Phỏng vấn Semion Aria
Semion Lvovich, chiến tranh đã bắt đầu với ông như thế nào?
Tôi là sinh viên ngành kỹ sư vận tải quân sự tại Học viện Novosibirsk. Khi chiến tranh nổ ra, toàn thể lớp tôi đều được động viên. Người ta đưa chúng tôi tới Maskva, nhưng tôi không phải ra mặt trận bởi đoàn tàu chở chúng tôi bị trúng bom, tôi bị sức ép và nằm lại trong bệnh viện.
Sau khi ra viện người ta chuyển tôi tới Trung đoàn tăng huấn luyện số 19 đóng tại Nizhniy Tagil. Trung đoàn này gồm nhiều tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn huấn luyện cho lính tăng một chuyên môn riêng – có nơi thì huấn luyện thành xa trưởng, tiểu đoàn khác lại làm người tiếp đạn v.v. Tôi được đưa vào tiểu đoàn đào tạo ra thợ máy – lái tăng.
Việc huấn luyện được thục hiện trên xe thật: có xe tăng ngay trong tiểu đoàn, ch1ng tôi được dạy cách lái, cách liên lạc với chỉ huy, các bộ phận máy móc, cách vận hành chúng. Tôi cũng xin lưu ý là rất khó để có thể khởi động máy xe trong điều kiện mùa đông. Anh phải làm nóng nó trong suốt hai giờ trước khi chạy, nghĩa là phải đút một cái vỉ kích thước nhỏ hơn chiếc xe một chút xuống dưới gầm xe, đổ dầu vào đó rồi châm lửa. Sau khoảng một tiếng rưỡi, chiếc xe tăng, và cả chúng tôi nữa, đều phủ đầy một lớp muội bồ hóng, chính là lúc chúng tôi đã có thể nổ máy được rồi.
Kỹ năng thế chỗ cho nhau được yêu cầu đối với toàn bộ thành viên tổ lái. Trong thực tế điều này không thực hiện nổi - thời gian huấn luyện quá ngắn. Tuy vậy tôi cũng đã bắn pháo của tăng được rất nhiều lần. Người ta cũng chở chúng tôi tới thao trường, nhét chúng tôi vào xe tăng, cho chúng tôi lái thử qua một chướng ngại vật, tập thay các mắt xích xe (sửa xích xe là một công tác vô cùng khó). Trong hai hoặc ba tháng, tức toàn bộ thời gian huấn luyện, chúng tôi cũng đã tham gia lắp ráp xe tăng trong dây chuyền lắp ráp chính tại nhà máy.
Người ta có dạy các ông cách bò ra khỏi xe tăng không?
Không, người ta việc gì phải dạy cái đó? Anh chỉ cần đơn giản là mở cái cửa nắp và nhảy ra ngoài. Hơn nữa, còn có một cửa nắp ở dưới đáy xe, anh cũng có thể thoát qua cửa đó mà không sợ bị địch phát hiện. Nói chung chuyện này không cần phải huấn luyện.
Tôi được đọc rằng lính tăng của ta thường cắt bỏ túi áo khỏi quân phục áo vét để không bị mắc kẹt lại khi trườn khỏi cửa nắp xe.
Chúng tôi chẳng cắt cái gì cả, áo vét của tôi rất tốt. Làm sao ta lại có thể bị kẹt vì lý do đó được? Chiếc cửa nắp rất nhẵn nhụi, gờ được bo tròn, chui ra chui vào rất dễ dàng. Hơn nữa, khi ta đứng thẳng trên chiếc ghế của người lái, anh đã thoát ra ngoài xe cho tới eo lưng rồi.
Sau thời kỳ huấn luyện, người ta chất chúng tôi lên một đoàn tàu cùng những chiếc T-34 của mình, rồi chuyển chúng tôi ra mặt trận. Vì một lý do gì đó, lộ trình có chặng đi ngang qua vùng Trung Á. Chúng tôi đang đi từ Krasnovodsk tới vùng Kavkaz băng qua Biển Caspian Sea, trên một chiếc phà. Trên đường đi, gió mạnh thổi tung tấm vải bạt che chiếc xe tăng. Tôi xin kể thêm rằng sống trên xe tăng mà thiếu tấm vải bạt thì thật khổ vô cùng. Nó thật hữu ích – chúng tôi dùng nó để che chắn bản thân khi ngủ, dùng trải ra khi ăn, dùng để phủ lên xe tăng khi di chuyển trên xe lửa, nếu không bên trong xe sẽ mau chóng ngập đầy nước mưa. Đó là những chiếc xe tăng được sản xuất trong thời chiến. Không có thứ gì để che cho cái nắp cửa phía trên tháp pháo, còn nắp cửa của khoang thợ lái thì có tấm che nhưng vẫn không thể ngăn nước chảy vào được. Cho nên khi bị mất tấm vải bạt thì thật tồi tệ. Thế là tôi phải đi chôm một tấm vải buồm từ một cái kho quân đội, nhưng chắc chẳng cần kể thêm gì ra ở đây – đó không phải là chuyện chiến đấu, mà là một tội vi phạm kỷ luật quân sự.
Chúng tôi đi tới vùng Bắc Kavkaz. Tại đó chúng tôi tham gia trận chiếm Mozdok trong thành phần của Binh đoàn tăng số 2. Rồi chúng tôi được chuyển tới Trung đoàn tăng 225 để tham chiến tại khu vực Mineral'nye Vody (tiếng Nga: Mỏ nước khoáng- LTD) và tiếp đó là tại Kuban.
Bộ phận truyền động của xe tăng hoạt động có ổn định không?
Bộ truyền động của T-34 khá khác thường. Nó không có trục lái. Cần lái được gắn trực tiếp vào trục phụ của hộp số. Đó là lý do tại sao hộp số lại phải đặt ở giữa để ưu tiên cho trục quay - được thực hiện với những bộ phận đặc biệt. Nó phải được liên kết rất chắc chắn bởi chỉ một xung động nhỏ cũng dẫn tới sự phá huỷ của toàn bộ hộp số. Nói chung, thiết kế của chiếc tăng này đã rất thành công. Lấy ví dụ là việc chúng tôi đã sống sót sau cái tạn nạn kinh khủng như trên - chiếc tăng bị lật úp trên tháp pháo, nhưng sau đó vẫn khởi động lại được.
Trên xe của ông có gắn radio không?
