Người đàn bà xa lạ - các truyện ngắn của PHM

Thầy Tuấn
(15/11/2004)

Chuyện này có thật 100%, tên người và các sự kiện hoàn toàn như ở ngoài đời, tôi xin chép lại kính tặng các thầy các cô giáo nhân dịp Ngày nhà giáo 20/11 sắp đến.

Thầy chủ nhiệm lớp 7 của tôi là một người đặc biệt. Hồi còn học thầy, chúng tôi đã thấy thầy đặc biệt, mãi sau này mới biết hết được những cái đặc biệt của thầy.
Thầy dạy văn, đẹp trai, hát hay, yêu trò. Những cái này cũng chưa có gì đặc biệt phải không?

Đặc biệt thứ nhất là thầy rất giỏi Judo, mặc dù trông bề ngoài thầy thư sinh mảnh dẻ. Đối với trẻ con, ai giỏi võ là “siêu nhân” rồi! Cái đặc biệt thứ hai là thầy học giỏi nhưng không được vào đại học, tốt nghiệp trung cấp về dạy cấp hai. Nhưng nếu thầy không dạy cấp hai thì làm sao tôi có thể thành học trò của thầy được?

Thầy tên là Vũ Hoàng Tuấn. Chúng tôi nghe mang máng đâu thầy có cha chú gì đó di cư vào Nam và rất phản động. Căn cứ họ tên thầy chúng tôi đoán ông có liên hệ huyết thống với Vũ Hoàng Chương - một nhà thơ phản động. Ấy là người lớn bảo thế thì chúng tôi biết vậy, chứ khi tôi cắp sách đến trường thì ông Vũ Hoàng Chương đã không còn ở miền Bắc, các thi phẩm của ông tôi không được đọc. Tôi chỉ nhớ trên báo Văn nghệ có một bài (tôi đọc ké báo của bố tôi để trên bàn làm việc) phê phán câu thơ “Lũ chúng ta sinh ra lầm thời đại” của Vũ thi sỹ (tôi chép lại theo trí nhớ, không biết có chính xác không?) là “đã được sinh ra vào thời đại hào hùng này mà lại viết nhầm thời đại, quả là phản động”.

Có người lại nói thầy là con trai nhà văn Vũ Bằng – nguyên mẫu của nhân vật Hoàng “Tiên sư anh Tào Tháo!” trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Nhà văn Vũ Bằng nhảy vào Nam trước khi quân ta về giải phóng Thủ Đô.

Hồi học cấp ba thỉnh thoảng tôi còn đến nhà thăm thầy. Nhưng những năm học dài đằng đẵng ở nước ngoài làm tôi hoàn toàn mất liên lạc với thầy. Khi về nước tôi được bạn bè cho biết thầy lấy bạn Thưởng học cùng lớp với tôi. Chả hiểu vì sao tôi đâm ra không ưa thầy, có thể vì tâm lý trẻ con không khoái mấy vụ thầy giáo lấy học sinh chăng?

Khoảng thời gian sau giải phóng miền Nam đất nước ta còn nhiều khó khăn, tôi phải “kiếm thêm” bằng nghề chữa TV. Một lần mẹ tôi bảo tôi đến sửa TV cho một người quen đang bán thực phẩm mậu dịch ở chợ Hàng Da (thời đó quen được người bán gạo và bán thực phẩn là …ra vấn đề lắm!), tôi cắp túi đồ nghề mò đến địa chỉ mẹ tôi ghi ra mẩu giấy. Tính đãng trí “cháu học” của tôi đã không cho phép tôi nhận ra cái cầu thang bằng gỗ lim dẫn lên tầng hai một ngôi nhà số lẻ phố Hàng Da. Người ra mở cửa cho tôi là …thầy Tuấn! Thầy ngỡ ngàng, cảm động đến cuống cả chân tay. Phải mươi lăm giây sau thầy mới định thần, kéo tôi vào giới thiệu với mấy chục đứa học trò “đương thời” của thầy:
- Thầy xin giới thiệu với các em đây là anh Th., một người học trò cũ của thầy mưòi lăm năm về trước, hôm nay cũng nhớ ngày 20/11 đến thăm thầy!
Bọn trẻ con trố mắt nhìn mẫu vật sống của tình thầy trò là tôi đây đang đứng như trời trồng trước mặt chúng, còn tôi thì nhìn xuống mấy khe nứt trên sàn nhà gỗ lim để tìm cách …lặn!

Chuyện nào rồi cũng qua đi, chỉ có cái TV nhà thầy là chịu thiệt. Mấy hôm sau tôi phải van vỉ một người bạn đến giúp sửa cho thầy, chứ tôi thì không dám vác mặt đến nữa.

Ít lâu sau gia đình thầy chuyển vào Sài gòn sinh sống và tôi lại mất liên lạc với thầy.., tuy trong lòng luôn không nguôi ngoai cái kỷ niệm dở hơi về chuyện “đến thăm thầy cũ ngày 20/11”.

Cách đây mấy năm, ngồi trên máy bay tôi tình cờ đọc được bài báo “Nhà văn Vũ Bằng - người chiến sỹ tình báo” trên tờ ANTG tôi mới biết thầy Tuấn là người con cả của cụ Vũ Bằng và biết địa chỉ liên hệ với gia đình cố nhà văn ở Tp. HCM.

Sau hàng chục cú điện thoại tôi mới mò ra địa chỉ của thầy vì trên ANTG ghi địa chỉ người con bà vợ sau của cụ Vũ Bằng. Mò mẫm tìm ra căn nhà nằm sâu trong con hẻm cuối đường Nguyễn Kiệm, tôi rất đỗi xúc động khi thầy Tuấn nhận ra tôi ngay, nắm chặt tay tôi kéo vào nhà. Căn nhà bình dị như đa số các căn nhà người dân bình thường ở Sài gòn, chỉ có thầy già đi nhiều, béo và đen (ai sống ở Sài gòn rồi chẳng đen?). Vợ thầy, bạn Thưởng của tôi thì không còn nhận ra tôi nữa, rót nước mời khách của chồng rồi tế nhị rút lên lầu.

- Làm sao em biết được địa chỉ của thầy? Thầy không dấu vẻ ngạc nhiên, mặc dù thầy thừa biết câu “Ai tìm người đó thấy” ngày xưa thầy từng dạy chúng tôi.
- Báo An ninh Thế giới ạ.

Chúng tôi nói nhiều về bạn bè trong lớp tôi - những học trò từ năm 1962 của thầy, ai còn ai mất, ai hiện nay làm gì. Tôi không ngờ thầy nhớ đầy đủ gần 50 mống chúng tôi, trong khi tôi chỉ còn mang máng nhớ chưa được chục tên.

Thầy mở tủ lạnh lấy ra hai chai 333, rót vào hai cái ly thuỷ tinh rẻ tiền. Tôi rụt rè:
- Thưa thầy, bác sỹ khuyên em không dùng bia rượu.
- Goute à? Tôi cũng bị, nhưng ta chỉ uống mỗi người một chai thôi. Thầy cười vui vẻ. Mấy khi thầy trò mình gặp nhau!

Tôi lái câu chuyện về nhà văn Vũ Bằng, thầy kể tôi nghe nhiều chi tiết mà ANTG chưa viết hết. Giọng thầy buồn buồn:
- Ở trong này lâu thầy mới thấm “Thương nhớ mười hai” của cụ, nhiều khi nhớ Hà nội đến nẫu ruột em ạ. Đấy là mình còn có khả năng mỗi năm ra Hà nội một lần, chứ cụ thì chỉ biết nhớ mà thôi.
Tôi xin phép thắp hương cho cụ rồi lúng túng hỏi:
- Thầy có nguyện vọng nào cần giải quyết không, trong phạm vi khả năng của em, em sẽ rất vui được giúp thầy. (Tôi vẫn không quên vụ “sửa TV” ngày nào).
- Thầy rất muốn THVN làm một phóng sự về bố thầy – nhà văn Vũ Bằng. Người đời biết ít về cụ quá.

Tôi nhận ra sau cặp kính cận của thầy một nỗi buồn dai dẳng hơn nửa thế kỷ của con trai người chiến sỹ tình báo mà vì sự nghiệp chung, người con trai này đã lặng lẽ chịu nhiều hy sinh mất mát. “Trả lại tên cho em” là một đòi hỏi chính đáng!
- Thưa thầy, em không dám hứa 100% nhưng em có nhiều bạn làm ở THVN, em nghĩ là em có thể tác động được.


Hai tháng sau, Đài THVN phát sóng chương trình nói về nhà văn Vũ Bằng - chiến sỹ tình báo. Trước đó thầy đã gọi điện cho tôi báo tin đoàn công tác của VTV đã vào Tp. HCM làm việc, đã ghi hình thầy và gia đình.

Thầy rất mãn nguyện, trong cái mãn nguyện chung có một phần là thầy rất vui được tôi - đứa học trò hư nhất lớp đến cuối đời cũng đền đáp được phần nào công ơn thầy dạy dỗ, công ơn thầy đã cùng người cha kính yêu của mình lặng lẽ hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Ấy vậy mà từ sau vụ THVN phát bài về cụ Vũ Bằng tôi chưa một lần gọi điện thăm thầy, tính tôi vẫn dở dở ương ương thế đấy!
Chắc thầy không đọc được bài viết này của em, nhưng thầy rất biết là bọn học sinh cũ chúng em luôn nhớ đến thầy!
 
Chuyện lão Hâm lãng đãng mùa thu Hà nội
(Viết 10/2003, sửa 11/2005)

Đúng 5 giờ 30 lão tỉnh dậy. Ngày nào cũng vậy, như một thói quen, nhưng không phải thói quen của lão mà là thói quen của con chim khiếu nhà bên cạnh. Vào giờ đó nó hót vang trời, chào đón một ngày mới tươi đẹp. Còn theo thói quen của chính lão, lão cười thầm con chim thơ ngây kia bị nhốt chặt trong lồng, ăn lương khô uống nước lã mà vẫn hót vui như hội.

Từ suy nghĩ đó, lão bắt gặp cái hâm hâm của lão. Khác những người hâm bình thường, lão tự biết mình hâm và thực sự vui sướng mỗi khi nhận ra tình tiết hâm mới của mình. Thật ra lão có tên có họ đàng hoàng, nhưng bây giờ chảng ai gọi lão theo cái tên khai sinh khá mỹ miều của lão nữa mà chỉ gọi gọn là Hâm. Lâu lâu quen rồi lão chả thèm phật ý nữa, và mọi người chỉ còn biết cái danh hâm mà quên đi cái bản tính hâm của lão.

Vươn vai vặn vẹo cái thân hình cao hơn tây gầy hơn ta thay cho việc tập thể dục, lão thò tay bật TV chờ xem bản tin sáng. Đêm qua thức xem đá bóng, đối với tuổi của lão kể cũng hơi quá tải. Vài năm gần đây lão đã không thức xem bóng đá đêm nữa rồi, chẳng qua vì thằng bạn phải đi làm ca hoàn thiện công trình phục vụ SG22 gọi điện thoại bắt lão phải xem để sáng nay kể lại cho nó.

Vừa đánh răng, vừa coi TV, lão vừa nghĩ vơ vẩn sao Chính phủ không có một Dự án cấp Nhà nước, theo đó gom những thằng to con khỏe mạnh bắt lấy những con khỏe mạnh cao to cho chúng nó đẻ ra một thế hệ cao to khỏe mạnh nuôi ăn học bóng đá thì tuyển VN đâu có phải nhọc nhằn đá tầng một chống lại bọn chơi bóng bổng tầng hai?

Xiêm áo chỉnh tề, đầu láng qua một chút gôm bọt (từ bé bộ phận bất trị duy nhất trong cơ thể lão là tóc), lão lên xe máy đi làm, trong đầu vẫn còn vương vấn giai điệu giọng hót của con khiếu nhà hàng xóm.

Qua Công viên Thủ Lệ, lão hít một hơi thật sâu. Có cái công viên này lợi hại thật, không khí trong và dịu hẳn đi. Hà nội mình là một trong những thủ đô hiếm hoi trên thế giới có nhiều hồ và công viên. Anh Sài Gòn to thế mà chỉ có mỗi cái hồ Con Rùa, to không hơn con rùa là bao nhiêu. Quý cái công viên thế nhưng lão cũng bật cười thầm: lão mới vào Thủ Lệ đúng có hai lần, một lần tham gia lao động XHCN đào hồ, một lần đưa hai mẹ con cô bạn Sài Gòn ra chơi đi xem Bách Thú (Bách Thú ngày trước trong vườn Bách Thảo, phía trên Phủ Chủ tịch và Văn phòng Chính Phủ), còn lại có cho tiền lão cũng chẳng dám vào. Thủ Lệ là vương quốc của những vấn nạn xã hội, nơi chúng nó chích choác, mua bán thứ mà đáng ra con người chỉ để hiến tặng cho nhau. Nhìn đám xe đạp nước hình con thiên nga to đùng nằm xếp bên nhau, vươn cái cổ cong thanh cao lên trời, lão nẩy ra ý muốn hỏi các cô thiên nga nhìn thấy gì trong công viên mà đến tận bây giờ các cô vẫn trong trắng vậy?

Đến ngã tư khách sạn Daewoo, “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”, lão quặt phải, rồi lại quặt phải lần nữa, bỏ lại sau lưng đám người chen nhau đứng đợi đèn xanh. Lão lại cười thầm khi thấy trong cuộc sống, định nghĩa về đường thẳng “là đoạn ngắn nhất nối hai điểm” không phải lúc nào cũng đúng.

Dọc đường Kim Mã, lão không còn chạy xe nữa. Dường như cả dòng xe cộ cuốn lão đi như cuốn một cánh bèo. Ngước mắt nhìn dọc suốt phố, à không đại lộ chứ, (ngày trước đường Kim Mã đi Câù Giấy có hai hàng cây hai bên, sau mở rộng đường sang một bên thành ra có hàng cây chạy dọc ở giữa, theo định nghĩa thì đây là đại lộ có cây xanh, sang lắm đấy) lão thấy một đám mây bụi mờ mờ trên đầu đoàn xe chen chúc nhau, như thể cả phố đang nổi lửa nấu cơm chiều, khói lam chậm rãi lan tỏa. Lão Hâm lại đưa ra câu hỏi: đố ai biết được Thành phố Thủ Đô đang áp dụng công nghệ lọc sạch không khí kiểu gì. Rồi lão tự trả lời: kiểu cổ điển, bằng lá phổi của dân Hà nội và những hàng cây xanh đang vươn cành vuốt ve tán tỉnh nhau. Có phải vì thế một thằng bốc phét nào đấy mới tán “Hà nội linh thiêng và hào hoa”?

Loay hoay một chốc, lão đã đến gần chỗ phố Hàng Cháo (dân tỉnh khác đừng đến đây tìm cháo nhé, bây giờ toàn bán đồ điện, đồ kim khí thôi) đâm ra Nguyễn Thái Học. Lão còn lạ gì chỗ này, thằng Hà nội nào không biết chỗ này, không phải vì hay đi ăn cháo mà vì đây là lối vào khu cửa 8,9,10 của Sân Hàng Đẫy. Ngày nào cũng qua đây mà lần nào lão cũng trở về với kỷ niệm một lần duy nhất lão được đá bóng trên sân này. Đó là ngày 19/5/19…, có cái lễ hội gì đó của học sinh Hà nội (lão không nhớ vì mấy ngày đó lão còn sức đâu mà biết đến chuyên ngoài bóng đá), trong chương trình có trận giao hữu bóng đá Học sinh HN - Học sinh HP. Hồi đó lão bắt gôn đội trường cấp III Chu Văn An nên được gọi vào đội tuyển HS thành phố (oai chưa!). Được gọi, được tập một lần trên mặt sân Hàng Đẫy, nhưng hôm đá chính thức lão phải ngồi dự bị. Bắt chính cho đội HSHN là một “anh” đang chơi đội trẻ của Trường Huấn luyện (hồi đó đội tuyển QG được gọi là đội Trường Huấn luyện Trung ương). Tự biết sức mình không đủ tầm bắt chính, lão không ức, chỉ băn khoăn sao các thầy cô trên Sở GD mà cũng ăn gian nhỉ?

Nghi thức lề mề thế nào mà đến 11 giờ mới bắt đầu trận đấu. Trước đó 10 phút, hai đội ra sân khởi động, nhìn đám Hải Phòng chạy, lão hoa cả mắt, thằng nào thằng nấy to con đen chùi chũi. Thằng bạn cùng trường chạy lại rỉ tai: “Bọn nó là đội Xi măng trẻ đấy mày ạ”.

