ПРЕДСКАЗАНИЕ БУДУЩЕГО. DỰ BÁO TƯƠNG LAI.
Гадание по Книге Перемен
Giải đoán theo Kinh Dịch
Китайская Книга перемен - вы наверняка сталкиваетесь с ней уже не в первый раз. Без сомнения, либо вы сами, либо ваши знакомые уже слышали об этом гадании, а возможно, успели даже освоить одну из предлагаемых методик. В отличие от привычных нам европейских систем, Книга перемен - отнюдь не карточное гадание. Она представлена шестьюдесятью четырьмя гексаграммами, каждая из которых отражает ситуацию, связанную с прошлым, настоящим или будущим человека.
Kinh Dịch Trung hoa – có lẽ quý vị đã tiếp xúc với nó không phải là lần thứ nhất. Không nghi ngờ rằng, hoặc chính quý vị, hoặc những người thân quen của quý vị đã nghe về việc giải đoán này, mà cũng có thể, đã biết một trong những cách giải đoán của Kinh Dịch. Khác với những hệ thống quen thuộc của Âu châu, Kinh Dịch – không phải giải đoán bằng những lá bài. Nó bao gồm 64 quẻ kép 6 vạch, mỗi quẻ này biểu thị cho một tình huống, liên quan với quá khứ, hiện tại hoặc tương lai của con người.
Представляется довольно затруднительным ответить на вопрос, когда был создан первый текст. Самое раннее упоминание о книге относится к 672 г. до н. э.
Каждая гексаграмма (фигура из шести знаков) состоит из двух триграмм (трехзначных фигур). Вот эти триграммы (см. Рис. 1):
Thật khó phải trả lời câu hỏi, những lời kinh được đặt ra khi nào. Tài liệu lưu lại sớm nhất về cuốn kinh này được ghi nhận khoảng năm 672 trước CN.
Mỗi quẻ kép (hình tượng gồm 6 vạch) được tạo ra bởi hai quẻ đơn (hình tượng gồm 3 vạch). Sau đây là những quẻ đơn (xem Hình 1):
1. ЦЯНЬ (творчество), свойство - крепость, образ - небо;
2. ДУЙ (разрешение), радостность, водоем;
3. ЛИ (сцепление), ясность, огонь;
4. ЧЖЕНЬ (возбуждение), подвижность, гром;
5. СЮНЬ (утончение), проникновенность, ветер (дерево);
6. КАНЬ (погружение), опасность, вода;
7. ГЭНЬ (пребывание), незыблемость, гора;
8. КУНЬ (исполнение), самоотдача, земля.
1. CÀN (Sáng tạo), Tính cách - Cứng mạnh, Tượng - Trời.
2. ĐOÀI (Giải pháp), Tính cách – Vui vẻ, Tượng – Ao đầm.
3. LY (Liên kết), Tính cách – Tráng lệ, Tượng - Lửa.
4. CHẤN (Kích động), Tính cách – Linh động, Tượng - Sấm.
5. TỐN (Tinh tế), Tính cách - Thuận nhập, Tượng – Gió (Cây).
6. KHẢM (Chìm đắm), Tính cách – Hãm hiểm, Tượng - Nước.
7. CẤN (Chấp chính), Tính cách – Ngưng nghỉ, Tượng – Núi.
8. KHÔN (Thừa hành), Tính cách – Hiền thuận, Tượng - Đất.
Chú giải:
1. Những bậc đại nho ở Trung hoa, thời thượng cổ tới thời trung cổ, đều khẳng định là Kinh Dịch đã xuất hiện từ đời vua Phục Hy, còn gọi là Bào Hy, Thái Cao hoặc Thái Hạo, một vị vua “thần thoại” trong lịch sử cổ đại, chẳng rõ là cách nay mấy ngàn hay mấy chục ngàn năm (có thuyết cho là 2852 – 2737 trước CN). Vua Phục Hy dạy dân chăn nuôi súc vật, giăng lưới bắt cá, cày ruộng trồng lúa, đặt phép dựng vợ gả chồng…
Lúc đó, trên sông Hoàng hà có con Long Mã hiện hình, lưng nó có 55 vệt xoáy đen và trắng sắp xếp thành từng đám từ số 1 tới số 10, ấy là Hà Đồ.
