn vào các trại tù lộ thiên được dựng lên nhan nhản. Trusevich và Nikolai Balakin, một cầu thủ của CLB Lokomotiv, cùng 32.000 người khác bị đưa đến Darnitsa, một trong các trại như thế. Họ bị đánh đập, tra tấn dã man. Có một ngày, lính Đức gọi hết số tù binh trong một “ngăn tù” ra ngoài, bảo là đưa đến trại Siretz, nhưng thật ra tất cả đều bị bắn quét. Trusevich và Balakin nhanh chân trốn vào nhà xí và thoát nạn - đúng hơn là tạm thoát khỏi cái ngày hành quyết ấy chỉ để chờ đợi đến một ngày nào khác mà họ cũng sẽ chịu chung số phận. Bỗng một hôm, chính quyền Đức tuyên bố những ai đồng ý ký bản cam kết tuân thủ mọi quy định mới của nhà cầm quyền sẽ được tạm tha, được phép đi lại một số nơi trong thành phố. Trusevich tất nhiên không còn lựa chọn nào khác.
 
Kordik nhận ngay Trusevich vào lò bánh mì. Tại đấy, Trusevich phát hiện rất nhiều gương mặt quen thuộc của thể thao Liên Xô, đủ các bộ môn điền kinh, thể dục, xe đạp, quyền Anh... Không lâu sau, Trusevich liên lạc được với đồng đội Goncharenko, rồi cả hai lại lùng sục khắp thành phố để tìm kiếm các cầu thủ khác. Các cầu thủ không thuộc Dynamo Kiev như Mikhail Melnik, Vasily Sukharev, Vladimir Balakin (Lokomotiv) cũng được Kordik dung nạp. Ngoài Shchegotsky thoát được vòng vây của Đức và hiện tham chiến tại một mặt trận nào đó ở Liên Xô, Yatchmennikov đã chết trong trại tập trung, Lazar Kogen bị lính Đức hành quyết, Burdukov mất tích, hầu hết đồng đội cũ của Trusevich đều lần lượt có mặt ở lò bánh mì. Vì vấn đề “đẳng cấp xã hội”, các cầu thủ chỉ được giao những công việc chân tay như quét rác hoặc khuân vác. Họ kiếm được cái ăn (dù không nhiều) và chỗ ngủ “hợp lệ”. Quan trọng hơn, tính mạng của họ không còn tùy thuộc vào một “ý tưởng” nào đấy bất chợt nảy ra trong đầu các sĩ quan Đức. Chỉ trong 2 tháng, 100.000 người Ukraina đã thiệt mạng vì hàng trăm lý do dưới ách phát-xít. Vào khuân vác tại lò bánh mì và ban đêm ngủ luôn tại đấy đã là cuộc sống thiên đường. Khi biết Goncharenko chỉ giấu một thứ tài sản duy nhất từ khi chiến tranh xảy ra - một đôi giày bóng đá - Kordik lập tức nảy ra ý tưởng: ông sẽ thành lập một đội bóng. FC Start - nghĩa là “bắt đầu” - sẽ là tên của đội bóng mới, sót lại từ Dynamo Kiev “mở rộng”.
 