Đúng lúc đó loa phóng thanh của sân vận động vang lên: “Đội HSHP gồm 18 em học sinh đều là học sinh chăm ngoan, trong đó có 11 em là học sinh giỏi và tiên tiến”. Hai phút sau loa lại hùng hồn thông báo: “Đội HSHN gồm tất cả là học sinh tiên tiến và học sinh giỏi”. Giời đất ơi, mới khởi động mà sao lão như bị chuột rút thế này! Bọn trường khác lão không biết chứ bọn trường CVA có được nửa thằng nào là HSTT đâu mà dám nói là tất cả?

Vào trận, đội Xi măng, à quên, đội HSPH ào lên tấn công, quân HN bị nhốt chặt trong vòng cấm địa, không thằng nào biết mặt vòng trung tâm méo hay tròn. Kết quả là giữa hiệp một HSHP dẫn 1-0. Lọ mọ thế nào mà trung phong Hiền (anh này học lớp trên, cùng CVA với lão) san bằng được tỷ số vào phút gần chót hiệp 1.

Sau đó Ban tổ chức thông báo vì lý do thời tiết (đang giữa trưa nắng tháng 5), để đảm bảo sức khỏe cho các em HS, không đá tiếp hiệp 2 nữa. Hú vía!

Nhớ đến đây, lão cười thầm (người hâm hay cười thầm lắm) chê dân tình hay chửi mấy cụ nhi đồng gian lận tuổi, bọn chúng nó đâu có biết dân ta có truyền thống gian lận bóng đá từ lâu rồi.

Bỏ bẵng thời gian học đại học xa Hà nội, không xem đá bóng trên sân Hàng Đẫy, còn sau đó chiều Chủ nhật nào có giải hạng A là lão luôn có mặt. Lão chuyên trị vào cổng số 10B, cổng dành riêng cho Ban tổ chức và hai đội bóng thi đấu ra vào. Lão quen Đức xồm, nhân viên bảo vệ cửa này nên chẳng bao giờ phải mua vé, vả lại với thân hình cao lêu đêu và khuôn mặt ngố tầu giống thủ môn Trần Văn Vĩnh, người ta tưởng lão là vận động viên.

Vào sân ngồi bên đường pit, giữa đám công an, bảo vệ, phóng viên, người nhà Sở TDTTHN và người nhà của người nhà của những người kể trên, lão rất khoái. Đám này có những thông tin mà kể cả bọn nhà báo cũng chả biết, ví như có lần lão ghé tai hỏi người ngồi bên cạnh “Sao thằng Ph. tròn hôm nay đá chẩy thế nhỉ?”, người kia mỉm cười tinh quái: “Nếu tối hôm qua ông bắt gặp vợ ông đi với giai, ông có thể đá được như nó bây giờ không?”.

Cổng 10B có một nhân vật rất đặc biệt, đó là sư ông chùa Hàng Cót (chùa này nằm cạnh rạp Đại Đồng). Không biết sư ông có đệ tử nào bên Sỏ TDTT mà trận nào ông cũng ngồi đúng một số vé, ngay cạnh lối hai đội ra sân thi đấu. Ông luôn tươi tỉnh, khuôn mặt đôn hậu sáng bừng lên mỗi khi có một pha bóng đẹp. Ông không chửi tục như đa số người xem, giờ giải lao ông mở tay nải mời mọi người chung quanh ăn nào oản nào chuối, hay đáo để. (Nam mô a di đà phật, con kính lạy Đức Phật đại từ đại bi đừng ghép con vào tội chỉ điểm. Mấy lại hơn 2.600 năm trước khi Phật tổ từ bỏ ngai vàng, giác ngộ giáo lý để cứu độ chúng sinh, làm gì đã có bóng đá để ghép nó vào ái hay nộ. Do đó tăng ni phật tử hâm mộ bóng đá là không phạm giới. Chả những thế, có anh Roberto Batgio cầu thủ Ý nổi tiếng cũng rất mộ Phật đấy).

Vẩn vơ trong đầu những kỷ niệm bóng đá, lão nhận thấy mình đang phải dừng lại ở ngã tư Nguyễn Thái Học – Lê Duẩn. Khiếp thật, lại ngựa xe như nước áo quần như nêm. Dân Hà nội mình đi xe không gấu bằng dân Sài Gòn, nhưng được cái hơn là thằng nào thằng nấy cũng loi choi chen chen lấn lấn. Mấy cái xe buýt chất lượng cao lao rầm rầm như chỗ không người. Hèn gì bệnh viện Xanh Pôn luôn quá tải.

Bên kia ngã tư mấy chú cảnh sát giao thông đang tất bật phạt những kẻ vi phạm. Thương các đồng chí ấy thật, suốt ngày hít bụi khói. Lão chỉ phải hít mỗi ngày hai quệt mỗi quệt 30 phút mà tưởng đã đứt hơi. Mà không biết các chú có được hưởng chế độ độc hại không nhỉ? Năm 1992 lão thấy ở Băngcôc bọn CSGT đeo mặt nạ phòng chống hơi độc. Sao ta không cho đeo, vừa bảo vệ sức khỏe cán bộ vừa thấy cái mặt của các chú ấy ưa nhìn hơn nhiều?

Với nỗ lực tối đa, lão Hâm vượt qua đoạn Phan Bội Châu rẽ về Hai Bà Trưng, Hỏa Lò sáng loáng tòa Tháp Hà nội đập vào mắt. Quả thực Hà nội lố nhố một vài điểm cũng hiện đại ra phết. Con xe 100 phân khối của lão phải dừng lại trước Chợ 22-12, đầu giờ sáng các chị cán bộ Bộ CN và nhiều cơ quan gần đó tranh thủ ra chợ nhiều quá làm tắc nghẽn mất một chốc. Dân HN đến lắm thằng hâm như mình, lão lại nghĩ, chính quyền thành phố đặt tên cho chợ đàng hoàng, dân lại cứ gọi là chợ Âm phủ. Khiếp bỏ mẹ, ấy vậy mà nghe nói trong chợ có quán cầy tơ bảy món ăn được lắm. Liên tưởng câu nói của đệ tử Cây Còn: “Sống trên đời ăn miếng dồi chó, xuống âm phủ biết có mà ăn?” lão thấy hay hay.
Nhân cái đầu hâm của lão chuyển địa chỉ sang lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, lão lại thấy thương cho các nhà phê bình, các nhà văn hóa đang không ngớt kêu cứu “thị hiếu thấp, văn hóa lùn” nhưng người ta vẫn cứ bỏ tiền mua vé đi nghe “Con gái nói có là không”.

Loay hoay lão đã đến cuốí phố Trần Hưng Đạo, con đường dài, thẳng và đẹp nhất Hà nội. Lão biết đâu đó trên đường Phan Huy Chú có nhà bác Phúc “vổ”, trước đá hậu vệ tuyệt chiêu luôn. Có tờ báo đăng (thỉnh thoảng ta phải tin báo chí một tí) đến cả bọn “tây” cũng ngán Phúc vổ. Bây giờ bác ấy khổ lắm, bị chấn thương cột sống do tai nạn giao thông nằm một chỗ, thời oanh liệt nay còn đâu!

Lơ đãng nhìn các hàng quán ven đường, lão thán phục nền thương mại vỉa hè phát triển vào loại nhất thế giới của Hà nội chúng ta, một nền thương mại làm cho người ta phải sống chết với vỉa hè. Các lực lượng trật tự đô thị dù có cố gắng mấy cũng chẳng làm sao vãn hồi trật tự và giải phóng vỉa hè nổi, khi chưa có nền thương mại phát triển như các nước công nghiệp hóa.

x
x x

Vừa đến cổng cơ quan, lão đã thấy cô bé văn thư hớt hơ hớt hải: “Xếp tìm bố hai lần rồi đầy!”. Chết thật, mình đến đúng giờ, hắn còn đến sớm hơn. À phải rồi, mấy đứa thối mồm bảo gần đây vợ sếp có “kép” trong Sài Gòn, bà ấy đi công tác SG suốt nên sếp hay đi làm rất sớm.

- Mời ông ngồi, sếp khoát tay lịch sự, sức khỏe ra sao?
Cái này mới là gay đây, khi người ta gọi mình lên đầu giờ sáng, lại hỏi sức khỏe ra sao thì đúng là hỏi thăm sức khỏe rồi.
- Cảm ơn sếp, cũng bình thường.
- Hà hà, không bình thường đâu, tối qua anh thức xem đá bóng chứ gì, nhìn cặp mắt anh là tôi biết ngay.
- Dạ, có, tôi xem trận Dinamo Kiev – Arsenal, lão ái ngại trả lời.
- Anh không xem trận Lacơmơchiiiiv – Intơ à (sếp phát âm từ Lokomotiv đúng giọng chuẩn các cửa hàng đồ cũ ngoại ô Matscơva). Thế là anh mất nửa đời người rồi (Ô hay, lão nghĩ, mình chỉ còn may lắm là một phần ba đời người, sếp đòi thu một nửa, biết lấy đâu ra mà bù cho sếp đây?). Hôm qua Lacơmơchiiiiv làm chấn động cả thế giới, đập thằng Intơ chết tươi ăn gỏi, tiền đạo Lacơmơchiiiiv tra tấn thằng gôn Ý ẹ đến phát nôn ọe ra. (Đúng là ngôn ngữ của những người mê bóng đá!)
- Dạ, tôi không xem, nhưng ngay trong lúc tường thuật DK-Ars thằng ESPN có thông báo kết quả trận Loko-Inter tôi cũng sướng điên lên (Mình cũng phải ma lanh một tý mới được, lão thầm nghĩ, mình quên mất là hắn học trường Đường sắt Matscơva, trên đời này lão chỉ mê có mỗi một đội là đội Loko. Nhưng sao lão học đường sắt mà lại về làm sếp cơ quan mình nhỉ, cơ quan mình chẳng dính dáng tý gì đến các thể loại đường: đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường hàng không, thậm chí đường ... tiết niệu?).
- Đúng, phấn khởi thật, nhất là trong lúc bọn OlempicVN nhà ta xơi tái bọn Cao ly, niềm vui tăng lên gấp bội. Thôi ta đi làm cốc bia đi, nhân dịp này tôi chiêu đãi anh, tôi biết cả cơ quan ta có mỗi mình anh là sành điệu bóng đá nhất.

Chết thật, mới sáng ra đã uống bia, cả ngày làm sao làm việc được. Nghĩ vậy lão vội vàng thưa:
- Nhưng tôi phải làm gấp cái tài liệu chiều qua sếp giao.
Không ngờ sếp tươi tỉnh nói như hát (đúng là niềm vui của sếp đang vô cùng tận):
- Không sao, làm sau cũng được mà, đất nước của ngàn quán bia, đang sục sôi khi thế hào hùng. Ta ra Lan9 đi!

May sao, số lão Hâm hay gặp may, thằng Gồ xô cửa chạy vào. Thằng này luôn giữ được bản sắc văn hóa từ thời tổ tiên chúng ta làm nhà chưa có cửa đóng kín, nó chẳng bao giờ gõ cửa bất kỳ phòng ai, kể cả phòng sếp:
- Tuyệt vời, trên cả tuyệt vời! Lokomotiv muôn năm! Lần này Lokomotiv sẽ đoạt Cup vô địch của những nhà vô địch! ...

x
x x

Lững thững đi xuống cầu thang lão còn nghe vọng theo tiếng hai thầy trò sếp hân hoan bình loạn trận bóng đi vào lịch sử. Về đến phòng, lão nghe thấy tiếng cửa xe ôtô của sếp đóng đánh sầm. Vậy là, lão hiểu rằng (tuy hâm nhưng đựơc cái lão không chậm hiểu) trong danh sách lên lương cuối năm nay sẽ lại không có tên lão, thay vào đó là tên thằng Gồ.
Pha ấm chè Thái, bấm nút khởi động máy vi tính. Trong khi chờ đợi chè ngấm và con Pentum đời đầu của lão ì ạch khởi động như đau đẻ, lão lãng đãng nhìn ra cửa sổ. Trên ban công nhà bên cạnh, một cây mai tứ quý đang ra hoa. Đẹp quá, những cánh hoa vàng nuột như màu áo đội Arssenal, sau khi rụng hết những cánh màu vàng, những cánh màu đỏ thẫm hiện ra như màu áo đội MU.
Thay vì soạn bản tài liệu như đã hứa với sếp, lão di chuột đến Media Player. Cả gian phòng tràn ngập những âm thanh dịu dàng của khúc nhạc mùa thu...
 
Chuyện nhà lão Hâm xem đá bóng hay Nồi cháo gà vào đêm sinh nhật


Thông thường gia đình nào cũng có nội lệ, nhà hão Hâm có một cái lệ bất di bất dịch, đó là vào những dịp có sự kiến bóng đá quốc tế sôi động thì mọi sinh hoạt trong gia đình chỉ phục vụ một mục tiêu duy nhất: xem và bình luận bóng đá.

Trước khi khai mạc Euro 2004 mấy ngày, lão Hâm thay 2 cục pin cho cái điều khiển từ xa, leo lên mái nhà kiểm tra, gia cố dây và cột ăngten. Thế mà vẫn chưa yên tâm, lão còn van nài ông bạn Giám đốc một Công ty chuyên kinh doanh UPS để mượn một bộ lưu điện công suất lớn về đặt chình ình giữa nhà đề phòng khi ông nhà đèn ngứa tay cúp điện ngang xương.

Lão xoa tay, khoái chí nói với vợ:
- Sếp tớ còn không dám bắt tớ đi công tác vào dịp Ơrô, mẹ con đồng chí phải biết điều một tý đấy nhá!

Biết điều theo ý lão là lão phải được miễn giảm các công việc đã được phân công  cho lão nhiều năm nay: lau nhà, bơm nước, đổ rác, giặt quần áo, tưới cây. Vì lão xem bóng đá gần như trọn cả đêm, ngày đi làm, chiều về kềnh cang một giấc cho khỏe để khuya lại xem tiếp, làm gì có thì giờ làm những việc theo sự phân công lao động xã hội?

Mụ vợ lão, một người đàn bà tuyệt diệu ở chỗ không bao giờ ghen với tình yêu bóng đá của chồng. Lão chỉ cần nói “có ông Bỉm bé xíu trong Sài gòn ra rủ đi nhậu” là có thể đi vô tư đến mấy giờ về cũng được vì mụ biết ông Bỉm bé là thành viên Diễn đàn bóng đá. Có lần vô tình nhìn thấy trên điện thoại di động của lão có tin nhắn của “Uotmi”, mụ hỏi:
- Ướt mi là em nào thế?
- À, một nick trên Diễn đàn ấy mà.

Nghe vậy mụ chả nói năng gì nữa. Trước thềm Ơrô Mụ bàn với Nguyên, cô con gái út, phân chia công việc đỡ đần cho bố trong suốt thời gian có truyền hình trực tiếp các trận bóng của Euro.

Nguyên giống bố nhiều hơn giống mẹ, ấy là người ngoài bảo thế. Riêng lão thì lão thấy cô bé giống mẹ nhiều hơn, từ cái nết cười (con gái đâu mà cười suốt ngày!) cho đến nết ăn, cao như người mẫu mà ăn không bằng lão ăn gắng. Riêng nết mê bóng đá thì đích thị là gen của lão. Ai đời nó mê đến nỗi thuộc làu làu tên tất cả các cầu thủ các đội tham dự Ơro 2004, mấy anh Quang Tùng với Quang tèo cứ gọi là xách dép đuổi theo không kịp. Nó mê đến nỗi nó bắt thằng người yêu đến lau nhà hộ nó (vì nó phải lau thay bố). Tuy nhiên cũng phải nói thêm là nó chỉ mê những cầu thủ đẹp dzai, trước đây thì là R. Batgiô (lúc anh này đá hỏng quả phạt đền nó khóc ướt nguyên cả cái vỏ gối), bây giờ là Becks, Totty… Còn những anh đá hay mấy thì hay nhưng răng thỏ hoặc răng đi trước môi lả lướt theo sau thì nó chẳng mấy quan tâm, cái anh Kahn mặt chó ngao thì nó đặc ghét. Tóm lại vì lý do đó nó mê đội Ý mà lão Hâm vẫn thường trêu, gọi là Ý ẹ.

Ở trên đời này có nhiều điều không lý giải nổi. Nguyên mê bóng đá bao nhiêu thì tên người yêu của nó lại ghét bóng đá bấy nhiêu, đúng là ghét của nào trời trao của đó. Nhưng vì Nguyên (và cả bố Nguyên) nên anh chàng này không dám bày tỏ sự kỳ thị đến ghê sợ của nó đối với bóng đá.

