Xin tuân lệnh bác Hungmgm, vi post thơ dịch lên đây chỉ có lợi thôi. Có thể được các cao thủ sửa giúp vài ba câu hoặc chữ, chí ít cũng có được những độc giả quan tâm. Nhưng các bài GEOBIC tung lên lần này hơi xương đối với người đọc, v ì dài tới vài “con dao quăng”.
Tamara
Từ đáy sâu hẻm núi tối đen
Vang vọng tiếng dòng Terec đổ
Ở nơi đó có một toà tháp cổ
Bóng đen trùm trên tảng đá màu đêm.
Toà tháp nhỏ và ngất ngư cao ấy
Chính là nhà nữ chúa Tamara,
Nàng đẹp xinh như thể tiên sa
Và giảo quyệt bạo tàn như ác quỷ,
Xuyên màn sương, lúc trời xẩm tối,
Toà tháp toả ra ánh lửa rực vàng;
Thoáng thấy từ xa, lữ khách đã mơ màng
Bị cuốn hút, sau chặng đường mệt mỏi
Từ trong tháp vang ra giọng nói
Đầy quyền uy và sức mạnh vô biên:
Vừa quyến rũ, không sao tả nổi,
Vừa nồng nàn, say đắm, dịu êm
Từng đến đây mong tá túc qua đêm
Chàng lính trẻ, gã mục đồng, bác lái...
Đón họ - lão hoạn quan mặt mày u tối
Mở cánh cửa ra, rồi lặng lẽ khép liền.
Trên chăn nệm tuyết nhung êm ái
Nữ chủ nhân trong gấm vóc, ngọc ngà
Nàng đợi chờ vị khách đường xa...
Hai ly rượu sủi tăm đà rót sẵn
Riết chặt nhau những cánh tay nồng ấm
Những vành môi dán chặt vành môi
Rồi những âm thanh hoang dại, hụt hơi
Suốt đêm tối phát ra từ nơi ấy
Tưởng như trong toà tháp cao trống rỗng,
Có hàng trăm cặp trai gái, đêm nay
Vừa đến vui chung tiệc cưới cuồng say,
Vừa đau khổ tiễn đưa nhau lần cuối.
Rồi khi ánh bình minh buổi sáng
Vừa chiếu lên những ngọn núi ngất ngây
Thì lập tức bóng đen và tĩnh lặng
Lại lên ngôi ngự trị chốn này
Chỉ còn tiếng réo sôi dòng Terec
Phá tan tĩnh lặng chốn rừng xanh
Sóng từng đợt xô trắng bờ ghềnh thác
Đuổi theo nhau vật vã, vỡ tan tành...
Cùng tiếng than, chúng vội cuốn đi nhanh
Cái thi thể lặng câm đang chìm nổi;
Trong khung cửa sổ mờ khi đó hiện lên
Một bóng trắng, lời nghẹn ngào: Thứ lỗi!
Và cứ thế qua đi cuộc chia li lặng lẽ
Và cứ thế vang ngân giọng nói dịu êm
Như thể chốn này mãi là nơi hứa hẹn
Những cuộc hẹn hò say đắm, thần tiên...
1841
ТАМАРА
В глубокой теснине Дарьяла,
Где роется Терек во мгле,
Старинная башня стояла,
Чернея на черной скале.
В той башне высокой и тесной
Царица Тамара жила:
Прекрасна, как ангел небесный,
Как демон, коварна и зла.
И там сквозь туман полуночи
Блистал огонек золотой,
Кидался он путнику в очи,
Манил он на отдых ночной.
И слышался голос Тамары:
Он весь был желанье и страсть,
В нем были всесильные чары,
Была непонятная власть.
На голос невидимой пери
Шел воин, купец и пастух:
Пред ним отворялися двери,
Встречал его мрачный евнух.
На мягкой пуховой постели,
В парчу и жемчуг убрана,
Ждала она гостя... Шипели
Пред нею два кубка вина.
Сплетались горячие руки,
Уста прилипали к устам,
И странные, дикие звуки
Всю ночь раздавалися там.
Как будто в ту башню пустую
Сто юношей пылких и жен
Сошлися на свадьбу ночную,
На тризну больших похорон.
Но только что утра сиянье
Кидало свой луч по горам,
Мгновенно и мрак и молчанье
Опять воцарялися там.
Лишь Терек в теснине Дарьяла,
Гремя, нарушал тишину;
Волна на волну набегала,
Волна погоняла волну;
И с плачем безгласное тело
Спешили они унести;
В окне тогда что-то белело,
Звучало оттуда: прости.
И было так нежно прощанье,
Так сладко тот голос звучал,
Как будто восторги свиданья
И ласки любви обещал.