Vâng, một máy điện đài được gắn ngay góc phải của thân xe, dùng để liên lạc với chỉ huy đơn vị. Liên lạc bên trong xe thực hiện qua máy bộ đàm, nhưng hoạt động rất tồi, tương tự như tất cả những thiết bị được sản xuất ra trong thời gian chiến tranh. Đó là lý do chúng tôi phải liên lạc với nhau bằng chân, tức là ủng của xa trưởng gác lên vai tôi, anh ta sẽ nhấn vào vai phải hoặc vai trái của tôi, thế là tôi sẽ theo đó mà lái chiếc xe sang trái hoặc sang phải. Sau này khi tôi hành nghề luật sư, sếp văn phòng của tôi là Krapivin, một Anh hùng Liên Xô, cựu trung đoàn trưởng một trung đoàn tăng. Khi tôi nói với anh ta là chúng tôi đã chiến đấu với quân thù bằng đôi ủng của mình, anh ta liền bảo: “Ồ! Giờ thì tớ tin chắc cậu đúng là lính tăng thực thụ rồi.” Ngoài ra, có một bộ kính quan sát ba góc thật khủng khiếp gắn trên cửa nắp cho thợ lái. Chúng được làm từ thứ nhựa đáng ghét màu xanh hoặc vàng gì đó và đem lại một tầm quan sát hoàn toàn méo mó, dợn sóng. Không thể nhìn rõ bất cứ thứ gì từ cái kính đó được, nhất là khi xe đang bị xóc. Đó là lý do tại sao chúng tôi thường chiến đấu với nắp xe mở sẵn để tiện quan sát.
Theo ý kiến của ông, vị trí dễ bị tổn thương nhất đối với pháo binh địch của xe T-34 là gì?
Phần giáp hông.
Nếu xích xe bị hỏng đứt trong khi chiến đấu, ông sẽ phảm làm gì: rời xe tăng, cố sửa lại xích hay sao?
Cố mà sửa lại xích. Đấy không phải là tình huống hư hỏng nghiêm trọng gì. Chúng tôi luôn đem theo sẵn những đoạn xích dự trữ, chúng được gắn bên hông xe và thực ra còn là thứ giáp bổ sung cho xe. Sửa xích không phải là công tác gì đó quá phức tạp.
Ông có thể chỉ ra điểm yếu nhất trong một chiếc T-34 không?
Hoàn toàn thiếu tiện nghi cho tổ lái. Tôi từng vào trong xe tăng Mỹ và Anh. Tổ lái trong đó thao tác ở điều kiện thật thoải mái: trong xe được sơn những màu sáng, ghế ngồi khá êm, có cả tay vịn. Khác hẳn với T-34. Trong đó tiện nghi cho tổ lái chỉ ở mức tối thiểu. Thật khó để tôi bình luận gì thêm, tôi đâu có phải là kỹ sư thiết kế.
Có lẽ ông cũng từng tham gia sửa chữa bên trong xe tăng? Bộ phận nào là kém ổn định nhất: hộp số, hay bộ truyền động?
Tôi chưa gặp phải bất cứ thiếu sót nghiêm trọng nào trong thiết kế hay kỹ thuật của chiếc xe tăng (T-34). Xe này rất tốt, đáng tin cậy.
Có ý kiến cho rằng xe Matilda của Anh dùng động cơ xăng nên dễ bốc cháy hơn xe của ta dùng động cơ chạy dầu diesel?
Xe tăng Mỹ cũng dùng động cơ xăng. Chúng bốc cháy tựa những bó đuốc. Thế đấy, một mặt - rất quan tâm tới tiện nghi cho tổ lái, mặt khác - lại không thèm bảo vệ cho họ. GIải thích điều này thế nào? Tôi thật khó mà nói được. Hơn nữa, mặt chân đế xe của họ rất hẹp, do đó xe hay đổ sang một bên khi chạy trên các sườn dốc. Chúng có những sai sót kỳ lạ, không thể hiểu nổi.
Thiết bị điện của T-34 có ổn định không?
Ổn định. Vũ khí của xe hơi thiếu bởi hai khẩu súng máy trên xe tăng không tạo được một hỏa lực có tầm hoạt động đủ rộng, do cả hai khẩu đều chĩa về phía trước. Tuy thế, ta cũng có thể quay tháp pháo để tăng tầm sát thương, nhưng như vậy thì quá mất công.
Súng máy của xe tăng có hiệu quả không? Nó có được sử dụng thường xuyên không?
Rất thường xuyên. Một khẩu súng máy gắn trên tháp pháo, người tiếp đạn sử dụng nó, khẩu kia gắn vào một ụ tròn trên thân trước xe. Khẩu này được sử dụng bởi người điện đài viên kiêm xạ thủ súng máy. Khẩu trên tháp pháo cũng gắn vào một ụ tròn, nhưng ụ này có góc tác xạ theo phương ngang rất nhỏ, tuy vậy khẩu ở dưới có góc tác xạ rất tốt – nó xoay được tới 45, thậm chí có thể tới 60 độ, hơn nữa tháo nó ra rất dễ.
Ông có sử dụng vũ khí cá nhân không?
Không, người ta không cấp thứ đó cho chúng tôi. Tôi đành phải tháo khẩu súng máy ra khỏi ụ để dùng. Ừ, hình như chúng tôi không có bất cứ thứ vũ khí cá nhân nào cả. Nếu không tôi đã nhớ ra rồi. (Xin lưu ý thời điểm mà Semon Aria đang nhắc tới đây là thời kỳ đầu chiến tranh, khi ông còn trong quân chủng xe tăng. Thời kỳ này vũ khí Hồng quân rất thiếu và việc phân phối thực hiện rất kém. Tuy vậy không đến nỗi như trong “Enemy at the Gate”: tới thời Stalingrad đã cải thiện nhiều. Việc cấp 5 người một súng trường chỉ trong thời kỳ bảo vệ Maskva, và chỉ trong tổ chức dân vệ opochenyie như Vladimir Dolmatov đã nhắc tới. – LTD)
Người ta có hướng dẫn gì cho các ông trong trường hợp đối đầu với xe tăng địch không? Giao chiến hay né tránh chúng?
Giờ thì tôi không thể nói về điều đó được.
Nhưng không lẽ ông chưa bao giờ đối đầu với xe tăng hay pháo tự hành của địch hay sao?
Không, tôi chưa bao giờ đối đầu với chúng. Chúng tôi chiến đấu với pháo chống tăng, ụ đại liên, thậm chí cả pháo phòng không. Trung đoàn tôi, trong suốt thời gian tôi phục vụ tại đó, có lẽ có khoảng 12 xe tăng bị tiêu diệt.
Khi xe tăng bị phá huỷ, tổ lái có kịp bò ra ngoài không?
Khoảng 50/50. Nếu viên đạn lọt vào trong xe thì tất cả sẽ cháy thành than, nhưng nếu viên đạn bắn chệch văng ra, hoặc nếu viên đạn bắn trúng khoang động cơ và xe tăng bốc cháy thì tổ lái có thể bò ra ngoài được. Thiệt hại cũng rất lớn, hiếm khi một người lính xe tăng có thể chiến đấu suốt cuộc chiến mà vẫn còn sống. Thiệt hại tương tự như đối với phi công tiêm kích chiến đấu. Tuổi thọ một phi công tiêm kích ngoài mặt trận thường tối đa là 40-60 ngày. Tương tự như vậy đối với các đơn vị xe tăng, nhưng vẫn có những người từng chiến đấu suốt một hoặc hai năm.