Thế là tối tối hai bố con ra phòng khách ngồi xem bóng đá với nhau. Nguyên làm một gói hạt dưa tí tách luôn mồm còn lão Hâm khư khư bao thuốc lá. Sốt ruột khi “đội nhà” chưa ghi bàn, lão làm một điếu, đội nhà làm bàn rồi, sướng quá, lão cũng xơi thêm điếu nữa. Vừa xem vừa bình luận, phân tích, phỏng đoán, cay cú, hò reo như hai thằng trẻ con.

Chiều hôm nay đi làm về lão Hâm đã thấy Cao, người yêu của Nguyên đang lúi húi lau nhà.
- Cháu chào bác, hình như bác hơi gầy đi?
Thằng xỏ lá, lão nghĩ thầm. Cao biết lão không thích béo, nhưng hỏi vào dịp này thì rõ là ngụ ý bố già ham thức đêm xem bóng đá nên gầy tọp đi. Đến lúc mày chính thức làm con rể tao chắc mày còn xỏ xiên biết nhường nào?
- Bố ơi, hôm nay anh Cao xin phép bố được cùng xem football, được không ạ? Con bé nhận thấy bố hơi phật lòng nên vội vàng lấp liếm.
- Thế à, càng vui chứ sao? Mẹ khỉ, chú mày biết gì về bóng đá mà đòi xem! Lão Hâm nghĩ thầm như vậy.

Cao là một thanh niên gia giáo, học giỏi, không biết bia rượu thuốc lá. Có được chàng rể như vậy thời nay không phải dễ, ít nhất thì nó cũng không lấy trộm thuốc lá của mình. Nói chung lão Hâm cảm thấy quý Cao, nếu không quý cũng chẳng được, thời buổi này con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đó, chi bằng ta cứ quý nó cho được việc.
  X
X      X
Như những tối trước đó, mụ vợ lão Hâm rút về buồng, viện cớ thức đêm nhiều tiền đình sẽ có vấn đề. Lão Hâm không chấp cái người thấy đội nào làm bàn cũng hoan hô ấy. Có lần đội ruột của lão bị thủng lưới, mụ vợ lão gào lên sung sướng:
- Vàaaaao rôì!
- Vào vào cái gì, bà ủng hộ đội nào hở?
- Tôi chả ủng hộ đội nào sất, tôi ủng hộ bàn thắng.
Xem đá bóng kiểu đó thì đi ngủ đi còn hơn!

Lão, Nguyên và Cao chia nhau ba chỗ thuân lợi trước màn hình TV. Trận đấu bắt đầu được 5 phút, anh chàng Cao không giữ được mình, ôm con gấu bông ngủ một giấc ngon lành, má hồng như má trẻ con. Lão hâm liếc xéo về phía Nguyên:
- Nó xin phép đến xem đá bóng hay đến ngủ?
Nguyên cười trừ, mắt vẫn không rời màn hình. Trận Ý-Đan Mạch không hay, đội Ý bao giờ cũng bắt đầu giải với một hai trận làng nhàng, sau đó, như người châu Âu có câu thành ngữ “Sự ngon miệng đến dần cùng bữa ăn”, họ đá hay dần lên khi vào sâu giải.
Gần hết hiệp một, đội Ý có một pha hỏng ăn, Nguyên thét lên:
- Mẹ kiếp, đá kiểu gì đấy!?
Anh chàng Cao giật mình tỉnh giấc, ngơ ngác nhìn Nguyên:
- Em vừa chửi tục à?
- Đâu, em gọi anh dậy đấy, sắp giải lao rồi!
Anh chàng Cao dụi mắt, lừ đừ đi xuống bếp.

Hết hiệp 1, lão Hâm rút điếu thuốc lá, định ra ban công hút thì nghe tiếng mụ vợ cười khì khì:
- Ông đừng hút thuốc vội, đợi con mang cháo gà lên ăn.

Ái chà, mụ này hôm nay tâm lý thật, giải quyết cả khâu cháo gà bồi dưỡng xem đêm thế này thì thế giới này mụ đúng là nhất, lão Hâm nghĩ như vậy trong khi anh chàng Cao khệ nệ bê nồi cháo gà bốc hơi thơm phức đặt giữa phòng khách. Nguyên múc cho mỗi người một tô còn mụ vợ lão Hâm thì rót cho lão một ly rượu cẩm:
- Nào, ông xem cháo gà hôm nay có ngon không? Thái độ mụ có cái gì đó úp úp mở mở rất đáng nghi.
- Ngon tuyệt, ai nấu thế này?
- Bố đoán xem?
- Việc gì phải đoán, không mẹ thì con!
- Hoan hô, bố nhầm rồi, anh Cao nấu!
- ?!
- Anh Cao đi chợ mua gà về làm thịt và nấu xong từ trước khi bố đi làm về cơ!
Có việc gì xảy ra thế này, mọi người làm cái trò gì trêu lão thế? Thấy bộ mặt ngơ ngác của lão Hâm, mụ vợ lão vui vẻ cười:
- Hôm nay là ngày gì ông biết không?
- Hôm nay Ý đá với Đan Mạch
- Giời ạ, hôm nay sinh nhật con Nguyên!
- Chết thật rồi, bố quên khuấy đi mất!

Đến lúc đó chú chàng Cao mới lôi ra một bó hoa hồng tuyệt đẹp, bông nào bông nấy đầy đặn trịnh trọng trao cho Nguyên. Hai mắt Nguyên long lanh sung sướng.

Lão Hâm gào tướng lên giữa đêm khuya:
- Happy birthday!
 
Chuyện lão Hâm tham gia đào tạo tài năng trẻ
(12/01/2004)

Mới đầu giờ buổi sáng, theo thói quen lão Hâm nhâm nhi cốc nước chè Thái pha vừa độ, lim dim mắt ngắm nhìn làn khói thuốc từ từ bay lên và tan dần như cái hư ảo của cuộc đời này thì cục mobi của lão rung bần bật trong túi quần.
- Bác Hâm đấy à, bác có bận gì không? Giọng Sếp ngọt ngào. Sếp có thói quen dùng điện thoại di động mọi nơi mọi lúc, khi có điện thoại cố định ngay bên cạnh và cả khi đối tượng gọi chỉ cách Sếp mươi bước chân.

Lão phân tích rất nhanh: thứ nhất gọi đến máy bạn lại hỏi bạn đấy à là một câu nói không chứa thông tin, thứ hai là lính không bao giờ được phép bận với cấp trên mà Sếp hỏi có bận không thì lại càng không có ý nghĩa thông tin. Duy nhất chữ “bác” là cần phân tích. Khi Sếp gọi bạn là ông, bạn hãy coi chừng, gọi là anh thì cứ mạnh dạn làm việc, gọi là bác thì ắt là Sếp muồn nhờ cậy gì đây, còn gọi là cụ thì bạn có thể đách cược với người khác là mình sắp về hưu (tất nhiên Sếp chả bao giờ mày tao với ai). Lần này Sếp gọi là bác, giọng có mùi kẹo dừa, ổn thôi!

- Hâm đây ạ, lão trả lời vừa tròn vành rõ chữ vừa không tỏ ra xu nịnh cấp trên, điều này Sếp đã thừa biết.
- Bác pha chè chưa, tôi có ít chè móc câu, bác lên tôi uống đi!

Lên thì lên, một phút sau lão đã được Sếp bắt tay thân mật, bàn tay Sếp mềm và lạnh như không có xương và không có máu chảy trong đó. Cũng bàn tay đó bóc bao 3 số rồi châm lửa cho lão:
- Hà hà, đêm qua bác có xem bóng đá không?
- Không ạ, tôi gõ nốt mấy trang dự án, muộn rồi nên đi ngủ mai còn đi làm sớm. Nói thế này là khôn, lão thầm nghĩ. Nếu mình nói có tuổi rồi, sức khỏe không cho phép thì hóa ra nhắc nhở Sếp cho mình về hưu. Tớ hâm nhưng tớ chả dại!
- Hôm qua thằng Chelsea lại thua thằng Liverpool 0-1. Bác bình luận sao về chuyện này?
- Dạ, thua là phải thôi, đâu phải cứ có nhiều tiền là vô địch được.
- Trời ơi, bác Hâm, Sếp vỗ đùi. Tôi hoàn tòan đồng ý với bác. Bác nói ra lời nào cũng chứa đựng triết lý sâu xa cả, ở gần bác quả là tôi học được rất nhiều điều.

Thế ư, lão Hâm nghĩ thầm (các bạn chắc đã quen với việc lão rất hay nghĩ thầm), vậy là Sếp ngụ ý Sếp kém tớ, sao Sếp không làm đơn xin từ chức và giới thiệu tớ lên thay Sếp?

- Đúng tiền không phải là tất cả, ở đời nhiều khi tiền không bằng tình, tiền không mua được tình, bác Hâm nhỉ? Sếp nở nụ cười tròn trịa, tươi tắn thành thật và thân tình.

Ơ tòan chữ T à? Đúng thôi, Tình và Tiền đều là T cả. Tình và Tiền dẫn đến các tình huống tòan T: tơ tưởng, thèm thuồng, tan tành, thất tán, tương tàn, thê thảm, tù tội hoặc ngược lại: tươm tất, thành tựu, tốt tươi, thơm thảo, thăng tiến,...Nhưng mà Sếp muốn gì ở tớ nhỉ, tiền tớ chẳng có, tình thì ...pêđê à?

Như đọc được ý nghĩ trong đầu lão Hâm, Sếp cười thêm tý nữa:
- Nghe nói bác có ông bạn thân là chỗ thân quen với Giám đốc Sở TDTT Thành phố? (Khá khen cho Sếp giỏi điều tra!)
- Hình như chúng nó có học cùng phổ thông, đá bóng với nhau. Sau này ông ấy làm to, bạn tôi ít qua lại nên thân dần thành sơ.

Ông bạn của lão Hâm đi bộ đội về không nghề nghiệp, xoay ra làm chuyện vệ sinh môi trường, ngày trước gọi là đổ thùng. Dần dần khấm khá, mở công ty tư nhân chuyên hút bể phốt mang tên Niềm vui cho mọi nhà.
- Chết, các bác kỹ tính quá. Các đồng chí lãnh đạo sống là chí lý chí tình lắm đấy. Không có gì bằng tình bạn thủa hàn vi, dân ta có chuyện Lưu Bình Dương Lễ bác cũng biết rồi đấy.
- Thế ... Sếp cần gì ạ? Lão xé toang hàng rào vòng vo của Sếp.
- À, tôi có chuyện này, chuyện Tình bác Hâm ạ. Tôi có anh bạn thời học sinh, như các bác với ông Giám đốc Sở TDTT ấy. Bây giờ bác ấy đang làm chuyên viên (ý là cũng như tớ chứ gì!), hoàn cảnh hơi khó khăn (Sếp có biết tớ cũng khó khăn không?). Tôi luôn tìm cách giúp đỡ (Sếp quý hóa quá!). Bác ấy muộn con, được mỗi thằng cu năm nay 7 tuổi. (Liên quan gì đến chúng tớ, muốn tớ đến kèm nó học miễn phí hay ông bạn tớ đến làm vệ sinh môi trường cho nó?). Được biết bên Sở TDTT đang mở lớp năng khiếu bóng đá, đào tạo tài năng trẻ cho tương lai.
- Cậu quý tử ấy đá hay lắm ạ? Lão Hâm đi thẳng vào thực chất, tính lão vốn thế.
- Ừ... cái ấy thì tôi không rõ, mình làm gì có thì giờ xem bọn nó đá bóng mà biết. Nhưng cái đó không quan trọng, có công mài sắt có ngày nên kim, ngày trước tôi học đâu có giỏi, thế mà bây giờ cũng không đến nỗi. (Thế cơ đấy!) Khà khà... Bác ấy có bàn với tôi xin cho cháu vào lớp năng khiếu bóng đá, đỡ tiền nuôi ăn, đỡ phải lo nó lêu lổng ngoài đường, tôi thấy cũng hợp tình hợp lý. Người đầu tiên tôi nghĩ đến là bác, nghĩa là chỉ có bạn bác mới giúp được việc này.
Thấy tôi ngần ngừ, Sếp nhanh tay rút từ trong ngăn kéo ra một phong bì:
- Cái này để các bác lo chi phí dọc đường, hì hì...
(Chi phí dọc đường ư? Nghĩa là mọi con đường đều cần lộ phí? Sếp ơi, phải thừa nhận khoản này thì tớ là học trò ngu của Sếp, lời Sếp nói mới là chân lý, lời tớ nói lâu lâu có tý tẹo triết lý thôi, nay tớ xin rút lui ý kiến lên thay Sếp, xin lỗi Sếp nhiều nhé!)
- Bác lấy xe ôtô của tôi mà đi cho tiện.

Lão Hâm gọi điện cho ông bạn Niềm vui, 30 phút sau ông này chạy xe đến, thế là lão Hâm ta cùng bạn chễm chệ xe hơi đi một quãng đường vẻn vẹn 300m đến Sở TDTT thành phố. Gã thường trực cơ quan cau có y như như đang lên cơn đau dạ dày:
- Sếp đang họp.
Thì đúng quá rồi còn gì nữa, việc của các sếp là họp, nếu không họp hóa ra là sếp đang chơi à, Lão Hâm nghĩ bụng. Chần chừ một chốc, Niềm vui bạn lão rút cục gạch trong túi ra, chui vào chỗ khuất để ông đi qua bà đi lại không nhìn thấy cái mobi siêu dày của hắn (ngày nạp pin 2 lần) gọi về nhà nhờ vợ lục tìm số điện thoại di động của ông Giám đốc Sở.

- Alô Niềm vui đấy à, lâu lắm không thấy cậu gọi, hôm hội trường thì tớ lại đang bận tối mũi vào cái Si Gem. Cậu đang ở đâu đấy?
- Đang ở thường trực nhà ông đây, nó éo cho vào, bảo ông đang họp.
- Được, được, tớ sẽ bảo nó.

Nửa phút sau, gã thường trực chạy ra góc khuất tìm Niềm vui, mặt tươi như chiêu đãi viên hàng không:
- Kính các bác ạ. Giám đốc mời các bác lên. (Lại lên!)

Phòng Giám đốc to và đẹp, đạt tiêu chuẩn quốc tế, máy điều hòa chạy êm hơn quạt thông gió của con PC đời chót chét đen chùi chũi nằm cạnh bàn làm việc rộng thênh thang 2 cặp vợ chồng già nằm vẫn vừa..
Ông Giám đốc vui vẻ và lịch sự mời hai lão ngồi (lão Hâm gửi một nửa cái bàn tọa của mình lên chiếc ghế bành êm vô tả, nửa còn lại lão treo trên không khí), hỏi thích uống loại nước gì, mở nắp hộp thuốc lá Con mèo ra mời. Chẳng nói chẳng rằng, Niềm vui móc túi, ném cái phong bì dày dày Sếp lào Hâm đưa như ném con Phăng teo xuống mặt bàn nước. Giám đốc hơi sững sờ rồi phá lên cười ngặt nghẽo:
- Niềm vui ơi là Niềm vui ơi, mày vẫn y như ngày xưa! Má Giám đốc hơi ửng hồng như thể vừa được uống ly rượu bổ, ly rượu tình bạn trong sáng thủa thiếu thời.

Niềm vui không vòng vo Tam Quốc, nói thẳng mục đích cuộc viếng thăm đột ngột. Rất chóng vánh, ông Giám đốc nhận lời, ghi họ tên chú nhóc con ông bạn của Sếp lão Hâm vào quyển sổ bìa da mềm mại. Ông Giám đốc hỏi thăm Niềm vui tình hình những người bạn học cùng lớp rồi chuyển sang nói về các phương hướng công tác của Sở TDTT năm nay, giọng điệu và thái độ y như đang báo cáo đồng chí Bí thư Thành ủy. Đấy mới là đỉnh cao của phép lịch sự, lão Hâm nghĩ vậy.

Bất thình lình Niềm vui đứng dậy chào ra về, lão Hâm luyến tiếc nhấc nửa cái bàn tọa ra khỏi chiếc ghế bành êm như được độn toàn lông mèo. Biết tính khí Niềm vui, ông Giám đốc không bất ngờ, cười thoải mái, vơ cái phong bì bị bỏ quên nãy giờ đút vào túi quần bộ đội bạc màu của Niềm vui. Gã này phớt tỉnh đi ra làm cho lão Hâm phải lẽo đẽo chạy theo sau.


Hai anh em lên xe ra về. Nghe tin được việc, chú lái xe hứng chí bật cassette:
“Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu
Nghe dịu nỗi đau của Mẹ...”