Kordik không phải là người duy nhất có ước nguyện thành lập một CLB bóng đá tại Kiev trong chiến tranh. Còn có một nhân vật khác là Georgi Shvetsov, cựu cầu thủ từng đoạt chức vô địch bóng đá Ukraina trong đội hình Lokomotiv năm 1923. Khi Đức bắt đầu tấn công Liên Xô vào mùa hè năm 1941, Shvetsov đang là hướng dẫn viên thể thao của một công ty đường sắt. Trong khi đa số những người hoạt động thể thao đều tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ Kiev bằng cách này hoặc cách khác thì Shvetsov đột nhiên biến mất, sau đó xuất hiện trở lại trong vai một “công dân kiểu mẫu” khi Đức đã chiếm được Ukraina. Cũng không lạ, bởi trước đó Shvetsov vốn là người của chủ nghĩa dân tộc, ủng hộ phong trào Ukraina độc lập. Sau khi treo giày, Shvetsov thỉnh thoảng viết bài cho báo “Tiếng nói Ukraina”, chủ yếu là bút chiến với giọng điệu quá khích. Tuy đồng quan điểm (chống chủ nghĩa Stalin) với các biên tập viên của tờ báo này, Shvetsov vẫn có một khác biệt quan trọng: ông ta “trội” hơn về thói cơ hội. Thế nên, trong khi tổng biên tập Ivan Rohach và toàn bộ đồng sự đều bị phát-xít hành quyết ở pháp trường Babi Yar vì ngây thơ nghĩ rằng Hitler đã giải phóng họ khỏi gọng kìm Liên Xô để thành lập một Ukraina độc lập, thì ngược lại, Shvetsov thăng tiến khá nhanh bằng cách ca ngợi Đức quốc xã. Ông ta trở thành cây bút chính của tờ “Tiếng nói Ukraina mới”.


Chính Shvetsov đã khôi phục đời sống bóng đá tại Ukraina trong chiến tranh. Bằng giọng lưỡi nịnh bợ, ông ta đã thuyết phục được Eberhardt, viên tướng Đức cai quản Kiev, rằng bóng đá phải được hồi sinh như một ân huệ của người Đức. Ngày 7/6/1942, chính quyền Đức cho khai mạc một giải vô địch bóng đá - nói đúng hơn là một loạt trận đấu biểu diễn - tại Kiev. FC Start của Kordik là 1 trong 8 đội tham dự. Chỉ có một đội bóng khác cũng của thường dân và đấy tất nhiên là đội bóng do Shvetsov thành lập, mang tên Rukh. Sáu đội còn lại đều là của các đồn lính Đức ở Ukraina. Rukh - FC Start là trận khai mạc giải này.
 
Shvetsov xoa tay mãn nguyện, bay bổng với ý nghĩ: mối hận đã dồn nén hơn 10 năm của ông ta với Dynamo Kiev sắp được thanh toán trọn vẹn. Thì ra, từ lúc còn chơi bóng, Shvetsov đã căm giận CLB số 1 Ukraina. Sau ngày thành lập, Dynamo Kiev đã chiêu dụ được hầu hết các cầu thủ giỏi của Lokomotiv vốn là đồng đội của Shvetsov. Tuy có thể hình và thể lực tốt, thường xuyên ghi bàn sau khi thắng hậu vệ đối phương trong các pha tranh chấp tay đôi, nhưng Shvetsov lại không điêu luyện về kỹ thuật nên hơi “chìm” trong đội hình vô địch Ukraina năm 1923. Sẵn máu cơ hội, ông ta thấy rất rõ: con đường duy nhất để trở nên nổi tiếng trong làng bóng Ukraina là gia nhập Dynamo Kiev. Vậy mà trong lúc hàng loạt đồng đội được đối phương trải thảm đón rước, Shvetsov lại bị Dynamo Kiev từ chối vì ông đã... già. Thất vọng chuyển sang thù hận, Shvetsov viết báo và dùng các đòn chính trị để gây ảnh hưởng chống Dynamo Kiev, nhưng thất bại. Trên sân cỏ, Dynamo Kiev rõ ràng không có đối thủ xứng đáng ở Ukraina trước khi chiến tranh bùng nổ. Ở hậu trường, Dynamo Kiev lại do NKVD - tiền thân của KGB - tài trợ. Shvetsov chuyển hướng, làm trọng tài. Nhưng ông ta cũng không thành công trong lĩnh vực này, chỉ có thể kêu ca rằng có quá nhiều trọng tài người Do Thái bênh vực Dynamo Kiev. Đấy cũng là một phần nguyên nhân khiến Shvetsov giờ đây luôn săn lùng, chỉ điểm nơi cư ngụ của người Do Thái và được quân Đức trọng dụng.
Shvetsov biết rõ các cầu thủ giỏi của Dynamo Kiev giờ đây đã quy tụ ở lò bánh mì của Kordik. Thế thì tốt quá, Shvetsov thầm nghĩ: “Cầu thủ quái gì nữa? Chỉ là những thân hình ốm o gầy mòn. Bọn bay sẽ bị nghiền nát, nếu không phải bởi các cầu thủ tràn đầy thể lực của Rukh thì cũng bởi người Đức thượng đẳng, sung mãn và đầy uy lực. Chút gì còn lại từ Dynamo Kiev cao ngạo sẽ bị nuốt chửng giống như Kiev bị quân Đức nuốt trong vòng 3 tháng, Smolensk trong 2 tuần hoặc Minsk trong 9 ngày vậy”.
 