Có những tay Át như vậy trong đơn vị của ông không?
Có. Tôi còn nhớ một người - Sustavniov. Anh ấy là thợ lái, khắp người phủ đầy huân chương. Anh ta được công nhận là một lính tăng xuất sắc và cực may mắn.
Phẩm chất nào của một chiếc xe tăng là quan trọng nhất trong hoàn cảnh chiến trường?
Ô, tất cả đều quan trọng, khả năng cơ động, tốc độ, thật khó để chọn ra cái nào là quan trọng hơn. Trước tiên, tất nhiên, phải là sức bền, khả năng chống đạn, khả năng phòng thủ.
Điều kiện phòng thủ chống tăng của bộ binh Đức có tốt không?
Cũng như bộ binh Nga thôi. Người lính bộ binh thì có những gì nào? Chiến hào. Anh ta đào cho mình một cái hố và ngồi trong đó. Nếu anh ta bỏ chạy thì sẽ không thể làm gì để chống lại xe tăng được. Trang phục của chúng (lính Đức – LTD) và trang bị của chúng thì đáng kể hơn, chúng đã chuẩn bị rất kỹ cho chiến tranh. Nhưng đối với chúng tôi thì mọi thứ đều trong tình trạng rất tồi tệ, quân đội chưa sẵn sàng để tham chiến, cả về lực lượng lẫn trang thiết bị. Mọi thứ đều được thực hiện trong chiến đấu, trên những đống thây người. Tôi đã tận mắt trông thấy chúng ta hành động ngu xuẩn thế nào trong suốt nửa đầu của cuộc chiến tranh. Dân số ta rất đông - mồi thịt cho đại bác (chair à canon) quá nhiều. Nếu đất nước ta không rộng đến vậy, bọn Đức hẳn đã dễ dàng thắng cuộc chiến này rồi.
Người ta nói rằng xe tăng chỉ chiến đấu dọc các con đường, có đúng thế không?
Tôi chưa bao giờ thực sự để ý về chuyện này, nhưng nói chung, tất nhiên xe tăng luôn tìm cách tránh những địa hình khó vượt qua. Tất cả những câu chuyện kể về xe tăng chạy xuyên tường ra sao, ủi đổ cây cối – tất cả đều là thứ rác rưởi. Có lẽ điều này là phù hợp thực tế - xe tăng thường chiến đấu dọc các con đường. Bởi vì một chiếc xe tăng có thể bị lật úp giữa một cái khe hoặc bị mắc kẹt trong đầm lầy. Không có chuyện xe tăng chạy ầm ầm trong rừng, nó có thể húc đổ cây cối mọc thưa thớt, tất nhiên, nhưng tôi chưa bao giờ trông thấy một chiếc tăng húc xuyên qua tường gạch như người ta vẫn chiếu trên phim ảnh.
Ông có quan tâm tới điều kiện địa hình khi lái xe không?
Tôi xin tuyên bố rằng rất không nên chạy qua một khe cạn! Tôi có thể kể cho anh một trường hợp xảy ra với tôi tại Bắc Kavkaz. Tôi đang lái xe dọc một con đường núi, nhưng khi tới một quãng hẹp, một bên xích xe của tôi chạy trật một chút sang phía phải đường và thế là cả chiếc xe tăng bắt đầu trượt dài xuống dốc. May là không có đoạn dốc nào dựng đứng, chỉ là một sườn đồi toàn đá nghiêng 45 độ. Tôi trượt trên đoạn dốc đó cho tới tận đáy hẻm núi. Và người ta đã phải rất chật vật để kéo được tôi lên. Nếu ở đấy có một đoạn dốc đứng thì sẽ ra sao nhỉ?
Quân Đức có gài mìn trên mặt đường không?
Có.
Các ông có dụng cụ dò mìn không?
Không, thời kỳ đó trong các đơn vị xe tăng không có dụng cụ dò mìn.
Quân Đức có lựu đạn chống tăng không?
Mìn chống tăng thì có, tôi đã từng gặp loại đó; nhưng tôi chưa bao giờ trông thấy bộ binh sử dụng lựu đạn chống tăng. Lựu đạn chống tăng Xôviết của ta – chỉ đơn giản là những chùm lựu đạn thường buộc túm lại.
Còn mìn? Ông gặp chúng thế nào, hay chỉ trông thấy chúng thôi?
Vâng, tôi không chạy lên trên chúng, tôi chỉ trông thấy chúng. Chúng cũng gần giống như bây giờ, tựa như những cái đĩa.
Có bao giờ xe ông bị trúng đạn chưa?
Có, nhưng giáp xe không bị xuyên thủng. Khi một viên đạn bắn trúng, có một tiếng leng keng vang lên như trong một cái chuông, và rồi tai bạn sẽ điếc tịt.
Vỏ thép xe có bị móp méo khi bị trúng đạn như thế không?
Không, vỏ thép khá đàn hồi.
Làm thế nào ông xác định được một chiếc tăng có thể chạy qua một cây cầu hay không? Ai sẽ chịu trách nhiệm về điều đó?
Ồ, ai đi xác định chuyện đó? Một chuyên viên trong đơn vị công binh sẽ quyết định được rằng chiếc xe phải có tải trọng bao nhiêu, có thể chạy qua đó được không, nhưng ngoài chiến trường thì mọi điều kiện đều là tối thiểu, mọi thứ đều chỉ có thể phỏng tính.
Có thể nói là ông đã may mắn khi được chiến đấu trên một chiếc T-34 không?
Đúng, anh có thể nói như thế.
Ông có thể nói gì với chúng tôi về loại xe KV?
Có rất ít xe tăng loại KV. Chúng rất nặng nề, tất cả cầu cống đều đổ sập dưới sức nặng của chúng. Chúng là những chiếc tăng rất không thành công.
Trong năm 42, khẩu pháo 76mm của xe T-34 có thể xử lý được tất cả các loại mục tiêu trên chiến trường không?
Trong thời kỳ đó thì đúng thế.
Ông đã viết là xe ông không còn đèn pha ngay sau trận chiến đầu tiên. Có phải đơn giản là do chúng bị đạn bắn hỏng không?
Tất nhiên, chúng bị quét sạch vì mảnh đạn.
Ông có trình độ học vấn khá cao. Xét cho cùng, ông đã từng học tại một học viện trước khi chiến tranh nổ ra. Tại sao ông chỉ trở thành thợ lái mà không phải là xa trưởng?
Tôi không có được lon sĩ quan.
Ông tác xạ như thế nào, khi đang di chuyển hay trong những chặng dừng ngắn?
Trong những chặng dừng ngắn.
Ai sẽ theo dõi luợng đạn trong xe tăng? Có phải thông qua thủ tục gì để bổ sung đạn không? Có một thứ định lượng tiêu thụ gì không?