Lào Hâm bâng khuâng không biết mình đang buồn hay vui. Giải quyết xong việc Sếp nhờ cậy thì vui, nhưng buồn vì không biết bao giờ bóng đá thành phố mình mới cất cánh được, khi các trường đào tạo tài năng trẻ đã biến thành các nhà trẻ chứa con cháu của một số người gửi gắm.

X
X X

Sáng hôm sau, đang chuẩn bị pha ấm chè như thường lệ, lão Hâm nghe thấy tiếng ồn ào trên tầng 2, điều chưa bao giờ xảy ra. Chạy vội lên, lão thấy rất nhiều anh chị em trong cơ quan đứng chật kín phòng làm việc của Sếp, thi nhau ca ngợi Sếp đầy lòng nhân ái. Mặt Sếp rạng rỡ pha chút khiêm tốn. Hóa ra tối hôm qua TV thông báo Sếp của lão Hâm đã đóng một số tiền kha khá cho Quỹ ủng hộ người nghèo.

Lững thững tụt xuống tầng một, lão Hâm cười sảng khoái:
- Bố cái anh Niềm vui!
 
Chuyện cây cầu làng lão Hâm
(17/08/2004)

Hà nội vào thu, những cơn nắng gắt dùng dằng không chịu bỏ đi, còn cô nàng Cúc Vàng vẫn còn e thẹn chưa ló mặt. Cứ vào những lúc chuyển mùa thế này lão Hâm lại bâng khuâng nhớ quê, cái quê mà có bầu lão làm trưởng thôn hoặc cho tiền lão cũng chẳng về sinh sống, thôi đành phó mặc mấy sào vườn ông bà để lại cho mấy đứa cháu muốn làm gì thì làm. Quê hương đúng là chùm khế ngọt thật, nhưng ta là người chứ không phải là chim, không thể sống cầm hơi bằng vài dăm quả khế mỗi ngày.

Lão lại sực nhớ một bài hát nữa (Giòng sông tuổi thơ) có câu “quê hương ai cũng có một dòng sông êm đềm” (bài này giai điệu cũng tây tây, có phải đạo nhạc không nhỉ?) vì làng quê lão nằm ngay bên sông. Con sông bé thôi, to hơn con kênh Nam Bộ một chút.

Hồi bé lão phải đi đò qua sông đến lớp học. Ôi, lắm kỷ niệm chung quanh chuyện đi đò lắm, kể ra quá dài dòng, tôi chỉ xin kể một chuyện một lần đò bị lật do chở quá tải và do ông lái trót làm vài ba ly rượu trắng trước đó. Vừa rơi xuống sông, lão Hâm lặn sâu rồi ngoi lên cách chỗ con đò nằm sấp khoảng mươi mét, thấy dăm bảy cái đầu người làng đang thò thụt trên mặt nước. Là dân vùng trũng, ai cũng biết bơi nên mọi người từ từ tìm cách vào bờ được, duy có con bé Tĩn cùng lớp với lão là không biết bơi, đang giã gạo một chỗ. Lão Hâm bơi đến gần con bé, chưa kịp làm gì thì đã bị nó túm chặt, dìm lão cùng chìm xuống nước. Trong đầu lão loé lên lời dặn của cha: “Trong trường hợp như thế con hãy túm vào chỗ kín của đàn bà”. Lão thao tác nhanh gọn và thấy ngay kết quả. Con Tĩn buông lão ra, hai tay thu về che chỗ đặc trưng giới nữ của mình. Cho chắc ăn, lão Hâm đấm thêm vài quả vào ngực Tĩn cho nó ngất xỉu đi rồi vòng ra sau lưng cô bé, từ từ bơi ngửa dìu nó vào bờ.

Mấy chục năm sau, trong một lần tham gia đoàn quy hoạch phát triển cụm cơ khí huyện (thời kỳ mỗi huyện là một pháo đài XHCN) về làm việc với huyện nhà, lão được bà Nguyễn thị Ngọc Tĩnh phó Chủ tịch huyện tiếp và làm việc. Cô bé Tĩn ngày nào cứ nằng nặc kéo lão về nhà ăn cơm, giới thiệu hai cô con gái Bích Thuỷ và Thanh Thuỷ giống hệt mẹ. Đặt tên con là Thuỷ để kỷ niệm một ngày sông nước? Lão Hâm tủm tỉm với câu hỏi đó trong lòng.

Chuyện lật đò hết lần này đến lần khác làm dân làng bức xúc, bức xúc nữa là buộc phải sang bên kia sông mới ra được huyện lộ, ách tắc giao thông thế thì làm sao làng ta đi lên bằng chị bằng em được. Người nhà quê sẵn sàng mất hết mọi thứ, trừ cái “bằng chị bằng em”. Làng bên có người sắm được cái máy khâu con bướm, làng mình chưa ai có - tức! Làng mình có anh bộ đội phục viên mở cái tran-xi-to kêu oang oang, làng chúng nó chưa ai có – khoái!

Thế là người ta đi dần đến ý tưởng làm cầu. Khốn nạn là ý tưởng thiên tài ấy nó không sinh ra trong đầu các vị bô lão cũng như chính quyền thôn mà nó lại đẻ ra từ miệng thằng Tèo chăn vịt: “Làm mẹ nó cái cầu mà đi cho sướng!”. Ông trưởng thôn tóm ngay lấy câu này, biến thành ý tưởng của mình, liền tập hợp bộ tứ, mời các vị cao niên cùng tham gia, sau một hồi ní nuận rông dài, ôm tóm lại:
- Làng ta phải xây một cây cầu sang sông, ý các cụ thế nào?

Khốn nạn, lại khốn nạn nữa, dân nhà quê đã không bàn thì thôi, hễ bàn thì đếch bao giờ bàn xong. Cầu ư? Tiền đâu mà làm? - Tiền dân đóng góp, kết hợp xin thêm Xã, Xã không có ta xin Huyện, chú Tân làng mình làm thư ký Ủy ban huyện chẳng nhẽ không ra tay giúp làng à? Thế xây cầu gì, cầu tre, cầu gỗ, cầu gạch hay bê tông cốt sắt? Giời ạ, cứ thống nhất chủ trương làm cầu rồi sẽ bàn tiếp chuyện làm cầu gì sau! Ông bảo tôi ngu hả, cầu bê tông cốt thép dân làng không đủ tiền đóng góp, may ra làm cái cầu tre, mỗi nhà góp dăm cây tre là được. Bàn thì phải bàn cụ thể, bàn khơi khơi như các ông tôi đxx thèm bàn nữa!

Cứ thế hết dăm bảy đêm ngồi bàn đến lúc gà sắp gáy, hút hết mấy chục gói thuốc lào, các vị chức sắc làng lão Hâm mới tạm đi đến kết luận:
1. Làm cầu.
2. Tiền tới đâu làm cầu tới mức đó.

Gần 8 tháng sau dân làng vẫn còn nhiều người chưa đóng tiền. - Nhà tôi trên răng dưới catút, đợi khi nào có tiền tôi sẽ nộp. - Dưng cơ mà ngày xưa đóng thuế theo suất đinh, sao bây giờ các ông thu theo khẩu? Nhà tôi toàn con gái, tôi chỉ đóng một suất thôi (Thằng ngu, con gái thì nó tung cánh bướm mà bay qua sông chắc?). - Tôi không có tiền tôi đóng bằng công có được không? – Các ông vẽ chuyện làm cầu, thu tiền của dân mang đi buôn trâu thì sao?.... Vô thiên lủng các thứ lý sự, nghe điếc cả tai.

Bỗng dưng ở đâu trên trời rơi xuống một ông bỏ quê đi từ năm một chín bốn mốt, lù lù dẫn xác về làng. Của đáng tội đúng là ông này trên trời đi xuống thật, đi máy bay từ Pari về không là đi trên trời à? Ông mặc com-lê, đầu mũ phớt, to béo hồng hào, lác đác vài người già trong làng nhận ra ông là người mấy chục năm trước đã bán mình đăng lính sang Pháp đánh nhau với phát-xít để bảo vệ nước mẹ Phơ lăng xa. Bây giờ già rồi, đất nước ta cũng cởi mở đôi chút, ông về thăm quê cha đất tổ.

Được biết làng quê dự định làm cây cầu qua sông, ông tình nguyện tài trợ toàn bộ số tiền xây cầu. Nghe sướng cả tai, ấy vậy mà không phải vậy!

Một số đồng chí không chịu: “Lão ấy mấy chục năm đi phục vụ đế quốc sài lang, có tiền cũng chỉ là tiền của bọn tư bản nó xí cho. Dân ta đánh Pháp đuổi Mỹ, không nhẽ bây giờ chịu nhục ngửa tay xin tiền đế quốc ư?”. Thế là lại họp, lại bàn thêm một tuần nữa mới đi đến giải pháp kiểu cong queo: “Ông N có hảo tâm đóng góp xây dựng quê hương, số tiền này hoàn toàn do nhân dân trong làng quyết định sử dụng vào việc gì có ích nhất”. Quyết thế để đề phòng trường hợp ông N đòi ghi tên mình lên cầu thì hoá ra ta tuyên truyền cho tư bản à?

Ông cựu lính tẩy hứa miệng vậy chứ ông có cầm tiền mặt theo người đâu. Về tới Pháp quốc, ông gửi điện cho ông trưởng thôn: “Các bác phải thuê thiết kế cây cầu, thuê họ tính toán hết bao nhiêu tiền, tôi sẽ gửi cho các bác, cộng thêm 5% chi phí phát sinh. Đề nghi các bác cho biết tôi phải gửi tiền cho ai, số tài khoản bao nhiêu, ngân hàng nào để tôi chuyển tiền về cho làng”.

Bỏ mẹ thật, nó cho tiền mà đòi hỏi nhiều thứ phi lý quá. Dân nhà quê lấy đâu ra tài khoản? Nhỡ ông nào có tài khoản ông ấy đxx cho rút ra xây cầu thì sao? Mí lại thằng cha này ky bo kẹt xỉn quá thể, ở Việt nam chi phí phát sinh trong xây dựng thường không dưới 30-40%, nó chỉ cho có 5% có đểu không!?

Cuối cùng thì tiền cũng về đến làng, cuối cùng thì cái cầu bê tông cốt thép ngời ngời cũng được xây xong, nghe đâu còn dự ứng lực gì đó nữa, đếch biết bọn xây dựng nó cho cái gì vào trong cầu để dự ứng, chắc là để tính thêm tiền, còn lạ gì bọn xây dựng nhà mình nữa!

Thế là kể từ ngày đó, không bao giờ còn xảy ra chuyện đắm đò qua sông, chẳng bao giờ còn chuyện con bé Tĩn nào đó suýt chết đuối. Bây giờ dân làng lão Hâm có thể phi xe máy (xê-cơn-hen thôi!) chạy vèo một phát lên huyện oai chẳng kém gì dân các làng khác!

Ấy vậy nhưng cái gì mới và hay luôn kéo theo rất nhiều chuyện rắc rối, khi nào có thì giờ, tôi xin chép tiếp chuyện cây cầu làng lão Hâm cho bà con đọc tiếp, tất nhiên những chuyện vớ vỉn ấy chỉ có ở làng quê lão Hâm thôi, những nơi văn minh đô hội thì người ta giải quyết công việc chóng vánh và lịch sự lắm.

Ở trên tôi viết là cây cầu đã xây xong, nói vắn tắt vậy cho nhanh chứ ai cũng hiểu là khối con quác quác, con gâu gâu và con ỉn ỉn đã phải hy sinh tính mạng vì công cuộc xây dựng cây cầu. Người ta liên hoan lu bù, nhân dịp gì đó (ví dụ họp bàn việc đền bù cây ổi mọc hoang ở bờ sông mà thằng Tèo nhận là của nó) hoặc chả nhân dịp gì sất. Thời gian thi công cây cầu lão Hâm bận công việc ở Hà nội nên cũng chẳng biết rõ lắm các chi tiết, mà nếu có biết tôi cũng chẳng chép vào đây làm gi cho tốn mực.

Cầu xây xong, ai cũng phấn khởi, chả có công có việc gì cũng đi qua đi lại cây cầu dăm lần cho nó sướng, nhưng chỉ sang ngày hôm sau là đã sinh chuyện. Trên làn da trắng bóc của cây cầu, một đứa có chữ nhưng mất dạy nào đó đã dùng than đen viết một dòng to tướng “Đ. mẹ thằng Y”, một đứa biết viết khác viết thêm vào đằng trước mấy chữ nữa thành ra “Đ. mẹ thằng nào đ. mẹ thằng Y”. Ông trưởng thôn chạy sấp chạy ngửa kiếm nước vôi bôi lên dòng chữ nọ, vừa làm vừa chửi đ. mẹ thằng nào mất dạy viết bậy lên cầu. Từ đó ngày nào ông trưởng thôn cũng đi tuần cầu dăm ba lần, đề phòng trẻ con viết vẽ bậy.

Cầu đi vào hoạt động được khoảng một tháng thì có mấy anh lục lộ đến đóng vào hai đầu cầu hai cái biển “Cầu 19+300”. Mấy thằng trẻ con chăn trâu hớt hải chạy ngay về báo với trưởng thôn, trưởng thôn dắt hai anh dân quân chạy ra xem sự thể thế nào thì mấy ông lục lộ đã rút lui từ lâu. Trưởng thôn quát mấy thằng chăn trâu:
- Đứa nào đóng mấy cái biển này vào đây?
Trẻ trâu ú ớ:
- Hình như mấy bác giao thông công chính.
Trưởng thôn rít lên:
- Sao chúng nó dám đặt tên cầu của chúng ông là “Cầu 19+300”?
Ông trưởng thôn ra lệnh cho dân quân gỡ bỏ hai cái biển vứt xuống sông. Tần ngần nhìn cây cầu, ông trưởng thôn gãi đầu:
- Dưng cơ mà cái cầu này đã có tên đếch đâu?

Thế là lại họp thâu đêm để bàn thống nhất đặt tên cầu. Mỗi ông đưa ra một cái tên, tên nào cũng mỹ miều, tên nào nghe cũng có ý nghĩa, và như mọi khi, đếch ông nào chịu thua ông nào. “19/5 ngày sinh của Bác mà các ông không chấp nhận à, lập trường tư tưởng của các ông có vấn đề! Thành Công các ông cũng không thích ư? Thôi thế thì lấy mẹ nó tên thôn ta mà đặt tên cho cầu, đúng thực chất là thôn ta tự đứng ra xây cái cầu này v.v. và v.v.”.

Người nhà quê có thói quen cãi nhau không xong thì mời người ngoài vào phán xử. Ông trưởng thôn đích thân lên toà báo tỉnh, tìm gặp phóng viên Xuân Nồng xin ý kiến. Ông Xuân Nồng chỉ là phóng viên thường nhưng lại là vĩ nhân của tỉnh, rất được mọi người kính trọng. Chả biết ông tài giỏi đến mức nào, chỉ biết trong các cuộc họp của Ủy ban ND tỉnh, ông Chủ tịch tỉnh khi bắt đầu bài phát biểu, trong đoạn văn kính thưa thường kéo dài đến 8 phút của ông bao giờ cũng không quên “kính thưa nhà báo Xuân Nồng kính mến”.

Nghe ông trưởng thôn giãi bày xong, nhà báo Xuân Nồng hạ bút cho hai chữ “Tình nghĩa” kèm theo lời giải thích:
- Tình nghĩa đây là tình cảm của đồng bào Việt nam ở nước ngoài với quê hương làng xóm, vừa là để cảm ơn và động viên người ta tiếp tục giúp đỡ trong nước, đúng không? Tình nghĩa cũng là tình làng nghĩa xóm, là nhịp cầu nối những bờ vui, tới các làng khác, xã khác trong toàn tỉnh và cả nước, càng đúng nữa phải không? Tình nghĩa là cái quan trọng nhất trên đời, các ông cứ đặt tên cầu là “Tình nghĩa” đi, tôi tin chắc thiên hạ sẽ phục các ông sát đất.

Cái gì chứ được thiên hạ phục sát đất thì dân làng lão Hâm đồng ý ngay và kể từ đó cầu được mang tên “Tình nghĩa”.

Lo chuyện làm cầu, đặt tên cầu, rồi trông coi cầu một thời gian ông trưởng thôn gầy tọp hẳn đi, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu. Ông thất bại trong cuộc đua không ngang sức: trẻ con viết bậy – ông trưởng thôn xoá - trẻ con lại viết bậy. Kết quả là những dòng chữ tôn vinh nền vô giáo dục cứ tự nhiên tồn tại, chỉ còn nắng mưa phụ giúp ông trưởng thôn một tay xoá mờ những khẩu hiệu kiêu hùng kia thôi.