Chỉ còn chút âu lo: Shvetsov thầm mong FC Start đừng đổi ý, bỏ cuộc vào giờ chót. Nỗi lo ấy là có thật. Sau khi Shvetsov cho đăng bài quảng cáo hoa mỹ về trận Rukh - FC Start, “nhờ sự giúp đỡ rất đáng trân trọng của người Đức”, các cầu thủ FC Start đã bí mật họp trong nhà kho của lò bánh mì. Makhinya cực lực phản đối việc dự giải, cho rằng đấy là thái độ hợp tác với quân thù. Ông nhấn mạnh: “Chúng ta thậm chí phải sẵn sàng đối phó hậu quả sau khi bỏ cuộc”. Vốn xuất thân từ một đội bóng của NKVD, không ít cầu thủ đồng ý với quan điểm của Makhinya. Cũng có nhiều người dâng trào cảm xúc đơn thuần của một cầu thủ sắp được chơi bóng trở lại. Nhưng vượt lên tất cả là Trusevich. Anh bình tĩnh đưa ra 2 bộ trang phục bóng đá không biết ai đó đã giấu vào nhà kho ấy, cũng không ai biết anh đã tìm được chúng khi nào. Trusevich nói rất chậm rãi, và rất cương quyết: “Đây có lẽ là áo của CLB Zheldor. Giờ đây, Zheldor hay Dynamo, hay Lokomotiv đều không quan trọng. Giờ đây, chúng ta đều là người Ukraina. Chúng ta không có trong tay bất cứ vũ khí nào ngoài thứ này. Việc cuối cùng chúng ta có thể làm là tỏ rõ: Phát-xít Đức có thể xâm lược Ukraina, nhưng không thể đánh bại màu cờ sắc áo này”.
 