Vua Phục hy coi vào những xoáy đó, hốt nhiên hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ. Ngài đem những lẽ đó lập ra Tiên thiên Bát quái. Đầu tiên ngài vạch một nét liền, là vạch lẻ, biểu tượng cho khí Dương, kế đó ngài vạch một nét đứt, là vạch chẵn, biểu tượng cho khí Âm. Hai cái vạch chẵn lẻ đó gọi là Lưỡng Nghi. Trên mỗi Nghi lại thêm một cái nét khác, thành ra bốn cái hai vạch, gọi là Tứ Tượng. Trên mỗi Tượng lại thêm một vạch nữa, thành ra tám cái ba vạch, đó là Bát Quái, (tám quẻ).
2. Vua Đại Vũ, cháu sau nhiều đời của vua Hoàng Đế, là con của ông Cổn, giữ chức Tư không thời vua Nghiêu, vua Thuấn, sau nối vua Thuấn mà lên làm vua (khoảng 2205 – 2198 trước CN). Truyền rằng vào thời đó có nạn lũ lụt rất lớn, ngài bôn ba trị thủy khắp thiên hạ, qua ngõ chẳng bước chân vào nhà, khơi thông luồng lạch từ ruộng đồng ra tới sông, từ sông ra tới biển, vất vả cam go, ngày đêm lặn lội, khó nhọc trải 13 năm trường mới hoàn thành.
Khi ngài khơi dòng sông Lạc, có con Linh Quy hiện lên, trên lưng có 45 cái vằn, sắp xếp thành từng đám từ số 1 tới số 9, ấy là Lạc Thư.
Vua Đại Vũ nhân đó sắp xếp Cửu Trù, liên quan đến luân thường đạo lý trong trời đất, bao quát cả vũ trụ lẫn nhân sinh.
Từ đời vua Phục Hy, Kinh Dịch cũng chỉ là những tập hơp vạch liền, vạch đứt, chưa có tên hiệu cũng như chữ nghĩa giải thích gì cả.
3. Vua Chu Văn vương, dòng dõi của Đế Cốc, nối nghiệp vua cha trở thành Tây Bá (khoảng 1185 – 1135 trước CN). Vua Trụ nghi ngờ ngài, bèn giam ngài ở ngục Dữu lý (khoảng 1144 – 1141 trước CN). Tuy rất lo buồn, nhưng ngài đã nhân thời gian trống trong ngục mà xem xét lại tám quẻ của vua Phục Hy, dựa theo Lạc Thư, Hà Đồ để lập ra Hậu thiên Bát quái: đem các quẻ đơn (3 vạch) để quẻ này chồng lên quẻ kia, biến hóa khôn lường, thành ra 64 quẻ kép (6 vạch), rồi ngài lại đặt tên và diễn giải cho từng quẻ để biết được cụ thể lành dữ cả quẻ ra sao. Lời diễn giải đó gọi là Thoán Từ
4. Con trai thứ của vua Chu Văn vương là Chu công Đán đã giúp anh là vua Chu Võ vương đánh bại vua Trụ, tiêu diệt Nhà Ân, lập ra Nhà Chu. Sau khi Chu Võ vương mất, ngài lại trực tiếp giúp cho cháu là vua Chu Thành vương giữ gìn được cơ đồ còn đang non trẻ. Ngài thân chinh đánh dẹp khắp nơi, san định lễ nhạc, sắp xếp quan chế…có công lao rất lớn củng cố và phát triển Nhà Chu (Ngài mất khoảng năm 1096 trước CN). Ngài tiếp tục công việc san định lại “Kinh Dịch” mà vua cha đã khởi xuất. Ngài phân tích mỗi quẻ kép gồm 6 vạch, ấy chính là 6 phần riêng biệt mà tương hỗ với nhau, gọi là 6 hào. Ngài đặt lời dưới mỗi hào để nói về sự lành dữ của hào. Lời diễn giải đó gọi là Hào Từ.