Lại còn chuyện có người viết đơn lên Thanh tra tỉnh đề nghị tổ chức thanh tra xem trong việc xây dựng cầu có chuyện tư túi mờ ám nào không. Quả là rách việc!

Bà vợ ông trưởng thôn rên như cháy đồi: “Ông vác tù và hàng tổng chẳng được một đồng xu cong nào mà sao ông cứ hành hạ cái thân cái đời ông thế hả ông ơi, ông có mệnh hệ nào mà nằm xuống thì mấy đứa con ông ai nuôi? Ông ơi là ông ơi!”
Lão hàng xóm nghe thấy vậy nói đế thêm:
- Lọ đỗ chưa đầy ông ơi! (*)

Rốt cuộc ông trưởng thôn phải đưa ra ý kiến thành lập tổ bảo vệ cầu. Lúc đầu không ai đồng ý, đơn giản là lấy tiền đâu trả lương cho đám này, mà bảo người ta làm không công thì ...hơi bị khó đấy! May thay (ở đời may hơn khôn, các cụ bảo thế), một lô cầu to đùng trong cả nước ra đời, Chính phủ cho phép thu lệ phí qua cầu. Ông trưởng thôn ký ngay một quyết định kể từ ngày nọ tháng kia, Thôn sẽ thu lệ phí qua cầu, trừ người dân có hộ khẩu trong thôn. Cũng theo quyết định đó, sẽ thành lập một Ban Quản lý cầu gồm 3 người chia nhau làm ba ca trong ngày có nhiệm vụ thu phí nói trên. Hà hà, kể từ đó mỗi lần về quê lão Hâm đều phải xuống xe mua vé qua cầu, cái thằng bán vé lại chính là cháu gọi lão bằng cậu!

Một lần có ông cán bộ Trung ương có việc đi qua cầu, nghe lái xe bảo phải dừng lại mua vé, ông nhảy ra khỏi xe hỏi thằng cháu lão Hâm:
- Các chú thu tiền theo quyết định nào, của cấp nào?
Thằng cháu bê ra cái quyết định của ông trưởng thôn đặt trong khung kính trông như cái bằng khen, ông cán bộ Trung ương lắc đầu lè lưỡi: ”Quá trời!”.

Một thời gian sau, xuât hiện bất hợp lý: Ban Quản lý cầu chỉ có 3 người là không đủ, chí ít phải có 5 người vì người lao động làm việc theo Bộ Luật Lao động, có thì giờ làm việc thì giờ nghỉ ngơi đàng hoàng, được nghỉ phép nghỉ lễ, được cả ốm đau v.v. Cứ như thế biên chế Ban QL cầu phình to dần, một số lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái, làm nhà ngay hai bên chân cầu. Tiếp theo là xuât hiện nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trạm xá, quán ăn, tiệm may... và rồi hình thành thị trấn “Cầu Tình nghĩa” của làng lão Hâm lúc nào không ai hay! Bây giờ nó còn sầm uất và oai oách hơn chính cái thôn đẻ ra nó rất nhiều.

Mỗi lần buâng khuâng nhớ quê, lão Hâm cũng không còn biết mình nhớ cái gì nữa: làng quê thủa thơ ấu với con đò ngang hay “Phố Cầu” nhộn nhịp hôm nay?

------------------------------------------------------
(x) Xem chuyện tiếu lâm “Lọ đỗ chưa đầy”
 
Chuyện ở Phố Huyện
(04/06/2004)

Trước ngày Phật Đản mấy hôm, thằng Ba gà gọi điện cho lão Hâm:
- Bác cả ơi, chiều ngày Rằm này bác sang em nhé, em khai trương ban Phật, không có bác là không xong đâu.

Từ trước tới nay, hễ có việc gì Ba gà đều gọi lão Hâm. Nó coi lão như ông anh cả của nó, mà lão cũng coi nó như em út trong nhà. Tường - anh cả thật của nó học cùng phổ thông với lão. Tường người nhà quê, cách Hà nội hơn 30 km, lên Hà nội ở trọ, vừa đi làm nuôi thân vừa đi học. Tường làm thuê cho một xe phở trên phố Hàm Long. Thời đó Hà nội còn có những quán phở lưu động, tối tối bán đến khoảng 9-10 giờ là thu dọn nồi niêu bàn ghế cho lên xe đẩy về nhà. Thằng Tường ít nói, học với nó hơn một học kỳ rồi mà chẳng ai biết nó làm công cho hàng phở. Một lần đá bóng, nhảy lên ôm gọn cả quả bóng lẫn đầu thằng Tường trong tay, lão Hâm ngửi thấy tòan mùi phở thì mới biết. Đêm đêm nó phải thức giữ thùng ninh xương sôi liu riu để nước phở đuợc trong, dần dần mùi phở ám vào người nó, kỳ cọ mấy cũng không hết. Từ đó thỉnh thoảng Tường phở rủ lão ra thu dọn hàng (ông chủ ôm bị tiền đạp xe về nhà trước) và hai thằng cùng nhau đào mả thoải mái. Ngày ấy hiệu phở không bán xương đã qua sử dụng cho đám nhậu ít tiền như ngày nay, mà thường cho người làm và mấy bà quét rác ngồi gặm, coi như bồi dưỡng ca đêm. Từ đó lão Hâm mới biết mọi bí quyết làm phở bò. Đang tuổi ăn tuổi lớn, lão Hâm rất khoái cái món đặc sản kia, tối nào cũng ra giúp Tường dọn hàng rồi hai thằng thủng thẳng đẩy xe về tận nhà chủ ở cuối phố Chợ Đuổi. Vừa đi vừa ngắm cảnh đêm Hà nội thanh bình, vừa tranh thủ làm bài tập, về nhà chỉ việc chép vào vở. Hai thằng trở nên thân nhau.

Giữa năm lớp 9 thì Tường đi bộ đội. Lão Hâm mượn xe đạp của mẹ chở Tường phở về quê, đó là lần đầu tiên lão Hâm biết quê bạn. Gọi là nhà quê nhưng lại là phố - phố huyện. Gọi là phố huyện nhưng vẫn là nhà quê, hơn 5 giờ chiều phải kê chõng ra sân ăn kẻo tối.

Lúc đó thằng Ba mới học hết lớp ba, cái lớp mà nó cho là đã quá cao, không thèm học tiếp nữa. Bố nó, bác phó mộc với đôi mắt kèm nhèm đánh nó gãy mất mấy cái thước, cuối cùng đất không chịu trời thì trời chịu đất: “Mả bố mày, muốn ra sao thì ra!”.

Thằng Ba lười học nhưng rất nhanh trí, lắm tài vặt. Mới mười tuổi mà cu cậu lặn đi đâu một chốc lúc về đã thấy lủng lẳng trên tay một xâu cá, vài con gà đồng. Nó biết ăn cả bọ xít, cái thằng trời đánh ấy!

X
X X

Về nước sau khi để lại đất Nga một thời sinh viên dại khờ, lão Hâm đạp cái xe mới cứng, bây giờ là của lão, xe Спорт đàng hoàng, về phố Huyện thăm gia đình Tường. Ông phó mộc đã còng lưng, lấy vạt áo lau cặp mắt gần như lòa dắt tay lão Hâm vào thắp hương cho Tường. Lục lọi một chốc trong ngăn kéo tủ thờ xiêu vẹo, ông đưa cho lão Hâm một gói nho nhỏ bọc kín trong miếng vải mưa: một lá thư viết trên tờ giấy xé từ sổ tay và một gói gần 100 bóng bán dẫn lấy từ vũ khí điện tử của Mỹ. Bức thư khá dài, viết vội và giống như tất cả các bức thư bộ đội hồi đó, nó rất lập trường quan điểm, chỉ xin chép lại một đoạn:
“...Tớ gửi thư này cho một anh ở đoàn Văn công Giải phóng trên đường ra Bắc. Hình như cậu học ngành điện tử, tớ nhặt nhạnh được một ít bóng bán dẫn, liệu có ích gì cho cậu không?
Cuộc chiến đấu còn trường kỳ và gian khổ nhưng nhất định thắng lợi, tớ hy vọng ngày chiến thắng sẽ trở về gặp cậu và các bạn. Nhưng nếu tớ phải hy sinh cho ngày chiến thắng ấy, tớ nhờ cậu một việc: cậu có thể để ý giúp mấy đứa em tớ được không?...”


Thắp hương xong, lão Hâm bảo con Út đi tìm thằng Ba. Khoảng nửa giờ sau một thằng thanh niên đen đủi tập tễnh bước vào, tóc xoăn tự nhiên, lẳng lặng đứng dựa cột nhà không nói không rằng.

- Anh cả muốn nói chuyện với mày, ông phó mộc gầm gừ.

Không biết bắt đầu từ cái gì, lão Hâm nhìn xuống chân thằng Ba:
- Chân chú làm sao thế?
- Em đá bóng...
- Đá bóng đâu mà đá bóng, con Út rít lên, trèo tường nhà người ta thì có.
Thằng Ba không thèm phản ứng trước lời tố cáo của em gái, trơ mắt nhìn lão Hâm.
- Năm nay chú mười bảy rồi, chú định làm gì?
- Cưới vợ.

Giời đất ơi, anh mày đây còn chưa lo cưới vợ, mày mới nứt mắt, không nghề ngỗng gì mà đòi cưới vợ?
- Mày lấy vợ rồi ai nuôi?
- Tôi nuôi.
- Nuôi bằng gì?
- Tôi làm kiếm tiền.
- Làm gì?
- Anh bày cho tôi.

Nghe được đấy, một thằng nhà quê học chưa hết lớp 3, chân tươi chân héo mà nói thế! Ối thằng học xong đại học còn chưa xin được việc làm đấy con ạ. Lão Hâm quay sang ông phó mộc:
- Ý bố thế nào?
- Tôi đã nhắm cho nó con bé Thoan làng Thượng, cho nó cưới chứ không lại như anh cả Tường, nhà này rồi không có người thắp hương, với lại tôi cũng già rồi.

Thế là thằng Ba gà lấy vợ, thế là lão Hâm trở thành anh cả của đám Ba gà lúc nào không hay.

Chả biết bắt nguồn từ đâu mà nó có cái tên phụ là gà. Tại nó thích chọi gà hay tính nó gà vịt linh tinh, chả ai biết nhưng cả cái phố Huyện gọi nó thế.

Lão Hâm mua một cái đài ba bóng Điện Thông, mở ra xem trong đó có những thứ gì rồi mò mẫm len lỏi Chợ Giời hai ngày mua đủ bộ linh kiện, mua cả mỏ hàn, thiếc hàn, panh, kìm cắt, đủ cả. Nói mỏ hàn cho nó oai chứ đấy chỉ là một khúc đồng đỏ mài vát, lấy dây thép quấn làm tay cầm, muốn hàn phải nung trên ngọn lửa bếp dầu. Lão mang toàn bộ đồ lề đó sang phố Huyện và bắt đầu dạy thằng Ba gà lắp đài ba bóng. Lão bắt nó tháo tung cái đài ra rồi hàn lại như cũ. Ông phó mộc cùng con út lăng xăng bên cạnh điếu đóm. Thằng Ba khéo tay, tuy mới cầm mỏ hàn mà mối hàn của nó không kém gì của thợ bậc 3, tròn xoe, bóng loáng. Nó được cái sáng ý, thậm chí là thiên tài về học lỏm. Hì hục từ sáng đến trưa rồi nó cũng lắp xong cái đài nhưng không dám lắp pin, mặt nó ngây dại, tay nó run run:
- Anh cả kiểm tra xem được chưa.

Lão Hâm đặt cái đài lên bàn thờ, trước ảnh Tường rồi từ từ nối dây pin, vặn nút dò sóng. Cả căn nhà cũ nát vang lên “Èn en èn en en... Đây là Đài Tiếng nói Vệt nam, phát thanh từ Hà nội...”.

Ông phó mộc đần người ra, ngồi thụp xuống đất, kéo vạt áo lau mắt. Con út nhảy đến đấm vào lưng thằng Ba thùm thụp còn thằng Ba mím môi nhìn ra phía cuối phố, nơi có cơn gió tung bụi mù mịt...

X
X X

Cứ như thế dần dần thằng Ba gà biết cách lắp đài ba bóng. Nó tự tìm mua linh kiện, vỏ hộp thì đã có ông phó mộc đóng nên cái sản phẩm của nó hơn hẳn những đài quốc doanh, to đẹp và nhờ thế tiếng cũng ấm hơn.

Người nhà quê đồn nhau: “Thằng Ba gà có ông kỹ sư học ở tây về truyền nghề cho, đặt hàng nó là yên tâm”. Thế là nó thừa việc làm nuôi cả nhà, lại để dành mua được con JAVA05 cũ, chiều chiều chạy vè vè dọc phố, mấy chục đứa trẻ con bám theo. Nó xin lão Hâm mấy tờ báo tiếng Nga vứt lăn loc trên bàn, đi đâu ra ngoài thì nó đút một tờ vào túi quần sau, chân thọt khiến cái mông nó cứ ngoáy ngoáy tờ báo một cách điệu đàng. Sau này, khi người ta hay chào nhau hê lô và bai bai thì nó thay tờ tiếng Nga bằng tờ tiếng Anh nào đó, ở cửa hàng ngoại văn bán khối.

Mỗi tháng nó về Chợ Giời một lần mua linh kiện, la cà làm quen với đám thợ tay ngang như nó ở Hà nội và nhờ cái tài học lỏm, chỉ sau một năm là nó đã nắm khá chắc mọi bí quyết của việc lắp đài khuyếch đại thẳng. Nó nói về hệ số khuyếch đại, chế độ AB, giải tần của loa v.v. mấy người dân quê cứ là há hốc mồm ra nghe mà phục sát đất. Riêng cái đoạn nếm bóng bán dẫn để xác định chất lượng và hệ số khuyếch đại của bóng thì mấy ông giáo sư Tây có nhìn thấy cũng phải chịu thua.

Sau ngày giải phóng miền Nam, người ta mang ra bắc rất nhiều máy thu hình, tất cả đều là đen trắng, dùng đèn điện tử, đồ mới cứng thì ít, đa phần là đồ cũ. Việc đầu tiên là phải chuyển trung tần tiếng từ 4,5 Mhz sang 6,5 Mhz thì mới nghe được THVN phát theo tiêu chuẩn kỹ thuật truyền hình của Liên xô. Thời kỳ đầu tiền công chuyển hệ là 70 đồng (bạn hãy so sánh: lương kỹ sư bậc 1 có 63 đ/tháng), mà không phải dễ kiếm ra thợ.

Một buổi sáng Chủ nhật thằng Ba lạch phạch cái JAVA05 sang nhà lão Hâm:
- Bố bảo anh cả về khai trương cửa hàng.
- Cửa hàng gì?
- Sửa chữa TiVi.
- Ai chữa?
- Em.
- Mày tưởng cái TV nó cũng như cái đài ba bóng nhà mày ấy hả?
- Thì anh cứ về đi đã.

Cái nhà ọp ẹp của bố con ông phó mộc bị một cái biển to tướng che mất gần một nửa “Văn Ba - Sửa chữa TiVi các loại - Uy tín - Đảm bảo”. Chui vào nhà, tợp một hơi chén chè mạn từ tay ông phó mộc nay đã mù hẳn, lão Hâm thở dài:
- Này Ba, chú định sửa TV kiểu gì nói anh nghe xem nào!
- Đầu tiên anh cả bày cho em cách chỉnh tiếng, em chỉ chuyên trị chỉnh tiếng thôi, còn máy nào hỏng thì em nhận về để đấy, Chủ nhật anh cả hay bạn anh cả sang sửa, rồi em học dần.
Nhìn khuôn mặt đần thối của lão Hâm, thằng Ba quát con Út:
- Mày còn đứng trơ mắt ra đấy à, không đi bắt gà làm cơm cho anh cả ăn!
Con Út đã dậy thì, ngực nhu nhú, hai má hây hây, ngúng nguẩy chạy ra vườn: ”Em bắt con gà mái hoa anh cả nhé!”.

Lão Hâm bày cho thằng Ba cách thay tụ, cắt bớt dây cuộn trung tần âm, cách chỉnh tiếng. Sau dăm buổi kèm cặp, nó đã khá thạo. Từ đó cửa hàng Văn Ba liên tục phát triển.
Ngoài cái khéo, thằng ba còn có cái khôn. Người nhà quê đã không khôn thì thôi, hễ khôn thì khôn hơn dân thành phố. Nó bảo kê tất cả tivi, đài đóm của lãnh đạo tất cả các ban ngành của huyện. Bảo kê nhưng không dám thò tay vào chữa, nó vừa xoa tay vừa cười hề hề với ông Trưởng Công an huyện:
- Cái con TiVi của bác là Mỹ - Nhật hợp tác sản xuất (!?), nó là hàng cao cấp, chất lượng cao, phải đích thân bác cả nhà em ra tay. Em nói thật đấy, không phải thợ nào cũng dám sờ vào cái TiVi nhà bác đâu.