* * *
Trên đỉnh núi trụi trơ phương bắc
Có một chàng thông đứng cô đơn,
Tuyết phủ vai như một tấm dạ sờn,
Chàng thiếp ngủ, thân cành khẽ lắc.
Chàng mơ chốn xa xăm hoang mạc,
Nơi mỗi ngày rực rỡ mặt trời lên,
Trên mỏm đá nóng ran, buồn man mác
Có một nàng cọ mọc, đẹp như tiên.
1841
* * *
На севере диком стоит одиноко
На голой вершине сосна
И дремлет, качаясь, и снегом сыпучим
Одета, как ризой, она.
И снится ей все, что в пустыне далекой,
В том крае, где солнца восход,
Одна и грустна на утесе горючем
Прекрасная пальма растет.
Cái chết của nhà thơ
Người chết rồi, Nhà Thơ! - chết vì danh dự -
Chết trong oan nghiệt những lời đồn,
Đã gục xuống mái đầu từng ngẩng cao kiêu hãnh,
Viên đạn trong tim và khát vọng rửa hờn…
Hồn nhà thơ trắng trong không chứa nổi
Nỗi nhục ê chề trong lời xúc phạm nhỏ nhen,
Và, chống lại cường quyền, Người đã đứng lên,
Chỉ một mình, như trước… và bị giết!
Người đã chết! Nhưng những lời thổn thức,
Khúc tụng ca rỗng tuyếch lại vang lên,
Bọn sát nhân còn biện bạch đê hèn.
Khi bản án số mệnh Người đã xử.
Không phải các ngươi thì còn ai nữa
Rắp tâm đuổi xua tự do, bất khuất của thiên tài?
Và các ngươi không ngần ngại mua vui
Bằng trò thổi bùng đám lửa dần tàn lụi.
Vậy thì hãy vui đi…, giờ là cơ hội
Nhà thơ không chịu nổi nỗi đau tột cùng:
Đã tàn rồi khối thiên tài tựa đuốc sáng trưng,
Đã héo úa một vòng hoa lộng lẫy.
Kẻ sát nhân đã ra đòn vậy:
Khẩu súng trong tay hắn chẳng hề rung,
Người đã ngã rồi, giờ cứu chữa vô phương,
Trái tim hắn trống hoang vẫn đều nhịp đập.
Nhưng, có gì lạ ư?… Hắn từ xa tắp,
Giống hàng trăm tên đào tẩu đó đây,
Mong kiếm chút vinh hoa và sự đủ đầy,
Hắn bổ đến chúng ta như số kiếp,
Tập quán, ngữ ngôn xứ này hắn đều bất chấp,
Chẳng đoái hoài tới niềm kiêu hãnh của chúng ta;
Chẳng hiểu được trong phút giây bi thảm vừa qua
Súng hắn đã nhằm bắn vào chi nữa!…
Người đã chết - đã nằm sâu dưới mộ
Như chàng ca sỹ nọ đáng thương, -
Từng là con mồi của thói mù quáng ghen tuông,
Từng được Người ngợi ca bằng tài thơ trời phú,
Và như Người, chàng ngã dưới vuốt nanh bầy thú.
Cớ sao Người lánh xa niềm vui thanh bình, tình thân chất phác
Để bước vào thế giới đầy những tỵ hiềm, ngột ngạt
Trong khi trái tim Người cháy bừng khát vọng tự do?
Cớ sao Người dễ dàng đưa tay cho
Những kẻ đặt điều kém cỏi?
Sao Người lại tin lời ngọt ngào giả dối,
Khi từ thuở thiếu thời Người đã thấu hiểu nhân tâm?…
Chúng tháo vòng hoa trên đầu Người, thay bằng vòng khác -
Vòng mận gai có nguyệt quế quấn quanh
Những chiếc gai nhọn hoắt đã ngấm ngầm
Và tàn bạo chích châm vầng trán rạng.
Những giây phút cuối của Người bị dập vùi cay đắng
Bị đầu độc bởi lời xì xầm giễu cợt, xuẩn ngu
Người đã chết trong khát khao vô vọng trả thù,
Và hy vọng bị dối lừa – nỗi đau thầm lặng.
Đã bặt rồi những thanh âm của bài ca hùng tráng.
Chúng đâu còn được vang ngân:
Nơi ẩn mới của Nhà Thơ chật hẹp, u buồn
Đôi môi Người từ nay đã khép.
Còn các ngươi, lũ hậu duệ kiêu căng,
Của đám cha ông ti tiện, nhố nhăng,
Những mảnh vụn ghép từ gót chân nô lệ,
Từ trò cợt đùa trên hạnh phúc của những người lép vế.
Các ngươi, lũ tham lam chen chúc bên ngai,
Lũ đồ tể giết Tự do, Danh dự, Thiên tài!
Các ngươi, nấp dưới bóng triều đình, luật pháp,
Để bức lặng câm công lý và sự thật!