5. Truyền lại rằng, quan Thái bốc (chuyên lo về việc xem bói) của triều đình Nhà Chu lúc đó có tới 3 bản Kinh Dịch:
Liên Sơn Dịch: Kinh Dịch của Nhà Hạ (2205 – 1766 trước CN), nói đạo Dịch như mây trong núi bốc ra, liên miên không bao giờ dứt, nên quẻ đầu tiên là quẻ Cấn (Cấn là tượng Núi).
Quy Tàng Dịch: Kinh Dịch của Nhà Thương (1766 – 1387 trước CN) và Nhà Ân (1387 – 1122 trước CN), nói vạn vật không có gì lại không trở về đất, nên quẻ đầu tiên là quẻ Khôn (Khôn là tượng Đất).
Chu Dịch: Kinh Dịch của Nhà Chu (1122 – 250 trước CN), nói đạo Dịch luân chuyển, biến hóa không ngừng, bao trùm khắp nơi, không khi nào thiếu, nên quẻ đầu tiên là quẻ Càn (Càn là tượng Trời).
Kinh Dịch mà hiện nay ở Trung hoa và toàn thế giới đang nghiên cứu, ấy là Chu Dịch. Hai cuốn Dịch kia thất truyền đã lâu, không tìm lại được.
6. Đức Khổng phu tử, dòng dõi vua Thành Thang thời thượng cổ, là người khởi phát Nho giáo, có ảnh hưởng toàn diện đến Trung hoa và các nước chịu ảnh hưởng của Trung hoa suốt nhiều thế kỷ cho tới hiện thời. Tiên tổ ngài trước ở nước Tống, nhân loạn mà di sang nước Lỗ. Ngài tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni (551 – 479 trước CN). Ngài thông minh, ôn hòa, luôn luôn khiêm tốn, hiếu học, nghiêm trang, làm việc hết sức cẩn trọng, đề cao lễ nhạc, tin vào thiên mệnh, thành kính trong việc tế tự. Ngài mở trường dạy học, truyền bá đạo trung chính, học trò nhiều như mây. Ngài san định sách, sử của cổ nhân, biên chép những việc của Nhà Chu. Sách ngài san định có 6 bộ, gọi là Lục Kinh, trong đó có bộ Chu Dịch.
Khi nghiên cứu Kinh Dịch, ngài nhận thấy Thoán Từ, Hào Từ đều quá vắn tắt, giản dị mà tư tưởng truyền thụ lại quá uyên thâm, ảo bí. Do đó, ngài trực tiếp soạn thêm: Thoán truyện - Chú thích những lời kinh của Chu Văn vương (2 thiên), Tượng truyện - Chú thích hình tượng các quẻ và các hào (2 thiên), Hệ từ truyện - Nói về đại thể và phàm lệ của Kinh Dịch (2 thiên), Văn ngôn - Chú thích riêng cho 2 quẻ Càn và Khôn, Thuyết quái - Nói về đức nghiệp, pháp tượng cùng sự biến hóa của 8 quẻ đơn, Tự quái - Nói về thứ tự các quẻ, Tạp quái - Nói về những ý nghĩa tạp nhạp của các quẻ, mỗi thứ 1 thiên, cộng là 10 thiên, gọi là Thập Dực.
Sau này c1c bậc đại Nho vào thời Nhà Hán như Phí Trực, Trịnh Huyền…vào thời Nhà Tống như Trình Di, Chu Hy…đã sắp xếp lại văn bản Kinh Dịch theo nhiều cách khác nhau. Văn bản tạm gọi là chính thức của Kinh Dịch lưu truyền tới bây giờ gồm những phần như sau:
64 quẻ kép 6 vạch của vua Phục Hy.
Thoán từ cho 64 quẻ của vua Chu Văn vương.
Hào từ cho từng vạch trong quẻ (6 Hào từ) của ngài Chu công Đán.