Ông lãnh đạo công an huyện sướng âm ỉ, dù sao làm lãnh đạo cũng phải có cái gì đó hơn dân thường chứ? Ngoài ra, “bác cả” có cái tính hâm là chữa không lấy tiền. Lão Hâm luôn áy náy một điều: nhân dân cho mình ra nước ngoài ăn học, chữa cái máy vô tuyến cho dân có là cái gì so với lượng học của mình, mình lấy tiền có xứng đáng không?

Thằng ba thì khác, muc đích duy nhất và kiên định của nó là kiếm tiền. Cái bóng công suất bên Hà nội bán 150 đồng, thay cho khách nó tỉnh bơ tính 250 đồng, chưa kể tiền công. Nhiều khi nó xoa tay cười dễ dãi:
- Chỗ hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau, em làm giúp bác ấy mà!

Bỏ mẹ cái ông hàng xóm ấy rồi, gần Tết mà không biếu thằng Ba gà một cặp gà thì lương tâm cắn rứt lắm.

Ở trên đời, nghề nào cũng vậy, không gian manh không kiếm được tiền. Chú cảnh sát giao thông đứng suốt ngày hít bụi đường không kiếm tý thì lấy gì nuôi vợ nuôi con? Cái khoản bịp khách thì lão Hâm phải gọi Thằng Ba là sư tổ. Thông thường trong TV các bóng đèn khuyếch đại tín hiệu rất ít khi hỏng, vì vậy giá của chúng thường rất rẻ, thậm chí dân thợ còn cho không nhau. Thằng Ba luôn ngầm phá hỏng bóng trung tần để khách phải thay. Nó giàu lên trông thấy.

X
X X

Đến khoảng năm 85 thì thằng Ba gà xây nhà, nhà một tầng thôi nhưng mái bằng đàng hoàng, oách nhất phố. Con Thoan vợ nó béo đẫy, chả phải làm gì ngoài việc mặc bộ đồ Sài gòn đi ra đi vào.

Con Út được thằng Ba chạy mất mười mấy cây sang Đức lao động, lấy một thằng Đức, đẻ ra hai chú lai xinh đáo để. Có đận cả nhà kéo nhau về thăm quê ngoại, bốn người xuống xe hơi mà nước hoa thơm phức cả phố huyện. Thôi cũng là mừng cho nó.

Sau năm 85 việc sửa TV không còn ăn mấy, Ba gà chuyển sang làm đại lý bán TiVi. Sửa chữa thì chỉ là làm chân thợ, làm dịch vụ hầu hạ người đời nhiêu khê lắm, bán hàng đại lý mới không vất vả, không phải bỏ vốn, lại không phải chịu trách nhiệm gì sất.
-" Máy mới dùng đã hỏng à? Bố nhà quê ơi, ai bảo bố lúc máy hoạt động không dỡ cái khăn che bụi đi, máy giời cũng phải nóng lên mà hỏng, thế bố ngủ với vợ bố cũng không tụt quần ra cho con nhờ à? Bố có tháo khăn che ra à? Thế thì đây, bố mang máy đến địa chỉ XYZ mà bảo hành nhé, Công ty người ta có trách nhiệm bảo hành cho bố, bố hiểu chưa?"

Khoảng năm 95 thì thằng Ba giầu vào hạng nhất nhì phố huyện, bây giờ thỉnh thoảng ông Chủ tịch huyện ghé vào nhà nó chơi, nói chuyện thời sự quốc tế, hút thuốc ba số (bạn đọc thân mến ơi, bạn thử tìm xem có ông chủ tịch huyện nào ngoài giờ hành chính còn bàn chuyện huyện sự không, nếu có tôi chỉ xin bé bằng con kiến), và nếu cần thì vay tạm một ít tiền để giải quyết công chuyện gì đấy. Thằng Ba cho vay, tất nhiên là không lấy lãi. Lãi chính là uy tín cá nhân của nó ngày càng cao, vừa rồi bầu Hội đồng Nhân dân huyện nó suýt trúng đấy, chỉ thua cái nhà anh tiến sỹ gì có mấy phiếu thôi. Dân trong huyện cứ tấm tắc khen ông tiến sỹ là giỏi, chả thấy vắng mặt đi học ngày nào bỗng dưng có ngay cái bằng tiến sỹ kinh tế! Mấy thằng thanh niên mất dạy thì gọi ông ta là tiến sỹ kinh thế!

Rồi thằng Ba đập cái nhà cũ đi xây nhà mới bốn tầng. Đất nhà nó rộng cả sào bắc bộ, mà nó lại xây nhà kiểu ống cho giống trên Hà nội, bề ngang bốn thước, hun hút ra tận cầu ao. Người nhà quê họ quê ở chỗ cái gì cũng bắt chước làm như Hà nội, bắt chước cả cái người ta cực chẳng đã phải làm. Hôm khai trương nhà, thằng Ba cũng mời lão Hâm sang ăn tân gia. Nó dẫn lão Hâm đi khắp bốn tầng nhà, khoe mấy cái toilet hiện đại nước xối phe phé. Có cười khiêm tốn một cách đắc ý:
- Em dân quê làm nhà chắc còn nhiều khiếm khuyết, có gì bác cả bảo ban thêm.
- Mày không hỏi tao từ trước khi xây, bây giờ ván đã đóng thuyền, góp ý vuốt đuôi góp làm gì!
Không lạ gì tính bác cả Hâm, thằng Ba bẻo lẻo:
- Chính tay em làm xong rồi mà còn thấy nhiều điểm chưa ưng ý, huống hồ bác đi nhiều biết rộng chắc phải thấy nhiều cái chưa được mắt.
- Thế tao bảo mày phá đi làm lại mày có nghe tao không? Lão Hâm trêu.
- Cái gì cần đập em sẵn sàng đập, bác biết tính em rồi.
- Thế thì tao chỉ nói có hai cái thôi. Một: nhà mày to thế mà cái bàn thờ bé tý, không ổn. Mày phải làm to ra, lấy kích thước theo Lỗ Ban. Mang ảnh ông bà già và ông cả Tường lên Hà nội cho họ làm lại trên máy vi tính, về treo cho thật trang trọng. Cái này dễ phải không? Hai: khi nào đập được thì mày đập mẹ nó cái mái chóp cho tao nhờ, nhà nhà chóp chóp, người người chóp chóp, rõ là dân nhà quê. Cười cái gì, ngay giữa Hà nội cũng là dân nhà quê nốt, đạo Hồi không phải, đạo Ấn độ không phải, làm cái chóp làm gì, voi đú chuột chù cũng đú!

X
X X

Ba năm lại đây, thằng Ba gà không buôn bán gì nữa, nó xoay sang kinh doanh internet. Gian phòng rộng phía trước nó cho lắp đặt 20 cái PC, xài ADSL đàng hoàng. Biển hiệu đơn giản “Văn Ba - Internet”. Nó cho vợ nó trông coi cửa hàng, còn nó tham gia hội phật tử, đội nhang đi khắp các chùa trong nam ngoài bắc.

Hôm nay nó khai trương ban Phật, mời ba bốn chục người tham dự. Hóa ra nó đập cái mái chóp theo lời khuyên của lão Hâm mấy năm trước, cơi ra thành một căn phòng rộng rãi, lập ban thờ Phật. Nó mặc bộ đồ nâu phật tử, kính trắng lấp lánh dưới mái tóc xoăn tự nhiên đã bắt đầu điểm bạc, vui vẻ tiếp khách. Sau một tuần trà thuốc, nó mời mọi người lên ban Phật tụng kinh.

Nó gõ mõ, tụng kinh rất thành thạo, vẻ mặt thành kính và thanh thóat.
Kinh Phổ môn chưa tụng xong, bỗng dưới nhà có tiếng ồn ào:
- Thằng Việt Cường đi xe máy ngã gãy chân rôi ông Ba gà ơi.

Thằng Ba vứt dùi vứt mõ tập tễnh vịn cầu thang chạy xuống, mọi người vội vàng chạy theo. Lão Hâm biết mình chả giúp được việc gì, ngồi trầm ngâm ngắm nhìn bức tượng Phật Bà Quan Âm mờ tỏ sau lớp khói hương. Dưới kia, sau ô cửa sổ là cái ao nhà bên cạnh, mấy con vịt lặn ngụp trong đám rác và túi ni lông nổi lều bều...
 
Nàng công chúa biển
(5/9/2004)

Gã thuê một apartment 80 USD/đêm ở Tuần Châu, dúi cho chú lái xe 300.000đ bảo tìm chỗ cất xe và trú ngụ qua đêm. Sau bữa tối nhẹ nhàng với ly rượu cô-nhắc, gã thả bước dọc theo bờ biển, để cho tâm hồn phiêu lãng cùng với sóng nước và mây trời. “Ngũ thập tri thiên mệnh”, gã qua ngũ thập mấy năm rồi, mệnh của gã chỉ còn mấy năm nữa là về hưu, điều này ghi rõ ở Luật công chức viên chức nhà nước, khỏi cần tài giỏi gì cũng biết.

Gã để đôi chân trần được cát ướt vuốt ve. Bãi cát nhân tạo ở Tuần Châu có nhiều hạt thô ráp không mịn như những bãi cát tự nhiên. Quay đầu nhìn về phía sau, gã thấy những vết chân của gã bị sóng chồm qua xoá nhoà như chúng chưa hề có.

Bỗng gã thấy một con cá bé xíu kẹt lại trên bờ, nó quẫy mạnh hòng ném mình xuống nước nhưng càng quẫy nó càng rơi xa mặt nước hơn nên đợt sóng kế tiếp không liếm được đến chỗ nó. Gã dừng lại, tò mò xem số phận con cá ra sao. Đời gã nhiều lần sa vào cảnh như con cá nọ và cũng nhiều lần chính gã đẩy người khác vào chỗ cùng quẫn không kém.

Con cá mỏi mệt và tuyệt vọng, nó cất tiếng người, giọng nhẹ như tơ: “Ông ơi cứu tôi với!”. Ngạc nhiên, gã nhặt con cá lên, đặt vào lòng bàn tay. Con cá bé nhỏ này rất lạ, thân nó lóng lánh ngũ sắc, đặc biệt rất nhiều vây, hai hàng vây cạnh sườn giống như những mái chèo con thuyền đua trên sông Hàn.

Thay vì thả con cá xuống biển, gã chạy vội về căn hộ sang trọng kiếm cái xô mang ra múc đầy nước biển và thả con cá vào đó. Con cá bình tĩnh trở lại, ngon lành đớp từng ngụm nước biển quen thuộc, ngước mắt nhìn gã cảm ơn.

Thế là nhà gã có thêm một bể cá mới, bể cá nước mặn. Trong phòng ăn gã đã có con hồng long giá mười triệu, ngoài sân gã có hòn non bộ với tám con cá vàng một con cá đen (số lượng đúng theo phép phong thuỷ). Riêng con cá mới nhặt được ở Tuần Châu gã để trong phòng ngủ, bể cá gã thuê làm bằng kính dày 1,5cm, chạy dài suốt cả bức tường. Con cá rất đẹp, gã nhờ người hỏi xem là giống cá gì mà không ai biết, kể cả mấy chuyên gia ở Viện Hải dương học. Tuy được gã đặc biệt quan tâm, con cá vẫn buồn bã, không hề ăn bất cứ thứ gì gã cho, nó lờ đờ bơi quẩn quanh ống xục khí như nhớ thương cố hương biển cả mênh mông của nó.

Hàng tuần gã nhờ chú lái xe ra Tuần Châu lấy dăm bảy can nước biển mang về đổ vào bể thay cho lượng nước được hút ra làm sạch. Trong một lần thay nước như vậy, chú lái xe phát hiện thấy con cá bé nhỏ ăn mấy cọng rong biển, từ đó lần nào chú cũng cố tìm những sợi rong biển non nhất mang về cho cá.

Một đêm thu dịu mát, gã mở bản Ánh trăng, châm điếu thuốc thơm, lim dim mắt hưởng thụ giây phút thư thái sau một ngày vật lộn với bốn năm cuộc họp căng thẳng. Gã ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng từ trong bể cá một cô gái xinh đẹp bước ra, áng chừng chưa đến 15 tuổi. Gã từng biết nhiều người đàn bà, nhiều tấm thân nõn nà người mẫu, nhưng đẹp và thuần khiết như cô gái này thì những lúc mơ mộng nhất gã cũng chưa bao giờ tưởng tượng nổi.

- Thưa chú, cháu cảm ơn chú đã cứu sống cháu. Nhưng cháu không thể sống trong cái bể chật hẹp này được, cháu phải về với cha mẹ cháu, với đại dương của cháu.
- Nàng là ai, hỡi nàng tiên xinh đẹp của ta?
- Không dấu gì chú, cháu là con gái Thuỷ Tề, hôm đó ham đi chơi xa bị sóng đánh lên bờ, nhờ chú cháu mới thoát chết, nay cháu xin chú cho cháu trở về biển cả.
- Ô, nàng hãy ở lại đây với ta, hãy làm vợ ta. Ta với nàng có duyên gặp nhau là trời đã định rồi, nàng đừng từ chối.
- Nhưng cháu còn bé lắm chú ơi.
- Ta đợi nàng lớn thêm mấy năm nữa.
- Nhưng chú đã có vợ rồi, vợ chú nằm ngay phòng bên cạnh kia thôi!
- H h h ừm, ta với bà ấy chỉ là nghĩa thôi, không còn tình nữa.
- Không được đâu chú ơi, cô bé oà khóc rồi biến vào bể trở lại thành con cá bé nhỏ.

Bàng hoàng chợt tỉnh, gã đăm đăm nhìn con cá đang lờ đờ bơi ở một góc bể, không biết câu chuyện vừa rồi là thật hay mơ. Gã chạy sang hỏi vợ, người phụ nữ đã về hưu đang ngồi lần tràng hạt lẩm bẩm đọc kinh Phật:
- Bà có nghe thấy tiếng động gì trong nhà không?
- A di đà phật, ông làm tôi giật mình, tôi có nghe thấy gì đâu?

Vợ chồng gã lấy nhau đã gần ba mươi năm. Hồi đó gã vừa tốt nghiệp khoa VTĐ ĐHBK là xung phong đi bộ đội ngay, thời ấy hầu hết thanh niên là như vậy. Gã được đưa về đơn vị thông tin thuộc một Sư trong đoàn 559, làm quen với cô bác sỹ quân y xinh đẹp có đôi mắt mở to như chú nai vàng trong thơ Lưu Trọng Lư. Một năm sau hai người làm đám cưới giữa hai đợt bom B52 của Mỹ. Ba tháng sau đám cưới, gã nhận lệnh về đi học Học viện quân sự ở nước ngoài, còn cô bác sỹ mắt nai thì chuyển về một bệnh viện ở Hà nội. Hoá ra bố cô bác sỹ là một vị tướng Tư lệnh quân khu!

Có bằng cấp, có lý lịch tốt, có quá trình ở chiến trường, gã leo tắt những bậc thang danh vọng nhẹ nhàng như người ta làm xiếc. Cô gái mắt nai nay đã nhìn rõ sự đời, nhìn rõ tâm can của gã, chỉ còn muốn an lạc nơi chốn Phật, mặc gã tự do với nhưng mưu đồ chính trị và đám gái gọi chạy xe Dylan.

Đêm hôm sau gã giả vờ ngủ gật, cô Công chúa biển lại hiện lên:
- Nếu chú thả cháu, Vua cha sẽ tặng chú 100 ngàn đôla.
- Từng ấy không bằng số tiền ta đã chi ra cho cậu út sang Mỹ ăn học.
- Một triệu đôla!
- Cái nhà này của ta có giá còn cao hơn.
- Thế thì một viên ngọc minh châu trường sinh!
- Trường sinh làm gì, nếu không có nàng làm vợ?
Thất bại trong vụ mặc cả, nàng Công chúa biển lại nức nở khóc, quay về với cái bể cá thắp nhiều bóng đèn màu rực rỡ.

x
x x

Những hôm không phải đưa thủ trưởng đi công tác, chú lái xe quay về nhà Sếp, đảm nhiệm thêm việc làm vườn, chăm lo cây cảnh và mấy bể cá nhà Sếp. Chú rất thương con cá ngũ sắc bị nhốt trong cái bể đẹp đẽ trong phòng ngủ của Sếp. Chú đặt cho nó cái tên là Sa, ngụ ý nó bị sa vào chốn tù hãm. Chú đâu có biết đó chính là nàng công chúa biển, chú cũng không hay dưới đáy biển, trong kho của Thuỷ Tề có hằng hà sa số vàng bạc châu báu mà nếu chú giúp giải thoát con gái Người thì Người sẵn sàng ban thưởng cho chú. Chủ chỉ thương nó, thế thôi.