Quyết không lùi bước

Đúng là các cầu thủ FC Start đã mất hẳn thể lực vốn có, nhiều người thậm chí không thể đi đứng một cách bình thường vì hậu quả của các đợt tra tấn khi còn ở trại tập trung. Nhưng họ quá điêu luyện về kỹ thuật. Và quan trọng hơn: đấy thật sự là một đội bóng, hiểu rõ nhau cả trên sân cỏ lẫn ngoài đời. Họ hơn hẳn Rukh vốn chỉ gồm các cầu thủ “cơ hội”, quy tụ dưới trướng Shvetsov chỉ cốt kiếm ăn và tìm cơ hội thăng tiến. Một lần nữa, âm mưu trả thù của Shvetsov tan thành mây khói. FC Start thắng Rukh 7-2 trước khi đè bẹp mọi đối thủ khác bằng các tỷ số như 6-2, 6-0, 11-0... FC Start thắng cả Flakelf, đội bóng của Luftwaffe (không quân Đức), được cho là mạnh nhất nước Đức lúc bấy giờ, với tỷ số 5-1. Đến nước này thì quân Đức không thể chấp nhận. Hitler và Goebbels đều nhớ rất rõ 4 chiếc HCV điền kinh mà VĐV da đen Jesse Owens xuất sắc đoạt được tại Olympic Berlin 1936 “tai hại” ra sao. Phải chấm dứt ngay sự hiện diện của bọn FC Start nguy hiểm ấy!
Ở thời điểm đó, dân chúng Kiev không còn gọi Trusevich và đồng đội là FC Start nữa, mà là “đội bóng của chúng ta”. Còn có một sự trùng hợp khiến Joseph Goebbel - tổng trưởng tuyên truyền của Đức quốc xã - không thể chấp nhận thêm bất cứ chiến thắng nào của FC Start. Ngày 28/7/1942, tổng tư lệnh Joseph Stalin ban hành chỉ thị 227 đối với Hồng quân Liên Xô: “Không lùi một bước”. Mọi binh sĩ có biểu hiện sợ hãi hoặc hèn nhát sẽ bị trừng phạt ngay tại vị trí chiến đấu. Sĩ quan nào cho phép binh lính bỏ vị trí sẽ lập tức bị cách chức và đưa ra tòa án binh. Chỉ thị nổi tiếng ấy được ban hành sau khi quân Đức lại chiếm thêm thành phố Rostov và tiến gần đến cửa ngõ Leningrad. Ba tháng sau, Hồng quân mới bắt đầu phản công ở mặt trận Leningrad, dẫn đến một mùa đông sống dở chết dở cho quân Đức. Nhưng ngay tại Kiev vào thời điểm này, rõ ràng FC Start đã giương cao ngọn cờ “không lùi một bước” trên sân cỏ. Chiến thắng của họ đã nâng cao niềm tin trong dân chúng. Họ tích cực cất giấu tài sản và các biểu tượng để chờ ngày giải phóng. Lực lượng du kích của Timofei Malsevich cũng củng cố tinh thần một cách rõ rệt
 
Đích thân các tướng lĩnh Đức tổ chức một trận tái đấu giữa FC Start và Flakelf - kỳ này gồm toàn những gương mặt lạ hẳn so với trận trước - vào ngày 9/8/1942 tại SVĐ Zenit. Áp phích về trận đấu “phục thù” xuất hiện nhan nhản ở Kiev. Quân Đức còn công bố luôn danh sách 14 cầu thủ FC Start chuẩn bị thi đấu: Trusevich, Klimenko, Sviridovsky, Sukharev, Balakin, Gundarev, Goncharenko, Chernega, Komarov, Korotkhykh, Putistin, Melnik, Timofeyev và Tyutchev. Không khí Kiev trong những ngày ấy nóng bỏng chẳng kém ngoài trận địa. Trước khi trận đấu diễn ra, trọng tài đã gặp các cầu thủ FC Start tại phòng thay quần áo để đưa ra một chỉ thị chớp nhoáng. Goncharenko sau này kể lại: “Thật ấn tượng, đấy là một thanh niên cao to với dáng vẻ tuyệt vời. Hắn mặc trang phục SS và nói tiếng Nga hoàn hảo. Hắn nói rất chậm rãi, nhưng rõ ràng và đầy vẻ đe dọa: “Tôi biết các anh đá bóng rất giỏi. Nhưng các anh đã biết rõ luật lệ và phải tuân thủ luật lệ ấy. Và đừng quên chào người Đức theo kiểu Đức trước khi bóng lăn”.
Sau vài phút yên lặng như tờ, các cầu thủ FC Start lại nghiêm túc hội ý như họ từng hội ý trước khi dự giải. Có người bảo nên bỏ cuộc. Có người bảo cứ thi đấu vì niềm đam mê bóng đá vô bờ bến. Và một lần nữa, Trusevich lại tỏ rõ anh là linh hồn của đội bóng. Anh tuyên bố chắc nịch: “Chẳng những thi đấu, chúng ta còn phải thi đấu quyết tâm hơn bao giờ hết. Chúng ta phải chinh phục bọn Đức, phải bảo vệ danh dự của Dynamo Kiev”!
 