Định lượng gì? Không, anh chỉ đơn giản là bắn theo nhu cầu của mình. Tôi không biết ai theo dõi điều đó, có lẽ là xa trưởng. Mà anh phải theo dõi cái gì? Đơn giản là đạn sẽ được bổ sung sau khi bắn hết. Thế thôi. Không có bất cứ thứ định lượng tiêu thụ nào hết.
Nhiệm vụ nào là thường xuyên nhất: yểm trợ cho bộ binh, chống tăng địch, uy hiếp tiêu diệt hỏa lực pháo đối phương?
Cần xét tới thực tế rằng bộ binh luôn đi cùng chúng tôi, có lẽ có bộ binh yểm trợ ngồi trên nóc xe tăng chúng tôi. Không có một chiến tuyến liên tục ở vùng Bắc Kavkaz mà chiến trận nổ ra theo từng đòn dột kích. Nhưng nói chung, nhưng câu hỏi như vậy nên để dành cho các sĩ quan. Lính trơn thực ra không được biết tất cả những vấn đề về chiến thuật như vậy. Lính tráng chỉ thực hiện chức năng kỹ thuật thuần tuý.
Nhờ Trời xe tăng của ông chưa từng bị phá huỷ đúng không?
Chưa hề.
Tốc độ chạy khi chiến đấu của ông là bao nhiêu?
Chúng tôi chạy với tốc độ bình thường trong chiến đấu, luôn khoảng 45-50 kilômét một giờ.
Có bao giờ ông bắn cầu vồng không?
Không.
Có bao giờ ông phải đào ụ chiến hào cho xe tăng không?
Có.
Người ta có bố trí lính bộ binh cho ông để làm chuyện đó không?
Chúng tôi tự đào lấy. Chúng tôi làm trong khoảng ba tiếng đồng hồ bởi theo lệ, chúng tôi không khi nào đào trên đất bằng mà cố gắng đào sau một thứ vách đất để có thể giảm thiểu khối lượng phải thực hiện. Dàn hỏa tiễn "Katiushas" cũng được lái vào các chiến hào tại vị trí chuẩn bị, nhưng không phải tại vị trí khai hỏa.
Dàn "Katiushas" luôn phải có một vị trí chuẩn bị ban đầu, và rồi là chạy tới vị trí bắn. Có phải thế không?
Đúng. Bắn một loạt rồi quay trở về.
Có bao giờ ông bị máy bay địch tấn công không?
Không phải trong thời gian chúng tôi ở Bắc Kavkaz. Tôi gặp máy bay địch khi đang chiến đấu trong một đơn vị "Katiusha". Tôi đã nhận được cấp bậc cao nhất khi phải đối phó với máy bay địch. Nhưng tại đấy, tại vùng Bắc Kavkaz, không quân Đức có số lượng không đáng kể.
Ông nói cấp bậc cao nhất là có nghĩa gì?
À, tôi bị thương vì bom rải thảm và oanh tạc. Tôi trông thấy máy bay địch, không phải loại "Messers" mà là "Heinkels" thì đúng hơn, chúng bay qua đội hình chúng tôi đóng gần một thị trấn, bay thấp gần đụng với ông khói.
Chúng có bị bắn như người ta chiếu trên phim ảnh không?
Vâng, nếu nó bay thấp thì anh sẽ không có đủ thời gian để bắn – nó sẽ bay ào qua đầu anh với một tốc độ chóng mặt. Nhưng chúng tôi vẫn bắn.
Tôi không phục vụ lâu trong quân chủng xe tăng - chỉ từ tháng Mười năm 42 tới tháng Hai, hay khoảng tháng Giêng năm 43. Sau đó tôi bị ra tòa án binh vì tai nạn với chiếc xe của mình và tôi không quay trở lại quân chủng đó lần nào nữa. Sau khi trải qua đại đội trừng giới, tôi có mặt trong một đơn vị hỏa tiễn “Katiusha", tại đó tôi phục vụ cho hết chiến tranh với vị trí quan trắc mục tiêu cho tiểu đoàn hỏa lực.
Sau khi tham gia đơn vị súng cối Cận vệ, ông có trở thành người quan trắc mục tiêu ngay lập tức không?
Tôi làm tài xế môtô một thời gian, tức là người liên lạc với sở chỉ huy trung đoàn. Thực ra, người ta đã bỏ qua lý lịch không phù hợp của tôi bởi họ có một chiếc môtô, nhưng lại không có ai biết chạy. Thế là họ giao cho tôi lái chiếc môtô, nhưng sau hai-ba tháng thì chiếc môtô tiêu tùng - nó bị bắn hạ khi đang chạy, nhưng lúc đó không phải do tôi lái. Sau đó tôi được chuyển sang làm người quan trắc cho tiểu đoàn.
Nhiệm vụ người quan trắc mục tiêu cho tiểu đoàn là gì?
Chúng tôi chọn ra trong những đỉnh đồi, xây dựng một chốt quan sát, bố trí ở đấy một ống quan sát lập thể, quan sát quân địch, chuẩn bị số liệu tọa độ cho các sĩ quan. Chúng tôi không phải đi ra sau phòng tuyến địch.
Ông có phải làm những con tính cần thiết không?
Không, người quan trắc chỉ có trách nhiệm xác định mục tiêu, đo góc, chuẩn bị số liệu rồi hô nó lên cho người sĩ quan nghe thấy, anh ta ngồi đó với cái cặp bản đồ và một tờ giấy can, tính toán lượng giác (có những phép tính lượng giác rất phức tạp) để chuẩn bị bắn. Nhưng tôi cũng biết cách làm chuyện đó, và có thể thay thế anh ta nếu cần thiết.
Nhìn chung, đài quan sát được bố trí bên trong vùng quân ta kiểm soát hay tại khu vực giữa chiến tuyến?
Trong vùng ta kiểm soát, đằng sau lực lượng quân ta. Chúng tôi ít khi leo lên các ống khói hay cối xay gió – như thế thật nguy hiểm vì những điểm đó, theo lệ thường, luôn bị quân địch theo dõi chặt chẽ. Chúng sẽ cố bắn sập chúng để phòng hờ mà không phải là do bắn lầm.
Đám xạ thủ súng trường có làm phiền ông không?
Tất nhiên ở đấy có bọn xạ thủ súng trường. Chúng sử dụng bọn xạ thủ và pháo, bắn hạ những điểm chúng nghi ngờ bằng bất cứ giá nào. Do đó chúng tôi luôn tự đào hầm tránh xuống dưới ngọn đồi của mình.
Đơn vị ông có loại vũ khí gì?
Chúng tôi có loại M-8 và M-16, gắn trên xe Studebaker.
Ông đã gặp súng cối phản lực của Đức chưa?