- Sa ơi, anh sẽ tìm cách thả em về với biển.
Con cá ngừng bơi, chăm chú nhìn chú nghi hoặc:
- Anh cần tiền hay cần tình yêu?
- Sao em lại hỏi thế? Chàng trai buồn bã, bao giờ chú cũng buồn khi người đời đo bụng chú bằng thước đo trong bụng người ta. Chú càng buồn hơn vì con cá xinh đẹp cũng suy nghĩ tầm thường như vậy. Nước mắt chú ứa ra, vô tình rơi vào bể cá. Không rõ mấy giọt nước mắt của chú có mặn hơn nước biển hay không mà con cá bơi lên cao, đớp chúng vào bụng rồi tỏ ra rất xúc động.
x
x x

Đến ngày Rằm tháng Bảy, bà bác sỹ về hưu nói với chồng một cách nghiêm trọng:
- Căn bệnh phổi của em lâu nay bây giờ được kết luận là “K” rồi, đã di căn. Các giáo sư quen biết không muốn dấu em - một người đồng nghiệp.

Gã choáng váng như lần đang đeo tai nghe bị sét đánh vào đường dây thông tin, há hốc mồm nhìn vợ. Lâu lắm rồi gã không nhìn kỹ vợ, khuôn mặt thân thương đã có nhiều nếp nhăn nhưng chưa già. Có lẽ nào, cái chết đến đơn giản thế sao? Thế là xong một kiếp người, là sẽ nhắm lại đôi mắt đen huyền ảo kia?
- Em hỏi có loại thuốc nào đắt nhất anh cũng sẽ tìm mua cho em, ở Mỹ ở Anh ở đâu anh cũng mua được.
- Y học thế giới bó tay. Chỉ còn một cách duy nhất, sư ông trụ trì chùa Quảng khuyên em ăn chay và phóng sinh. Nhân ngày Rằm tháng Bảy, anh cho em phóng sinh cá và chim, mỗi thứ 900 con.

Gã nhờ chú lái xe đi mua cho bằng được ngần ấy chim và cá còn sống mang lên Phủ Tây Hồ thả. Đàn chim ào ào bay đi, để lại một đám lông rụng bay theo gió ven hồ.

Ba tháng sau, vợ gã đi kiểm tra lại, thấy bệnh tình không những không phát triển, thậm chí hai đáy phổi có sáng lên. Gã mừng lắm, mail ngay sang Mỹ cho cậu út báo tin lành. Quả là có thờ có thiêng, có kiêng có lành!

Một tối nọ, trong dịp hiếm hoi hai vợ chồng nói chuyện với nhau, bà bác sỹ quân y về hưu ngập ngừng đề nghị gã:
- Sư ông lại bảo là em có thể khỏi được nếu anh cho phóng sinh tất cả cá cảnh trong nhà.

Lần này gã còn bàng hoàng hơn lần trước, như bom tấn nổ ngay bên tai. Con hồng long gã không tiếc, bầy cá vàng thì đáng kể gì, riêng nàng công chúa biển thì ...không lẽ gã mất nàng ư?

Rồi cũng phải quyết định thả thôi. Đám cá vàng có sống sót được nửa buổi nếu chúng trở lại với tự nhiên, con hồng long quê hương tận Nam Mỹ làm sao mà tồn tại được giữa hỗn độn Hồ Tây? Phóng sinh mà đưa người ta vào chỗ chết là làm điều thiện hay làm điều ác đây?
x
x x

Chỉ có hai cô cháu – bà vợ Sếp và chú lái xe đưa công chúa biển ra Vịnh Hạ Long, họ thuê một tàu ra xa ngoài vịnh, chọn chỗ nào nước trong nhất, ít người qua lại nhất để thả con cá bé nhỏ xuống biển. Con cá sung sướng lượn đi lượn lại mấy vòng rồi biến mất dưới biển xanh sâu thẳm.
- Na ơi, em hãy hạnh phúc nhé! Chú lái xe lẩm bẩm một mình.

Khoảng mười phút sau, bỗng nhiên biển động sóng cồn, con tàu chở hai cô cháu không thể nào đi được nữa. Nước rẽ ra hai bên, Thuỷ Tề dẫn đầu văn võ bá quan chắp tay tạ ơn hai người đã cứu mạng nàng công chúa biển yêu quý của Người:
- Để trả ơn, ta ban cho mỗi người một điều ước, các ngươi ước ngay đi.
Chú lái xe vội vàng:
- Con mong cho bà chủ của con đây hết bệnh ung thư!
Thuỷ Tề vuốt râu cười ha hả:
- Bà chủ kính mến của con có bị ung thư bao giờ đâu!
Bà bác sỹ về hưu chắp tay như niệm Phật:
- Con đã theo Phật rồi, con không có điều gì cầu mong riêng cho con nữa!
Trời lại trong xanh, biển lại dịu êm như bất kỳ một ngày đẹp trời nào khác.

x
x x

Một tuần sau khi để vợ thả công chúa biển về với đại dương, gã lại mò ra Tuần Châu, thuê căn hộ quen thuộc rồi lại lững thững đi dọc theo bờ biển. Lần này gã không ngắm trời sao, không nghe biển gieo những vần thơ bất tận. Gã mong gặp lại cô gái xinh đẹp đáng ra đã là của gã, cũng chẳng phải để ngắm lại dung nhan của nàng, mà với mục đích khác - gặp được bố nàng. Gã đâu còn năng lực yêu mặc dù năng lực đàn ông của gã chưa hề suy giảm, thậm chí còn mạnh mẽ hơn hồi thanh niên nhờ những bình rượu ngọc dương, tắc kè và cá ngựa mà đàn em luôn lo đủ cho gã. Món đông trùng hạ thảo lão dùng thường xuyên như người ta ăn rau muống. Để yêu người ta cần phải có năng lực khác - năng lực hiểu và hy sinh dâng hiến cho người mình yêu, cái đó nay đã khô cạn trong lòng gã, đám đàn em làm sao tìm ra thứ thuốc khả dĩ chữa được bệnh này.

Ngay hôm vợ gã xách xe ra Hạ Long, gã gọi điện cho một người quen ở Thanh tra Bộ Y tế, nói rất khéo:
- Ông xem hộ hồ sơ bệnh án bà xã tôi ở Bệnh viện K. Tôi nghi là bà ấy bị ung thư nhưng các bác sỹ còn dấu. Tôi muốn biết để sớm lo liệu, cho dù đó là sự thật tàn nhẫn nhất.

Không quá nửa buổi, người bạn kia gọi điện trả lời là vợ gã chưa hề điều trị ở Bệnh viện K nên không có hồ sơ bệnh án ở đấy. Thôi rồi, cao nhân hữu tắc cao nhân trị, vợ lão, con nai vàng ngơ ngác ấy đã đi một nước cờ cao qua mặt gã!

Đã thế thì gã phải đòi lại một cái gì chứ, không lẽ mất tuột hết? Vì lẽ đó gã có mặt ở Tuần Châu, vừa chậm rãi đi dọc bờ biển, vừa lẩm bẩm:
- Thuỷ Tề đâu, ta tha con gái nhà ngươi, đến một triệu đô la ta còn không thèm lấy, không lý gì ngươi không biết ơn ta?

Đúng lúc đó Thuỷ Tề hiện lên, ăn mặc bình dân kiểu vi hành, dắt theo vài chú vệ sỹ thuồng luồng, nghiêng mình chào gã:
- Thuỷ Tề ta tuy không được ăn học bằng nọ cấp kia nhưng lễ nghĩa ở đời không phải là không biết. Hôm nay ta đến đây để ban cho nhà ngươi một điều ước nhằm đền ơn ngươi đã cứu mạng và thả con gái út yêu quý của ta.
- Tôi nhớ ngày xưa có ông già câu được con cá vàng, thả nó ra, nó còn cho ba điều ước, sao bây giờ Thuỷ Tề chỉ cho tôi có một là sao?
- Thời văn minh hiện đại phải khác với thời cổ hủ xưa kia chứ. Ngày xưa ai dám ước có máy bay để đi, có internet để giao du với cả thế giới loài người? Một điều ước ngày nay có giá bằng mười điều ước ngày xưa, ngươi có hiểu điều đó không? Thôi ngươi hãy nói ra điều ước của ngươi ngay đi!
Gã suy nghĩ một lúc rồi gạ gẫm:
- Tôi ước gì được thăng lên đến cái chức mà tôi sẽ không bao giờ phải về hưu. Gã biết có chức là có quyền, có quyền là có tiền, có tiền là có tất cả.
Thuỷ Tề vuốt râu cười:
- Trong vòng 100 ngày điều ước của ngươi sẽ thành hiện thực.
- Phép thần gì mà 100 ngày mới linh nghiệm, ông không gạt tôi đấy chứ?
- Ta là Thuỷ Tề còn thèm lường gạt ai? Công tác tổ chức cán bộ làm có 100 ngày là thần thánh lắm rồi. Good bye nhà ngươi!

Chuyện 100 ngày sau gã có được thăng quan tiến chức hay không, chúng ta hãy cố đợi, khi nào có tin tức gì tôi xin chép lại cho các bạn hay.

Riêng cô công chúa biển, sau khi đã hoàn hồn sau chuyến chu du bất hạnh kia, cô rất ăn năn là khi chia tay cô không hề nói một lời với bà chủ và anh lái xe, không cả cảm ơn những người đã cứu mạng mình. Anh lái xe còn chúc cô hạnh phúc, vậy mà cô vội vã đến mức quên cả tạm biệt các vị cứu tinh của mình!

Thế là cô xin phép Vua cha được báo mộng cho chú lái xe, yêu cầu anh phải dùng lại lời ước mà lần trước anh sử dụng chưa đúng (anh cầu mong bà chủ khỏi bệnh ung thư, nhưng bà chủ đâu có bệnh tật gì). Chú lái xe rất vui mừng được gặp lại cô, vốn tính đa cảm, lại rơi nước mắt. Lần này nàng công chúa biển không uống những giọt nước mắt của anh lái xe như lần trước, nàng muốn hôn lên vầng trán trong sáng của anh như kiểu em gái hôn anh trai nhưng nàng không dám, dù sao nàng cũng đã lớn rồi.

- Sa ạ, anh chỉ mong em được hạnh phúc là anh mãn nguyện.
- Không được, phép thần của cha em chỉ có tác dụng khi anh ước cho bản thân anh.
- Nhà anh nghèo, anh phải đi làm nuôi mẹ và các em, không học lên đại học được...
- Nghĩa là anh muốn học đại học? Chuyện nhỏ như con thỏ! Anh vào khoa Công nghệ thông tin Đại học Bách khoa nhé? Giữa tháng này anh sẽ nhận được giấy gọi. Anh đừng thắc mắc là không thi sao lại được gọi, việc này cha em lo được. Anh phải làm có mỗi một việc là sáng mai mua một vé xổ số, anh sẽ trúng giải đặc biệt, đủ tiền nuôi mẹ cùng các em và anh ăn học đến lúc nào anh hết muốn học thì thôi.


Chuyện đã dài, tôi không dám làm mất thêm thì giờ các bạn nữa, chỉ xin nói thêm một tình tiết: chú lái xe đã làm đơn xin thôi việc, gã chủ cũng đồng ý ngay (kinh nghiệm của các Sếp là lâu lâu nên thay lái xe, để bọn này biết nhiều là không có lợi).
 
Trên đây là 17 truyện ngắn và cực ngắn tôi viết trong thời kỳ 2003-2005, như một thú vui tay trái.

Xin cảm ơn bạn đọc đã ưu ái không nói ra lời phê bình. Tuy nhiên tôi vẫn xin người đọcvui lòng bỏ qua những yếu kém của một tay viết không chuyên nghiệp.

Đến đây tôi muốn bạn đọc được "xả hơi" một chút, vì chắc người đọc cũng đã quá mệt mỏi vì những câu chuyện hâm hâm của tôi.

Khi nào có gì mới, hay hay, tôi sẽ lại gửi đến các bạn!
 
Mạch Truyện ngắn của bác Phanhoamay thật công phu và sâu sắc những trải nghiệm cuộc sống một cách hóm hỉnh ... In thành truyện được đấy bác Phan ơi! (Nếu thành sự thật như một điều ước linh nghiệm của Thủy Tề, bác đừng quên tặng em một quyển nhé :D)

Nhưng dù sao cũng phải "bắt giò" bác Phanhoamay tí :lol: :
Phanhoamay nói:
(...) Chú đặt cho nó cái tên là Sa, ngụ ý nó bị sa vào chốn tù hãm.

(...) Con cá sung sướng lượn đi lượn lại mấy vòng rồi biến mất dưới biển xanh sâu thẳm.
- Na ơi,em hãy hạnh phúc nhé! Chú lái xe lẩm bẩm một mình.

Hihihhi, chỉ định "nhắc nhỏ" trong tin nhắn của bác thôi, nhưng bởi vì thấy bác nhầm thành câu gọi tha thiết "Na ơi" - nên em post ở đây để tò mò chút xíu: "Nàng tiên cá trinh nguyên đáng yêu có phải là hình mẫu của ... Nina không vậy ha bác?"
:D :P :lol:
 
Xin cảm ơn Bác Phan đã cho anh em được tận hưởng những tác phẩm tuyệt của Bác. Mình vẫn thích những tác phẩm đời thường này hơn những quyển tiểu thuyết ngoài hiệu sách. Phải chăng ngoài giá trị thực của những truyện ngắn trên, mà cái đáng quý nó là tác phẩm tay trái của nhà văn không chuyên như Bác Phan. Bác mà in xuất bản lấy tiền là Bác vô hình lại đánh tụt lòng "hâm mộ" của em đi đấy :D. Tớ thích được đọc những bài thơ tự dịch của anh em mình ở đây hơn của các Bác Bằng Việt, Bác Thúy Toàn. Tớ thích sự giản dị chân phương trong lối dịch của các Bác nhà mình, tuy rằng đôi khi nó hơi ngang ngang. Có thể cũng như ta thích được ăn quả khế tại vườn nhà hơn là quả khế mua ngoài chợ.
 
rung_bach_duong nói:
Có thể cũng như ta thích được ăn quả khế tại vườn nhà hơn là quả khế mua ngoài chợ.

Khế nhà cô mải miết ăn
Để khế ngoài chợ ế nhăn ế nhèo
Khế nhà phải mất công trèo
Khế chợ chỉ việc ăn vèo là xong!
Dại gì dại thế, biết không?

Hoa May nói:
Hihihhi, chỉ định "nhắc nhỏ" trong tin nhắn của bác thôi, nhưng bởi vì thấy bác nhầm thành câu gọi tha thiết "Na ơi" - nên em post ở đây để tò mò chút xíu: "Nàng tiên cá trinh nguyên đáng yêu có phải là hình mẫu của ... Nina không vậy ha bác?"

Chẳng qua cái lỗi typing,
Cũng sor-ry cái, lỗi mình, trách ai?
Nina mắt phượng mày ngài
Ngọc hoàng sai xuống làm cai chốn này
Trêu vào, "nó" đập gẫy tay!
 
Bác Phan ạ, sao bác lại nỡ nghĩ xấu về em như thế :). Nhưng em không thù bác đâu, em thích những truyện ngắn của bác! Hôm qua em còn tưởng tổng cộng có 16 truyện, đã định vỗ tay hoan hô, nhưng may mà kìm lại được :)
 
Mình thích đoạn triết lý này:
" Gã đâu còn năng lực yêu mặc dù năng lực đàn ông của gã chưa hề suy giảm, thậm chí còn mạnh mẽ hơn hồi thanh niên nhờ những bình rượu ngọc dương, tắc kè và cá ngựa mà đàn em luôn lo đủ cho gã. Món đông trùng hạ thảo lão dùng thường xuyên như người ta ăn rau muống. Để yêu người ta cần phải có năng lực khác - năng lực hiểu và hy sinh dâng hiến cho người mình yêu, cái đó nay đã khô cạn trong lòng gã, đám đàn em làm sao tìm ra thứ thuốc khả dĩ chữa được bệnh này."
 
Chuyện con toỏng loòng loong

Câu chuyện xảy ra vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước.