Và trận đấu mà sau này cả thế giới biết đến với tên gọi “Trận đấu tử thần” ấy đã diễn ra lúc 5 giờ chiều. Trong vai trọng tài, viên sĩ quan SS giận đến tím mặt khi các cầu thủ FC Start chỉ đặt tay lên ngực và hô vang một câu gì đấy, có vẻ là “Fizcult Hura”, thay vì “Heil Hitler” như hắn chờ đợi. Thế rồi, chính các cầu thủ FC Start cũng không ngờ toàn đội lại chơi hay như thế. Họ chuyền bóng rất nhanh để tránh những pha truy cản đầy ác ý của cầu thủ Đức. Họ sút xa vì biết không có cách nào xâm nhập vùng cấm địa mà không bị trọng tài can thiệp. Trusevich bị đối phương cố ý đá vào đầu đến bất tỉnh, nhưng vẫn gượng dậy tiếp tục chiến đấu. Họ phớt lờ sự cảnh cáo của một sĩ quan SS khác cùng sự “van nài” của Shvetsov trong giờ giải lao. Họ chơi bóng như thể biết chắc sẽ không bao giờ được chơi bóng nữa. Trên khán đài, dân chúng quên luôn sự hiện diện của cảnh sát, bắt đầu hát vang các bài ca Ukraina và la ó, chế giễu quân Đức. Đỉnh điểm của thất bại nhục nhã dành cho Luftwaffe là pha đi bóng qua mọi cầu thủ của Klimenko. Anh dừng bóng ngay trước khung thành và ngạo nghễ trở về, không thèm ghi bàn. Không còn cách nào khác, viên “trọng tài SS” đành nổi còi sớm chấm dứt trận đấu, cũng là để sớm chấm dứt cảnh tượng mà hắn không nghĩ rằng sẽ phải chứng kiến. Tỷ số là 5-3 nghiêng về FC Start, nhưng đấy là lần đầu tiên Trusevich và đồng đội lặng lẽ rời sân, không chào mừng chiến thắng. Họ không nói với nhau câu nào, nhưng tất cả đều biết họ đã làm gì và sắp phải hứng chịu những gì.
 
[color=blue:a345391e44][size=18:a345391e44]Họ ngã xuống, nhưng sống mãi [/size][/color]
Thật đáng ngạc nhiên khi các cầu thủ FC Start được tiếp tục làm việc yên ổn ở lò bánh mì sau trận thắng Flakelf, chưa kể đôi khi họ còn được tập luyện tại sân Zenit. Ngày qua ngày, họ sống trong tâm trạng căng thẳng tột bậc, không biết sẽ bị bắt bớ, thậm chí bắn bỏ bất cứ lúc nào. Vậy mà lạ thay, mọi chuyện vẫn cứ trôi qua êm thấm. Trusevich và đồng đội có biết đâu rằng họ còn kéo dài được vận mệnh của mình chính là vì đã... hiên ngang đánh bại “người Đức thuần chủng” ngay trước mũi các sĩ quan SS và bọn Gestapo. Bắn bỏ “những kẻ cứng đầu” thì quá dễ, nhưng phải làm gì để vừa trừng trị đích đáng các cầu thủ được cả Kiev gọi một cách trìu mến là “đội của chúng ta”, vừa bưng bít sao cho dư luận không biết gì về chiến thắng oanh liệt của họ? Từ Berlin, đích thân Joseph Goebbels, tổng trưởng tuyên truyền của Hitler, quyết định phải làm gì. Sau này, người ta đọc được trong hồi ký của Goebbels: “Một trận thắng trên sân cỏ đôi khi quan trọng và khó gấp nhiều lần việc chiếm được vài thành phố ở Đông Âu”. Hitler và Goebbels từng ngồi cạnh nhau trên khán đài và chứng kiến nỗi thất vọng của 100.000 người Đức khi đội tuyển Đức thua Na Uy 0-2 tại Olympic 1936. “Chúng sẽ bị giết như những kẻ cắp”, Goebbels ra chỉ thị.