Bọn Đức bắt đầu sử dụng thứ này chỉ vào cuối chiến tranh. Chúng tôi chỉ gặp súng cối phản lực Đức lần đầu tiên tại Hungary. Thứ vũ khí này, được gọi là "Vaniusha", có nhiều nòng, chúng phát ra một tiếng hú nghe lạnh cả người. Và chúng tôi chỉ được tận mắt nhìn thấy chúng lần đầu khi ở Áo. Chúng bắt chước loại "Katiusha" của ta, nhưng thiết kế để phát ra thứ âm thanh kiểu Đức. Dàn phóng được lắp trên một xe tăng hạng nhẹ. Một người ngồi trong đó và lái chiếc xe này vào vị trí bắn tực tiếp, hắn ta không cần số liệu tác xạ nào hết, việc ngắm bắn được thực hiện bằng quan sát trực tiếp, hắn tự mình ngắm mục tiêu, nã đạn, quay vòng xe lại rồi bỏ đi. Nhưng loại "Katiusha" của ta thì tầm bắn rất xa, ngắm bắn như pháo binh bình thường. Thông số bắn được tính bằng bảng tính lượng giác rất phức tạp, điều chỉnh theo địa hình thực tế. Do đó bọn Đức kém xa ta trong chuyện này.
Độ tán xạ của đạn có lớn không?
Độ tán xạ khá lớn, nhưng chúng tôi biết cách khắc phục. Viên đạn có phần đuôi để có thể xoay tròn khi bay. Nhưng độ tán xạ vẫn lớn hơn pháo thường, vì thế chúng tôi phải bắn theo cung phần tư góc và không nhắm vào mục tiêu cụ thể. Hoặc chúng tôi tính toán để khi bắn nhiều viên đạn thì ít nhất một phát sẽ trúng mục tiêu được chọn.
Ông đã trông thấy "Katiusha" bắn từ ngoài khoảng trống chưa?
Có, nhưng rất hiếm vì như thế rất nguy hiểm, và Katiusha thì rất đắt tiền. Hơn nữa, một dàn Katiusha hoàn toàn lộ diện khi bắn bởi nó tuôn ra một cột khói lớn. Vì thế chúng tôi cố bắn chỉ khi trời tối. Nếu bắn ban ngày, khả năng quân địch phản pháo trúng chúng tôi sẽ tăng cao. Vì thế Katiusha không có vị trí bắn cố định. Chúng đóng trú tại ụ trú ẩn, từ đó chúng chạy ra ngoài vị trí bắn. Chúng phải chuyển đi ngay sau mỗi loạt đạn để không có đủ thời gian cho quân địch phản pháo. Thêm nữa, theo một thông lệ, chúng tôi bắn trực tiếp trên bánh xe, không cần sử dụng bộ phận càng chống hỗ trợ như yêu cầu.
Khi ở trong đơn vị súng cối Cận vệ, các ông có được bảo vệ phòng không không?
Không.
Còn máy bay chiến đấu của ta?
Vâng, máy bay tiêm kích không bảo vệ hay chia ra một phi đội cho thậm chí cả một trung đoàn Katiusha. Họ bảo vệ một khu vực của mặt trận, bảo vệ những vị trí chiến thuật quan trọng, còn chúng tôi là một trung đoàn độc lập. Nó luôn di chuyển hướng này hướng khác. Thậm chí đôi khi người ta chỉ điều đi cả các tiểu đoàn độc lập. Katiusha có uy lực rất mạnh, do đó thậm chí người ta sử dụng cả những khẩu đội độc lập để bắn từng loạt một.
Cần bao nhiêu thời gian giữa hai loạt đạn để nạp lại đạn cho một dàn Katiusha?
Không nhiều đâu. Khoảng 15-20 phút. Một tổ lái Katiusha bao gồm 5 người. Họ thao tác rất nhanh chóng - nạp đạn, và ngay trước khi bắn, đút ngòi nổ vào trong viên đạn.
Giấy thông hành
Trung đoàn Súng cối Cận vệ 51
15 tháng Chạp 1943
Giấy thông hành cấp cho thượng sĩ Cận vệ S.L. Aria
Do nhận được giấy này, anh ta được phép tới Malaya Belozubka, Briansk,
Veseloe, Melitopol' theo nhiệm vụ công tác được giao
Lý do: theo lệnh của chỉ huy đơn vị
Thời gian chuyến đi là 15 ngày, từ 15 tháng Chạp 1943 tới 30 tháng Chạp 1943.
Báo cáo khởi hành
Chỉ có giá trị khi xuất trình cùng giấy tờ xác minh tuỳ thân
/giấy căn cước Hồng quân /
Chỉ huy đơn vị GKMP 51 Thiếu tá Cận vệ Gribovskiy
Đã bao giờ ông phải bắn loạt đạn thứ hai tại cùng một địa điểm chưa?
Cũng có, nhưng rất hiếm khi. Thường là chúng tôi bắn rồi chuyển đi ngay. Chúng tôi quen lái xe đi và nạp lại đạn ở đâu đó khuất sau đồi ụ hơn là lại bắn tiếp tại cùng một chỗ.
Các ông bị thiệt hại có nặng không?
Trong trung đoàn tôi à? Còn tuỳ theo anh so sánh với ở đâu. Nếu so với các đơn vị xe tăng hay tiêm kích chiến đấu thì tổn thất của chúng tôi không lớn lắm. Nhưng nói chung thì chúng tôi luôn bị tổn thất về người. Trong hai năm tôi phục vụ trong trong đoàn này, quân số được bổ sung chiếm tới khoảng 50 phần trăm. Chỗ chúng tôi luôn có người bị chết hoặc bị thương. Tổn thất nhiều nhất là do máy bay oanh kích.
Trong khi hành quân ông có luôn thực hiện đúng quy định về công tác nguỵ trang (tiếng Nga: maskirovka - LTD) không?
Có, tuân thủ tuyệt đối. Lấy ví dụ, lúc trời tối xe cộ chỉ được bật đèn xanh khi di chuyển. Kế đó, đơn vị phải nguỵ trang bằng cành lá và lưới nguỵ trang mà không được phép sai sót. Chúng tôi thường dừng xe lại ở những vườn trồng cây ăn quả nếu quanh đó không có rừng. Nói chung, quy định về nguỵ trang maskirovka luôn được tuân thủ, người ta giám sát chuyện đó rất chặt chẽ.
Xin nói thêm về maskirovka: ta nên hiểu maskirovka không chỉ đơn thuần là nguỵ trang, mà là tổng hợp các công tác nguỵ trang, phản gián, nghi binh, tung tin giả đánh lừa đối phương... Về quy mô, một maskirovka tầm chiến dịch của Liên Xô không thua kém chút nào so với quy mô Chiến dịch Overlord đổ bộ Normandy của quân Đồng Minh, nếu không nói là hơn nhiều. Một trong những lý do là các chiến dịch của Liên Xô tiến hành sâu trong lục địa, chiến tuyến trải dài và quân số, khí tài cũng như chiều sâu phòng ngự-đột kích rất lớn. Hơn nữa, người Nga có một vị thầy đại tài về maskirovka, đó là chính Quân đội Đức. Chính những chuyên viên nghiên cứu lịch sử Thế chiến 2 của phe Đồng Minh cũng phải thừa nhận sự thật này trong các bài viết của mình – LTD
Có nhân viên đặc biệt nào được cử riêng để giám sát việc thực hiện quy định nguỵ trang maskirovka không, hay các ông tự mình làm điều ?