Thập dực của Đức Khổng phu tử.
Гадание по Книге Перемен
Giải đoán theo Kinh Dịch
Китайская Книга перемен - вы наверняка сталкиваетесь с ней уже не в первый раз. Без сомнения, либо вы сами, либо ваши знакомые уже слышали об этом гадании, а возможно, успели даже освоить одну из предлагаемых методик. В отличие от привычных нам европейских систем, Книга перемен - отнюдь не карточное гадание. Она представлена шестьюдесятью четырьмя гексаграммами, каждая из которых отражает ситуацию, связанную с прошлым, настоящим или будущим человека.
Kinh Dịch Trung hoa – có lẽ quý vị đã tiếp xúc với nó không phải là lần thứ nhất. Không nghi ngờ rằng, hoặc chính quý vị, hoặc những người thân quen của quý vị đã nghe về việc giải đoán này, mà cũng có thể, đã biết một trong những cách giải đoán của Kinh Dịch. Khác với những hệ thống quen thuộc của Âu châu, Kinh Dịch – không phải giải đoán bằng những lá bài. Nó bao gồm 64 quẻ kép 6 vạch, mỗi quẻ này biểu thị cho một tình huống, liên quan với quá khứ, hiện tại hoặc tương lai của con người.
Представляется довольно затруднительным ответить на вопрос, когда был создан первый текст. Самое раннее упоминание о книге относится к 672 г. до н. э.
Каждая гексаграмма (фигура из шести знаков) состоит из двух триграмм (трехзначных фигур). Вот эти триграммы (см. Рис. 1):
Thật khó phải trả lời câu hỏi, những lời kinh được đặt ra khi nào. Tài liệu lưu lại sớm nhất về cuốn kinh này được ghi nhận khoảng năm 672 trước CN.
Mỗi quẻ kép (hình tượng gồm 6 vạch) được tạo ra bởi hai quẻ đơn (hình tượng gồm 3 vạch). Sau đây là những quẻ đơn (xem Hình 1):
1. ЦЯНЬ (творчество), свойство - крепость, образ - небо;
2. ДУЙ (разрешение), радостность, водоем;
3. ЛИ (сцепление), ясность, огонь;
4. ЧЖЕНЬ (возбуждение), подвижность, гром;
5. СЮНЬ (утончение), проникновенность, ветер (дерево);
6. КАНЬ (погружение), опасность, вода;
7. ГЭНЬ (пребывание), незыблемость, гора;
8. КУНЬ (исполнение), самоотдача, земля.
1. CÀN (Sáng tạo), Tính cách - Cứng mạnh, Tượng - Trời.
2. ĐOÀI (Giải pháp), Tính cách – Vui vẻ, Tượng – Ao đầm.
3. LY (Liên kết), Tính cách – Tráng lệ, Tượng - Lửa.
4. CHẤN (Kích động), Tính cách – Linh động, Tượng - Sấm.
5. TỐN (Tinh tế), Tính cách - Thuận nhập, Tượng – Gió (Cây).
6. KHẢM (Chìm đắm), Tính cách – Hãm hiểm, Tượng - Nước.
7. CẤN (Chấp chính), Tính cách – Ngưng nghỉ, Tượng – Núi.
8. KHÔN (Thừa hành), Tính cách – Hiền thuận, Tượng - Đất.
Chú giải:
1. Những bậc đại nho ở Trung hoa, thời thượng cổ tới thời trung cổ, đều khẳng định là Kinh Dịch đã xuất hiện từ đời vua Phục Hy, còn gọi là Bào Hy, Thái Cao hoặc Thái Hạo, một vị vua “thần thoại” trong lịch sử cổ đại, chẳng rõ là cách nay mấy ngàn hay mấy chục ngàn năm (có thuyết cho là 2852 – 2737 trước CN). Vua Phục Hy dạy dân chăn nuôi súc vật, giăng lưới bắt cá, cày ruộng trồng lúa, đặt phép dựng vợ gả chồng…
Lúc đó, trên sông Hoàng hà có con Long Mã hiện hình, lưng nó có 55 vệt xoáy đen và trắng sắp xếp thành từng đám từ số 1 tới số 10, ấy là Hà Đồ.