Thế là một hôm, các cầu thủ tại lò bánh mì được gọi vào văn phòng để gặp Kordik. Nhưng khi đến nơi, họ chỉ gặp viên sĩ quan Gestapo. Các công nhân chứng kiến từng cầu thủ vào phòng Kordik nhưng không thấy ai trở ra. HLV kiêm cầu thủ Sviridovsky là người cuối cùng. Tất cả được kiểm tra tên tuổi lần chót rồi được đưa thẳng đến trụ sở Gestapo trên đường Korolenko. Tại đấy, họ bị thẩm vấn, đôi khi kèm tra tấn mỗi ngày 1 lần, trong suốt 3 tuần. Bằng mọi cách, quân Đức dụ dỗ các cầu thủ thừa nhận đã ăn cắp bánh mì trong lúc làm việc, nhưng thất bại. Không nhận chính mình ăn cắp thì tố cáo đồng đội cũng được. Ai cáo giác người khác sẽ được khoan hồng. Cũng không ăn thua. Nếu như lời kể của Goncharenko sau này là đúng sự thật thì trong đội Dynamo Kiev thật ra cũng có kẻ phản bội, nhưng chỉ duy nhất một người, và cũng chỉ theo lời Goncharenko. Đó là Pavel Komarov, cầu thủ không chỉ sẵn sàng ký tên vào bất cứ lời khai viết sẵn nào, mà còn có thể là người đã cung cấp cho Gestapo tài liệu về thời kỳ hoạt động cho NKVD của đồng đội Nikolai Korotkikh. Komarov đã “trốn” khỏi trại tập trung vào năm 1943, khi quân Đức biết rõ chúng chỉ còn giữ được Ukraina vài ngày nữa. Sau này, không ai thấy Komarov đâu cả
 
Các cầu thủ FC Start bị đưa đến Siretz, một trại tập trung ở ngoại ô Kiev với mọi hình ảnh khủng khiếp nhất mà người ta có thể hình dung về tội ác của phát-xít. Tại lò sát sinh này, Kuzmenko, Klimenko và Trusevich lần lượt bị hành quyết cùng hàng chục ngàn người khác. Khi thấy một họng súng đen ngòm đã chĩa vào mình trong một “cữ dượt” của lính Đức, Trusevich đã thu hết sức tàn hét lên thật to trước khi gục ngã: “Nền Thể Thao Đỏ không bao giờ chết”. Câu nói ấy cùng cái chết của các đồng đội nhanh chóng lan truyền đến tai Goncharenko và Sviridovsky. Trước đây, Sviridovsky từng là thợ giày rất giỏi. Sau vài giờ học “cấp tốc” với Sviridovsky, Goncharenko đã có thể nói dối với quân Đức rằng chính anh cũng là thợ sửa giày và cả hai đều trở nên cần thiết, nhất là đối với những tên lính Đức đang ngao ngán trước mùa đông khắc nghiệt của Liên Xô. Thế là, việc thi hành án tử hình đối với 2 cầu thủ này đến muộn hơn, và trong một lần tính toán thời cơ thật chính xác, cả hai đã trốn khỏi trại tập trung, được vài gia đình tử tế ở Kiev che giấu cho đến khi Ukraina hoàn toàn giải phóng. Sau này, Goncharenko trở thành nhân chứng sống quan trọng nhất cho cuốn sách “Trận đấu cuối cùng”, xuất bản năm 1959. “Bảo vệ danh dự của Dynamo Kiev”; “Hiệp Ba”; “Trận đấu tử thần”... Biết bao bài báo, tập sách, thậm chí cả một bộ phim, đã lần lượt lật lại cuộc chiến đấu anh dũng trên sân cỏ của các cầu thủ từng khoác áo Dynamo Kiev. Họ mãi mãi đi vào lịch sử...
 