Không, các chỉ huy thông thường có trách nhiệm giám sát chuyện đó, không có nhân viên đặc biệt nào cả. Chỉ huy phải tự giám sát vì nếu bị phát hiện vi phạm maskirovka thì chính họ sẽ phải gặp rắc rối.
Khi ông làm công tác quan trắc mục tiêu, có khi nào ông phải mã hóa thông tin truyền đi chưa?
Chuyện đó là rất cơ bản, cũng hệt như mọi chỗ khác thôi. Người chỉ huy được gọi theo con số thay vì tên thật, đạn dược - lấy theo vài loại rau quả. Nhưng liên lạc qua điện đài thì được mã hóa, tất nhiên rồi. Anh sẽ không biết được nhiều từ tôi bởi tôi chỉ là lính trơn, những thứ đến được tay tôi đều không trực tiếp. Tôi xin kể cho anh một câu chuyện vui xảy ra trong thời bình. Sau chiến tranh tôi hành nghề luật sư tại quận Krasnopolianskiy, và người ta cấp cho tôi, một tay lính phục viên, một mảnh đất để xây nhà. Mảnh lớn trong khu đất ấy đã được cấp cho những ông tướng để họ tuỳ ý xây dựng, và những mảnh nhỏ còn lại được phân phối cho đám dân thường. Vì thế tôi bị vây quanh bởi các lô đất của toàn những ông tướng và do đó, tôi được biết nhiều điều về cánh hàng xóm tướng tá của mình. Có lần tôi được mời đến ăn tối tại nhà một ông tướng. Chúng tôi ngồi cùng bàn, và người ngồi cạnh bên phải tôi là một vị trông rất oai vệ, phong độ và đẫy đà. Thế đấy, tôi thì rót vodka cho ông ta, còn ông ta sẻ salad vào đĩa cho tôi, câu chuyện bàn nhậu bắt đầu, bàn qua tán lại. Và như thường xảy ra, chúng tôi lan tới đề tài chiến tranh, hóa ra là cả hai chúng tôi đã cùng chiến đấu với nhau, hơn thế nữa, chúng tôi đã luôn cùng hành quân theo đúng lộ trình của nhau. Ông ta hỏi tôi: “Anh chiến đấu ở tập đoàn quân nào?” Tôi đáp: “Tôi ở Tập đoàn quân số 44”. Ông ta nói: “Tôi cũng ở Tập đoàn quân 44. Anh đóng lon gì ở đó?” Tôi đáp: “Ờ, tôi là lính trơn. Còn ông?” “Tôi là tư lệnh tập đoàn quân”. Đấy chính là Trung tướng Mel'nik, Tư lệnh Tập đoàn quân số 44. Tôi mới bảo ông ta: "Kondrat Semenych, thật tiếc là chúng ta đã không được cùng uống với nhau ngay từ hồi ấy!”
Ông có hỏi ông ấy về trận Balaton không?
Không, lúc ấy ông ta không còn chỉ huy ở đó nữa. Ông ta đã gặp rắc rối gì đó khi chiến đấu ở Ukraina, tôi cho là ông ấy đã bị giáng chức. Tuy vẫn ở lại trong Phương diện quân Ukraina số 3, ông ta không bao giờ còn được làm tư lệnh tập đoàn quân nữa.
Quan hệ giữa ông và cư dân tại các nước vừa được giải phóng như thế nào?
Rất khác biệt. Biến thiên từ tình cảm anh em thắm thiết ví dụ như tại Bulgaria cho tới cực kỳ thù oán như tại Hungary. Người Hung căm hờn sâu sắc chúng ta và hay bắn vào sau lưng quân ta. Tất nhiên, chuyện đó không phải là vô lý do, dù trong thời kỳ này trong Hồng quân chưa phổ biến tình trạng cướp phá như ta thấy ngày nay, nhưng dấu hiệu của nó cũng vẫn dễ dàng nhận thấy.
(Người Bul, người Tiệp, người BaLan, người Serbia cùng là gốc Slave trong khi dân Hung, Roumani và Croatia thì không và rất ghét dân Nga. Đế quốc Nga khi đánh bại Đế chế Ottoman đã giành độc lập cho Bulgaria, Hy Lạp và Serbia. Trong Chiến tranh Thế giới 1, người Croatia và Hungary khủng bố người Serbia và người Nga đứng ra bênh vực. Roumani thì luôn tranh giành vùng Moldova với Nga. Để lôi kéo Rumani tham chiến trong Thế chiến 2 chống LX, nước Đức đã giành cho Rumani phần Moldova. Về phần Balan, tuy là Slave nhưng theo Thiên Chúa giáo do ảnh hưởng từ luồng xâm lược của các Teutonic Knight, hay đúng hơn là do sự đồng hóa tôn giáo của các man tộc người German. Hơn thế nữa, suốt nhiều thế kỷ liên tiếp, nước Nga, Ba Lan, Lithuanie và Teutonic Knight tranh giành nhau tại vùng Trung Âu. Trong lịch sử, nhiều lần người Ba Lan và Nga cùng dân Côdắc hợp sức chống trả quân Thổ, nhưng họ cũng nhiều lần đánh nhau dữ dội. Mãi tới giữa thế kỷ 18, nhờ sự lớn mạnh của đế quốc Nga sau Piotr Đại đế, Ba Lan suy yếu và bị Catherine II nước Nga ba lần thôn tính. Đồng thời, Nga giành lại độc lập cho Belorussia và Ukraina từ tay Thổ và Ba Lan. Nhưng đời sống các nước này dưới ách Đế quốc Nga cũng cực khổ không kém. Tới trước Thế chiến I, một nửa Ba Lan nằm trong tay Nga, nửa còn lại trong tay Phổ. Vô số cuộc khởi nghĩa của những người yêu nước Ba Lan bị hai đế quốc trên dìm trong biển máu. Thế Chiến I kết thúc với sự tan rã của Đế quốc Nga và sự tái hình thành Ba Lan, Phần Lan và ba nước Bantích (ba nước này là từ Lithuanie nói trên đã bị Nga thôn tính). Trong Chiến tranh Vệ quốc Bulgaria cũng trong phe Trục và có gửi một ít quân xâm lược Liên Xô. Tuy vậy cần thông cảm cho chính phủ họ khi nằm gần một đế quốc quá mạnh vừa nuốt trọn hàng loạt quốc gia Châu Âu. Ngoài Bulgariara, Hung, Ý và Rumani đều tham chiến xâm lược Nga. Sau khi Bulgaria, Rumani đầu hàng Hồng quân năm 44, quân đội các nước này đã phải lập tức quay súng đánh lại đồng minh trước đó của họ là quân Đức. - LTD)
Còn trong trung đoàn ông?