Nhưng, còn toà án của Chúa Trời, hỡi bè lũ xấu xa, xấc xược,
Toà án Kinh Hoàng đang đón đợi các ngươi
Toà án ấy trước tiếng vàng không mảy may rung động
Nhưng lại hiểu sâu xa ý nghĩ, việc đời.
Khi đó các ngươi có đặt điều nói xấu cũng uổng thôi:
Điều đó chẳng còn giúp gì được nữa,
Dùng tất cả máu đen trong tim mình chất chứa
Các ngươi rửa làm sao dòng máu đỏ chính nghĩa của Nhà Thơ!
1837
СМЕРТЬ ПОЭТА
Погиб Поэт! -- невольник чести --
Пал. оклеветанный молвой,
С свинцом в груди и жаждой мести,
Поникнув гордой головой!..
Не вынесла душа Поэта
Позора мелочных обид,
Восстал он против мнений света
Один, как прежде... и убит!
Убит!., к чему теперь рыданья,
Пустых похвал ненужный хор
И жалкий лепет оправданья?
'Судьбы свершился приговор!
Не вы ль сперва так злобно гнали
Его свободный, смелый дар
И для потехи раздували
Чуть затаившийся пожар?
Что ж? веселитесь... он мучений
Последних вынести не мог:
Угас, как светоч, дивный гений,
Увял торжественный венок.
Его убийца хладнокровно
Навел удар... спасенья нет:
Пустое сердце бьется ровно,
В руке не дрогнул пистолет.
И что за диво?., издалека,
Подобный сотням беглецов,
На ловлю счастья и чинов
Заброшен к нам по воле рока;
Смеясь, он дерзко презирал
Земли чужой язык и нравы;
Не мог щадить он нашей славы;
Не мог понять в сей миг кровавый,
На что он руку поднимал!..
И он убит -- и взят могилой,
Как тот певец, неведомый, но милый,
Добыча ревности глухой,
Воспетый им с такою чудной силой,
Сраженный, как и он, безжалостной рукой.
Зачем от мирных нег и дружбы простодушной
Вступил он в этот свет завистливый и душный
Для сердца вольного и пламенных страстей?
Зачем он руку дал клеветникам ничтожным,
Зачем поверил он словам и ласкам ложным,
Он, с юных лет постигнувший людей?..
И прежний сняв венок -- они венец терновый,,
Увитый лаврами, надели на него:
Но иглы тайные сурово
Язвили славное чело;
Отравлены его последние мгновенья
Коварным шепотом насмешливых невежд,
И умер он -- с напрасной жаждой мщенья,
С досадой тайною обманутых надежд.
Замолкли звуки чудных песен,
Не раздаваться им опять:
Приют певца угрюм и тесен,
И на устах его печать.
А вы, надменные потомки
Известной подлостью прославленных отцов,
Пятою рабскою поправшие обломки
Игрою счастия обиженных родов!
Вы, жадною толпой стоящие у трона,
Свободы, Гения и Славы палачи!
Таитесь вы под сению закона,
Пред вами суд и правда -- все молчи!..
Но есть и божий суд, наперсники разврата!
Есть грозный суд: он ждет;
Он не доступен звону злата,
И мысли и дела он знает наперед.
Тогда напрасно вы прибегнете к злословью:
Оно вам не поможет вновь,
И вы не смоете всей вашей черной кровью
Поэта праведную кровь!
Cây thánh giá trên mỏm đá
Gửi cô Souchkoff
Trong một hẻm Kapkaz, trên mỏm đá,
Nơi chỉ đại bàng bay tới được thôi,
Liêu xiêu đứng một cây thánh giá,
Gỗ mục đen trong bão dập mưa vùi.
Bao năm tháng trôi qua không dấu vết
Từ khi người ta thấy nó buổi đầu tiên,
Mỗi cánh tay của nó vươn lên
Như muốn vít những đám mây trời xuống.
Ôi, giá như có thể leo tới được,
Hẳn tôi sẽ nguyện cầu và sẽ khóc than,
Sau đó - trút đi bụi bặm trần gian,
Tôi đánh bạn cùng bão giông, sấm chớp.
1830
КРЕСТ НА СКАЛЕ
(M-lle Souchkoff)
В теснине Кавказа я знаю скалу,
Туда долететь лишь степному орлу,
Но крест деревянный чернеет над ней,
Гниет он и гнется от бурь и дождей.
И много уж лет протекло без следов
С тех пор, как он виден с далеких холмов.
И каждая кверху подъята рука,
Как будто он хочет схватить облака.
О, если б взойти удалось мне туда,
Как я бы молился и плакал тогда;
И после я сбросил бы цепь бытия,
И с бурею братом назвался бы я!
____________________________
Cảm ơn mọi sự góp ý.