Ngoài 4 cầu thủ đã thiệt mạng (Korotkhikh, Klimenko, Kuzmenko, Trusevich) và 1 cầu thủ bỏ trốn (Komarov), các cầu thủ Dynamo đều ở lại Kiev sau chiến tranh, nhưng họ bị khủng hoảng tinh thần đến mức không còn chơi bóng được nữa. Thành viên duy nhất còn gắn bó với Dynamo Kiev sau chiến tranh là cựu thủ môn Anton Idzkovsky, nhưng ông chỉ tham gia ban huấn luyện. Năm 1954, Dynamo Kiev giành được thắng lợi đầu tiên trong làng bóng đá Liên Xô: đoạt cúp quốc gia. Bảy năm sau, đội hình có Valery Lobanovsky của Dynamo Kiev đăng quang lần đầu tiên ở giải VĐQG. Tổng cộng, Dynamo Kiev 13 lần vô địch, 9 lần đoạt cúp Liên Xô. Nhưng Dynamo chỉ thật sự trở thành biểu tượng trong giai đoạn Lobanovsky huấn luyện. Đội đoạt cúp C2 châu Âu 2 lần, đè bẹp Bayern Munich (có Franz Beckenbauer 3-0 và 1-0 ở Siêu cúp châu Âu), có Blokhine đoạt “Quả bóng vàng châu Âu”. Vì sao toàn bộ vinh quang của Dynamo Kiev đều gắn chặt với tên tuổi của Lobanovsky? Cựu danh thủ Sergei Baltacha giải thích: “Ai cũng biết rằng bóng đá là môn thể thao đồng đội, nhưng Lobanovsky là người duy nhất tuân thủ triệt để triết lý ấy, không chỉ trên sân cỏ. Trước và sau mỗi trận đấu, Lobanovsky luôn nhắc lại trận đấu huyền thoại năm 1942 và nhắc nhở chúng tôi đã nợ thế hệ của Trusevich những gì. Chúng tôi luôn biết phải hy sinh chính mình cho Dynamo Kiev như thế nào. Chúng tôi không phải là những tài năng lớn. Nhưng không có CLB nào ở châu Âu hơn Dynamo Kiev về tinh thần đồng đội”.
 
[size=18:65ecada54f][color=red:65ecada54f]Lobanovsky[/color][/size]
1704.jpg

Với giới hâm mộ Việt Nam, ông là HLV nước ngoài đầu tiên được yêu mến. Bởi vì bóng đá quốc tế đầu tiên mà người VN được xem trên truyền hình (từ cuối những năm 1970) chính là bóng đá Liên Xô, với những tên tuổi huyền thoại, trong đó có Valery Lobanovsky.

Dẫn dắt Dinamo Kiev từ năm 1973, Lobanovsky đã cùng đội giành Cup các đội đoạt cup quốc gia châu Âu (C2) vào 1975 và 1986. Khi lãnh đạo đội tuyển Liên Xô, ông đã giành huy chương bạc EURO 1988.

Với tất cả sự huy hoàng đó, nhân vật Lobanovsky đã được đánh giá một cách khá trái ngược. Hàng triệu fan của Dinamo Kiev coi ông là thần tượng. Nhưng những người khác thì cho rằng ông là kẻ độc đoán, tiêu diệt tính cách cá nhân trong mỗi cầu thủ. Đã có nhiều huyền thoại kể về cường độ luyện tập thể lực trong các đội bóng dưới quyền Lobanovsky. Ông bị coi là hiện thân của một “huấn luyện viên bạo chúa”, với những đòi hỏi khổ luyện khiến một vận động viên cường tráng nhất cũng có thể bị đột quỵ. Nhưng có tới hàng chục học trò của ông nhờ đó mà đạt được một sự nghiệp bóng đá rực rỡ.

Sự đối kháng giữa một bên là Lobanovsky với Dinamo Kiev và bên kia là Konstantin Beskov với Spartak Matxcơva những năm 1970-1980 đã trở thành kinh điển và được ví như hung thần đối kháng với nàng thơ. Lobanovsky với bóng đá “thể lực” và Beskov với bóng đá “bật tường”. Trong suốt hai thập niên, cổ động viên trên toàn Liên bang Xô viết theo dõi xem cuối cùng lối đá nào giành ưu thế. Chính hai nhà cầm quân này đôi khi đã quá say sưa giao chiến với nhau mà để lọt các đội khác – khi thì Leningrad, khi thì Minsk, hay Dnepropetrovsk - vượt lên đoạt chức vô địch Liên Xô.