Vâng, trung đoàn tôi dù gì đi nữa cũng có văn hóa hơn, vậy mà thậm chí vẫn xảy ra những chuyện lộng hành tương tự như thế.
Những tay đó là người Slave hay dân Trung Á (nguyên văn Asian, do đó tôi xin vậy vậy cho chính xác hơn. – LTD)?
Dân Slav, luôn là dân Slav! Đám Côdắc là đặc biệt man rợ hung ác.
Điều gì khiến ông sợ nhất ngoài mặt trận?
Chúng tôi sợ cái chết. Thần chết luôn quanh quẩn chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và từ mọi phía. Anh có thể đang ngồi yên ổn uống trà và đột nhiên một viên đạc lạc rơi đòm ngay bên cạnh. Không thể quen với điều đó được. Điều đó không có nghĩa là tất cả chúng tôi đều liên tục bị kích động, rằng mọi người đều ngồi hay đi đấy chờ đợi cái chết đến mọi lúc mọi nơi. Đơn giản là cái chết có tới hay không thôi. Thật đáng sợ trong những cuộc oanh tạc ồ ạt bằng máy bay. Con người ta mất trí đi vì sợ. Cảm giác như thể mỗi quả bom đều đang rơi thẳng vào đầu ta vậy. Thật khủng khiếp! Bầy máy bay lượn tròn trên bầu trời, hai hoặc ba trăn chiếc, và bom rơi xuống như mưa, tất cả chúng đều hú rít khủng khiếp. Kinh hoàng! Tôi còn nhớ có một tay Nekrasov – anh ta thậm chí đã phát điên. Khi cuộc oanh kích kết thúc không cách nào tìm ra anh ta. Và rồi người ta tìm thấy anh ta trong một chiến hào. Anh ta từ chối chui ra! Và nỗi sợ hãi kinh khủng ngập đầy trong ánh mắt anh... !
Binh lính có tin vào những dấu hiệu hay bùa chú có thể bảo vệ họ khỏi chết không?
Người ta hay đeo theo bùa hoặc thánh giá. Có những người có thể dự cảm thấy điềm xấu về nguy hiểm chết người. Ví dụ có tay Kondrat Hugulava trong đơn vị tôi, một người Grudia, miệng rất rộng. Chúng tôi là đồng đội với nhau, anh ấy đã cứu mạng tôi hai lần, và tất nhiên, cả mạng anh ấy nữa. Lần đầu tiên là khi người ta yêu cầu chúng tôi đi lập đường dây liên lạc với một trung đoàn bộ binh. Chúng tôi đang đi trong chiến hào trục thì anh ta thốt lên: “Chúng ta hãy dừng lại.” Tôi hỏi lại: “Tại sao thế?” “Đừng đi, chúng ta hãy dừng lại đây!” Chúng tôi dừng lại, và vài giây sau một viên đạn đại bác rơi đúng vào chiến hào ngay sau một khúc quanh! Đáng lẽ chúng tôi đã bỏ mạng tại đó! Lần thứ hai chúng tôi đang trú bom trong một ngôi nhà đổ nát. Anh ấy lại bảo tôi: “Hãy ra ngay khỏi đây và chạy tới một góc nhà khác.” Chúng tôi dời đi - một quả bom rơi sầm ngay vào góc nhà nơi chúng tôi vừa trú. Những điều kỳ lạ như thế vẫn xảy ra. Linh cảm... Tôi thì không có được.
Các ông chôn cất đồng đội hy sinh như thế nào?
Rất chu đáo ở nửa sau chiến tranh. Có ghi cả bia mộ nữa.
Ông có thứ vũ khí cá nhân gì?
Tôi từng có một khẩu carbine, một khẩu tiểu liên, một khẩu tiểu liên Đức, tôi đem theo chúng cho tới tận cuối chiến tranh, nhưng tôi chưa giết ai bằng vũ khí cá nhân của mình cả. Tất nhiên, tôi cũng có sử dụng chúng, bắn vào đâu đó...
Ngay lúc này anh đang cầm trong tay một cái dù pháo sáng của Đức. Các cô gái ở Ukraina may áo choàng cho họ bằng những mảnh lụa như thế này đấy. Khi đó không có nguồn cung cấp vải may. Khi một hộp những quả pháo sáng như thế này lọt được vào tay chúng tôi, bọn họ liền cắt chỗ lựa này ra, may nó lại và thế là nó trở thành một cái áo blouse.
Có người phụ nữ nào trong đơn vị của ông không?
Trong đơn vị của tôi thì không. Chỉ thấy xuất hiện mấy cô lính thông tin, về sau tất cả cánh sĩ quan đều kết hôn với họ. Khi sau này có một cuộc họp mặt các cựu chiến binh của trung đoàn ở Maskva, tôi có gặp lại những cô gái ấy, giờ đã là vợ của các sĩ quan trung đoàn tôi. Hồi đó tôi đã nghĩ rằng bọn họ vốn đĩ thoã, nhưng hóa ra mối quan hệ của họ kéo dài cho tới suốt cuộc đời.
Ông được nhận huân chương vì chuyện gì?
Huân chương tôi nhận được là vì đã tham gia chiến đấu để giải phóng Vienna. Trận đánh ở đó không phá huỷ nhiều nhưng thiệt hại nhân mạng khá nặng nề.
Thế cụ thể là do chuyện gì? Vì thành tích thế nào?
Anh biết đấy, phần thưởng vì những chiến công xuất sắc rất ít khi kiếm được ngoài chiến trường. Đặc biệt trong những đơn vị pháo binh, không thể có mối liên hệ giữa một cá nhân với thành công của một phát đạn, do đó nếu một người đã tham gia chiến đấu, bộc lộ sự kiên cường, dũng cảm, thì tới lúc nào đó người ta sẽ xem xét, viết một điều đặc biệt gì đấy vào tờ giấy đề nghị khen thưởng, nhưng torng thực tế tất cả đều là tưởng tượng. Và do tôi được đánh giá tốt trong trung đoàn, tới một lúc người ta điền tên tôi vào danh sách khen thưởng. Và bắt đầu ghi ra: “Trong chiến đấu, vì đã bộc lộ lòng dũng cảm kiên cường và xem thường hiểm nguy chết chóc như thế như thế...” Đấy, những truyện cổ tích như vậy đấy.
Ông đã từng chiến đấu trong một tiểu đoàn trừng giới phải không? Cơ cấu của nó thế nào? Ông đã “trả nợ” như thế nào?