Chàng là một anh giáo hiền lành, đẹp trai. Chàng vừa đi dạy để kiếm sống, vừa lo chuẩn bị thi tú tài. Vì có tư tưởng chống thực dân Pháp nên chàng toàn bị đánh trượt ở những kỳ thi vấn đáp. Thi năm lần bảy lượt mà vẫn không đỗ. Không đỗ thì lại đợi đến kỳ thi năm sau, và lại tiếp tục dạy đám trẻ con những nhà khá giả trong thành phố.

Nàng là một cô gái con nhà giòng dõi. Nàng đẹp, cái đẹp của một người đẹp vào năm 16 tuổi, như vầng trăng viên mãn trên bầu trời đêm trong sáng. Nhưng khác với vầng trăng tròn mà ai cũng có thể thưởng ngoạn, cái đẹp của nàng hoàn toàn bí ẩn bởi hàng rào những phép tắc gia giáo ở cái thành phố cố kính miền Trung. Con gái có việc ra ngoài dứt khoát phải có người nhà đi theo, mắt nhìn thẳng, dáng đi phải khoan thai dịu dàng, và nhất là không được bắt chuyện với người lạ.

Nghe tiếng người đẹp đã lâu mà chàng không có cơ hội nào để làm quen. Ở đời gặp cái gì càng khó đạt được, người ta càng cố tìm cách vươn tới mục tiêu. Chàng quyết định thuê nhà ngay bên cạnh nhà nàng để ở và dạy học. Hàng ngày chàng loáng thoáng nhìn thấy nàng bên kia hàng rào dâm bụt, khi nàng ra sân làm những việc gì đó giúp mẹ. Mấy tháng trôi qua, chàng không có được sự tiến bộ nào khác ngoài việc ngắm trộm cô hàng xóm xinh đẹp và đoan trang kia.

Chàng dạy học trò rất nghiêm. Bọn trẻ sợ thầy một phép, điều khó tìm thấy trong ngành sư phạm Việt nam hiện đại.

Một lần thầy cho học trò nghỉ 3 ngày, nói là có việc bận sang Lào gặp người bạn. Khi về, chàng chẳng mang gì, ngoài một cái hộp gỗ bé xíu, trong đựng một đồ vật gì đó vô cùng quý báu.

Sáng sáng, sau khi kết thúc bài thể dục bằng một đường quyền đẹp mắt, chàng lại mang cái hộp xinh xinh kia ra để trên cái bể xi măng trồng sen ở giữa sân, ngắm nghía hồi lâu rồi mang vào cất trên giá sách. Chàng dặn học trò:
- Không trò nào được rờ tới cái hộp của thầy, đó là tài sản vô giá của thầy, đứa nào đụng vào thầy sẽ phạt 100 roi.

Có một đứa dám hỏi thầy trong cái hộp có gì mà thầy quý vậy? Thầy cho biết trong đó có con toỏng loòng loong mà thầy vừa mua được bên Lào, cả Đông Dương chỉ có một con!

Bọn trẻ con, thì chúng nó là trẻ con mà, kể lại cho bạn bè và bố mẹ nghe chuyện thầy giáo có con toỏng loòng loong rất quý. Không ai biết con toỏng loòng loong là con gì, nên ai cũng tò mò và thắc mắc.


Tới một ngày nọ, chàng ra bài cho học sinh xong rồi đi có việc đột xuất. Trước khi đi thầy dặn kỹ:
- Không đứa nào được đụng tới con toỏng loòng loong cũng như không cho ai được đụng tới nó!

Thầy vừa đi được mươi phút, cô hàng xóm xinh đẹp của chúng ta gói một gói kẹo, chạy sang lớp học. Nàng xin bọn trẻ cho xem cái con toỏng loòng loong. Nhưng nhớ lời dặn của thầy, đúng hơn là nhớ tới cái roi của thầy, không đứa nào dám cho nàng xem. Nàng van nài:
- Chị chỉ coi một chút xíu thôi, rồi để nguyên vào chỗ cũ, thầy không biết đâu. Đây, bọn em ăn kẹo đi!

Cái roi ở xa không mạnh bằng cái kẹo ở gần, hơn nữa chính tụi nhỏ cũng tò mò muốn biết con toỏng loòng loong hình thù ra sao mà thầy quý vậy.

Bọn trẻ con cùng cô gái mang cái hộp ra sân để nhìn cho rõ. Vừa mới mở nắp hộp, chưa ai kịp nhìn thì con toỏng loòng loong to bằng hạt ngô bay vù đi mất!

Bạn đọc hẳn đã hình dung ra sự sợ hãi của đám học trò và cô gái kia đến mức độ nào, tôi không cần miêu tả!

Đến gần trưa thầy giáo mới về, thấy cả lớp đang quỳ một lượt, đứa nào đứa nấy mặt cắt không còn hột máu. Thầy hiểu ngay sự việc:
- Con toỏng loòng loong bay mất rồi?

Tiếng “dạ” giọng Huế vốn đã rất nhẹ, lúc này ai thính tai lắm mới nghe thấy.
Thầy buồn đến mức không còn đủ sức đánh học trò, lặng lẽ khoát tay cho chúng về nghỉ trưa.

x
x x

Tối hôm đó bà mẹ nàng dắt nàng sang nhà thầy xin lỗi và xin đền bù thiệt hại:
- Em nó còn trẻ người non dạ…

Nhìn nàng cúi mặt, tâm trạng khó xử, chàng thấy thương quá. Chàng không bắt đền, nói thôi việc đã rồi, bây giờ có tiền cũng không mua lại con toỏng loòng loong khác được nữa.

Câu chuyện đến đây là hết, bởi vì sau đó chàng và nàng quen nhau, hai năm sau thì làm đám cưới.

Mãi đến khi tôi đã lớn, mẹ tôi mới kể cho tôi nghe chuyện này. Tôi tìm dịp hỏi cha về con toỏng loòng loong, ông nháy mắt cười:
- Con nhặng xanh.

Tôi rất cảm ơn con toỏng loòng loong, nhờ nó mà có tôi trên đời.
 
Mẩu chuyện xa xứ



Đó là vào dịp sau Tết tây, trước Tết ta cách đây hơn 10 năm, đoàn chúng tôi là một trong những đoàn đầu tiên sang Mỹ công tác sau khi Mỹ huỷ bỏ cấm vận đối với Việt nam, hai nước bình thường hoá quan hệ. Một số hãng lớn ở Detroit – thành phố công nghiệp nằm ở Đông Bắc nước Mỹ, trên biên giới với Canada - mời chúng tôi sang bàn việc thành lập liên doanh sản xuất tại Việt nam.

Hàng ngày xe của hãng đến đón chúng tôi đi làm việc, chiều chở về lại khách sạn. Sau vài ngày quá mệt mỏi vì bị lệch múi giờ 180o, chúng tôi mới phát hiện thấy một người đàn ông Việt nam thường hay đến vào giờ chúng tôi ăn tối, ngồi một góc xa kín đáo quan sát chúng tôi. Tôi thì thầm với ông Bộ trưởng trưởng đoàn: “Trông tay này có vẻ xịa (CIA) quá!” làm cho Bộ trưởng phải phì cười: “Cậu bớt đọc tryện trinh thám đi thì tốt hơn!”.

Ông Bộ trưởng chủ động tới gặp người Việt kiều nọ:
- Anh cũng người Việt nam mình?
Giọng Nam Bộ của ông Bộ trưởng rất ấm tai, chữ “mình” của ông nghe gần gũi dễ sợ.
- Dạ đúng thưa ông, anh Việt kiều lễ phép đứng đậy.
- Vậy mời anh sang bàn chúng tôi dùng bữa tối luôn?
Người Việt kiều lịch sự từ chối, song ông Bộ trưởng là người rất lịch lãm:
- Rất may cho chúng tôi nếu anh giúp gọi món ăn, chúng tôi không thạo đồ ăn ở đây lắm.

Bình vào bàn cùng chúng tôi như thế đó. Rồi tối nào anh cũng đến ăn với chúng tôi, dùng tráng miệng, nhâm nhi ly rượu và lên phòng nói chuyện. Chỉ có điều là bao giờ anh cũng tự trả tiền cho những thứ anh dùng. Người Mỹ lạ thật, họ sòng phẳng đến tận từng xu. Tuy còn đi thăm và làm việc thêm với các hãng khác là Ford và ITT, chúng tôi được hãng Crysler lo chi tiền đi lại ăn ở, ăn xong chỉ việc ký cái rẹt là xong (những lần trước đây chúng tôi đi Đông Âu công tác như thế này, bạn bè đến ăn ké là chuyện bình thường); hãng Ford cũng sẵn sàng chi tiền cho tôi bay xuyên qua nước Mỹ đến Cali thăm cô em họ vào dịp nghỉ cuối tuần, nhưng họ không hề tặng cho khách một món quà lưu niệm nho nhỏ nào giống như nhiều nơi khác trên thế giới người ta vẫn làm.

Bình được tuyển chọn sang Mỹ học lái máy bay chiến đấu. May cho anh là tháng 5/1975 anh mới tốt nghiệp khoá học, quân đội Sài gòn không còn tồn tại nữa. Vậy là anh ở lại Mỹ luôn, xin học quản trị kinh doanh rồi vào làm cho hãng Ford Motor, đọc báo anh biết có đoàn chúng tôi sang nên tìm đến gặp.

Bình thua tôi mấy tuổi. So với ông Bộ trưởng thì anh ít tuổi hơn nhiều, còn so với mấy người khác trong đoàn thì anh lại hơi già. Có thể vì vậy anh thân với tôi nhanh hơn, thân với chính người lúc đầu nghi anh là điệp viên CIA. Gọi là thân nhưng chúng tôi cũng ít nói chuyện với nhau. Là một người có giáo dục, anh ít nói, trầm tĩnh và cân bằng. Nhưng nguyên nhân chính làm cho câu chuyện khó dính chắc là do chúng tôi là hai sản phẩm bởi hai chế độ đối nghịch đào tạo nên, ít nhiều cũng còn e dè, không như hai người từng cùng một “phe”.

Những lúc có cơ hội nói chuyện, hầu như chúng tôi chỉ nói chuyện văn chương. Bình thích văn, vậy mà lại theo nghề võ, rồi cuối cùng làm anh quản trị kinh doanh. Tôi cũng thích văn và cũng chẳng có lúc nào đến với văn chương, nhờ đó câu chuyện giữa hai người cũng khá hợp.

Có lần Bình đưa tôi đi mua được đôi giày mà theo anh là tốt và giá cũng phù hợp túi tiền của tôi. Đôi giày này tôi mang được 3 năm. Gần đây con gái tôi sang Mỹ tu nghiệp một tháng, nó hỏi tôi muốn mua gì làm quà, tôi nhớ lại đôi giày kia và đặt hàng con gái mua giúp. Vài ngày sau nó cười trên webcam: “Bên này bây giờ toàn giày China và Vietnam thôi ba ạ!”.

Hôm chúng tôi sắp về nước, Bình tha thiết mời cả đoàn đến nhà anh chơi, căn nhà trả góp một lầu một trệt một tầng hầm và cô vợ không thèm hạ cố xuống chào xã giao mấy ông Việt cộng. Anh cho biết ở Detroit ít người Việt sinh sống, người bạn ở gần anh nhất cũng mất 30 phút lái xe. Tôi thấy anh rất cô đơn ngay giữa gia đình mình.

Đưa cả đoàn về lại khách sạn, Bình quyến luyến chia tay với mọi người. Tôi hỏi:
- Bình có phải về ngay không?
- Không, anh cần chi?
- Mình muốn anh em mình đi dạo một chốc.
Mặt Bình sáng lên, bất ngờ trước đề xuất của tôi:
- OK, em đâu có bận.

Chúng tôi thả bộ trên những con đường mùa đông tuyết phủ. Cái lạnh ở Detroit không ghê răng như cái lạnh vùng Xibêri, đến nỗi đồ ấm tôi mang theo không dùng hết. Chúng tôi đi chậm rãi và im lặng. Rồi tôi kể cho Bình nghe về mình, về thời học sinh, sinh viên và về công việc hiện nay. Tôi nói toàn sự thật, tự mình không hiểu vì sao lại cởi mở như vậy với một người xa lạ trên đất nước mà lúc đó ít nhiều vẫn còn thù địch.

Bình bỗng ngắt lời tôi:
- Anh T. ơi, em xin hỏi một câu: “Nếu anh không theo cha mẹ ra bắc tập kết, liệu anh có đi sỹ quan không?”
- Tôi không biết số phận run rủi như thế nào, nhưng khả năng đó là có, cũng như nếu Bình đi tập kết, Bình cũng sẽ như tôi.

Bình kể về cảnh sống trên đất Mỹ, vật chất đầy đủ, cuộc sống tiện nghi, công việc ổn định, mà sao anh thèm quá một lấp lánh màu xanh lá dừa quê anh đất Bến Tre. Anh không biết khi nào anh lại được đi trên mảnh đất quê hương, nghe tiếng đàn cò cùng dăm câu vọng cổ. Nỗi nhớ quê thường âm ỉ nhưng dai dẳng, cùng với tháng ngày như càng day dứt hơn.

Đất nước chúng ta không có gia đình nào là không có người hy sinh trong cuộc chiến, có nhiều gia đình hai anh em ruột đối nghịch nhau. Qua khứ thật nặng nề, nhưng công việc trước mắt là phải khôi phục và dựng xây đất Việt, tổ quốc chung của những con người từng chĩa súng vào nhau. Tôi nói với Bình như vậy, sau nghĩ lại thấy mình sáo rỗng quá.

Chúng tôi đi dạo khoảng hơn một giờ đồng hồ, hai con người, hai số phận, hai đứa con của đất Việt đau thương đi bên cạnh nhau để rồi chia xa mãi mãi. Định mệnh bắt anh phải làm công dân Mỹ, con anh sẽ nói một thứ tiếng Việt ngọng và cháu anh có thể hoàn toàn không biết tiếng Việt, kể cả một vài câu chửi tục rất vô văn hoá nhưng những khi cô đơn ở hải ngoại nếu ta được văng ra thì có thể làm dịu được phần nào nỗi buồn tủi của kẻ tha hương.

- Năm đó, Bình nói giọng trầm trầm, nếu em tốt nghiệp pilot sớm hơn một tháng thì có thể em đã bắn rocket vào đội hình hành quân của anh.
- Và cũng có thể là tôi cho SAM2 xơi tái máy bay cậu?

Chúng tôi cười phá lên, phả ra những làn khói trắng trong đêm lạnh. Khói – cái đó có ở đuôi máy bay phản lực và cả ở đuôi tên lửa phòng không....

Vậy mà từ đó đã hơn 10 năm trôi qua, tôi không có liên lạc gì với Bình, cũng không có cơ hội quay lại Mỹ. Liên doanh sản xuất xe hơi Ford Việt nam hoạt động cũng đã 10 năm. Mỹ sắp bỏ phiếu cho Việt nam vào WTO, cuộc sống vẫn cứ lao về phía trước.
(viết 10/2005, sửa 8/2006)
 
Bác Phan cho cái số tài khoản để BBT gửi tiền nhuận bút (cho bài đăng trang chủ) nhé :lol:
 
Các bác phải edit thế nào chứ bài lên trang chủ cứ bị kéo doãng ra, cứ như là xí diện tích ăn tiền vậy?
 
Phanhoamay nói:
Các bác phải edit thế nào chứ bài lên trang chủ cứ bị kéo doãng ra, cứ như là xí diện tích ăn tiền vậy?
Chả có "diện tích ăn tiền" như Bác Phan nói đâu, "đếm chữ ăn tiền', em đang đếm chữ bài của Bác để chuẩn bị chuyển tiền cho Bác đây, tài khoản thế nào nhẩy?

Bức tranh người đàn bà xa lạ của Kramskôi

1_Kramskoy_17006.jpg
 
Tôi nhận được mail chị gửi:" Em biết không, chị đã cảm động rơi nước mắt khi đọc đi đọc lại " Người đàn bà xa lạ" trên trang chủ của nuocnga.net, vì nhiều lẽ em biết rồi đấy - chị nhớ anh ấy đang ở Len vô cùng. Em có hiểu không, người đàn bà xa lạ là bức tranh mà anh ấy gửi về tặng chị cũng vào một ngày tháng mười năm ấy. Em ơi, cuộc đời có những điều kỳ diệu như vậy đấy...."
Xin phép chia sẻ một chút với mọi người và cảm ơn bạn Phan hoa may rất nhiều !
 
Em thấy đâu có doãng gì đâu, đẹp nắm nắm :), mà của đáng tội, hôm nay mắt em hơi mờ :), chả thấy gì ráo. Oái, không ngờ có nhiều người có kỷ niệm liên quan đến bức tranh này nhỉ, sao mình lại không có? Thôi để em dịch một bài về ông Kramskoi nhé.
 
Back
Top