Nhưng chưa có một học trò nào của Lobanovsky trong đội hình Dinamo Kiev, đội tuyển Liên Xô hay Ukraina từng kêu ca về cường độ làm việc quá sức. Hơn thế, tất cả các HLV đã qua trường đào tạo của Valery Lobanovsky như Pavel Yakovenko, Leonid Buryak, Anatoly Demyaneko, Vladimir Bessonov, thậm chí HLV điển hình cho trường phái kỹ thuật như Yury Kalitvintsev, hiện nay đều luôn theo đuổi công nghệ bóng đá thể lực của Lobanovsky.

Vun đắp và phát triển quan niệm bóng đá của mình cho cả một thế hệ cầu thủ, Lobanovsky đã đi vào tâm khảm những ai từng nhìn thấy ông và đội bóng của ông. Khán giả truyền hình Việt Nam thời đó hiểu biết về bóng đá Liên Xô cũng tương tự như mức độ ngày nay hiểu biết về bóng đá các quốc gia Tây Âu. Hình ảnh “con cáo già” Lobanovsky ngồi trên băng ghế HLV, liên tục đung đưa thân mình đổ ra trước rồi lui về sau, đã trở thành thân thuộc với cả giới hâm mộ ở Việt Nam. Trên các đấu trường châu Âu, khi các đội bóng của Liên Xô thường bị đón nhận với thái độ thù địch, hình ảnh Lobanovsky ngay cả khi im lặng, không có chỉ đạo gì, cũng toát lên sức mạnh tạo lòng tin và ý chí kiên cường cho cho các học trò và người hâm mộ trong những giờ phút khốc liệt nhất.

Con người mạnh mẽ ấy đã không sống được đến tuổi 64 của mình. Tại những phút cuối hiệp hai trận bóng của Dinamo trên sân Zaporozhie với Metallurg, Lobanovsky bỗng cảm thấy khó thở. Xe cấp cứu vào tận trong sân đón ông. Ông không cho khiêng, tự đi đến xe. “Sắp có cơn giông nên huyết áp ‘nhảy’ lên, không phải lần đầu thế này, không có gì đáng sợ”, ông nói.
Nhưng điều đáng sợ đã xảy ra ngay sau khi ông được đưa vào Bệnh viện trung tâm Zaporozhie. Huyết áp 230/120, rồi xuất huyết não, rồi lần thứ hai xuất huyết... Câu lạc bộ đã làm hết những gì có thể để cứu ông. Một máy bay chuyên cơ từ Kiev đã đưa những bác sĩ giỏi nhất nước và các thuốc men tốt nhất đến Zaporozhie. Nhưng cơ thể vị HLV (từng một lần phẫu thuật tim) không qua được tai họa lần này. Ông tắt thở lúc 20h35' giờ Kiev, hôm thứ hai.

Sáng hôm sau, Quốc hội Ukraina bắt đầu buổi họp thường kỳ bằng phút tưởng niệm vị HLV. Khi chiếc chuyên cơ AH-24 chở linh cữu Valery Lobanovsky trở về Kiev, nơi ông chào đời ngày 6/1/1939, các nhà thờ cổ kính của thành phố đã đồng loạt ngân chuông. Học trò của ông từ khắp nơi đang lần lượt trở về bên ông. Những chàng trai cường tráng, các hiệp sĩ từng tung hoành trên các sân cỏ châu Âu, nay đứng rung vai khóc nức nở. Những HLV nổi tiếng từ nhiều đội bóng về quỳ gối, nghiêng những mái đầu điểm bạc gọi tên thày Valery Vasilevich...
16/5, linh cữu Lobanovsky sẽ được đặt chính giữa sân cỏ tại vận động trường Dinamo. Hàng trăm nghìn người sẽ đến đây tiễn biệt ông lần cuối.(ST)
 
Back
Top