Tôi bị đưa vào một đại đội trừng giới, trong đó có khoảng 150 người. Chúng tôi chỉ được vũ trang bằng súng trường. Không có thêm bất cứ khẩu tiểu liên hay đại liên nào. Tất cả sĩ quan chỉ huy đều là sĩ quan thường, nhưng lính tráng và hạ sĩ quan thì là toàn phạm binh. Anh chỉ có thể sống sót thoát khỏi tiểu đoàn trừng giới khi hoặc là đã bị thương, hoặc nếu anh nhận được sự phê chuẩn của chỉ huy trong chiến đấu, và anh ta (chỉ huy) sẽ đề nghị lên trên là bản án của anh được xóa bỏ.
Làm cách nào ông thoát ra được? Bản án của ông được đề nghị xóa bỏ sao?
Vâng. Đó là tại Taganrog trong Phương diện quân Miền Nam. Tôi tham gia một trận đánh trinh sát. Do tình thế là đi hay chết, tôi hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất. Và thành công. Ngay sau đó có đề nghị huỷ bỏ bản án cho tôi, và sau vài ngày tôi được gọi lên Sở chỉ huy Sư đoàn, tới tòa án binh, tại đó người ta huỷ án cho tôi. Sau đó tôi được chuyển sang một đơn vị lính thường.
Giấy chứng nhận của Tòa án binh Sư đoàn bộ binh 151
Cấp cho trung sĩ Semion Lvovich Aria, xác nhận rằng do đã bộc lộ sự dũng cảm và gan dạ trong chiến đấu chống bọn phát xít, bản án của anh ta đã được Toà án binh của Sư đoàn bộ binh 151 huỷ bỏ ngày 17 tháng Ba năm 1943.
Chủ tịch Toà án binh
Luật sư quân sự cấp 3
Sorokin
Ông ở trong đại đội trừng giới trong bao lâu?
Ba tuần.
Ông kể về thời kỳ này rất sơ sài. Tại sao vậy?
Tôi đã kể rất nhiều về chuyện này cho Yuriy Ivanovich Koriakin (xem hồi ức của lính thông tin Koriakin – LTD), và rất nhiều lần anh ấy nài ép tôi mô tả lại nó. Nhưng cứ mỗi lần tôi thử làm, tôi lại nhận ra chuyện đó là quá sức mình, bởi tôi sẽ phải kể lại cả những gì trong đại đội trừng giới và tất cả những gì liên quan tới nó, và để làm được việc đó anh phải có khiếu về văn chương. Có lần, cách đây đã nhiều năm, một nhà văn chuyên nghiệp rất nổi tiếng, sau khi nghe tôi kể, đã nài nỉ tôi viết nó lại. Tôi viết, ông ta xem qua rồi bảo rằng nó thật rác rưởi, là một thứ cứt đái của đám trí thức intelligentsia [trong xã hội Nga (và cả trong xã hội Xôviết), intelligentsia là một tầng lớp gồm những người kiếm sống bằng lao động trí óc và khác biệt với mọi người về văn hóa và lối sống – Oleg Sheremet]. Sau đó tôi không bao giờ thử làm thế lần nữa. Vấn đề ở những câu chuyện lòng thòng tẻ ngắt quanh vùng Kuban diễn ra trước khi tôi có mặt ở đại đội trừng giới. Sự việc ngẫu nhiên xảy đến với tôi: tôi bị mất hoàn toàn các giấy tờ và hồ sơ bản án. Chúng tôi có một bộ hồ sơ chung cho cả ba người, nhưng hai người kia bị chuyển đi xa mà thiếu tôi, và tôi phải ở lại một mình mà không còn chút giấy tờ gì. Mọi chuyện diễn ra tiếp theo tựa như một cuộc hành trình vào nơi hoang dại với quang cảnh xáo động tột cùng. Và khoảng thời gian bước khi ra tòa án binh, khi tôi nằm trong một phòng giam chờ ra thi hành án tử hình, cũng cần được mô tả lại, không thể né tránh được, nhưng thật khó để mô tả nó thành văn viết. Cho tới giờ tôi vẫn chưa quyết định được phải làm việc đó như thế nào.
Vậy điều đáng sợ nhất là gì?
Một đợt xung phong tấn công – đó là cuộc thử thách khốc liệt nhất. Anh biết rằng rất có thể mình sẽ trúng đạn, nhưng anh vẫn bắt buộc phải tiến về phía trước - điều đó thật khủng khiếp! Rất khó để ngóc đầu dậy, có cảm giác gần như chắc chắn rằng anh sẽ không thể quay trở về, điều này cũng thật khó khăn. Đạn cối bắn dữ dội và súng máy quét cật lực. Quá đủ cho mọi thứ. Đường đạn bắn, bắt đầu nã xuống từ phía trên, trong khi anh chỉ trông thấy cái luồng sáng hạ xuống thấp dần, thấp dần, từ từ quét về phía anh, rồi nó sắp sửa tới gần và cắt anh ra làm đôi. Vâng, tóm lại, chiến tranh là chiến tranh, có gì để nói nữa đâu.
Thế rồi ông có mặt trong một đơn vị súng cối Cận vệ?
Không, không phải ngay sau đấy đâu. Tôi được chuyển từ đại đội trừng giới tới một đơn vị bộ binh, từ đơn vị bộ binh tôi chuyển qua Trung đoàn Dự bị số 2, đóng tại thành phố Azov, từ đấy tôi rời khỏi chiến trường. Tại đó người ta đưa tôi qua một nhóm dự bị đi học trường sĩ quan, chỗ đó sẽ dạy tôi trở thành một xa trưởng thiết giáp. Nhưng tôi đã quá rõ làm một xa trưởng là thế nào rồi nên tôi bỏ trốn khỏi đó. Chỉ đơn giản là tôi chuồn đi chỗ khác.
Làm một xa trưởng thì phải như thế nào?
Thật đáng sợ. Cũng cực nhọc tương tự lính thường, nhưng trên tất cả anh lại phải chịu trách nhiệm đối với mọi người. Tôi không ham làm sĩ quan một chút nào hết. Đó là lý do tại sao khi người ta tới tuyển người vào đơn vị pháo binh, tôi đã mau chóng cùng đi với họ. Lập tức quẳng balô lên xe tải và bỏ đi. Thời đó tôi rất có thể sẽ bị ra tòa án binh vì làm như thế, nhưng mọi chuyện đã diễn ra suôn sẻ. Và tôi vẫn được ở lại với trung đoàn pháo. Thế rồi khi tới được mặt trận, hóa ra đó lại là một trung đoàn Katiusha. Thật là may mắn! Ở đó người ta cho chúng tôi ăn uống đầy đủ, quân phục thật tuyệt vời, thương vong xảy ra không đáng kể. Tôi vô cùng hạnh phúc vì đã được làm thành viên của một đơn vị tuyệt vời như vậy.
Phỏng vấn: Artem Drabkin
Dịch từ Nga sang Anh: Oleg Sheremet
Dịch từ Anh sang Việt: Lý Thế Dân