Vua Phục hy coi vào những xoáy đó, hốt nhiên hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ. Ngài đem những lẽ đó lập ra Tiên thiên Bát quái. Đầu tiên ngài vạch một nét liền, là vạch lẻ, biểu tượng cho khí Dương, kế đó ngài vạch một nét đứt, là vạch chẵn, biểu tượng cho khí Âm. Hai cái vạch chẵn lẻ đó gọi là Lưỡng Nghi. Trên mỗi Nghi lại thêm một cái nét khác, thành ra bốn cái hai vạch, gọi là Tứ Tượng. Trên mỗi Tượng lại thêm một vạch nữa, thành ra tám cái ba vạch, đó là Bát Quái, (tám quẻ).
2. Vua Đại Vũ, cháu sau nhiều đời của vua Hoàng Đế, là con của ông Cổn, giữ chức Tư không thời vua Nghiêu, vua Thuấn, sau nối vua Thuấn mà lên làm vua (khoảng 2205 – 2198 trước CN). Truyền rằng vào thời đó có nạn lũ lụt rất lớn, ngài bôn ba trị thủy khắp thiên hạ, qua ngõ chẳng bước chân vào nhà, khơi thông luồng lạch từ ruộng đồng ra tới sông, từ sông ra tới biển, vất vả cam go, ngày đêm lặn lội, khó nhọc trải 13 năm trường mới hoàn thành.
Khi ngài khơi dòng sông Lạc, có con Linh Quy hiện lên, trên lưng có 45 cái vằn, sắp xếp thành từng đám từ số 1 tới số 9, ấy là Lạc Thư.
Vua Đại Vũ nhân đó sắp xếp Cửu Trù, liên quan đến luân thường đạo lý trong trời đất, bao quát cả vũ trụ lẫn nhân sinh.
Từ đời vua Phục Hy, Kinh Dịch cũng chỉ là những tập hơp vạch liền, vạch đứt, chưa có tên hiệu cũng như chữ nghĩa giải thích gì cả.
3. Vua Chu Văn vương, dòng dõi của Đế Cốc, nối nghiệp vua cha trở thành Tây Bá (khoảng 1185 – 1135 trước CN). Vua Trụ nghi ngờ ngài, bèn giam ngài ở ngục Dữu lý (khoảng 1144 – 1141 trước CN). Tuy rất lo buồn, nhưng ngài đã nhân thời gian trống trong ngục mà xem xét lại tám quẻ của vua Phục Hy, dựa theo Lạc Thư, Hà Đồ để lập ra Hậu thiên Bát quái: đem các quẻ đơn (3 vạch) để quẻ này chồng lên quẻ kia, biến hóa khôn lường, thành ra 64 quẻ kép (6 vạch), rồi ngài lại đặt tên và diễn giải cho từng quẻ để biết được cụ thể lành dữ cả quẻ ra sao. Lời diễn giải đó gọi là Thoán Từ
4. Con trai thứ của vua Chu Văn vương là Chu công Đán đã giúp anh là vua Chu Võ vương đánh bại vua Trụ, tiêu diệt Nhà Ân, lập ra Nhà Chu. Sau khi Chu Võ vương mất, ngài lại trực tiếp giúp cho cháu là vua Chu Thành vương giữ gìn được cơ đồ còn đang non trẻ. Ngài thân chinh đánh dẹp khắp nơi, san định lễ nhạc, sắp xếp quan chế…có công lao rất lớn củng cố và phát triển Nhà Chu (Ngài mất khoảng năm 1096 trước CN). Ngài tiếp tục công việc san định lại “Kinh Dịch” mà vua cha đã khởi xuất. Ngài phân tích mỗi quẻ kép gồm 6 vạch, ấy chính là 6 phần riêng biệt mà tương hỗ với nhau, gọi là 6 hào. Ngài đặt lời dưới mỗi hào để nói về sự lành dữ của hào. Lời diễn giải đó gọi là Hào Từ.
5. Truyền lại rằng, quan Thái bốc (chuyên lo về việc xem bói) của triều đình Nhà Chu lúc đó có tới 3 bản Kinh Dịch:
Liên Sơn Dịch: Kinh Dịch của Nhà Hạ (2205 – 1766 trước CN), nói đạo Dịch như mây trong núi bốc ra, liên miên không bao giờ dứt, nên quẻ đầu tiên là quẻ Cấn (Cấn là tượng Núi).
Quy Tàng Dịch: Kinh Dịch của Nhà Thương (1766 – 1387 trước CN) và Nhà Ân (1387 – 1122 trước CN), nói vạn vật không có gì lại không trở về đất, nên quẻ đầu tiên là quẻ Khôn (Khôn là tượng Đất).
Chu Dịch: Kinh Dịch của Nhà Chu (1122 – 250 trước CN), nói đạo Dịch luân chuyển, biến hóa không ngừng, bao trùm khắp nơi, không khi nào thiếu, nên quẻ đầu tiên là quẻ Càn (Càn là tượng Trời).
Kinh Dịch mà hiện nay ở Trung hoa và toàn thế giới đang nghiên cứu, ấy là Chu Dịch. Hai cuốn Dịch kia thất truyền đã lâu, không tìm lại được.
6. Đức Khổng phu tử, dòng dõi vua Thành Thang thời thượng cổ, là người khởi phát Nho giáo, có ảnh hưởng toàn diện đến Trung hoa và các nước chịu ảnh hưởng của Trung hoa suốt nhiều thế kỷ cho tới hiện thời. Tiên tổ ngài trước ở nước Tống, nhân loạn mà di sang nước Lỗ. Ngài tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni (551 – 479 trước CN). Ngài thông minh, ôn hòa, luôn luôn khiêm tốn, hiếu học, nghiêm trang, làm việc hết sức cẩn trọng, đề cao lễ nhạc, tin vào thiên mệnh, thành kính trong việc tế tự. Ngài mở trường dạy học, truyền bá đạo trung chính, học trò nhiều như mây. Ngài san định sách, sử của cổ nhân, biên chép những việc của Nhà Chu. Sách ngài san định có 6 bộ, gọi là Lục Kinh, trong đó có bộ Chu Dịch.
Khi nghiên cứu Kinh Dịch, ngài nhận thấy Thoán Từ, Hào Từ đều quá vắn tắt, giản dị mà tư tưởng truyền thụ lại quá uyên thâm, ảo bí. Do đó, ngài trực tiếp soạn thêm: Thoán truyện - Chú thích những lời kinh của Chu Văn vương (2 thiên), Tượng truyện - Chú thích hình tượng các quẻ và các hào (2 thiên), Hệ từ truyện - Nói về đại thể và phàm lệ của Kinh Dịch (2 thiên), Văn ngôn - Chú thích riêng cho 2 quẻ Càn và Khôn, Thuyết quái - Nói về đức nghiệp, pháp tượng cùng sự biến hóa của 8 quẻ đơn, Tự quái - Nói về thứ tự các quẻ, Tạp quái - Nói về những ý nghĩa tạp nhạp của các quẻ, mỗi thứ 1 thiên, cộng là 10 thiên, gọi là Thập Dực.
Sau này c1c bậc đại Nho vào thời Nhà Hán như Phí Trực, Trịnh Huyền…vào thời Nhà Tống như Trình Di, Chu Hy…đã sắp xếp lại văn bản Kinh Dịch theo nhiều cách khác nhau. Văn bản tạm gọi là chính thức của Kinh Dịch lưu truyền tới bây giờ gồm những phần như sau:
64 quẻ kép 6 vạch của vua Phục Hy.
Thoán từ cho 64 quẻ của vua Chu Văn vương.
Hào từ cho từng vạch trong quẻ (6 Hào từ) của ngài Chu công Đán.
Thập dực của Đức Khổng phu tử.